Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu lao động Ở các nước đang phát triển, tỉ lệ tăng dân số hàng năm vẫn còn cao, vấn đề giải quyết việc làm cho số người đến độ tuổi lao động là một
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG XUẤT
KHẨU LAO ĐỘNG THẾ GIỚI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu lao động
Ở các nước đang phát triển, tỉ lệ tăng dân số hàng năm vẫn còn cao, vấn đề giải quyết việc làm cho số người đến độ tuổi lao động là một gánh nặng cho các quốc gia Do đó, xuất khẩu lao động (XKLĐ) trở thành vấn đề cấp thiết có nội dung kinh tế - xã hội (KT - XH) sâu sắc và liên quan chặt chẽ với các yếu tố KT -
XH khác trong việc định hướng và phát triển nền kinh tế quốc gia
Trước hết, để có cái nhìn tổng thể và rõ ràng về vấn đề nghiên cứu của khoá luận này, chúng ta cần thống nhất một số khái niệm có liên quan trong lĩnh vực lao động, việc làm được sử dụng trong nghiên cứu:
1 Nguồn lao động: là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới
nhiều khía cạnh khác nhau
Đầu tiên, với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, nguồn lao động bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường (không bị khiếm khuyết hay dị tật bẩm sinh)
Với tư cách là một yếu tố của sự phát triển KT - XH, nguồn lao động là khả năng lao động của xã hội bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
Ngoài ra, còn có thể hiểu nguồn lao động là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động Nguồn lao động bao gồm những người từ độ tuổi lao động trở lên (ở nước ta là tròn 15 tuổi)
- Phân loại nguồn lao động:
Trang 2Có rất nhiều cách để phân loại nguồn lao động Tuỳ theo giác độ nghiên cứu
mà người ta tiến hành phân loại theo các tiêu thức khác nhau như: căn cứ theo nguồn gốc hình thành, căn cứ theo vai trò của từng bộ phận nguồn nhân lực tham gia vào nền sản xuất xã hội hay căn cứ vào trạng thái có việc làm hay không Tuy nhiên trong khuôn khổ của khoá luận tốt nghiệp sẽ chỉ phân loại nguồn lao động dựa theo nguồn gốc hình thành của lực lượng lao động
Dựa theo tiêu thức này, nguồn lao động được chia thành:
1, Nguồn lao động có sẵn trong dân số (dân số hoạt động): bao gồm toàn bộ
những người nằm trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm Nguồn lao động này thường chiếm một tỉ
lệ tương đối lớn trong dân số, thường từ 50% trở lên
Độ tuổi lao động là giới hạn về những điều kiện tâm sinh lý - tâm lý xã hội
mà con người tham gia vào quá trình lao động Giới hạn về độ tuổi lao động là tuỳ thuộc vào điều kiện KT - XH của từng nước và trong từng thời kì Ở nước ta mức giới hạn này là từ 15 tuổi đến 60 tuổi (nam) và từ 15 tuổi đến 55 tuổi (nữ)
2, Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế (dân số hoạt động kinh tế): đây là số người đang có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế - văn hoá của xã hội hay không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm kiếm việc làm
3, Nguồn nhân lực dự trữ: bao gồm những người nằm trong độ tuổi lao động
nhưng vì các lý do khác nhau họ chưa có công việc làm ngoài xã hội Số người này đóng vai trò của một nguồn dự trữ về lao động Họ gồm có :
- Những người làm công việc nội trợ trong gia đình (thường là phụ nữ) Đây
là một nguồn lao động đáng kể Khi điều kiện kinh tế của xã hội thuận lợi, nếu bản thân họ muốn tham gia lao động ngoài xã hội, họ có thể nhanh chóng rời bỏ hoạt động nội trợ để làm công việc thích hợp ngoài xã hội
- Những người tốt nghiệp ở các trường phổ thông và các trường chuyên nghiệp được coi là nguồn nhân lực dự trữ quan trọng và có chất lượng Đây là nguồn lực trẻ có trình độ học vấn và chuyên môn tương đối cao
Trang 3- Những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự có khả năng tham gia vào hoạt động kinh tế Đây cũng là một nguồn thuộc nguồn lao động dự trữ Số người thuộc nguồn này bao gồm cả những người đã có nghề hay chưa có nghề, có trình
độ học vấn cao hay thấp do vậy cần tìm hiểu rõ để nghiên cứu và tạo việc làm thích hợp
- Những người trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp (có nghề hoặc không có nghề) muốn tìm việc làm và luôn sẵn sàng tham gia vào hoạt động kinh
tế
2 Lao động : là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay
đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người Lao động là sự vận dụng sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất
3 Sức lao động: là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá trình
tạo ra của cải vật chất Trong nền kinh tế hàng hoá, sức lao động là một hàng hoá đặc biệt, vì: Trước hết, nó có giá trị và giá trị sử dụng như các hàng hoá khác Ngoài ra, hàng hoá sức lao động còn là một sản phẩm có tư duy, có đời sống tinh thần Thông qua thị trường lao động, sức lao động được xác định giá cả Hàng hoá sức lao động cũng tuân theo qui luật cung - cầu của thị trường Mức cung cao sẽ dẫn tới dư thừa lao động, giá cả sức lao động (tiền công) thấp, ngược lại khi mức cung thấp sẽ dẫn tới tình trạng thiếu lao động, giá cả sức lao động (tiền công) sẽ trở nên cao hơn
4 Việc làm: Theo quy định của Bộ luật lao động : Mọi hoạt động tạo ra
nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm
- Tỉ lệ người có việc làm so với dân số hoạt động kinh tế được tính theo công thức:
Tvl ( % ) = Nvl/Dkt
Trong đó : Tvl : % người có việc làm
Trang 4Nvl : Số người có việc làm
Dkt : Dân số hoạt động kinh tế
5 Thất nghiệp: là tình trạng người có sức lao động, từ đủ 15 tuổi trở lên
trong nhóm hoạt động kinh tế tại thời điểm điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc
- Tỉ lệ người thất nghiệp so với dân số hoạt động kinh tế được tính theo công thức :
Ttn ( % ) = Ntn/Dkt
Trong đó : Ttn : Tỷ lệ thất nghiệp
Ntn : Số người thất nghiệp
6 Thị trường lao động: là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hoá sức lao động
giữa một bên là những người sở hữu sức lao động và một bên là những người cần thuê sức lao động đó
Thị trường lao động là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thị trường và chịu sự tác động của hệ thống qui luật của nền kinh tế thị trường Một thị trường lao động tốt là thị trường mà ở đó lượng cầu về lao động tương ứng với lượng cung về lao động
- Cầu lao động là lượng lao động mà người thuê có thể thuê ở mỗi mức giá
có thể chấp nhận được Nó mô tả toàn bộ hành vi người mua có thể mua được hàng hoá sức lao động ở mỗi mức giá hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt ra
Cầu về sức lao động có liên quan chặt chẽ tới giá cả sức lao động (tiền lương), khi giá cả tăng (hoặc giảm) sẽ làm cho cầu về lao động giảm (hoặc tăng)
- Cung về lao động là lượng lao động mà người làm thuê có thể chấp nhận
được ở mỗi mức giá nhất định Giống như cầu và lượng cầu, đường cung lao động
mô tả toàn bộ hành vi của người đi làm thuê khi thoả thuận ở các mức giá đặt ra
Trang 5Cung lao động có quan hệ tỉ lệ thuận với giá cả Khi giá cả tăng, lượng cung lao động sẽ tăng và ngược lại.
- Điểm cân bằng cung - cầu là điểm gặp nhau của đường cung và đường
cầu (điểm E) Tại đó lượng cầu bằng lượng cung
trường lao động chất xám; v.v
7 Xuất khẩu lao động: Là một hiện tượng KT - XH,
XKLĐ được chính thức xuất hiện từ cuối thế kỉ thứ 19 Trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, ngày nay XKLĐ trở nên rất phổ biến và đã trở thành xu thế chung của thế giới.
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về định nghĩa XKLĐ Nếu như trước đây với thuật ngữ “hợp tác quốc tế về lao động”, XKLĐ được hiểu là sự trao đổi lao động giữa các quốc gia thông qua các hiệp định được thoả thuận và kí kết giữa các quốc gia đó hay là sự di chuyển lao động có thời hạn giữa các quốc gia một cách hợp pháp và có tổ chức Trong hành vi trao đổi này, nước đưa lao động đi được coi
Trang 6là nước XKLĐ, còn nước tiếp nhận sử dụng lao động thì được coi là nước nhập khẩu lao động.
Một cách hiểu khác nữa về XKLĐ là sự hợp tác sử dụng lao động giữa nước thừa và thiếu lao động, là việc di chuyển lao động có thời hạn và có kế hoạch từ nước dư thừa lao động sang nước thiếu lao động
Ngày nay với cách sử dụng thống nhất thuật ngữ XKLĐ để nhấn mạnh hơn đến tính hiệu quả kinh tế của hoạt động này, từ các khái niệm trên có thể hiểu:
XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao
động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất pháp quy được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động.
Trong nền kinh tế thị trường, XKLĐ là một hoạt động kinh tế đối ngoại, mang đặc thù của xuất khẩu nói chung Thực chất XKLĐ là sự di cư quốc tế Tuy nhiên, đây chỉ là sự di cư tạm thời
Tuy nhiên, do XKLĐ không chỉ là xuất khẩu hàng hoá đơn thuần mà là xuất khẩu con người nên bản thân nó cũng có những đặc điểm riêng Là một hoạt động được sự chỉ đạo thống nhất của nhà nước, XKLĐ mang một số tính chất chính trị, trở thành một hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng Việc thực hiện XKLĐ phải tuân thủ nghiêm ngặt theo hệ thống pháp luật và văn bản pháp quy của thế giới, quốc gia xuất khẩu cũng như quốc gia nhập khẩu lao động
Tại VN, các hợp đồng đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài có thời hạn đều phải được kí kết dựa trên cơ sở pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại và các điều ước quốc tế v.v
Trang 7Mặt khác, XKLĐ còn là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội Nói tới XKLĐ thực chất là nói tới xuất khẩu sức lao động Trong khi đó, sức lao động lại gắn bó chặt chẽ với người lao động, không tách rời khỏi người lao động Do vậy, mọi chính sách, pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ phải kết hợp với các chính sách xã hội.
XKLĐ là một phương thức thực hiện việc phân công lao động quốc tế, tạo nên các hoạt động chuyên môn hoá sản xuất, thực hiện việc sử dụng lao động một cách hợp lý và hiệu quả phù hợp với điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia, tận dụng một cách triệt để lợi thế so sánh giữa các nước nhập và xuất khẩu lao động
Trong quan hệ XKLĐ phải đảm bảo được lợi ích của ba bên: Nhà nước, các doanh nghiệp và người lao động Lợi ích kinh tế của Nhà nước là khoảng ngoại tệ
mà người lao động gửi về và các khoảng thuế thu được Lợi ích của các doanh nghiệp là các khoảng thu được, chủ yếu là các loại phí giải quyết việc làm ngoài nước Còn lợi ích của người lao động là khoảng thu nhập thường là cao hơn nhiều
so với lao động ở trong nước
- Phân loại XKLĐ:
Căn cứ vào cơ cấu người lao động đưa đi:
Lao động có nghề: Là loại lao động trước khi ra nước ngoài làm việc đã được đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra nước ngoài làm việc có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải bỏ ra thời gian và chi phí để tiến hành đào tạo nữa
Lao động không có nghề: là loại lao động mà khi ra nước ngoài làm việc chưa được đào tạo một loại nghề nào cả Loại lao động này thích hợp với những công việc đơn giản, không cần trình độ chuyên môn hoặc phía nước ngoài cần phải tiến hành đào tạo cho mục đích của mình trước khi đưa vào sử dụng
Căn cứ vào nước xuất khẩu lao động:
Nhóm các nước phát triển: Có xu hướng gửi lao động kĩ thuật cao sang các nước đang phát triển để thu ngoại tệ Trường hợp này không phải là chảy máu chất
Trang 8xám mà là đầu tư chất xám có mục đích Việc đầu tư nhằm một phần thu lại kinh phí đào tạo cho đội ngũ chuyên gia trong nhiều năm, một phần khác lớn hơn là
phát huy năng lực trình độ đội ngũ chuyên gia, công nhân kĩ thuật bậc cao ở nước
ngoài v.v để thu ngoại tệ
Nhóm các nước đang phát triển: Có xu hướng gửi lao động bậc trung hoặc bậc thấp sang các nước có nhu cầu để lấy tiền công và tích luỹ ngoại tệ, giảm bớt khó khăn kinh tế và sức ép việc làm trong nước
- Các hình thức XKLĐ mà nước ta đã sử dụng:
Trong quá trình phát triển lĩnh vực XKLĐ, với chưa đầy 20 năm kinh nghiệm nước ta bước đầu đã áp dụng được một số hình thức khác nhau trong hoạt động XKLĐ như:
Đưa lao động đi bồi dưỡng, học nghề, nâng cao trình độ và làm việc có thời hạn ở nước ngoài Đây là hình thức được chúng ta thực hiện chủ yếu trong giai đoạn 1980 - 1991 Thông qua việc kí hiệp định hợp tác, sử dụng lao động với các nước: Liên xô (cũ), CHDC Đức, Tiệp Khắc trước đây, lao động của nước ta ở tại các nước này được sống, sinh hoạt theo đoàn, đội, có sự quản lý thống nhất từ trên xuống dưới và làm việc xen ghép với lao động của các nước Đây là hình thức được áp dụng cho cả hai đối tượng là lao động có nghề và lao động không có nghề
Hợp tác lao động và chuyên gia: Đây là hình thức được áp dụng đối với các nước Trung Đông và Châu Phi trong việc cung ứng lao động và chuyên gia sang làm việc tại một số nước Số lao động này có thể đi theo các đoàn, đội hay các nhóm, cá nhân
Đưa lao động đi làm tại các công trình doanh nghiệp VN nhận thầu khoán xây dựng, liên doanh hay liên kết tạo ra sản phẩm ở nước ngoài hay đầu tư ra nước ngoài Hình thức này được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng Đây là hình thức người lao động thuộc quyền quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam được đi nước ngoài làm việc đồng bộ tại các công trình phía nước ngoài giao thầu hay giao phần nhân công của công trình cho doanh nghiệp VN
Trang 9Cung ứng lao động trực tiếp theo các yêu cầu của công ty nước ngoài thông qua các hợp đồng lao động được kí kết bởi các doanh nghiệp Việt Nam làm dịch
vụ cung ứng lao động Được hình thành từ sau khi có nghị định 370/HĐBT ngày
9/11/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) hình thức này đã trở nên phổ biến nhất hiện nay Việc cung ứng lao động cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài chủ yếu được giao cho các tổ chức kinh tế có chức năng đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Đây là các doanh nghiệp chuyên doanh về XKLĐ, được Nhà nước cấp giấy phép hành nghề, thực hiên việc kí kết, đưa lao động đi nước ngoài làm việc và quản lý số lao động đó theo qui định của Nhà nước Hình thức này đòi hỏi đối tượng lao động tương đối đa dạng, tuỳ theo yêu cầu và mức độ phức tạp của công việc mà bên phía nước ngoài yêu cầu lao động giản đơn hay lao động có tay nghề cao
Người lao động trực tiếp kí với cá nhân, tổ chức nước ngoài nhưng khi làm
thủ tục phải thông qua một doanh nghiệp chuyên doanh về XKLĐ để thực hiện các
nghĩa vụ, trách nhiệm với nhà nước, với tổ chức kinh tế đưa đi và cũng là để đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong quá trình làm việc ở nước ngoài Hình thức này hiện nay ở nước ta chưa phổ biến lắm Do người lao động vẫn chưa có nhiều
cơ hội để tiếp xúc và tìm hiểu về các công ty nước ngoài đang cần thuê lao động một cách trực tiếp và phổ biến
XKLĐ tại chỗ là hình thức các tổ chức kinh tế của ta cung ứng lao động cho
các tổ chức kinh tế nước ngoài ở VN, bao gồm : Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao; các tổ chức, cơ quan ngoại giao của nước ngoài tại VN
- Lý thuyết di chuyển nguồn lực và nguyên nhân hình thành XKLĐ
Mặc dù mới chỉ xuất hiện từ cuối thế kỉ 19 nhưng XKLĐ đang ngày càng khẳng định rõ tính chiến lược và tất yếu trong hoạt động KT - XH của quốc gia và thế giới Cũng giống như bất kì một hiện tượng kinh tế nào khác, XKLĐ cũng có những điều kiện và tiền đề phát triển riêng của nó Quá trình hình thành và phát triển của XKLĐ bắt đầu từ sự di cư quốc tế Đây là một nhân tố hình thành khách quan tất yếu kể từ khi xuất hiện xã hội loài người
Trang 10Di cư lao động quốc tế được bắt đầu từ việc buôn bán nô lệ Vào những năm
1440, các thuỷ thủ Châu Âu đã bắt những người Châu Phi và đưa họ về Châu Âu
để làm nô lệ cho gia đình mình Và hơn một thế kỉ sau, chuyến tàu buôn nô lệ đầu tiên đã đưa những người da đen từ Châu Phi tới làm việc trên các đồn điền mía và thuốc lá tại miền Tây Châu Mĩ 15 triệu người đã bị bắt đi làm nô lệ chỉ trong vòng
có vài thế kỉ Bên cạnh đó là làn sóng những người lao động nghèo từ châu Âu cũng bắt đầu đổ xô sang Châu Mĩ tìm kiếm công việc Cho tới thế kỉ 18, nhiều quốc gia ở Châu Âu bắt đầu áp dụng các biện pháp để hạn chế di cư ra nước ngoài nhằm tránh mất nhiều nguồn nhân lực cần thiết Nhưng tới giữa những năm 1800, Chủ nghĩa tự do kinh tế đã xoá bỏ hoàn toàn những rào cản này tạo điều kiện cho việc tự do buôn bán và đồng thời cả tự do di cư lao động quốc tế
Cho tới sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất tình hình mới dần được cải thiện, việc quản lý lao động nhập cư được sử dụng để bảo vệ các thị trường trong nước Giai đoạn 1920 và 1930, do thất nghiệp hàng loạt xảy ra ở khắp mọi nơi trên thế giới đã khiến các nước phải thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ lao động trong nước khỏi sự cạnh tranh của lao động nước ngoài Di cư lao động chuyển sang một giai đoạn mới Tới thời kì 1950 - 1970, do sự chuyển dịch trong cơ cấu ngành và cơ cấu lao động dưới tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật, các quốc gia Châu Âu có nhu cầu rất lớn về lao động phổ thông Nhằm đáp ứng nhu cầu đó rất nhiều lao động từ các nước Châu Phi và Châu Á đã đến làm việc tại khu vực này Thời gian trôi qua, xã hội loài người ngày càng bước lên một bậc thang tiến hoá mới văn minh hơn, nhiều thành tựu khoa học ra đời cùng với sự bùng nổ dân số toàn cầu và do các đặc điểm phân bố địa lý, dân cư ở các vùng là khác nhau, luồng lao động di cư lại càng phát triển hơn Từ hình thức tự phát, di cư lao động bắt đầu chuyển sang hình thức mới có tổ chức với sự can thiệp và quản lý của Chính phủ Lao động ở những quốc gia có nền kinh tế chậm và đang phát triển với mức sống thấp có xu hướng di cư tới các quốc gia có đời sống kinh tế khá hơn, các quốc gia phát triển
Trang 11Để có thể lý giải một cách chi tiết về nguyên nhân và tác động của di cư lao động quốc tế, chúng ta hãy cùng xem xét và phân tích mô hình lý thuyết di chuyển nguồn lực sau:
• Lý thuyết di chuyển nguồn lực :
Giả định rằng thế giới chỉ bao gồm có hai quốc gia là nội địa và nước ngoài Để tạo ra được các sản phẩm, mỗi nước đều sử dụng các yếu tố sản xuất như vốn, lao động, đất đai Tuy nhiên, để đơn giản hoá mô hình phân tích, giả định rằng ngoại trừ lao động, ở hai quốc gia này các yếu tố sản xuất khác coi như không đổi, không có cơ hội cho thương mại thông thường giữa hai nước Cách duy nhất để các nền kinh tế này hoà nhập với nhau là sự di chuyển của lao động quốc tế Có thể thấy, nếu nội địa là nước có lao động dồi dào hơn so với lao động tại nước ngoài thì công nhân nội địa sẽ có mức thu nhập thấp hơn công nhân nước ngoài Điều này tạo động cơ cho yếu tố sản xuất di chuyển Công nhân nội địa sẽ muốn được chuyển sang nước ngoài
Nếu cho phép lao động tự do di chuyển giữa hai nước, công nhân sẽ di chuyển từ nội địa ra nước ngoài Sự di chuyển này sẽ làm cho lực lượng lao động nội địa bị giảm sút và gia tăng lực lượng lao động nước ngoài Điều này dẫn đến tiền lương của công nhân nội địa sẽ tăng lên còn tiền lương của công nhân tại nước ngoài sẽ giảm xuống Nếu không có gì cản trở quá trình này sẽ tiếp tục cho đến khi sản phẩm biên của lao động là như nhau ở hai nước
MÔ HÌNH MACDOUGALL - KEMP
Trang 12MPL * MPL
O L 2 L 1 O *
Lao động sử dụng ở nội địa
Lao động
di cư ra nước ngoài
Lao động
sử dụng ở nước ngoài
Tổng lực lượng lao động
(Hình 1.2)
Phân tích mô hình: OO* biểu thị tổng lực lượng lao động thế giới với
OL1 là số lao động được sử dụng ở nội địa và O*L1 là số lao động được sử dụng
ở nước ngoài Trục tung là trục biểu thị sản phẩm biên của lao động, OM là sản phẩm biên của lao động ở nội địa và O*N là sản phẩm biên của lao động ở nước ngoài Các đường MPL và MPL* là các đường giới hạn sản phẩm biên của lao động ở hai nước Với giả thiết của mô hình, nền kinh tế là cạnh tranh hoàn hảo, lương thực tế mà mỗi đơn vị lao động thu được đúng bằng với sản phẩm biên của lao động Tổng sản phẩm quốc nội của nội địa trước khi có di cư lao động là diện tích DOL1C và của nước ngoài là EOL1B Nếu lao động được di chuyển tự
do giữa hai nước, họ sẽ di chuyển từ nơi có lương thấp (nội địa) sang nơi có mức lương cao hơn (nước ngoài) Sự di chuyển này sẽ dừng lại cho tới khi nào mức lương thực tế giữa hai nước là như nhau (điểm A) Lúc này lực lượng lao động
di cư từ nội địa sang nước ngoài sẽ là L1L2 công nhân, số lao động được sử dụng
ở nội địa sẽ giảm xuống còn OL2 công nhân trong khi số lao động ở nước ngoài
sẽ tăng lên là O*L2 công nhân Kết quả đạt được là việc tăng sản lượng của hai nước biểu thị bằng diện tích ABC, đây là phần dôi ra ngoài tổng sản phẩm của hai nước trước khi có sự di cư lao động
Sự phân bố lại lực lượng lao động thế giới này sẽ dẫn tới:
Trang 131, Mức lương thực tế thế giới sẽ thống nhất, mọi người đều được hưởng một mức thu nhập như nhau Mức lương thực tế ở nội địa sẽ tăng lên trong khi ở nước ngoài lại giảm xuống.
2, Nó làm gia tăng sản lượng thế giới nói chung một khoảng là diện tích ABC
3, Song, bên cạnh những mặt lợi, việc di cư lao động quốc tế cũng mang lại thiệt hại cho một số nhóm người Đó là những người lao động lúc đầu làm việc tại nước ngoài với mức lương thực tế cao hơn nay sẽ phải nhận một mức lương thực tế thấp hơn và những người thuê lao động ở nội địa lúc ban đầu sẽ phải trả cho người lao động một mức lương thực tế thấp hơn nay phải trả một mức lương thực tế cao hơn trước Tuy nhiên sư thiệt hại này chỉ xảy ra đối với một số nhóm người nhất định, còn trên phương diện quốc gia, việc di cư lao động mang lại nhiều mặt lợi về kinh tế hơn cho mỗi quốc gia nói riêng và thế giới nói chung
Nhìn chung mô hình lý thuyết di chuyển nguồn lực là một mô hình tương đối đơn giản, chủ yếu xuất phát từ những điều kiện tự nhiên khách quan, dùng
để lý giải nguyên nhân và hiệu quả phúc lợi đạt được khi có di chuyển nguồn lực quốc tế Trên thực tế, bên cạnh những nguyên nhân khách quan như trình độ phát triển kinh tế khác nhau, sự mất cân đối về dân số và nguồn lao động do tốc
độ tăng trưởng kinh tế không đồng đều giữa các quốc gia, việc hình thành XKLĐ còn do những nguyên nhân khác như:
- Các cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại dẫn đến trình độ công nghệ không đồng đều giữa các nước Sở hữu trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh, lợi thế của các quốc gia không ngừng biến đổi Những quá trình này ngày càng đẩy các nước kém phát triển vào thế bất lợi, càng làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các nước
- Do các cuộc chiến tranh thế giới hay các cuộc chiến tranh phi nghĩa khác cùng với các cuộc chiến tranh cục bộ ở các khu vực khác nhau trên thế giới làm