1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Di sản lịch sử và những hướng tiếp cận mới

386 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 386
Dung lượng 47,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu khảo cổ học ờ Việt Nam, bên cạnh cách tiếp cận truyền thống; gần đây đã xuất hiện một số công trình sử dụng các phương pháp tiếp cận mới mang tính hệ [r]

Trang 1

N h i ề u t á c g i ả

DI SẢN LỊCH SỬ

VÀ NHỮNG HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI

Tủ sách Khoa học xã hội Chuyên khảo về khảo cổ học và lịch sử

Do Viện HARVARD YENCHING tài trợ

Trang 2

DI SAN LỊCH sư

VÀ NHỮNG HƯỚNG T IẾP CẬN MỚI

Trang 3

NHIỀU TÁC GIẢ

DI SẢN LỊCH SỬ

VÀ NHỮNG HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI

C hịu trách n hiệm chung

Trang 4

Tủ sách khoa học xã hội Chuyên khảo về Khảo cổ học và Lịch sử

D o Viện Harvard Yenching tài trợ

Social Sciences B ook Series

Monograph on Archaeology and History Supported by the Harvard Yenching Institutev2j0 v2j0 \2j0 v2j0 (§3 30 (50 \2j0 (3b (30 \3o v2j0 \^0 \3b

Trang 5

MỤC LỤC• ■

C hữ viết tắ t

L ờ i n ói đ ấ u

Tiếp cận k h ả o cổ học môi trường sinh thái trong nghiên cứu

N h ận diện vãn hóa L ạc Việt

L ịch sử Đ àng Trong nhìn từ H u ế

Quỹ di sản kiến trúc P háp ờ H à N ội

H o ạ t động thương m ại kiêm nhiệm của các sứ bộ Việt N am

ở Trung H o a thời nhà T han h

“Q uốc t ế h ó a lịch sử dân tộ c " - T oàn cău h ó a cận đại sơ kỳ

và lịch sử V iệt N am th ế kỷ X V II

Các cải cách giáo dục và khủng hoản g của nhà trường P háp-V iệt

ở B ắ c Kỳ cuối những năm 20, đầu những năm 30 của th ế kỷ XX

N am B ộ và L ịch sử x ã hội N am Bộ

T ó m tắ t tiến g A n h

G iới th iệu các tá c g iả

Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới

viiix

I V

Trang 6

A b b rev ia tio n

F o re w o rd

N ew A pproaches to Eco-Environm entaỉ A rchaeology

in Prehistorỵ o /V ietn a m

A pproaches to Social an d Burial archaeology - C ase Study

on Central V ietnam during Proto-historical P eriod

Assessing L a c V iet Culture

History oýD ang Trong fro m Hue Perspective

French architecture H eritage in H anoi

C om m ercial Activities o /D ip lom atic C orpsýrom V ietnam

to c h in a during the QitigDynastỵ

Internationalixing N ation al H istory: G ỉobalization o f Early

M odern H istorỵ an d V ietnam ese H istorỵ in X V II Century

E du cation al R ẹform s an d Crisis F aced bỵ the Franco-V ietnam ese Schools in Tonkin during the 1920's and 1930's

Southern V ietnam and Its Social History

Ettglish A b s tra ct

Ort th e A u thors

VI I Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới

Trang 7

CHỮ VIẾT TẮT

CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

ĐHKHXH & NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới I TJ w

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

“D i sản lịch sử và những hướng tiếp cận m ớ i" là cuốn thứ ba trong Tủ sách

Khoa học Xã hội, được thực hiện với sự tài trợ của Viện Harvard Yenching,

tiếp theo các cuốn “Sự biến đ ổ i củ a tôn g iá o tín ngưỡng ở V iệt N a m hiện

n ay ” (2 0 0 8 ) và “N ghiên cứu văn h ọ c V iệt N am - N hững k h ả năng và th ách

th ứ c” (2 0 0 9 ) Cuốn sách tập hợp một số bài viết vê' lịch sử và khảo cổ học

- hai trong số các ngành khoa học xã hội cơ bản của Việt Nam

Sau một chặng đường hinh thành và phát triển từ những thập niên 50-60 của thế ki trước, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực lịch sử và khảo cổ học của Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng vào việc tìm hiểu lịch sử dân tộc, phục vụ công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước Cùng với

sự phát triển chung trên thế giới vể phương pháp luận và những hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu khoa học xã hội, sử học và khảo cổ học Việt Nam đang đứng trước những thách thức và cơ hội mới trong việc tiếp cận, khai thác các nguồn tư liệu, lý giải và ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào giải đáp những vấn để của lịch sử đất nước và thực tế cuộc sổng hiện nay

Cuốn sách "Di sản lịch sử và những hướng tiếp cận m ới" không có tham vọng

tập hợp toàn bộ những kết quả nghiên cứu mới nhất về sử học và khảo cổ học Việt Nam, mà chỉ cố gắng giới thiệu một số kết quả nghiên cứu theo hướng vận dụng các lý thuyết đang phổ biến trong giới nghiên cứu quốc tế; ứng dụng các phương pháp đa ngành và liên ngành, sừ dụng kết quả của các phương pháp và

kĩ thuật hiện đại trong lĩnh vực sừ học và khảo cổ học Đối tượng nghiên cứu

là các loại hình di sản lịch sử khác nhau, bao gổm các di sản vật thể; phi vật thể, sử liệu, văn liệu và cả các nguồn tư liệu không chính thống (theo quan niệm truyền thống), củng như các sản phấm trí tuệ của các học giả đi trước

9 bài viết được tập hợp trong cuốn sách này - với tư cách những nghiên cứu trường hợp - có những cách tiếp cận đa dạng và sử dụng những phương pháp khác nhau để giải quyết hoặc xới lên các vấn để đang được quan tâm Trong khi có những bài thuẩn túy mang tính chất là các khảo cứu thuộc chuyên ngành khảo cổ học hay sử học, người đọc có thể thấy một số bài vận dụng một cách linh hoạt các hướng tiếp cận của cả hai chuyên ngành; đối tượng

và phạm vi nghiên cứu củng rất đa dạng

Di sản Lịch sử và những hướng tiến cân mới I 1DC

Trang 9

Nhưng vấn đề cơ bản mà các bài viết đề cập đến bao gồm:

- M ột số khuynh hướng lý thuyết của khảo cố học và sử học đang hiện hành

và việc ứng dụng các lý thuyết này ờ Việt Nam

- Các phương pháp và ki năng thu thập và khai thác tư liệu, phương pháp nghiên cứu đa ngành, kỹ năng vận dụng các kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau để giải quyết các vấn đề của khảo cổ học và sử học

- Những hướng tiếp cận khác nhau đối với các nguổn tư liệu khảo cổ học và lịch sử; những vấn đế có thể được giải quyết, cả trong nghiên cứu lẫn trong ứng dụng vào thực tế

D o nội dung củng như các vấn để thảo luận trong các bài không theo một chủ đề nhất định, trình tự sắp xếp của cuốn sách chỉ mang tính chất tương đối; đi từ khảo cổ học đến lịch sử, theo trình tự từ sớm đến muộn

Nhóm bài thứ nhất thuộc lĩnh vực khảo cổ học Hai bài viết của các tác giả

Nguyễn Gia Đối - Tiếp cận k h ảo c ổ học môi trường sinh thái trong nghiên cứu tiên sử ờ V iệt N a m , và Lâm T h ị Mỹ Dung - Tiếp cận k h ả o c ổ học xã h ội và

k h ả o cổ học m ộ táng trong nghiên cứu trường hợp M iền Trung V iệt N am thời

Sơ sử là những thừ nghiệm công phu trong việc ứng dụng các lý thuyết và

phương pháp của Khảo cố học mới (hay Khảo cổ học Quá trình) và khảo cổ học Hậu quá trình (hay Khảo cổ học Xã hội) vào việc nghiên cứu các xã hội tiền sử và sơ sử ở Việt Nam

Nguyễn Gia Đối khai thác tổng hợp các nguồn tư liệu có được từ các di chỉ khảo cổ học ở miển Bắc Việt Nam, đặc biệt là tài liệu cổ nhân, cổ sinh, cổ môi trường, để tìm hiểu và giải thích sự tiến triển của các nền văn hóa thời

kỳ Đồ Đá ở Việt Nam Việc đặt các văn hóa này trong nền cảnh môi trường chung và sự thích ứng văn hóa của các xã hội tiền sử trong khu vực rộng hơn

sự khác biệt hay tương đồng, mối liên hệ và các xu hướng tiến triển của chúng trong cơ tầng chung là văn hóa Hòa Bình vào thời kì Đá Mới

Bằng việc tập hợp và phân tích một cách hệ thống các tư liệu, đặc biệt là về

mộ táng; Lâm T hị M ỹ Dung dựng lại và diễn giải những đặc điểm của một xã

nước - ở miền Trung Việt Nam Những yếu tố của quá trình hình thành nhà nước như sự phân tầng xã hội, sự gia tăng quyền lực, sự mở rộng không gian văn hóa, mối liên hệ vùng và liên vùng, địa vị, mức độ tích tụ của cải của cư dân Văn hóa Sa Huỳnh được phân định thông qua việc diẻn giải tư liệu bằng các phương pháp tiếp cận của Khảo cổ học Xã hội và Khảo cồ học Mới Các bảng thống kê chi tiết cung cấp nguồn tư liệu quý báu cho việc nghiên cứu những vấn đề khác nhau của các xã hội và các nền văn minh trong khu vực

X I Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới

Trang 10

Thông qua các nghiên cứu trường hợp trên đây, người đọc có thể hình dung

rõ ràng hơn sự khác biệt giữa khuynh hướng nghiên cứu khảo cổ học truyển thống ở Việt Nam (phẩn nào đó gần gũi với lý thuyết Khảo cổ học Lịch sử - Văn hóa của giới nghiên cứu phương tây) với các các trào lưu lý thuyết khác đang thịnh hành hiện nay Trong khi cách tiếp cận khảo cổ học truyển thống thiên về lý giải các sự kiện văn hoá bằng chính các sự kiện văn hoá một cách tĩnh lặng và theo hướng đơn tuyến, thì các khuynh hướng lý thuyết mới quan tâm đến việc lý giải bản chất, nguyên nhân và cách thức của quá trình tiến triển văn hóa trong trạng thái động và trong quan hệ đa tuyến Các kết quả nghiên cứu này củng cho thấy, dù các khuynh hướng lý thuyết có phát triển đến đâu, khảo cổ học vẫn phải là khảo cổ học Chỉ trên cơ sở tập hợp được các dữ liệu đầy đủ, chính xác, khoa học, mới có thể có được các hướng tiếp cận và lý giải khác nhau Đồng thời, càng có khả năng tiếp cận từ nhiều hướng; càng có thể tái tạo lại quá khứ với nhiều viễn cảnh khác nhau

Nhóm bài thứ hai là những trường hợp tiếp cận, khai thác và diễn giải các nguôn tư liệu đa ngành (khảo cổ, lịch sử, văn hóa, tư liệu vật thể, phi vật thể ) từ nhiểu hướng và với các mức độ khác nhau để giải quyết các vấn đé của cả sử học và khảo cổ học

Bài viết của các tác giả Nguyễn Ngọc T h ơ - N hận diện vàn h ó a L ạ c Việt, và Phan Thanh Hải - Lịch sử Đ àng Trong nhìn từ H uê, đưa ra các cách tiếp cận

và nghiên cứu so sánh tư liệu khác nhau, đặc biệt là với nguón tư liệu khảo

cổ học, đế giải quyết các vấn để lịch sử

Vấn để nguón gốc và văn hóa Lạc Việt từng lôi kéo sự chú ý của các học giả thuộc nhiểu lĩnh vực như sử học, khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học, văn hóa và di truyền học Các nghiên cứu này thưởng chi đi sâu vào một hoặc một vài lĩnh vực, dẫn đến có độ chênh nhất định trong việc diẻn giải

và nhận thức quá trình hình thành các nhóm tộc người và văn hóa Bằng hướng tiếp cận đa ngành; phân tích tổng hợp các nguổn tài liệu, các đặc điểm địa - môi trường, quá trình chuyển dịch và dung hợp vê' văn hóa cũng như ngôn ngữ và chủng tộc của các nhóm tộc người trong khối Bách Việt, đặc biệt là vùng Lĩnh Nam, được Nguyên Ngọc T h ơ soi xét để đưa đến những nhận định vê' sự hình thành tộc người và sự biến đổi diện mạo của văn hóa Lạc Việt Tác giả và một sổ nhà nghiên cứu khác chia quá trình này thành các giai đoạn Lạc Việt Nguyên thủy và Lạc Việt Mới Người đọc có thể tiếp tục tranh luận vể các quan điểm và phương pháp tiếp cận tư liệu

mà tác giả đưa ra, đồng thời có thể từ đây tra tìm nguồn tư liệu phong phú, đặc biệt là của các học giả nước ngoài; vốn ít phổ biến rộng rãi ở Việt Nam

Lịch sử Đàng Trong nhìn tủ H u ế là bức tranh được Phan Thanh Hải xây dựng

nên từ việc phân tích các tư liệu lịch sử và minh họa bằng khối tư liệu khảo cổ

Di sản Lịch SỪ và những hướng tiếp cận mới I XI

Trang 11

học phong phú và đáng tin cậy Sự ra đời và phát triển của Đàng Trong, với vai trò của nhà Nguyễn đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc là chủ để được bàn đến khá nhiểu trong những năm gần đây Phan Thanh Hải chọn một vấn đề rất

cụ thể - quá trình phát triển của các thủ phủ của Đàng Trong - để góp phần đứa ra các quan điểm đánh giá của mình về sự phát triển của Đàng Trong trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa-xã hội, thể chế chính trị Bài viết cho thấy tác giả rất nhuẩn nhuyễn trong phương pháp tiếp cận, khai thác và đối chiếu các nguổn tư liệu lịch sử và khảo cổ học, cũng như việc đặt các vấn để văn hóa xã hội trong bối cảnh môi trường và lịch sử để lý giải các hiện tượng và chứng cứ lịch sử

Với Quỹ di sản kiến trúc P háp ờ H à N ội, Tạ Hoàng Vân tập hợp các kết quả

nghiên cứu và giởi thiệu khối tư liệu không mới đối với các nhà nghiên cứu lịch sử kiến trúc và quy hoạch đô thị, nhưng tạo cơ hội tiếp cận một cách khá đầy đủ và tổng quát cho đông đảo người đọc Giá trị của nguồn di sản này

vô cùng phong phú và có thể được khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau: nghệ thuật; lịch sử kiến trúc và lịch sử xây dựng, môi trường cảnh quan, quy hoạch đô thị v.v M ột phần quan trọng của bài viết để cập đến hướng khai thác và bảo tồn khối di sản quý báu này Câu hòi luôn trăn trờ đối với các nhà nghiên cứu và quản lý, củng như các nhà hoạch định chính sách là làm sao giải bài toán cân bằng giữa phát triển bển vững và bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; làm sao tích hợp các giá trị của di sản văn hóa vào cuộc sống đương đại Những đề xuất mà tác giả đưa ra cho Hà Nội cũng sẽ là những gợi mở bổ ích cho các vùng miển khác của cả nước

Nhóm bài thứ ba thiên vê' lĩnh vực sử học Bài viết của các tác giả Trần Đức

Anh Sơn - H oạt động thương m ại kiêm nhiệm của các sứ bộ V iệt N am ở Trung

H o a thời nhà T han h, và Hoàng Anh Tuấn - “Quốc tế h ó a lịch sử dân tộc”-

T oàn cầu hóa cận đại sơ kỳ và lịch sử Việt N am th ế kỉ X V II, đưa ra các hướng

tiếp cận khác nhau đối với các nguồn tư liệu liên quan đến vấn đề thương mại Trần Đức Anh Sơn bàn về hoạt động thương mại “phi chính thống” thông qua việc phân tích tỉ mỉ các nguồn tư liệu liên quan đến hoạt động của các sứ bộ Việt Nam ở Trung Hoa thời nhà Thanh Hệ quả của hiện tượng này đối với nến kinh tế và xã hội Việt Nam sẽ là vấn đề có thể tiếp tục bàn đến Với kĩ năng phân tích, so sánh đối chiếu một loại hình tư liệu vật thật

- đ ồ sứ ký kiểUị với các nguồn tư liệu khác gôm sử liệu Việt Nam và Trung

Hoa, châu bản, thơ văn, và các di vật khảo cổ học khác, tác giả mở ra trước mắt bạn đọc nhiều triển vọng nghiên cứu khác nhau cho m ột vấn để ít được quan tâm Khối lượng tư liệu phong phú với các thông tin chi tiết và đáng tin cậy mà tác giả cung cấp cũng rất hữu ích cho việc nghiên cứu so sánh các giai đoạn lịch sử trước và sau các thế kỉ XVII-XIX

Trong khi đó Hoàng Anh Tuấn, từ nguồn tư liệu chính là các số liệu thương mại của các công ty Đông Ấn Anh và Hà Lan, kết hợp với các hướng tiếp cận

Trang 12

mới của sử học, phân tích tình hình Việt Nam trong quá trình hội nhập vào hệ thống thương mại quốc tế giai đoạn thế ki XVI-XVIII Bức tranh quốc tế toàn cảnh được tác giả đưa ra giúp cho việc nhìn nhận và lý giải lịch sử Việt Nam giai đoạn này một cách chân thực và biện chứng hơn Vấn để phân kỳ lịch sử Việt Nam giai đoạn cận hiện đại trong bối cảnh toàn cầu cũng được đặt ra.

Với bài viết C ác cải cách giáo dục và khủng hoảng của nhà trường P háp-V iệt

ở B ắc Kỳ cuối những năm 20, đấu những năm 30 của th ế kỷ XX, tác giả Trắn

T h ị Phương Hoa đê' cập tới một lĩnh vực đang được cả xã hội quan tâm Mặc dù không bàn tới các vấn đế lý thuyết và phương pháp luận, tác giả có cách tiếp cận và khai thác hiện đại đối với các nguồn tư liệu trong việc xới lên và cố gắng giải quyết các vấn đề đặt ra Người đọc được cung cấp một bức tranh khá hoàn chinh về tình hình giáo dục, nguyên nhân của những thành bại và những nỗ lực cải cách trong một giai đoạn không dài nhưng có tác động lớn tới xã hội Việt Nam Có thể thấy nhiểu bài học cùa công cuộc cải cách giáo dục này vẫn còn có giá trị tham khảo cho xã hội hiện nay.Cùng với các tác động của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân phương Tây (từ thế ki X V II đến nửa đầu thế kỉ X X ), xã hội Việt Nam trải qua những biến động sâu sắc vế mọi mặt Các nguồn sử liệu chính thống không đủ khả nấng phản ánh đầy đủ những biến động đó; kể cả đối với chính những vấn đê' lịch sử chính trị và ngoại giao, vổn được các sử gia phong kiến chú tâm ghi chép Mặc dù có các mức độ thành công khác nhau, các bài viết về lĩnh vực lịch sử của các tác giả Trần Đức Anh Sơn, Hoàng Anh Tuấn và Trần Thị Phương Hoa là những ví dụ khá điển hình của xu hướng hiện nay trong việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu, khai thác và xử lý tư liệu

Cuốn sách được khép lại bằng bài viết của tác giả Trẩn Thị Bích Ngọc -

N am Bộ và L ịch sử xã hội N am Bộ, lấy các tác phẩm nghiên cứu về Nam Bộ

và bối cảnh xã hội Nam Bộ làm đối tượng để đánh giá và chi ra những thiếu hụt về phương pháp luận trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử hiện nay Các trường phái nghiên cứu lịch sử trên thế giới được tác giả giới thiệu một cách

khái quát với các dẫn chứng tiêu biểu Phương pháp nghiên cứu ỉịch sử mớiy

có sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu nhân học và lịch sử văn h ó a , quan tâm đến mối quan hệ giữa điểu kiện sinh thái tự nhiên với bối cảnh kinh tế

và tâm lý x ã hội có khả năng đưa đến những hiểu biết đầy đù hơn về lịch

sử nhìn từ bên dưới Hiểu biết và vận dụng một phương pháp mới như thế nào để giải quyết những vấn đê' của từng khu vực, từng xã hội và mỗi quốc gia, cụ thể ở đây là vùng đất Nam Bộ, là vấn đề được tác giả nêu ra và phân tích cụ thể Bài viết vi vậy rất có ý nghĩa cho những nhà nghiên cứu lịch sử trẻ, khi băn khoăn tìm cho mình một hướng đi và một cách tiếp cận hợp lý đối với các đối tượng nghiên cứu khác nhau

Di sàn Lịch sử và những hướng tiếp cận mới I DC111

Trang 13

Như ]à những cố gắng thử nghiệm, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong cuốn sách một mặt cung cấp nguồn tư liệu phong phú, nêu lên các vấn đề phức tạp, đa dạng, được đặt ra trong phạm vi rộng lớn, góp phấn đưa đến những cách tiếp cận và khai thác tư liệu mới; nhận thức mới; mặt khác củng bộc lộ và đặt ra nhiều vấn để vể nhu cầu phát triển các ngành khoa học phụ trỢ; phương pháp luận, các kĩ năng và các vấn để nghiên cứu mà sừ học và khảo cổ học Việt Nam cẩn tiếp tục hướng tới trong thế kỉ XXI.Cũng như cách thức đã thực hiện với hai cuốn sách đã xuất bản, Nhóm Biên tập gồm PGS TS Lê Hổng Lý (Viện Nghiên cứu Văn hóa, Trưởng nhóm),

TS Nguyễn Thị Phương Châm (Viện Nghiên cứu Văn hóa, T h ư kí), T S Lê Thị Liên (Viện Khảo cổ học, Biên tập chính), T S Trần Hải Yến (Viện Văn học), PGS TS Nguyễn Kim Sơn (Đại học Khoa học xã hội Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội); T S Lê Ngọc Hùng (H ọc viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) tham gia vào việc tổ chức bản thảo, tìm kiếm các nhà nghiên cứu có uy tín để xin ý kiến phản biện, trao đổi và làm nhịp cầu nối các tác già với người phản biện Các bài viết được trình bày là két quả công sức làm việc kiên trì của các tác giả, các phản biện độc lập và Nhóm Biên tập, nhằm cố gắng đạt đến chuẩn mực cao nhất có thể vể hình thức và phương pháp trình bày Đồng thời, để đảm bảo tính khách quan khoa học

và phản ánh một cách sát thực nhất tinh hình nghiên cứu sử học và khảo cổ học Việt Nam hiện nay, Nhóm Biên tập tôn trọng và giữ nguyên các quan điểm và ý kiến bàn luận của các tác giả; sau khi họ đã trao đổi và bổ sung theo các góp ý của các phản biện độc lập Trong quá trình biên soạn cuốn

cập tới những vấn đề rất có ý nghĩa của khảo cổ học và lịch sử Tuy nhiên

do một số lý do nhất định, các tác giả chưa có đủ thời gian để hoàn thiện bài viết theo yêu cẩu của Nhóm Biên tập Chúng tôi hy vọng sẽ tiếp tục được quay lại với các công trình nghiên cứu này trong tương lai

Cuốn sách được hoàn thành nhờ sự hỗ trợ quan trọng của Viện Harvard Yenching vê' mặt tài chính và sự hợp tác của đội ngũ lãnh đạo; các biên tập viên kĩ thuật; thiết kế, của Nhà xuất bản T h ế giới

được bổ sung và cập nhật, nhiều thiếu sót còn bộc lộ do khâu biên tập,

chúng tôi tin rằng cuốn sách sẽ có ích ở nhiểu góc độ khác nhau Cuối cùng, chúng tôi xin được độc giả gần xa lượng thứ cho những khiếm khuyết của cuốn sách và đóng góp những ý kiến quí báu để những tác phẩm tiếp theo ngày càng có chất lượng tốt hơn

H à N ội, X uân 2011

Ban Biên tập

ĨCYU I Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới

Trang 14

TIẾP CẬN KHẢO C Ổ H Ọ C MÔI TRƯỜNG

Ở VIỆT NAM

Nguyễn Gia Đối*

TÓ M T Ắ T

khoa học lịch sử Hệ thống lý thuyết, phương pháp tiếp cận mang tính chất trường phái khảo cổ học lịch sử - văn hoá Đó là việc coi trọng các khía cạnh

về mặt niên đại, các đặc trưng, các mối liên hệ văn hoá theo chiều lịch đại

và các quá trình lịch sử, lý giải các sự kiện văn hoá bằng chính các sự kiện văn hoá Khảo cổ học trên thế giới hiện đang thịnh hành là khảo cổ học nhân học Nó xem xét con người trong các mối liên hệ với môi trường, hệ sinh thái N ó giải thích các sự kiện văn hoá bằng các sự kiện môi trường, sinh thái gắn với các quá trình thích ứng và biến đổi văn hoá Bên cạnh đó; nghiên cứu về mặt con người trong các mối liên hệ với cộng đổng và hình thái cấu trúc của các xã hội cổ đại cũng đang là trào lưu của khảo cổ học hiện đại Diện tiếp cận của khảo cổ học ngày nay ngày càng mở rộng với các hình thức liên ngành và đa ngành Đó là các tiếp cận khảo cổ học môi trường;

khảo cổ học sinh thái, địa khảo c ồ , khảo cổ học cư trú, khảo cổ học hành vi,

khảo cổ học sinh kế, khảo cổ học cộng đổng; khảo cổ học xã hội; khảo cổ học giới v.v Phương pháp luận sử dụng lý thuyết các hệ thống tổng quát, phương pháp diễn dịch và khảo cổ học nhận thức

Trong nghiên cứu khảo cổ học ờ Việt Nam, bên cạnh cách tiếp cận truyền thống; gần đây đã xuất hiện một số công trình sử dụng các phương pháp

hiệu ứng đối với giới nghiên cứu M ột số ví dụ v ế hướng nghiên cứu bối cảnh môi trường sinh thái nhằm lý giải nguyên nhân và xu hướng của sự tiến

* TS Viện Khảo cổ học

Di sàn Lịch sử và những hướng tiếp cận mới I I

Trang 15

triển của các nền văn hóa thời kỳ T iển sử ờ Việt Nam sẽ được trình bày

trong bài viết này

M ôi trường mà con người sống thường được coi như là một loạt các quyển (spheres) như khí quyển, thủy quyển, thạch quyển, sinh quyển M ôi trường nhân văn bao gồm những nhân tố bên ngoài chủ yếu vể mặt sinh học và vật

lý thiết lập nên trường hoạt động của con người Nó đưa lại những cơ hội và thách thức cùng những phản hồi mang tính văn hóa của con người M ôn sinh thái nhân văn nghiên cứu sự tương tác giữa con người với môi trường của họ Viễn cảnh nghiên cứu con người và văn hóa như là các thành tố của

m ột hệ sinh thái sẽ hợp nhất được nhiều cách tiếp cận riêng rẽ trước đó trong nghiên cứu nhản học (Evan and 0 ’Conno 1999; Recherson and

M cEvoy 1976)

Trong nghiên cứu khảo cổ học ở Việt Nam trước đây, các cuộc điền dã khai quật, ngoài di vật khảo cổ (artifacts) người ta cũng đã chú ý thu thập các di tồn của tự nhiên (ecofacts) như di cốt động vật, di tích thực vật, mẫu đất đá v.v để tìm hiểu về môi trường sống của cư dân di chỉ Tuy nhiên, các phân tích mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện thành phần giổng loài mà chưa chỉ

ra những thông tin vé cổ môi trường sinh thái cũng như tương tác của nó với các bối cảnh văn hóa M ột số tiến bộ mới trong tiếp cận khảo cổ học môi

quật gấn đây tại hang Làng Tráng; M ái đá Điều, Hang Chổ, hang Con Moong, hang Ma Ươi và hang Đười Ươi Các kết quả đó khiến cho bức tranh

2 I Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới

Trang 16

như Thầm Ổm (Nghệ An), Thung Lang (Ninh Bình), Thẩm Khuyên, Kéo Lèng, Phai Vệ (Lạng Sơn); Hang Hùm (Yên Bái).v.v Trong khoảng hai

tập khá phong phú, tiêu biểu cho quẩn động vật thời kỳ này (Hình l )

Hang Làng T ráng

Hang Làng Tráng (B á Thước, Thanh H óa) được khai quật vào các năm

1989 và 1992 do nhóm các nhà khoa học hợp tác Việt-M ỹ tiên hành (Nguyễn Văn Hảo và Lê Trung Khá 1990; Ciochon et al 1992)

Hóa thạch động vật ở Làng Tráng chủ yếu là các loài sau: Pongo pỵgmaeus sp (đười ươi), M acaca m ulatta (khỉ vàng); M acaca sp (khi); H ỵlobates sp.(vươn); Prebytis sp.(voọc); ư rsus thibetanus (gấu ngựa); H eỉarctos

m aỉaỵanus (gấu chó), A iỉuropoda m elanoleuca (gấu trúc); Arctonyx collaris rostratus (lửng lợn); cf M elogale m oschata (chổn bạc má), Lutrogale perspicỉlata (rái cá); cí.Pagum a ỉarv ata (cẩy vòi m ốc); cf Paradoxurus hermaphroditus (cẩy vòi đốm); Viverra sp (cầy); Cuon antiquusịavanicus (chó rừng Java); Cuon alpinus (chó rừng); cí.C anis sp.(chó sói); P an thera tigris (h ổ ); cí.P an thera pardu s (báo); cf.N eofelis nebulosa (báo gấm) cf.Felis gengaỉenis (mèo); Felis temmincki (b eo ); Hỵstrix subristata (nhím); Atherurud macrourus (don); Rhizomus troglodytes (dúi); Rattus sabanus (chuột); Rattus rattus (chuột núi); Chiroptera gen et sp indet (dơi); A rchidiskodon sp (voi cố); Elephas namadicus (voi phương nam); Stegodon orientaỉis (voi răng kiếm);

cf P alaeoloxodon aff N am adicus (voi cổ châu Á) Tapirus ( m egatapirus) augusthus (heo vòi lớn); Tapirus sp (heo vòi); Rhinoceros sinensis (tê giác); Dicerorhinus sum atraensis (tê giác hai sừng); Sus scrofa (lợn rừng); Rusa unicolor (nai); Cervus sp (hươu); M untiacus muntịak (hoẵng); cf.Tragulus ịavanicus (cheo cheo); Bibos gaurus (bò tót); Bos sp (bò); Bubalus bubalis (trâu); Capricom is sumatraensis (sơn dương); Cỵclophorus (ốc núi) Ngoài ra

ở đây còn phát hiện được răng hóa thạch của người khôn ngoan H om o sapiens.

Quan điểm phổ biến trước đây coi loại trầm tích màu vàng chứa các hóa thạch đặc trứng thuộc phức hệ Pongo - Sgegodon - Ailuropoda ờ miền Bắc nước ta có tuổi khoảng 4-5 vạn năm, thuộc quần động vật Hoa Nam, dạng hình Quảng Tây; Trung Quốc Những nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng; những hóa thạch ở Làng Tráng cũng rất tương đổng với quẩn động vật trong các hang động Lida Ajer, Djambu và Sibrambang (Sumatra), hang Punung (Java), hang Niah (Malaysia) Tuy nhiên, trong thành phẩn các giống loài

Ailuropoda, trong khi đó ớ Làng Tráng lại không có các loài thuộc quần

động vật Sumatra như Bos javatĩicu s và Sur barbatu s Các nghiên cứu so

Di sàn Lịch s ừvà những hướng tiếp cận mới I 3

Trang 17

Hình 1

Các di tích Cô Sinh - Cô Nhân, Đá Cũ - Sơ kỳ Đá Mói tiêu biểu ở Việt Nam

1 T h ẩm Khuyên, 2 Thầm Hai, 3 Thầm ò m , 4 Hang Hùm, 5 Làng Tráng, 6 Hang Đười Ươi,

7 T h u n g Lang, 8 Kéo Lèng, 9 Núi Đọ, 10 Xuân Lộc, 11 Đồi Thông, 12 Làng Vạc,

13 Sơn Vi, 14 Chũ, 15 Cùa, 16 Lung Leng, 17 NgƯờm, 18 Mái Đ á Đ iều, 19 Hang Áng Má,

20 Hang Chổ, 21 Hang Muối, 22 Xóm Trại, 23 Hang Dơi

A Di tích Cổ nhân - c ổ sinh; • Di tích Đ á Cũ; ■ Di tích Hậu kỳ Đá Cũ - Sơ kỳ Đ á Mới

Trang 18

sánh trên cho thấy, có nhiêu khả năng quần động vật trên các đảo ờ Indonesia và Malaysia cũng mang nhiéu yếu tố cúa quần động vật Nam Trung Quốc Điều đó cho thấy vào thời Pleistocene, những động vật này đã

Đông Nam Á lục địa bởi thếm Sundaland Mức độ tương đổng cao giữa quấn động vật Làng Tráng và quần động vật Sumatra củng gợi ý rằng chúng

có cùng một niên đại thuộc Pleistocene muộn như ở Sumatra và Niah, với các niên đại tuyệt đối được xác định vào khoảng 50.000-80.000 năm cách ngày nay

H ang Đười Ư ơi/M a Ươi

2003, 2 0 0 4 và 2006 (Rousse’ et al 2003; Bacon et al 2004, 2006; Demeter etal 2004, 2 0 0 5 )

Thành phẩn động vật hang Đười Ươi mang tất cả những tính chất của một tập hợp động vật có vú của Pleistocene muộn với tuổi sinh học phù hợp với niên đại U / T h ( 6 6 ± 3 ka) Về khía cạnh này, nó tương đối giống với các quẩn động vật có cùng tuổi như Làng Tráng (80-60 nghìn năm trước) (de Vos and Long 1993; Long và cộng sự 1 9 9 6 )) hoặc sớm hơn một chút như

ờ Hang Hùm (14 0 -8 0 nghìn năm trước) (Nguyễn Lân Cường 1985; Olsen and Ciochon 1990) Tuy nhiên, hang Đười Ươi không có các thành phần động vật cổ đã được tìm thấy trong các địa điểm trên, như không có

Stegodon orien talis như Làng Tráng, hay không có E lep h as n am adicu s,

M egatapirus augusthus như ở Hang Hùm T ư liệu ở hang Đười Ươi đã cho

thấy rằng, vào khoảng 66 nghìn năm trước, những loài động vật hiện đại đã

sống ở khu vực này Như vậy ở hang Đười Ươi, đã có mặt quần động vật hiện đại có niên đại cổ nhất hiện biết ở Đông Dương Sự tương đổng giữa quần động vật hang Đười Ươi và các quần động vật ở các địa điểm khác cùng thời như Punung và Gunung Dawung ờ Java; Lida Ajer, Sibrambang

và Dịambu ở Sumatra là điểm đáng lưu ý Trong số này, sự tương đổng rõ rệt nhất là giữa Đười Ươi và Sibrambang ờ Sumatra, một đảo gần bán đảo Malay nhất Hầu hết các thành phần có mặt ở hang Đười Ươi đều xuất hiện trong các địa điểm ớ Sondai Thậm chí chúng còn chứa các thành phần động

vật hiện đại di cư như Pongo pygm aeus, H elarctos m aỉayanusỊ E lep h a s

m axim us, Sus scrofa v.v (de Vos 1 9 8 3 ) Có lẽ vào khoảng 70 nghìn năm

trước, tương đương tuồi quần động vật của hang Đười Ươi, quần động vật đặc trưng của thềm Sunda là những loài hiện đại Sự có mặt của Pongo ở hang Đười Ươi cũng như ở Punung và Sibramban gợi ý rằng, vào thời kỳ này những cánh rừng nhiệt đới bao phủ xuyên suốt cả một vùng rộng lớn của

Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới I 5

Trang 19

thềm Sunda Ngay cả khi rừng bao phủ thềm Sunda không thực sự trùng với thời gian tiếp nối thì sự di cư của những loài sống dựa vào rừng như Pongo hay Hylobates đòi hỏi phải có sự tồn tại tiếp tục của rừng để sinh tổn Theo giả thuyết của Van den Bergh và cộng sự (Van den Bergh et al

1996, 2 0 0 1 ), sự di CƯ của quần động vật hiện đại này diễn ra suốt giai đ oạn

sau của Oxygen Isotopic Stage 5 (O IS 5 ), khoảng giữa 110 và 70 nghìn năm trước, khi mực nước biển hạ thấp 50m so với hiện nay, đủ điểu kiện để nối các đảo lớn như Borneo, Java, Sumatra với bán đảo Malay (Voris 2 0 0 0 ) Điều kiện khí hậu khi đó vẫn đặc trứng là ấm và ẩm giai đoạn trước 70 nghìn

và sau băng hà cực đại 125 nghìn năm trước (Chappell and Shackleton 1987; Prentice and Denton 1988)

Môi trường, sinh thái cuối Trung kỳ - đầu Hậu kỳ Pleistocene ở BắcViệt Nam được xác định với tính chất là các vùng rừng bao phủ và một số khu vực thông thoáng với các chỉ định là tỷ lệ cao hóa thạch của các loài thuộc bộ ăn thịt (Carnivora), bộ guốc chẵn (Artiodactyla) và bộ linh trưởng (Primates) Trong điều kiện khí hậu ấm và ẩm vào khoảng 140-80 nghìn năm tương ứng với tuổi trầm tích, hóa thạch hang Hùm (Olsen and Ciochon 1 9 9 0 ), trẩm tích hang Làng Tráng và hang Đười Ươi, khoảng 6 0 -8 0 nghìn năm trước (Bacon et al., 2 0 0 6 ) Sự hiện diện của Pongo ở hang Đười Ươi, Làng Tráng

và các hang động khác cho thấy rằng vào khoảng 66 nghìn nảm trước, khí hậu Bắc Việt Nam vẵn mang tính chất á nhiệt đới và nhiệt đới Các loài khác phản ánh các điểu kiện môi trường sống khá đa dạng, nhưng thường đặc trưng bời rừng và các vùng có cây cối rậm rạp Hệ sinh thái này trải rộng khắp cả thềm Sundaland Loài heo vòi sống trong những cánh rừng nhiệt đới ẩm và những vùng đẩm lầy trải rộng từ bán đảo Malay tới Sumatra Chúng hiếm khi được tim thấy ờ độ cao trên 1500m so với mực nước biển Chúng cũng sống theo mùa trong nhiểu kiểu sinh thái trải từ vùng rừng cây

lá kim khô hạn tới các vùng rừng cây rụng lá theo mùa hoặc rừng thường xanh (Brooks et al 1997; Nowak 1999) Loài ăn cả thức ăn động thực vật

rậm tại tất cả các độ cao khác nhau (Lekagul and McNeelỵ, 1988) Loài gấu ngựa thường sống ở vùng rừng cây rụng lá theo mùa ẩm ướt và rừng cây bụi rậm rạp, đặc biệt là ở các vùng đồi núi (Nowak 1 9 9 9 ) Các loài hươu và hoẵng thích nghi với các vùng có cây cối rậm rạp

Loài tê giác Rhinoceros unicornis hiện còn sống ở các bãi cỏ ven sông và các

vùng đầm lẩy có vành đai cây cối rậm rạp, rừng cây chai hơi khô hạn hoặc rừng cây hạnh nhân nhiệt đới bao quanh T ư liệu thu thập được về môi trường sống của loài tê giác Ấn Độ trước đây gồm một số dạng như vùng đất thấp đám lầy với cỏ cao hay bụi rậm, thỉnh thoảng có suối và đầm lầy; rừng cây to xen

Ổ I Di sàn Lịch sử và những hướng tiếp cặn mới

Trang 20

lản cây thân bụi ven sông; rừng hỗn giao hơi khô hạn (Laurie et al.; 1983; Nowak; 1999) T ê giác Ấn Độ là loài động vật chủ yếu ăn cò (chiếm 70-89%

lượng thức ăn, trong đó bao gồm cả quả, lá, cành cây và cây thân bụi) Tê giác

Ấn Độ uống nước hàng ngày và thỉnh thoảng đến những nơi đất mặn để liếm

muối (Laurie et al 1983; Nowak 1999) T ê giác Sondai ( Rhinoceros sondaicus) ưa thích cỏ cao, các vùng đất thấp nhiểu lau sậy trong các vùng

rừng mưa nhiệt đới, nơi đảm bảo về nguổn cung cấp nước và nhiéu vũng bùn

để chúng đầm mình T ê giác Java và tê giác Sumatra là các loài chuyên ản cành; chồi non, tán lá non và quả (Nowak 1999), chúng phân tán theo mùa

vi liên quan đến nền khí hậu gió mùa (Groves and Kurt 1972; Nowak 1999).Tóm lại; SƯU tập quần động vật hang Đười Ươi cho thấy rằng vào khoảng 66 nghìn năm trước tổn tại những khu vực rừng bao phủ và một số môi trường

Đười Ươi quá nghèo nàn do mức độ bảo tổn rất kém của chúng trong trám tích, không thể cung cấp thông tin sâu hơn vể cổ môi trường và cổ dân tộc thực vật học

Sự phong phú của một số loài động vật có vú lớn như Rhinocerotids, Elephas, Bubalus bubalisf T apirus indicus phản ánh các điều kiện khí hậu ẩm ướt Các

điều kiện khí hậu ẩm đã tón tại trong khu vực này từ trung kỳ Pleistocene ở Việt Nam, tương đương tuổi trầm tích hóa thạch hang Thẩm Khuyên với niên đại 4 7 5 ± 1 2 5 ka; và Yenchingkuo ờ Nam Trung Quốc

C ác nguổn tư liệu từ các di chỉ khác

Mỏi trường và các hệ sinh thái tương ứng với các quần động vật nói trên còn

được duy trì cho đến khoảng trên dưới 3 vạn năm cách ngày nay, tuy nhiên

nó đã có biến đổi ít nhiểu

Phân tích thành phần thạch học trong đơn vị địa tầng I di chỉ mái đá Điểu (khoảng 24-30 nghin năm) cho thấy trầm tích vụn cơ học lắng đọng gồm dăm đá sắc cạnh, cát kết, bột sét kết, silic, thạch anh, oxýt sắt, lẫn ít bã thực vật và mảnh vụn vò nhuyễn thể bị kết vón thành khối tảng rắn chắc màu vàng có tuổi Pleistocene muộn Hóa thạch động vật ở tầng I Mái đá Điểu gổm một số loài gần gũi với hóa thạch cổ sinh Làng Tráng, tuy nhiên chủng loài đã giảm đi đáng kể, thiếu vắng một số loài đặc trưng cho hậu kỳ Pleistocene như gấu tre, voi răng kiếm, voi cổ (Palaeoloxodon), heo vòi v.v nhưng vẩn còn hiện diện của Pongo Mặt khác, vể mức độ hóa thạch của di cốt ở Mái đá Điều cũng thấp hơn Làng Tráng Tương tự như Mái đá Điều, hóa thạch tìm được trong lớp trẩm tích màu vàng có tuổi khoảng từ 23-30 nghìn năm ở Mái đá Ngườm (Ngườm I) củng có mặt Pongo nhưng

Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới I 7

Trang 21

khá nghèo vể chủng loài và thiếu vắng một số loài đặc trưng như đã nói ở trên Trong lớp sâu nhất của địa tẩng Hang Chổ có niên đại khoảng trên

Có thể nói rằng sau khoảng trên dưới 30 nghìn năm trước, nền khí hậu ở Bắc Việt Nam đâ bắt đầu có sự biến đổi theo chiều hướng lạnh khô M ột

số loài động vật đặc trưng cho hậu kỳ Pleistocene trước đây như Pongo; Stegodon, Ailuropoda do không thích ứng với điều kiện môi trường mới đã phải di CƯ hoặc bị tuyệt diệt Về cơ bản vào khoảng 18 nghìn năm trở vể sau không còn dấu vết của các loài động vật nói trên Hệ thực vật thời kỳ này

ở Bắc Việt Nam có lẽ đặc trưng bởi kiểu rừng hỗn giao á nhiệt đới và ôn đới,

rừng cây lá rộng rụng lá theo mùa như họ F a g a cea e (sổi dẻ), C arỵa (hồ đào), Ịu g lan d aceae (ó c c h ỏ ) , Carpinus (cáng lò) hiện diện trong tập hợp

bào tử phấn hoa mái đá Ngườm Rừng vùng núi cao phía bắc có thể còn chứa các yếu tổ cây lá kim và vùng vi độ thấp hơn hồn giao với cây lá rộng thường xanh

Ở di chỉ Mái đá Điểu, khung niên đại chi định cho lớp sâu nhất của địa tầng (Điểu I) là khoảng trên 20 nghìn đến 30 nghìn năm, niên đại của lớp giữa khoảng 20-12 nghìn năm Mái đá Điểu không có lớp dăm đá vôi như Ngườm nhưng sự khác biệt giữa đơn vị địa tầng I và II là khá rõ biểu hiện qua trình độ di cốt hóa thạch và thành phần động vật Đơn vị địa tầng I chứa hóa thạch, trong đó có Pongo; khá hiếm vỏ nhuyễn thể và kích thước của chúng cũng khá nhò, phản ánh giai đoạn này có chế độ nhiệt ẩm thấp (Nguyễn Gia Đối; 1998, 1999) Đơn vị địa tầng II chứa di cốt động vật bán hóa thạch, không có đại diện các loài động vật đặc trưng của Pleistocene muộn, các loài ốc núi Cyclophorus và ốc suối Antimelania costula xuất hiện nhiều hơn

Gần đây dự án nghiên cứu vê' cổ khí hậu bằng phương pháp phân tích từ cảm (M agnetic Susceptibility) mẫu đất trong các địa tầng hang con

M oong (Thanh H ó a), Hang Lán M ò, Hang T ọ (S ơ n L a) và đặc b iệt là Hang Chổ (H òa B ình) cũng cho thấy rằng vào khoảng trên dưới 3 0 - 20 nghìn năm trước là m ột thời kỳ khí hậu ôn hòa xen kẽ các đợt lạnh, trong

đó có một đỉnh rất lạnh và khô vào khoảng 2 3 -2 2 nghìn năm (Lưu Phương Lan và Ellwood; 2 0 0 9 ) Có lẽ đợt lạnh này đã tác động đến sự cân bằng sinh thái khu vực, mà rõ ràng nhất là sự di chuyển của một số loài động vật Ưa nóng như Pongo xuống phía nam Hóa thạch Pongo muộn nhất hiện biết ở nước ta là ở Mái đá Ngườm, niên đại 2 3 0 0 0 năm cách ngày nay Hóa thạch Ailuropoda muộn nhất ở Mái đá Ông Quyển, niên đại 18.000 năm Hóa thạch Stegodon muộn nhất đựỢc phát hiện gần đây

8 I Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới

Trang 22

ở lớp đáy Hang Chổ, niên đại vào khoảng 2 2 0 0 0 năm cách ngày nay (Yi Seonbok et al 2 0 0 8 ) Nhìn chung, trong các di tích hang động ở Việt Nam, khoảng sau 18 nghìn năm cách ngày nay hắu như không còn phát

Ailuropoda, được cho là đặc trưng cho vùng Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam vào giai đoạn hậu kỳ Pleistocene

Theo các nhà nghiên cứu cổ khí hậu Đệ T ứ Kỷ Trung Quốc, giai đoạn 50

muộn Trong giai đoạn này, thời kỳ đầu khí hậu ôn hòa và giai đoạn sau (sau 32.000 năm) khô và lạnh, nó tương ứng với giai đoạn muộn băng hà Wưrm của châu Âu Khoảng 5 0 000 năm trước, ở phía bắc Trung Quốc thám thực vật thể hiện một chế độ khí hậu ôn hòa và bán ầm; nhiệt độ trung bình được cho là thấp hơn hiện nay 4 ° c Thực vật chủ yếu bao gồm

các loài C h en op o d ia cea e, G ram in eae và C om p ositae cùng với loài voi

C oeloảon ta anitiquitatis Sau 23.000 năm khí hậu trở nên khắc nghiệt hơn

rất nhanh, các khu vực sa mạc lảnh nguyên và đồng cò rộng lớn xuất hiện

ở đông bắc Trung Quốc Nhiệt độ trung bình hàng năm được ước tính thấp hơn hiện nay 1 2 °c Sự khắc nghiệt cùa khí hậu lạnh đả làm cho các loài động vật ở phía bắc Trung Quốc di chuyển xuống phía nam Vào khoảng 50-40 nghìn năm trước, mực nước biển hạ xuổng thấp hơn ngày nay khoảng 75-88m Sau đó qua một đợt biển tiến rất ngắn vào quãng 39 nghìn năm, khí hậu bước vào một giai đoạn lạnh nhất vào khoảng 21-12 nghìn năm trước, mực nước biển hạ xuống khoảng 150m so với hiện nay Thém lục địa rộng lớn trờ thành đất liến, các đảo ngoài khơi như Đài Loan và Hải Nam được nối liển với lục địa Biển thoái cũng tạo ra một nển khí hậu khô hạn hơn và hoạt động của gió tây được tàng cường Khoảng 22-18 nghìn năm tntòc gió mùa thổi từ vịnh Bengal rất khô và yếu (Tong Goubang and Shao Shixiong 1 9 9 1 )

Các công trình nghiên cứu về cổ môi trường khí hậu ở từng khu vực cũng cho thấy rằng, vào khoảng từ trên 3 vạn năm cách ngày nay, khí hậu ở Nam Trung Quốc đã dẩn chuyến từ ấm và ấm sang lạnh và khô hơn Tron g khoảng 3 0 -2 0 nghìn năm, khí hậu ở khu vực Bạch Liên Động (Quảng Tây, Trung Q uốc) mát lạnh và khỏ hơn hiện nay thúc đây quần động vật nhiệt đới di cư xuống phía nam và một số loài động vật có vú lớn nào đó bị tuyệt diệt, khoảng 20-15 nghin năm khí hậu ở vùng này cũng còn tương đối lạnh và khô (Khổng Chiêu Thẩn và cộng sự 1 9 9 4 ) Khoảng

36 nghìn đến 20 nghìn năm trước, ở khu vực di chỉ Menghai (Vân N am ) mùa đông ẩm ướt hơn và nhiệt độ hàng năm chỉ thấp hơn hiện nay chút

ít Khoảng 17-16 nghìn năm trước, ở khu vực Er Yuan (C ôn M inh), nhiệt

Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới I 9

Trang 23

độ hạ xuống khoảng từ 2,5° đến 4 ° c T ừ 17-10,5 nghìn năm trước, lượng mưa hàng năm đã cao hơn nhưng tất nhiên là còn thấp hơn so với hiện nay (An et al 1 9 9 3 ).

Một số công trình nghiên cứu vế cổ môi trường ở Đông Nam Á cho rằng từ 32.000 năm trở đi có một thời kỳ khô lạnh Khi phân tích thành phán vi lượng trong các lớp đất địa tầng hang Niah ở Sarawak, Peterson đã nhạn ra rằng, tầng đất có niên đại 32,000 năm đến 20,000 năm trước tương ứng với một giai đoạn lạnh và khô, do tẩng này có hàm lượng mangan và phốt pho rất thấp (Peterson, R.M 1969) Trong khoảng 18-16 nghìn năm trước, các

(Peterson 1978) Verstappen nghiên cứu ở Malaysia cũng đi đến kết luận rằng, trong các thời kỳ băng hà đã tổn tại các điếu kiện khô với sự hạ nhiệt

độ và một mùa khô kéo dài (Verstappen 1975)

Tại di chỉ Mái đá Ngườm (Võ Nhai, Thái Nguyên); tầng nằm dưới lớp đá

khí hậu khô hạn Khoảng trước 2 3 0 0 0 năm là giai đoạn lạnh nhất, phần

phía bắc lục địa Đông Nam Ả, khí hậu càng lạnh hơn Đó chính là giai đoạn

hình thành lớp dăm đá vôi ở Ngườm (H à Văn Tấn 1985)

Khoảng sau 20 nghìn năm cách ngày nay; khí hậu ở Bắc Việt Nam có dấu hiệu ấm dấn trở lại, độ ẩm và lượng mứa cũng phẩn nào tăng lên Bước sang giai đoạn đơn vị địa tầng II của Mái đá Điều, bắt đầu từ độ sâu 3,4m đến 3m đã tìm thấy một số mảnh nhũ đá vôi, di cốt động vật và vò nhuyễn

dưới 3m, được giám định là loài giống hạt gắm (W alnut) hay dẻ

(Chestnut) thuộc Gnettum sp Phân tích bào tử phấn hoa ở mái đá Ngứờm

giai đoạn này gồm những loài thuộc họ sồi dẻ (Fagaceae); hổ đào (Carya),

óc chó (Juglandaceae) và cáng lò (Carpinus) Gắm hay dẻ cùng các đại diện khác như sồi (Q u ercu s), dương liễu (Salix), cáng lò (Carpinus), Lithocarpus là thực vật đặc trưng của rừng ôn hòa mát mẻ; chúng hiện đang phổ biến ở những vùng có vĩ độ cao ờ Bắc Việt Nam Theo Aigner

rừng mưa hiện tại (Aigner 1 9 7 9 ).T h eo biểu đổ phân tích từ cảm ở Hang Chổ, khoảng 20-13 nghìn năm trước khí hậu ôn hòa trờ lại, lượng mưa và

độ ẩm tăng lên Tuy nhiên vẫn có đợt mát lạnh ngắn xen kẽ vào khoảng 19 nghìn năm và vào khoảng 14 nghìn năm cách ngày nay Popov, người tham gia khai quật Mái đá Điểu trong các năm 1988-1991 đã thông báo rằng trong Mái đá này, từ lớp 7 có niên đại khoảng 24 nghìn năm lên đến lớp

I O I Di sản Lịch sừ và những hướng tiếp cận mới

Trang 24

6a có niên đại khoảng 13 nghìn năm cách ngày nay, các loài ốc suổi Antimelania costula và ốc núi Cyclophorus xuất hiện rất ít Số lượng của chúng chỉ tăng lên rõ rệt từ lớp 5 với niên đại khoảng 11.700 năm vế sau (P o p o v 1 9 9 1 ) Như vậy có thể nhận định rằng; khoảng trên 30 đến khoảng 20 nghìn năm trước nển khí hậu ôn hòa mát mẻ và xen kẽ các thời

kỳ khô lạnh Khoảng 20-12 nghìn năm trước khí hậu ấm trở lại nhưng độ

ẩm vẫn còn thấp, chi từ khoảng 12 nghìn năm trờ về sau, khí hậu mới thực

(LƯU Phương Lan và Elhvood 2 0 0 9 )

có các niên đại tuyệt đối khoảng 13-15 nghìn năm trước, phổ biến các loài

cây thân gỗ nhứ: c.astan ea sp., C astanopsis sp., Ilex sp Rhus sp., B etula sp.;

M rỵca sp., Ịugỉans s p M elia sp.; E n gelhardtia sp., Platỵcarỵa sp., và Uỉmus

sp Các loài Castanea, Castanopssis, Betula, Juglans là những loài cây tẩng cao, thích nghi rộng, ưa ầm và mát (Nguyễn Mai Hương và Phạm Văn Hải

2 0 0 9 ) Đây có thể là thảm thực vật đặc trưng cho rừng á nhiệt đới hỗn giao giữa cây lá rộng rụng lá và cây thường xanh

Ở Mái đá Điểu, bắt đẩu từ phân vị địa tẩng III, khoảng sau 12 nghìn năm, xuất hiện nhiều tảng đá vôi kích thước lớn 40-60cm và nhũ vôi 10-20cm Các nhà nghiên cứu cho rằng nó liên quan đến một thời kỳ mưa lớn, nước mưa chứa axít đã xâm nhập vào những khe nứt của mái đá cùng những ảnh hưởng vận động của vỏ trái đất làm hàng loạt những tảng đá vôi rơi đổ xuống nền di chỉ (Đặng Hữu Lưu 1 9 8 6 ) Lượng mưa lớn làm tăng diện tích

bể mặt nước, tạo môi trường sinh sản thuận lợi của các loài động vật thủy sinh, đặc biệt là ốc suối và cua đá Trám (canarium) - một loài cây ưa nóng

ẩm - cũng xuất hiện nhiều nhất trong tầng vị này Ở Đông Nam ÁỊ giữa 11

và 10 nghìn năm trước, khí hậu chuyển dần sang ẩm ướt (Flenley 1979) Lượng mưa hàng năm tăng kèm theo sự mở rộng của rừng mưa (Belhvood, 1993; Heaney 1991) T ư liệu vể cổ thực vật ờ Trung Quốc xác định nhiệt

độ gia tăng khoảng 2-3°C trong suốt giai đoạn 10-9 nghìn năm trước Những di tích thực vật ở Hang Spirit, Đông Bắc Thái Lan cho thấy điểu kiện khí hậu thời kỳ này chỉ khác nhau rất ít so với hiện nay (Gorman 1971;

Y en 1977)

Di sản Lịch sừ và những hướng tiếp cận mới ị I I

Trang 25

có khoảng 140 địa điểm thuộc hệ thống này đã được phát hiện Các địa điểm này phân bố chủ yếu ở vùng thượng-trung du các sông Hổng, sông

Lô, sông Đà, sông Lục Nam, sông Mã; sông Lam M ột số phân bó trên thềm sông thuộc miền Trung và Tây Nguyên Nghiên cứu các hình thái CƯ trú của các nhóm CƯ dân này cho thấy hầu hết họ sống ở ngoài trời, trên

đá trên bể mặt; chỉ có một vài địa điểm có tầng văn hóa nhưng nhìn chung cũng không dày, khoảng 0 ,6 - lm Điểm đáng chú ý ờ đây là hẩu hết các địa điểm đéu nằm ở ngã ba sông suối, rất hiếm các điểm cách xa sông Có

lẽ vào khoảng đầu và giữa Hậu kỳ Pleistocene, khí hậu nóng ẩm, phẩn lớn đất đai có rừng bao phủ, chỉ có vùng ven sông là tương đối quang đãng Khu vực ngã ba sông suối, thềm, đồi gò ven sông có lẽ là giải pháp tốt nhất chọn làm nơi cư trú lúc bấy giờ vì không gian thông thoáng hơn, gần nguồn nước, nguổn đá cuội, nguồn thức ăn Khu vực ngã ba sông suối thường là nơi tập trung của các loài cá vì có khoảng nước lặng và giàu thức

ăn hơn V en sông cũng là nơi các loài thú thường đến uống nước và đằm mình nên có th ể dẻ săn bắt hơn T h eo quy luật sinh học thi ở đâu có nhiều loài động vật ăn cỏ như hươu, nai, trâu, bò, thì cũng có nhiều loài động vật

ăn thịt tìm đến đó để săn mồi M ối hiểm họa đến từ thú dữ là tiềm tàng nên việc chọn nơi cư trú ở ngã ba sông suối có hai phía được che chở bởi nước là giải pháp hữu hiệu Các khu vực cư trú của cư dân Sơn Vi và các mức sớm hơn thường không lâu dài vi những di vật đá chủ yếu nằm trên bê' mặt hoặc có chăng chỉ trong các lớp địa tầng tương đối mỏng Có thể cho rằng hình thái cư trú của các nhóm CƯ dân này là di động khai thác nguồn thức ăn tự nhiên Sự di chuyển địa vực cư trú theo tuyến tính, dọc theo các triển sông Tuy nhiên quá trình này không phân định đéu đặn vê' thời gian mà có quãng dài ngắn khác nhau phụ thuộc vào điếu kiện sống

ờ mỗi địa vực Chính vì vậy trong các chuổi di tích ven sông chúng ta thấy

có nơi cư trú khá lâu dài, diện phân bố rộng và tập trung hơn (bases), có

12. I Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới

Trang 26

nơi chí là thoáng qua như các điểm dừng chân tạm thời (cam p s) T h eo quan điểm sinh thái học tổng quát, di động được coi như là một trong

vi văn hóa để giảm thiểu rủi ro thông qua việc lập chương trình thời gian biếu và kiểm soát thông tin về các nguón (MacArthur 1972; Kelly 1 9 8 3 ) Các nghiên cứu vể các nhóm khái thực (foragers) ở Đông Nam A nhiệt đới gió mùa có khuynh hướng tụ tập tại các vùng ven sông suối Sự di chuyển nhìn chung ít hơn trong mùa mứa ẩm ướt Họ tập hợp lại thành nhóm lớn (clusters) trong mùa mưa và phân tán thành nhóm nhò thành kiểu các gia đình hạt nhân (nuclear íamilies) trong mùa khô ráo Sự di chuyển của họ theo mô thức tuyến tính, dọc theo các con sông Trong điều kiện hệ sinh thái phổ tạp, nhiều giống loài động thực vật, nhiểu nguổn thức ăn nhưng lạì không tập trung, khối lượng mỗi loài không lớn Vì vậy hình thái khai thác nguổn thức ăn của họ theo phổ rộng (broad spectrum) hay mô thức khai thác tổng thể (generalized exploitative pattern) (G o rm an 1971;

1 9 7 2 ) Vùng nhiệt đới Đỏng Nam Á có tính mùa biểu hiện rõ nét ở hai mùa khô và ẩm ướt Trong vùng nhiệt đới gió mùa; một số nguồn thức ăn thực vật sẵn có quanh năm, song chúng có xu hướng giảm nhiều vể khối

lượng và chất lượng vào cuối mùa khô đầu mùa mưa Tuy nhiên, so với

vùng ôn đới, nguồn thức ăn phân bố không quá mất cân đối giữa các mùa

Như vậy khó có khả năng diễn ra việc tích trữ thức ăn với khối lượng lớn

Trong khai thác nguồn thức ản, phổ biến quan điểm cho rằng hoạt động hái lượm phổ biến hơn săn bắt và thức ăn thực vật đóng vai trò chính trong

cơ cấu dinh dưỡng của các nhóm người nói trên Những cứ dân dựa vào nguồn thức ăn từ thực vật là chính thường xuyên di chuyển hơn cư dân ăn thịt động vật và khoảng cách di chuyển cũng ngắn hơn (H itch co c k and

E bert 1 9 8 9 ) T h eo Binford; vùng kinh tế liên quan đến chiến lược di chuyển khai thác nguổn thức ăn là khoảng cách bao quanh khu vực chỗ ở

mà trong đó nhóm cư dân đó hoạt động kiếm sống và quay vê' căn cứ hoặc

1980) Trong hoàn cảnh nguồn thức ăn phân tán đểu, các nhóm khái thực

có khuynh hướng di chuyển nhiều hơn và phân tách thành các nhóm nhỏ

Do điều kiện khí hậu nóng ầm nên việc cư trú ờ ngoài trời cũng không gặp trờ ngại lớn Tuy nhiên, có khả năng người ta đã làm các lán trại không mấy kiên cố tại những điểm thuận lợi để tránh mưa nắng

Cho đến nay, việc nghiên cứu vé cơ tầng văn hóa Sơn Vi chủ yếu dựa trên

răng Homo erectus (H ình 2 ) Nhìn chung, bộ công cụ đá của người Sơn Vi được chế tác khá đơn giản, ít làm biến đổi hình thái tự nhiên của hòn cuội

Di sàn Lịch sừ và những hướng tiếp cận mới I 13

Trang 27

(Hình 3, 4) Công cụ được ghè trực tiếp, ghè trên một mặt, đơn hướng, phổ biến có 1-2 lớp ghè chủ yếu để tạo rìa tác dụng Loại hình công cụ khá đơn điệu, chúng chủ yếu bao gồm các công cụ chặt thỏ (choppers) rìa lưỡi ngang

lưỡi xiên (corner-edged choppers); công cụ mủi nhọn hay cuốc tay (pointed-edged pieces hay picks) công cụ rìa lười cong lồi hình móng ngựa

rìa lưỡi góc hội tụ (convergent-edged pieces), công cụ rìa lưỡi bị bẻ gẫy hay còn gọi là một phần tư hòn cuội (truncated-edged pieces), công cụ dạng bôn (adze-shaped pieces), nạo (scrapers), các công cụ mảnh tước tu chinh (retouched flakes), hòn ghè (hammer stones), hạch đá (co re s), chày (pestles), bàn nghiền (mortars) v.v Đồ đá Sơn Vi mang đặc trứng kỹ nghệ công cụ cuội (pebble tool industry), cuội tự nhiên ở sông suối là nguyên liệu chính để chế tác công cụ Về mặt hình thái công cụ đá mang tính đa năng với một số chức năng như chặt, đập, đào bới, cất, nạo Nhiều khả năng công cụ tre gỗ cũng được sừ dụng rộng rãi, tuy nhiên chúng đã bị hủy hoại

M ột số loại công cụ đá có thể đã được sử dụng để chế tác công cụ tre gỗ

M ột điểm khác cần nhận thấy Tầng, trong khoảng 7-8 vạn năm, từ Đồi Thông

như các địa điểm ở Phú Thọ (khoảng trên dưới 3 vạn năm), về cơ bản các loại

hình công cụ đá vẫn khá tương đổng Người ta chỉ ghi nhận rằng các mức sớm của cơ tầng này, có số lượng đố đá thô to và ghè ít hơn, công cụ mũi nhọn nhiều hơn Các mức muộn phổ biến loại chopper rìa dọc hay còn gọi

là công cụ múi bưởi Điểm khác biệt này có phản ánh sự tiến triển nào đó vể mặt văn hóa hay không; hay chỉ là các kiểu hành vi công cụ (tool behaviour) thích ứng với các điều kiện tiểu hệ sinh thái vùng? Dù sao chăng nữa phải thừa nhận rằng, bộ công cụ đá của cơ tầng này bảo lưu truyền thống khá dài

và ít biến đổi Nó phản ánh tính thích ứng và cân bằng văn hóa trong một điểu kiện môi trường tương đối đồng nhất và bển vững Như trên đã nói, đó

là điểu kiện môi trường nóng ẩm, hệ sinh thái đa dạng duy trì suốt từ cuối Trung kỳ Pleistocene đến trước Hậu kỳ Pleistocene muộn

Hiện tại khung niên đại của cơ tầng Sơn Vi là chưa rõ ràng, chưa có các niên đại tuyệt đối tương thích và đáng tin cậy Ngoại trừ các mức sớm như Đổi Thông, Làng Vạc (hay Nậm T un?), quan điểm phổ biến cho rằng văn hóa Sơn Vi tồn tại trong khoảng từ 30-11 nghìn năm trước thuộc hậu kỳ Đá Cũ (H à Văn Tấn 1998; Hà Văn Tấn và cộng sự 1999; Nguyễn Khắc Sử 1992; Nguyễn Khắc Sử; Vũ T h ế Long 2 0 0 4 ) Chúng tôi cho rằng khung niên đại dựa trên suy đoán này là bất cập không phù hợp với tồng thể Trong tương quan chung cho thấy hệ thống sinh thái nhân văn hay cơ tầng văn hóa này

14 I Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới

Trang 28

bắt đầu có dấu hiệu biến đổi vào khoảng trên ba vạn năm cách ngày nay do các biến đổi khí hậu như đã nói ở trên Mặt khác, cũng vào khoảng thời gian này nhiểu nhóm khái thực vốn sổng ở ngoài trời ven sông đã phải di chuyển vào cư trú trong hang động để tránh lạnh giá Những bằng chứng trên cho thấy rằng, cơ tầng Sơn Vi đích thực đã giải thể vào khoảng trên dưới ba vạn năm cách ngày nay trước hậu kỳ Pleistocene muộn (late Upper Pleistocene) Theo trật tự trên, cơ tẩng Sơn Vi có thể tồn tại trong khoảng

từ trên dưới 10 vạn đến khoảng 3 vạn nảm trước tương đương với giai đoạn sớm-giữa của hậu kỳ Pleistocene

Vê' mặt nhân học cơ thể, người Sơn Vi có thể là những Hominid đang trong quá trình Sapiens hóa như các hóa thạch ờ Hang Hùm, Thầm Òm hoặc các Homo Sapiens ở Làng Tráng, Đười Ươi, Kéo Lèng

C ác hệ thống văn hóa H òa Bình

di tích hang động, phân bố khá rộng nhưng tập trung ở các tỉnh Hòa Binh, Thanh Hóa và một số ở Bắc Trung Bộ và các tỉnh miền núi phía Bầc Các

hệ thống văn hóa Hòa Binh bao gồm các hệ thống hay phụ hệ thống khác nhau như hệ thống văn hóa Bắc Sơn và các hệ thống khác ở Đông Nam Á

và Nam Trung Quốc Cơ tấng Hòa Bình tồn tại trong khoảng thời gian khá dài với các mức tiến triển khác nhau Các cuộc tranh luận về Hòa Bình tập trung xung quanh các vấn để về niên đại giai đoạn sớm; về tính thong nhất văn hóa hay kỹ nghệ công cụ cuội, về nông nghiệp sớm.v.v

Hiện nay đã có nhiều người chấp nhận rằng mức sớm của cơ tầng Hòa Bình hình thành trong giai doạn hậu kỳ Pleistocene muộn Hiện biết đã có khá nhiều di tích Hoabinhian có niên đại tuyệt đối trong khoảng 20-30 nghìn năm trước, tương ứng với giai đoạn cuối Pleistocene

M ột số di tích Hòa Bình có niên đại sớm nhất

(năm cách ngày nay)

Di tổn vản hóa

Mái đá Thẩm Khương 28-32.000 Công cụ đá kiểu Hòa Binh

Mái đá Điểu Trên 24.000 Di cốt động vật hóa thạch (trong đó có

Pongo); công cụ đá kiểu Hòa Bình cùng với còng cụ truyền thống

Hang Chồ 22-29.000 Công cụ đá kiều Hòa Bình, vết tích của

Stegodon

Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới I 15

Trang 29

Mức sớm của Mái đá Thẩm Khương chứa công cụ Hòa Bình có niên đại từ

28 nghìn đến 32 nghìn năm Mức sớm của hang Nậm Tun chứa một só công

cụ hình đĩa kiểu Hòa Bình bên cạnh phẩn lớn là những chopper rìa ngang có thể có niên đại tương đương Mức sớm nhất của Mái đá Điểu chứa công cụ

đá truyền thống và công cụ kiểu Hòa Bình cùng với di cốt động vật hóa thạch trong đó có Pongo, niên đại khoảng 24 nghìn năm và sớm hơn (H ình s ) Hang Áng Mả (đảo Cát Bà; Hải Phòng) có các niên đại C141à 2 5.000 năm

người Hòa Bình có các niên đại AMS từ 22 nghìn đến 29 nghìn nàm (Hình

đây niên đại AMS ờ hang Muối là gần 21 ngìn năm Khả năng còn nhiểu di tích hang động khác mà mức sớm có tuổi tương đương các di tích nói trên Như vậy rõ ràng có một cơ tẩng văn hóa mới được hình thành cùng với quá trình di trú từ ngoài trời vào các hang động; mái đá Trước đây các nhà nghiên

ép của biển tiến hay các biến động khác về môi trường Tuy nhiên các chứng

cứ đưa ra không thuyết phục do không tương thích vể trật tự thời gian củng như các sự kiện môi trường Như trên đã nói; đã có nhiều bằng chứng để cho rằng vào khoảng từ trên dưới ba vạn năm trước khí hậu khu vực chuyển từ

quá trình mà chúng tỏi cho rằng đó là cuộc di trú để tránh rét

Mức sớm của cơ tầng Hòa Bình (khoảng 3-2 vạn năm cách nay) chứa biểu hiện những nét đặc trưng của Hoabinhian như chúng ta hiểu hiện nay Hành

vi công cụ phản ánh đối tượng khai thác và các hoạt động sống còn mang đậm truyển thống trước đó, chính vi vậy mà nhiều người vẫn cho là thuộc

cơ tầng Sơn Vi (Nguyễn Khắc Sử và Vũ T h ế Long 2 0 0 4 ) Có thể trong giai đoạn này, một bộ phận cư dân nào đó vẫn duy trì lối sống kiểu Sơn Vi, hình thành thế đan xen mang tính chất giai đoạn quá độ chuyển tiếp giữa Sơn Vi

và Hòa Bình Tuy nhiên giai đoạn này không thể kéo dài đến tận khoảng một vạn năm trước như một số học giả chủ trương, mà chúng tôi cho rằng sau khoảng hai vạn năm trước những hình thái cơ bản của cơ tầng Hòa B ình

đã thực sự hiện ra Đồng thời với nó là sự giải thể của cơ tầng Sơn Vi, quá trình Hòa Bình hóa đạt tới các giá trị đặc trứng

Vể cơ bản, hình thái cư trú của cư dân Hòa Bình ở Bắc Việt Nam và các khu vực lân cận là trong hang động và mái đá, thuộc các khu vực thung lũng núi

đá vôi Người Sơn Vi sống ven sông, còn người Hòa Bình chủ yếu gắn bó với thung lũng núi đá vôi có rừng bao bọc, với các con suối, các mỏ nước, <các đồi gò, bổn địa trong thung lũng Trong tầng văn hóa của nhiểu di tích H òa Bình có các đám than tro đất cháy khá rộng, đó không đơn thuần ch i là

I Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới

Trang 30

những b ếp lửa đê nấu nướng mà có thể là những đám lửa đốt để sưởi ấm Giả

th u y ết v é sự di chuyển vào cư trú tro n g hang động để tránh lạnh giá là có

thêm cơ sở

Các di tích Hòa Bình nhìn chung có tầng văn hóa khá dày, khoảng trên dưới

lm Cũng nhiều di tích có tấng văn hóa dày 2-3m với chuỗi niên đại từ sớm đến muộn kéo dài trên dưới một vạn năm như ở Mái đá Điéu, hang Thẩm Khương, Hang Chồ, hang Con Moong; hang Xóm Trại.v.v Điểu này chứng

tô thời gian CƯ trú tại mỗi địa điểm là khá dài Có thể có những địa điểm được cư trú liên tục Nhưng không loại trừ khả năng có các thời kỳ gián đoạn khi các nguồn bị cạn kiệt, người ta phải di chuyển tới một khu vực khác để khai thác nguổn thức ăn mới; nhưng sau đó lại quay lại tái cư khi các nguồn được phục hổi Khả năng này có lẽ ít xảy ra, thay vì vẫn duy trì các điểm cư trú hiện tại, nhưng tách ra các bộ phận CƯ dân nhỏ phát tán ra khu vực xung quanh Nếu như xem hình thái di động kiếm sống của người Sơn Vi là theo tuyến tính (linear) dọc theo bờ sông thì người Hòa Bình mang sắc thái đa tuyến (multi-linear) Các nhóm người H òa Bình di CƯ từ thung lũng này sang thung lũng khác với khoảng cách và hướng phụ thuộc chủ yếu vào những vùng đất mới có hang động, mái đá hay không Sự tiến triển của hình thái cư trú kiếm sống này tạo nên các hệ thống liên kết theo kiểu mạng (heterarchy), bao gổm các cụm dân cư có quan hệ chặt chẽ, cùng chia sẻ với nhau lợi ích về các nguổn

Nhìn chung có thể coi hình thái cư trú của CƯ dân Hòa Bình là dạng bán định CƯ, CƯ trú ồn định hơn Sơn Vi, mức độ di chuyển và phạm vi hoạt động

có lẽ cũng thấp hơn Địa bàn hoạt động kiếm sống chủ yếu diễn ra trong các thung lủng và vùng rừng núi xung quanh nên việc nắm thông tin, quản

lý hoạt động khai thác về nguổn có lẽ được tổ chức tốt hơn Ở đây tính mùa

trong cư trú và các hoạt động hái lượm săn bắt không biểu hiện rõ vì bán kính hoạt động không lớn, người ta có thể di chuyển và trở vể nơi cư trú

bao gồm các loại củ, qủa, lá, thân cây có dinh dưỡng, các loài thú, động vật thủy sinh, côn trùng, bò sát v.v Người Hòa Bình không hoàn toàn chi là hoạt động khái thực (forager) - di chuyển nơi CƯ trú theo nguổn thức ăn, mà phần nào là dạng khái trưng (collector) - di chuyển nguón thức ăn vể nơi cư trú B ên cạnh hoạt động hái lượm, người Hòa Bình có thể đã biết đến trổng trọt sơ khai mà theo tư liệu dân tộc học thực vật đó là kiểu tái lưu giống, dặm lại một phẩn thân, rễ, củ cùa cây hoang dại tại chỗ khai thác nhằm tái sinh và khai thác lại vào mùa sau (Nguyễn Gia Đối 1992) Hình thái này chủ yếu diễn ra đối với các loài cây sinh trưởng theo lối vô tính (asexual reproduction) như các loài cây có củ như yam (củ từ, khoai môn) và taro (khoai sọ, khoai nước)

Di sản Lịch s ừ v à những hướng tiếp cận mới I 1 7

Trang 31

D o cư trú khá ổn định và khai thác các nguõn đa dạng phổ tạp nên bộ công

cụ đá phân hóa chức năng rõ hơn trước (Hình 7) Đó là những chiếc rìu mài lưỡi (edge-ground axe), rìu hoặc bôn ghè đẽo hình oval hoặc hạnh nhân

lắp cán; những chiếc nạo hình đĩa (disc-shaped scraper), nạo thô từ mảnh tước (amorphous scrraper); những chiếc nạo lõm (notch) dùng để nạo vót tre nứa và rìu ngắn (short-axe) có thể được dùng như những chiếc nêm để chế tác tre, gỗ; dao khắc (burin) một số công cụ bằng xương như kim, dùi,

nữa Thông thường địa điểm nào có địa thế thuận lợi, quy mô rộng, tầng văn hóa dày thi nơi đó bộ công cụ đá phong phú và quy chuẩn hơn và ngược lại

T ron g cụm di chỉ của một khu vực thung lũng, thường có một hoặc vài điểm

những điểm vệ tinh Những điểm vệ tinh có nhiều chức nảng khác nhau như các điểm cư trú tạm thời hoặc các trại phục vụ các nhiệm vụ khai thác nguồn

Ở đây vòng đời công cụ thường ngắn hơn và ít đạt được độ quy chuẩn so với các điểm trung tâm Chính vì vậy khi xác định tính chất văn hóa hay niên đại của một di chỉ hay cả hệ thống vản hóa mà chỉ dựa trên so sánh loại hình

T h e o quan điểm của khảo cổ học cư trú, xem xét hinh thái công cụ đá còn cần phải chú ý tới các yếu tố khác như chức năng di chỉ và vòng đời công cụ (Nishimura 1993, 1994)

Khi bàn vê' khái niệm Hòa Bình ở Đông Nam Á, đã diễn ra các tranh luận

kỹ thuật Trên thực tế một hệ thống hình thái cư trú, kiếm sống và hành vi công cụ đã tồn tại trên một địa vực khá rộng lớn nói trên Về mặt kỹ nghệ

đá, người ta căn cứ vào sự có mặt của những công cụ cuội hình oval hay hạnh nhân; được ghè xung quanh rìa hướng vào trung tâm trên một mặt hay còn được gọi là các Sumatralith để biểu trưng cho Hoabinhian Ngoài ra còn một số loại khác như công cụ hình đĩa hay rìu ngắn cũng được coi là đặc trứng Hòa Bình Phần đông các nhà khảo cổ học theo quan niệm truyền thống coi Hòa Bình là một văn hóa Những khác biệt nào đó giữa các khu vực được coi là các loại hình địa phương (Hoàng Xuân Chinh 1989) Tuy nhiên ở Việt Nam, văn hóa Bắc Sơn và nhóm di tích hang động vùng duyên hải Đông Bắc là các văn hóa khác hay chỉ là các dạng địa phương của văn hóa Hòa Bình vẫn là vấn để chưa thống nhất Nguyễn Khắc Sử phân chia bốn loại hình địa phương của văn hóa Hòa Bình ở Việt Nam dựa trên các lưu vực sông và địa hình karst (Nguyễn Khắc Sử 1992) Matthews xem khiu vực Bắc Việt Nam, bán đảo Đông Dương và Nam Thái Lan, bán đảo Malaysia

18 I Di sân Lịch sử và những hướng tiếp cận mới

Trang 32

là đại diện dạng địa nhương của vản hóa Hòa Bình (Matthews 1964; 1966) Bellvvood nhận ra sự vắng mặt của rìu ngắn trong các di tích Hòa Bình ở bán đảo Malacca Củng trong khu vực này, ở vùng Perak, công cụ kiểu Sumatralith chiếm tỷ lệ cao, còn ở vùng Pahang, Kedah và Kelantan lại phổ biến công cụ ghè hai mặt (Bellwood 1 9 8 5 ) Trên đất Thái Lan, Surin Pookaịorn đã liên hệ các di tích Hòa Bình ở Bản Kao với các di tích ở Malaysia và Indonesia và xem chúng như là một loại hình địa phương (Pookajorn 1984) Trên toàn địa vực Đông Nam Á, có quan điểm cho rằng

có hai dạng văn hóa Hòa Bình: văn hóa Hòa Bình dạng Bắc (Việt Nam, Lào, Thái Lan) và văn hóa Hòa Bình dạng Nam (bán đảo Malaya và b ờ bắc Sumatra) (H à VănTấn 1994) Nghiên cứu so sánh chi tiết hơn trong từng vùng cũng cho thấy rằng; các di tích Hòa Bình ờ Bắc Việt Nam thường phổ biến công cụ kiểu Sumatralith, công cụ hình đĩa, rìu ngắn, rìu mài lưỡi và bàn nghiên Trong khi đó ở Thái Lan, công cụ kiểu Sumatralith và công cụ hình đĩa có tỷ lệ thấp hơn, còn nạo hình oval và chữ nhật khá phổ biến, bàn nghiên và rìu mài lưỡi khá hiếm Trên bán đảo Malaya, công cụ cũng đặc trứng bởi nạo hinh chữ nhật và oval Công cụ kiểu Sumatralith nhỏ và mỏng hơn các nơi khác Hơn nữa điểm nổi bật của khu vực này là sự phổ biến công

cụ làm từ mảnh tước cuội và kỹ thuật tách mảnh (Nishimura 1994) Ở Nam Trung Quốc, công cụ đặc trưng Hòa Bình cũng không phổ biến, Meacham coi các di tích hang động ở khu vực này như là một chổi nhánh (outgrowth) của văn hóa Hòa Bình

Thực tế cho thấy phạm vi phân bố của Hoabinhian là quá rộng, khó có thể liên hệ và gắn kết thành một văn hóa duy nhất Chính vì vậy có ý kiến chủ trương dùng thuật ngữ "phức hợp kỹ thuật” để chỉ một nhóm văn hóa,

mà những đặc điểm chung có được là do thích ứng với những nhân tố chung trong môi trường; kinh tế và kỹ thuật thay thế cho khái niệm văn hóa Hòa Bình (Gorman 1 9 7 0 ) Cấu trúc phức hợp kỹ thuật cũng gặp phải những bất cập vì không phù hợp với tổng thể củng như không cung cấp bất

kỳ một sự hiểu biết nào vê' sự thay đổi kinh tế, xã hội, từ đó không thể gắn kết di tổn khảo cổ học với bối cảnh văn hóa Glover coi Hòa Bình là m ột truyền thổng công cụ cuội phân bố ở Đông Nam Á lục địa để đối lập với truyền thống công cụ mảnh ở Đ ông Nam Á hải đảo (G lov er 1 9 7 3 ) Hekeren khi nghiên cứu thời đại đá ở Indonesia đã gọi Hòa Bình là kỹ nghệ công cụ cuội (Hoabinhian pebble tool industry) (H ekeren 1 9 7 2 ) Trước đó, ông đã dùng thuật ngữ này trong khi nghiên cứu đồ đá ở Saiyok (T h ái Lan) (Hekeren et al 1 9 6 7 ) Reynold cũng dùng khái niệm kỹ nghệ công cụ cuội Hòa Bình; nhưng ở một ngữ cảnh hẹp hơn, chỉ trong giai đoạn Holocene sớm (Reynold 1 9 9 0 ) M ột số nhà khảo cồ học T h ái Lan

Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới ị 1 9

Trang 33

lại thích dùng cả hai cách định nghĩa Hòa Bình như “văn h óa” và “phức hợp kỹ thuật” trong mỗi văn cảnh cụ thể (Pookaịorn 1988) T ại Hội nghị

kỳ niệm 60 năm văn hóa Hòa Bình tổ chức tại Hà Nội năm 1994, số đông các nhà nghiên cứu nước ngoài biểu quyết tán thành quyết định coi H òa Bình là m ột kỹ nghệ tồn tại từ Pleistocene muộn - cuối đến H olocene

sớm - trung ( H ội nghị văn h óa H òa B ìn h 1 9 9 3 ) M ột số học giả nước

ngoài vẫn tiếp tục phê phán cách tiếp cận Văn hóa - Lịch sử, chỉ chú trọng phân loại đồ đá, xác định niên đại mà ít quan tâm đến bối cảnh văn hóa dựa trên tổng thể những tập hợp khảo cổ học, không có sự tiến bộ trong nghiên cứu cấu trúc lý thuyết Họ yêu cẩu phải tiếp tục xem xét lại m ột cách nghiêm túc đối với khái niệm Hòa Bình (Anderson 1990; Reynold

1 9 9 0 ) Có ý kiến vẫn kiên trì chủ trương có m ột văn hóa Hòa Bình thực

sự tổn tại trên vùng đất Đông Nam Á lục địa, với m ột số dạng địa phương nhưng tính thống nhất vẫn là chủ yếu Tính thống nhất văn hóa này không phải chỉ được hình thành do thích ứng môi trường mà có thể còn có những nguyên nhân khác, chẳng hạn như sự di động của các tập đoàn người săn bắt hái lượm, sự thống nhất về chủng tộc v.v T á c giả cũng cho rằng có sự tồn tại của những kỹ nghệ cuội hay kỹ nghệ pha cuội bao quanh một hạt nhân văn hóa H òa Bình; có thể gọi đó là những kỹ nghệ gần Hòa Bình

(H à Văn T ấn 1 9 9 4 )

Văn hóa theo quan điểm của Tân tiến hóa luận là sự kết hợp giữa môi trường

và kỹ thuật (culture = evironment X technology) Theo quan điểm của L.White; Biníord cho rằng, các văn hóa như là những hệ thống thích ứng bao gồm ba tiểu hệ thống có quan hệ qua lại với nhau: kỹ thuật, tổ chức xã hội,

hệ tư tường (Binford 1989) Trong đó kỹ thuật là phản ánh tương tác của con người với các điểu kiện môi trường, các hình thái CƯ trú và kiếm sống

Nó đóng vai trò quan trọng trong một cấu trúc văn hóa, chính vì vậy khi yếu tố này thay đổi sẽ kéo theo sự biến đổi nội dung văn hóa Chúng tôi cho rằng Hoabinhian là các hệ thống văn hóa thích ứng với các điều kiện môi trường tương đối đồng dạng ở Bắc Việt Nam, Đông Nam Á lục địa và Nam Tran g Quốc trong giai đoạn từ cuối Pleistocene đến đầu Holocene Người Hòa Bình có lẽ là những Homo sapiens sapiens đang trong quá trình phân hóa và mang sắc thái chủng tộc

Phụ hệ th ốn g Ngườm

Di chỉ Mái đá Ngườm, hang Phiêng Tung ở Thần Sa; Võ Nhai, Thái Nguyên

từ khi phát hiện đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu Quan điểm phổ biến cho rằng Ngườm là một kỹ nghệ công cụ mảnh tước có niên đại hậu kỳ

2.0 I Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới

Trang 34

Đá Củ và tồn tại đóng thời với kỹ nghệ công cụ cuội Sơn Vi (H à Văn T ấn

đá ở Lang Rongrien (T h ái Lan) và Bạch Liên Động (Quảng Tây, T ran g

Q uốc) và cho rằng đó là sự chuyển biến của kỹ nghệ công cụ cuội sang kỹ nghệ mảnh do thích ứng với sự biến đổi của môi trường chuyển từ nóng ấm sang khỏ lạnh (Hà Văn Tấn 1990)

Kỹ nghệ Ngườm đặc trứng bởi bộ công cụ đá làm từ mảnh tước gổm chủ yếu

là mũi nhọn, nạo, công cụ cắt nạo không định hình, ít dao khắc (burin), mũi tên (arrowhead) và công cụ ghè hai mặt kiểu rìu tay (biface) Khác biệt nữa cúa kỹ nghệ Ngườm là kỹ thuật tu chỉnh ép thực hiện trên rìa các mảnh tước để tạo công cụ mà không hể xuất hiện trong kỹ nghệ công cụ cuội Sơn

Vi - Hòa Bình

Bộ công cụ đá của kỹ nghệ Ngườm phản ánh chủ thể cư dân sinh nhai bằng phương thức săn bắn và hái lượm trong đó việc săn bắn có vẻ trội hơn với

sự hiện diện của mủi tên, mủi nhọn hình lá dạng mũi lao Vể mặt kỹ thuật

đá, Ngườm tương đồng với một số di tích ở Quảng Tây (Trung Q uốc) như Bạch Liên Động và Lý Ngư Chủy, thuộc dòng kỹ nghệ công cụ mảnh hay còn gọi là truyền thống “Tiểu thạch khí” (công cụ đá nhỏ - small tools) Kỹ nghệ này có nguồn gốc từ Trung kỳ Pleistocene ở Địa điểm 1 của khu vực Chu Khẩu Điếm và một số địa điểm có tuổi muộn hơn phân bố ở Hoa Bắc

và Hoa Trung Vể mặt niên đại, kỹ nghệ Ngườm tồn tại trong khoảng từ 30 nghìn đến 18 nghìn năm, nó tương đương với giai đoạn sớm của cơ tầng Hòa Bình Vấn để đặt ra là, trong một hệ sinh thái đồng nhất như các thung lũng đá vôi ở Bắc Việt Nam khó có thể phát sinh hai dòng kỹ nghệ đá Sơn

Vi - Hòa Bình và Ngườm với hai phương thức sổng khác nhau như vậy Chúng tôi giả thuyết rằng, kỹ nghệ Ngườm có thể là kết quả của quá trình

di cư của một bộ phận cư dân với truyền thống “công cụ nhỏ” từ vùng Nam Trung Quốc xuống để tránh lạnh giá vào khoảng ba vạn năm trước Sự hiện diện của kỹ nghệ Ngườm trong hệ sinh thái nhân văn hay các cơ tầng đã nói trên là phản ánh tính thích ứng chuyên biệt, hạn chế về không gian phân bố

và thời gian tổn tại Mức độ lan tỏa của kỹ nghệ Ngườm khá yếu, đến nay cũng chỉ mới biết có Ngườm, Phiêng Tung và một hai địa điểm khác giống với kỹ nghệ này Khoảng thời gian tồn tại của Kỹ nghệ Ngườm cũng chỉ khoảng một vạn năm, từ ba đến hai vạn năm trước Với trật tự nêu trên, cơ tầng Sơn Vi sớm hơn Ngườm và là dòng chủ thể tiến triển thành cơ tẩng Hòa Bình Kỹ nghệ Ngườm là một phụ hệ thống; có thể có nguồn gốc ngoại sinh, tổn tại trong phạm vi không gian và thời gian nhất định, sau đó hòa nhập dần với cơ táng Hòa Bình - Bắc Sơn

Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới I 2.1

Trang 35

3 K ế t l u ậ n

Tiếp cận dưới góc độ môi trường và sinh thái trong nghiên cứu kháo cổ

h ọc tiền sử ở Việt Nam gần đây đã đạt được những tiến bộ nhất định Những đóng góp mới phải kể đến là việc phục dựng lại các điểu kiện cổ môi trường và hệ sinh thái giai đoạn hậu kỳ Pleistocene Thông qua nguổn

tư liệu này kết hợp với nghiên cứu các di tổn văn hóa, chúng ta hiểu biết thêm vế các hình thái cư trú và kiếm sống, hành vi công cụ của các cộng đổng cư dân tiền sử Trước đây khảo cổ học biết đến Sơn Vi như là văn hóa hậu kỳ Đ á Cũ tuổi tương đương giai đoạn hậu kỳ Pleistocene muộn Nay chúng tôi có thể giả thuyết rằng cơ tầng Sơn Vi có tuổi lên tới hậu kỳ Pleistocene sớm - giữa, thậm chí trung kỳ Pleistocene muộn Phần đòng các nhà nghiên cứu củng cho rằng sự chuyển biến văn hóa từ Sơn Vi sang

H òa Bình diễn ra trong giai đoạn quá độ từ Pleistocene sang H olocene Nhưng với những niên đại tuyệt đối mới được xác định gần đây cho thấy bước chuyển biến này sớm hơn nhiểu, nó tương ứng với thời kỳ khí hậu bắt đầu chuyển từ nóng ẩm chuyển sang khô lạnh khoảng trên ba vạn năm cách nay Đó là biến thái bắt buộc xuất phát từ những rủi ro do biến đổi môi trường, con nguời phải di cư vào hang động để tránh rét Như đã nói ở trên,

cư dân Hòa Bình là các nhóm người hái lượm sãn bắt, cư trú khá lâu và ổn định tại các hang động Sự di động của họ theo hướng đa tuyến, lan tỏa kiểu mạng, phạm vi di chuyển ngắn Chính vì vậy trên một địa vực rộng lớn trải dài từ Nam Trung Quốc qua Bắc Việt Nam, Thái Lan, Malaysia xuống tận đảo Sumatra khó có thể liên kết thành một hệ thống chung, mà có thể chỉ có những mối liên kết khu vực để tạo nên các hệ thống văn hóa riêng

Hệ quả nhận thức luận về Hoabinhian là một cơ tầng gồm các hệ thỗng văn hóa có m ột số đặc điểm chung do thích ứng môi trường, hệ sinh thái tương đối đổng dạng trong khu vực

Quan điểm nhất nguyên về lịch sử và thuyết thiên di truyền bá luận (diffusionism) đã bị phê phán từ lâu Lý thuyết thích ứng môi trường (environmental adaptation) và tương đối luận văn hóa (cultural relativism)

đã mang đến cho cách lý giải các hiện tượng văn hóa một viẽn cảnh mang tính nhân bản và hiện thực hơn Tuy nhiên trong thực tế lịch sử, không thể

hóa giữa các cộng đồng người Trường hợp Kỹ nghệ Ngườm có lẽ nằm ngoài

người từ phương bắc xuống để tránh rét Kỹ nghệ này sau đó dần hòa nhập với truyển thống công cụ cuội và quá trình Hòa Binh hóa

2 2 I Di sán Lịch sử và những hướng tiếp cặn mới

Trang 36

Tài liệu tham khảo

Aigner, J ; 1979; Pleistocene Ecology and Paleolithic Assemblages in South

China In Ịournal o f Hong Kong Archaeological Society 8.

An, Zhisheng, Porter, s., Weijian, z ; Lu, Y., Danahue, D.; Head, M., Xihou, w ; Jianzhang; R., and Hongbo, z ; 1993, Episode of Strengthened Summer Monsoon Climate of Younger Dryas Age on the Loess of Central China In

Quaternarỵ Research 39: 45-54.

Anderson, D.; 1990; Lang Rongrien Rockshelter: A Pleistocene, Earlỵ Holocene Archaeological Siteýrom Krabi, Southwestern Thailand The University

Museum, University of Pensylvania Philadelphia

Bacon, A.M., Demeter, F ; Rousse’, s., Duringer, p.; Antoine, p -O., Long;

V.T., Thuy, N.K., Huong, N.M., Dodo, Y., Matsumura, H.; Schuster,

Sedimentological and Chronological Data from the Pleistocene Ma ưoi

Cave (Northern Vietnam) In Palaeogeographỵ, P alaeoclim atologỵ, Palaeoecologỵ 23: 280-298.

Bacon, A.M., Demeter, F., Schuster, M., Long, V.T., Thuy, N.K., Antoine,

p.-o , Sen, s., Nga, H.H., Hup.-ong, N.M., 2004, The Pleistp.-ocene Ma ưp.-oi

Palaeoenvironments In Geobios 37 (3): 305-314.

Bellwood; p.; 1985, Prehistorỵ o fth e Indo-Malaỵsian Archipelago Academic

Press Sidney

Belhvood, p.; 1993; Cultural and Biological Differentiation in Peninsula

Malaysia: The Last 10,000 Years In Asian Perspectives 32: 37-60.

Biníord, 1980, Willow Smoke and Dogs’Tails: Hunter-Gatherer Settlement

Systems and Archaeological Site Formation In American Atiquitỵ 45: 4-20 Biníòrd, L.R., 1989, Debating Archaeology Academic Press, San Diego.

Brooks, D.M., Bodmer, R.E., Matola, s., 1997, Tapirs-Status Survey and

Conservation Action Plan In IƯCN/SSC Tapir Specialist Group IƯCN,

Gland, Switzerland and Cambrige, UK., 8-164

Chappell, J.f Shackleton, N J ; 1987, Oxygen Isotopes and Sea Level In Nature

324: 137-140

Ciochon, ÌL, 01senJ.; andjames, ].Ị 1992, Other Origins Battam Books.

Đặng Hữu Lưu, 1991, Tư liệu khai quật Mái Đá Điều 1986 K hảo cổ học số 2:

Trang 37

De Vos, J., and Long, V.T., 1993, Systematic Discussion of the Lang Trang

Fauna ưnpublished Report

Demeter, F.; Bacon, A-M., Thuy, N.K., Long, V.T., Duringer, p.; Rouse, s.; Matsumura, H.; Dodo, H.; M., Huong, N.M.; Tomoko, A., 2005, Discoverỵ

of a Second Human Molar and Cranium Fragment in the Late Middle to

Late Pleistocene Cave of Ma ưoi (Northern Vietnam) InỊournal ofHuman Evolution 48: 393-402.

Demeter, F., Bacon, A-M.; Thuy, N.K., Long, V.T., Matsumura, Nga, H.H., Schuster, M., Huong, N.M., Coppen, Y., 2004, An Archaic Homo Molar

from Northern Vietnam In Current Anthropology 45 (4 ): 535-541.

Evans, J and 0 ’Connor, T , 1999, Environmental Archaeologỵ Sutton

Publishing Limited

Flenley; J.R., 1979; The E quatorial Rainforest: A Geological Historỵ

Butterwoths; London

Glover, I.C., 1973, Late Stone Age Traditions in Southeast Asia, Hammond

N.D (ed); London In South Asian Archaeologỵ: 51-76.

Gorman, C.F., 1970; Excavation at Spirit Cave, North Thailand: Some Interim

Interpretations In Asian Perspectives 13: 79-108.

Gorman, C.F.; 1971, The Hoabinhian and After: Subsistence Patterns in Southeast Asia during the Late Pleistocene and Early Recent Periods In

World Archaeology 2: 300-320.

Gorman, C.F.; 1972, Excavation at Spirit Cave, North Thailand In Asian Perspective 13: 79-107.

Hà Văn Tấn, 1985, Lớp dăm đá vôi ở Ngườm với khí hậu cuối pleistocene ở

Đông Nam Á Trong Những p h át hiện mới về khảo cổ học năm 1984: 18-20.

Hà Văn Tấn, 1986, Kỹ Nghệ Ngườm trong một bói cảnh rộng hơn K hảo cổ học số 3: 3-10.

Hà Văn Tấn, 1990, Ngườm, Lang Rongrien và Bạch Liên Động Trong Những phát hiện mới vê khảo cổ học: 45-48.

Hà Văn Tấn, 1992, Sự chuyển biến từ Pleistocene đến Holocene ở Đông Nam

Á - Môi trường và văn hóa K hảo cổ học số 1: 3-7.

Hà Văn Tấn, 1994, Văn hóa Hòa Bình ở Đông Nam Á: Văn hóa, những văn

hóa hay phức hợp kỹ thuật K hảo cổ học số 3: 2-4.

Hà Văn Tấn, 1998, Vản hóa Sơn Vi: 30 năm nhìn lại Tìm hiểu văn hóa Sđn Vi.

Sở Văn hóa Thông tin và Thể thao Phú Thọ

Hà Văn Tấn, Nguyễn Khắc Sử, Trình Năng Chung, 1999, Vãn hóa Sơn Vi Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội

Heaney, L.R., 1991, Climatic and Vegetation Change in Southeast Asia In

Climatic Change 19: 53-60.

Heekeren, H.R.van, 1972, The StoneAge o f Indonesia 2nd Edition, The Hague.

2.4 I Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới

Trang 38

Heekeren, H.R.van, and Knuth, C.E.; 1967, Archaeological Excavations in Thailand Vol.I, Sai York, Copenhagen.

Subsistence and Settlement Systems In Anthropos 84: 47-62.

Hoàng Xuân Chinh (Chủ biên), 1989, Văn hóa H òa Bình ở Việt Nam Viện

Khảo cổ học, Hà Nội

Hội nghị Vàn hóa Hòa Bình kỷ niệm 60 năm sau M Colani (Hoabinhian 60 years

after Madleine Colani Anniversary coníerence), 1994, Biên bản hội nghị,

Hà Nội

Khống Chiêu Thần và cộng sự, 1994, Bạch Liên Động di chi bào phấn phân

tích phản thực bì hòa tự nhiên hoàn cảnh đích tham thảo Trung Nhật cố nhân loại 1994: 176-201.

Laưrie, W.A., Lang, E., Groves, C.P., 1983, Rhinoceros unicornis In Mammalian Species 211: 1-6.

Lekagul, B., McNeely, J.A., 1988; Mammals of Thailand In Associationýor the Conservation oýthe Wildlife, Bankok.

Lang Trang Caves Vietnam, Compared with Southeast Asian Fossil and

Recent Mammal Faunas: the Geographical Implications In Bulletin o f the ỉndo-Pacific Prehistorỵ Association 14: 101-109.

Lưu Phương Lan và Elwood, B.B., 2009, Bước đầu ứng dụng phương pháp từ

cảm nghiên cứu cổ khí hậu hang Con Moong Trong Những phát hiện mới

Nguyễn Gia Đối, 1992, Vài nét vế hệ sinh thái nhiệt đới gió mùa và ảnh hưởng

của nó đến cơ cấu kinh tế của CƯ dân Hòa Bình-Bắc Sơn Khảo cổ học số 4:

7-11

Nguyễn Gia Đối, 1998, Kết quả khai quật lần thứ ba và nhận thức mới vể di chỉ

Mái Đá Điểu K hảo cổ học số 3: 72-89.

Nguyễn Gia Đói, 1999, Kỹ nghệ Điều trong bối cảnh khu vực lân cận Khảo cổ học sổ 3: 5-24.

Nguyễn Khắc Sử và Vũ Thế Long, 2004, Môi trường và vàn hóa cuối Pleisocene đâu Holocene ở Bắc Việt Nam Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

Nguyễn Khắc Sử, 1992, Tìm hiểu loại hình địa phương của văn hóa Hòa Bình

Khảo cổ học số 3: 1-13.

Nguyễn Khắc Sử, Đặng Hữu Lưu, 1992, Ranh giới của thời kỳ quá độ từ

Pleistocene sang Holocene ở Việt Nam qua địa tầng khảo cổ Khảo cố học

số 1:33-37.

Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới I 2-5

Trang 39

Nguyễn Khắc Sử, Trình Năng Chung, Nguyễn Trùng Thương, Nguyén Thị

Toán, 2001, Hà Giang thời tiền sử Sở Văn hóa Thông tin Hà Giang,

Hà Giang

Nguyễn Mai Hương và Phạm Văn Hải; 2009, Phân tích bào tử phấn hoa hang

Con Moong (Thanh Hóa) Trong Những phát hiện mới vê khảo cổ học năm 2009.

Nguyễn Văn Hảo và Lê Trung Khá, 1990, Khai quật di tích cổ sinh Làng

Tráng (Thanh Hóa) Những phát hiện mới vê' khảo cồ học năm 1989: 15-

Nishimura, M 1994; Implication from Regional Variability and Terminaton of

Hoabinhian Industry: a Perspective from Revising the Present Data Paper presented at the i s th Congress o/IPPA.

Nowak; R.M., 1999, Walker’s Mammals of the World In The John Hopkins ưniversity Press, Bantimore and London.

Olsen, J.w ; Ciochon, R.L., 1990, A Review of Evidence for Postulated Middle

Pleistocene Occupations in Vietnam In Ịournal o f Human Evolution 19:

761-788

Peterson, J ; 1978, The Ecologỵ of Social Boundaries: Agta Foragers of the

Philippines In ưniversity o f Illinois Pressy Urbana.

Peterson, R.M 1969; Wurm II Climate at Niah Cave In Saraw ak Museum Ịournal 7: 67-79.

Pookajorn, s., 1984, The Hoabinhian of Mainland Southeast Asia: New Data

from the Recent Thai Excavation in the Bankao Area In Thai K hadi Research Institute No 16 Thammasat Ưniversity, Bankok.

Pookajorn; s.; 1988; Archaeological Research of the Hoabinhian Culture or Technocomplex and Its Comparision with Ethno-Archaeology of the Phi

Long Luang, a Hunter and Gatherer Group of Thailand In Archaeologica VenatoriaỊ Ban 9Ị Institut fur Urgeschnite der ưniversitat Tubingen,

Tubingen

Pookajom, s.; et al.; 1991, Prelimitary Report o/Excavation atM oh-Khiew Cave, Krabi Province, Sakai Cave, Trang Province Silpakorn University, Bankok.

Popov, Vv 1991, Thông báo kết quả nghiên cứu quẩn động vật ở Mái Đá Điều

Tư liệu Viện Khảo cổ học, Hà Nội.

Prentice, M.L., Denton, G.H., 1988, Deep-sea Oxygen Isotope Record, the

Global Ice Sheet System, and Hominid Evolution In: Grine, F (ed.); The Evolutionary History ofthe Robust Australopithecine De Gruyter, New York,

383-403

16 I Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới

Trang 40

Recherson, P.J., and McEvoy, III, 1976, Human Ecologỵ Duxbury Press,

Massachusetts, USA

Rousse’, s., Bacon, A.M., Demeter, F.; Duringer, p.; Schuster, M., Long, V.T.,

Thuy; N.K., Huong, N.M., 2003; Dynamique des “Creusements- colmatages” des Re’seaux Karstiques du Pleistocene Nord-Vietnamien Approche Sedimentologique et Implications Tectono-climatiques In:

Ninth French Congress o f Sedimentoỉogỵ Abstracts Book, ASF Publiication

38, pp 438-440

Tong Guobang and Shao Shixiong, 1991; The Evilution of Quaternary Climate

in China In The Quaternary o f China, 42-76.

Trình Nãng Chung, 1991, Kỹ nghệ Ngườm và văn hóa Bắc Sơn Khảo cồ học

Quaternary Palaeogeography of Mammal Evolution in the Indonesia

385-408

Van der Bergh, G.D.; de Vos, J., Sondaar, P.Y., Aziz; F., 1996, Pleistocene

Zoogeographic Evolution ofJava (Indonesia) and Glacio-eustatic Sea Level

Fluctulations: a Background for the Presence of Homo In Indo-Pacific

Verstappen, H.T., On Palaeoclimates and Laníorm Development in Malaysia

In Modern Quaternary Research in Southeast Asia 1: 3-35.

Voris, H.K., 2000; Map of Pleistocene Sea Levels in Southeast Asia:

Shorelines, River Systems and Time Durations In Journal ofBiogeographỵ

27:1153-1167

Yen, D,E., 1977, Hoabinhian Horticulture? The Evidence and the Questions

from Northwest Thailand In Sunda and Sahul, edited by L Allen and J

Golson, and R Jones Academic Press, London, 567-99

Di sản Lịch sử và những hướng tiếp cận mới I 2 - 7

Ngày đăng: 28/01/2021, 15:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
Nguyễn Văn Ngọc, 192.4; "Một buổi tập đọc”. Học bấOj ngày 14 tháng 9 nãm 1924 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một buổi tập đọc
Năm: 1924
Thực nghiệp dân báo, 192la, “Việc học Cơ thủy ở Bắc Kỳ”; ngày 19 tháng 2 nàm 1921 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 192la, “Việc học Cơ thủy ở Bắc Kỳ
Năm: 1921
Thực nghiệp dân báo, 1921b; “Mây lời trung cáo các nhà tân học”, ngày 30 tháng 7 năm 1921 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1921b; “Mây lời trung cáo các nhà tân học
Năm: 1921
Trung Bắc Tân vãn Chủ nhậtj 1940, "Sét đánh làng Nho” ngày 1 tháng 9 năm 1940 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sét đánh làng Nho
Năm: 1940
Trung Bắc tân văn, 1931/“Ở Hà Nội vẫn chưa đủ trường cho trẻ học”, ngày 6 tháng 9 năm 1931 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1931/“Ở Hà Nội vẫn chưa đủ trường cho trẻ học
Năm: 1931
Trung Bắc tân văn, 1932, "Trường tư”, ngày 26 tháng 11 năm 1932 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường tư
Năm: 1932
Trung Bấc tân vãn, 1933, "Lại mấy điểu không tiện cho bạn thiếu niên học sinh”; ngày 14 tháng 12 năm 1933 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại mấy điểu không tiện cho bạn thiếu niên học sinh
Năm: 1933

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w