1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀO AFTA

30 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Thực Trạng Xuất Khẩu Của Việt Nam Trong Quá Trình Hội Nhập Và Vào AFTA
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 52,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm trước thời kỳ đổi mới, trên tư duy kinh tế , chính trị của ta đãnhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển mạnh các hoạt động kinh tế đốingoại trong đó có việc thực hiện

Trang 1

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG

QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀO AFTA

2.1-/ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ.

2.1.1-/ Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam trước năm 1986.

Những năm trước thời kỳ đổi mới, trên tư duy kinh tế , chính trị của ta đãnhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển mạnh các hoạt động kinh tế đốingoại trong đó có việc thực hiện một chiến lược ngoại thương đúng đắn, năngđộng, phù hợp với thực tiễn đất nước và bối cảnh quốc tế sẽ luôn luôn là động lựctrực tiếp cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng Xong do nhiều nguyên nhânlịch sử ( trong nước và trên thế giới) cộng với sự nóng vội mong đốt cháy giai đoạn

để đi nhanh đến chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã nhận thức và hành động sai lầm vềcon đường phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế đối ngoại và ngoạithương nói riêng Đó là xây dựng quan điểm duy ý chí, tự lực cách sinh, biệt lậpkhép kín cùng với việc duy trì cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung quanliêu bao cấp Điều này trở thành vật cản, làm triệt tiêu các động lực, kìm hãm tốc

độ phát triển kinh tế Riêng trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, mặc dù ngay từ năm

1960 đã có hơn bốn mươi nước ký kết quan hệ ngoại thương với Việt Nam (miềnBắc), nhưng thực tế cả một thời gian dài trước năm 1975, các hoạt động thươngmại của Việt Nam với thế giới bên ngoài mới chỉ tiến hành với các nước khu vực I(khu vực XHCN) Xuất khẩu sang các nước này thường xuyên chiếm trên 70%tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK)

Từ năm 1976, với chủ trương không ngừng mở rộng phân công lao động quốc

tế trên lĩnh vực kinh tế khoa học, kỹ thuật và đẩy mạnh thương mại quốc tế Hoạtđộng kinh doanh xuất khẩu đã mang tính chất của một hoạt động kinh tế vì mụctiêu lợi nhuận Thời kỳ này mọi hoạt động kinh doanh xuất khẩu đều do nhà nước

Trang 2

đặt kế hoạch bằng các chỉ tiêu, pháp lệnh Các đơn vị kinh doanh xuất khẩu hoàntoàn chỉ do các công ty và tổng công ty quốc doanh chuyên doanh xuất khẩu thuộc

Bộ ngoại thương đảm nhận

Bước vào những năm đầu của thập kỷ 80, trước những đòi hỏi của thực tế vàsức ép từ cơ sở, cơ chế quản lý thương mại quốc tế và chính sách kinh tế đối ngoạiViệt Nam bắt đầu có sự thay đổi Ngày 7/2/1980 chính phủ ra nghị điịnh 40CP quyđịnh chính sách và biện pháp hàng xuất khẩu Trong đó có thu hẹp các chỉ tiêupháp lệnh đối với hàng xuất khẩu chủ yếu và đồng thời mở rộng quyền xuất khẩutrực tiếp cho các liên hiệp xí nghiệp, các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu do Bộquản lý, các cơ sở sản xuất chế biến hành xuất khẩu thuộc thành phần kinh tế tậpthể, công ty hợp doanh, tư nhân và cá thể đủ điều kiện cần thiết sẽ được cấp giấyphép kinh doanh xuất khẩu thường xuyên hay từng chuyến

Trong thời kỳ này, ngoài các nước khu vực I, Việt Nam đã tăng cường quan

hệ thương mại với các nước khu vực II (các nước TBCN và các nước đang pháttriển) như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Cộng hoà Liên bang Đức, ThuỵĐiển, Ấn Độ, Pháp, Thái Lan, Singapo Nhờ đó tổng kim ngạch xuất khẩu củakhu vực II đã tăng lên đến 46,8% (năm 1999), trong đó nổi bật lên vai trò của NhậtBản là một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam ( sau Liên Xô cũ) Đánglưu ý là mặc dù kim ngạch xuất khẩu sang các nước khu vực I thời kỳ này vẫn tiếptục tăng lên về tuyệt đối so với thời kỳ trước nhưng so với mức tăng tương đối củakim ngạch xuất khẩu sang các nước khu vực II thì tốc độ tăng ở khu vực I lại thấphơn ở khu vực II (khu vực II tăng 3,3 lần trong khi khu vực II tăng 4,2 lần)

Trang 3

BẢNG 2 - XUẤT KHẨU THEO HAI KHU VỰC THỜI KỲ 1976-1986.

Năm

Giá trị (tiền Rúp)

Tốc độ tăng %

Giá trị (tiền Rúp)

Tốc độ tăng %

Giá trị (tiền Rúp)

Tốc độ tăng %

66,4 11,5 -4,7 -4,3 4,4 43,4 13,1 6,9 4,4 3,1

89,8 101,3 86,1 85,5 112,7 165,6 189,5 235,2 241,7 272,7 384,1

12,8 -20,9 6,7 31,8 46,9 14,4 24,1 2,8 12,8 40,8

222,7 322,4 326,8 320,5 337,7 400,6 526,6 616,5 640,6 698,5 823

44,7 1,4 -1,9 5,4 18,6 31,4 17,1 5,4 7,5 17,8

Nguồn: Niên giám thống kê - Nhà xuât bản Thống kê Hà Nội

Qua bảng số liệu trên cũng có thể thấy được hoạt động xuất khẩu trong thờikỳ1976-1986 là không ổn định, tốc độ tăng không đều giữa các năm Đặc biệt cónhững năm, tốc độ tăng trưởng xuât khẩu giảm Điều này chứng tỏ mặt hàng xuấtkhẩu của chúng ta thời kỳ này chưa có chỗ đứng vững chắn trên các thị trường.Chưa có nhiều thị trường mang tính ổn định lâu dài Những số liệu này cũng phảnánh đúng với thực trạng xuất khẩu của thời kỳ này là chủ yếu xuất khẩu theo nghịđịnh thư cho nên chưa ký kết được hiệp định thư thì không thể xuất khẩu Trongcác năm 1979, 1980, mặc dù xuất khẩu sang khu vực II tăng lên nên tổng giá trịkim ngạch xuất khẩu vẫn được tăng Từ năm 1980 đến 1986, giá trị xuất khẩu liêntỵuc tăng cả về giá trị và tốc độ Tuy tốc độ tăng có không đều giữa các năm, tốc

độ tăng bình quân là 14,7% là một dấu hiệu đáng mừng cho hoạt động xuất khẩucủat Việt Nam Đáng chú ý nhất là năm 1986, xuất khẩu sang khu vực I và cả sang

Trang 4

khu vực II đạt giá trị cao nhất trong những năm trước đó, riêng khu vực II, giá trịxuất khẩu tăng 40,8% so với năm trước đó.

Trong thời kỳ này, sản phẩm xuất khẩu vừa nhỏ bé về chất lượng, vừa đơnđiệu về cơ cấu chủng loại, chất lượng bao bì Chiếm trên 80% tổng kim ngạch xuấtkhẩu là hàng nông lâm sản, tiểu thủ công, mỹ nghệ và khoáng sản, nghĩa là chủyếu là sản phẩm thô hoặc sơ chế Cùng với sự yếu kém về sản phẩm xuất khẩu là

sự ràng buộc phiền hà của cơ chế cũ đẫ khiến cho Việt Nam bị hạn chế nhiều trongviệc mở rộng thị trường, tìm kiếm bạn hàng mới Năm 1986 là năm đạt kim ngạchxuất khẩu cao nhất so với các năm trước đó, nhưng cũng chỉ mới đạt đến con sốhơn 800 triệu rúp Nếu đem con số này so với các nước khác thì giá trị XNK tínhtheo đầu người của Việt Nam (năm 1986) mưói chỉ đạt 12 rúp, vào loại thấp nhấtthế giới

2.1.2-/ Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam từ 1986 đến nay.

a, Thời kỳ 1986-1998

Từ cuối năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới kinh tế do đại hội VI củaĐảng Cộng sản Việt Nam đề ra, đường lối kinh tế đối ngoại được coi là "mũinhọn" của sự đổi mới Cùng với việc "bung ra của nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần, lần đầu tiên ở Việt Nam các thuật ngữ " mở cửa nền kinh tế", "đa dạnghoá kinh tế đối ngoại" , "đa phương hoá thị trường" đã được đề cập đến trong cácchủ trương, chính sách phát triển kinh tế đối ngoại Quan niệm cứng nhắc coi "độcquyền ngoại thương" làbản chất kinh tês của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa đã đượcxem xét lại và phần nào cũng đã được "vượt rào"trong thực tiễn Đáng lưu ý ngoạithương, đặc biệt là các hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu đã được đề cao,coi đó là một trong ba chương trình kinh tế trọng điểm của Việt Nam Nghị định64/HĐBT ngày 16/6/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về chế độ tổ chức, quản lý kinhdoanh hoạt động xuất nhập khẩu là cơ sở chính sách thượng mại thời kỳ này, về cơ

Trang 5

bản đã thể hiện bước ngoặt quan trọng đầu tiên của sự nới lỏng cơ chế quảnlýngoại thương theo tinh thần đổi mới cơ chế trên đây Với chính sách thôngthoáng như vậy đã góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại cua nước tatrong thời kỳ này

Hoạt động xuất khẩu nhờ đó có sự biến đổi tích cực, Nếu như năm

1976-1980, tộc độ tăng của xuất khẩu hàng năm bình quân là 11%, những năm tiếp theo

từ 1982- 1985 là 15,6%, thì dù trong hai năm 1986-1987đã đạt tới mức 27% Riêngnăm 1989 so với năm 1988, tăng 75,3% (gần bằng mức tăng của cả 15 năm từ1960-1975) Năm 1993, lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu đã vượt mức 2 tỷ USD,tăng 21,6% so với năm 1989 và gấp hai lần so với năm 1988 Khoảng cách chênhlệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu đã rút ngắn lại từ tỷ lệ 1,7 giai đoạn 1960-1975xuống tỷ lệ đáng kể 1/1,3 Trong những năm này (1986-1993), ngoài việc tiếp tụcduy trì quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước khu vực I, quan hệ thươngmại giữa Việt Nam với các nước khu vưch II ngày càng được mở rộng Xuất khẩusang khu vực II của 5 năm (1986-1993) đã đạt được 3,5 tỷ USD, gấp

BẢNG 3 - XUẤT NHẬP KHẨU THEO KHU VỰC II THỜI KỲ (1981-1993)

(triệu USD)

Nhập khẩu (triệu USD)

Cán cân ngoại thương

1981-1985

1986-1993

1989-1993

1104,73506,32308,3

2166,63807,62081,7

-1061,9-301,2226,6

Nguồn: Bộ thương mại -1995

Theo bảng số liệu trên, cả xuất và nhập khẩu đều phát triển ngày càng tăng vàkhoảng cách chênh lệch cán cân thương mại giữa xuất và nhập khẩu ngày càng thu

Trang 6

hẹp, đặc biệt trong hai năm 1989-1993 cả xuất lẫn nhập đều tăng vọt và việc tăngxuất khẩu hơn nhập khẩu đã khiến nước ta lần đầu tiên xuất siêu Từ năm 1994 đếnnay, mặc dù hoạt động ngoại thương đã diễn ra trong những điều kiện , hoàn cảnhkhó khăn (do sự đổ vỡ của thị trường Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trướcđây Trước tháng 3/1995, Mỹ vẫn thi hành chính sách cấm vận kinh tế với ViệtNam) Việt Nam phải cùng một nước chuyển hướng tìm kiếm thị trường, bạn hàngmới, vừa phải thay đổi phương thức và nghệ thuật kinh doanh đúng với thông lệquốc tế nưhng vẫn phải đạt kết quả khả quan trong hoạt động xuất nhập khẩu.

BẢNG 4 - TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU QUA CÁC NĂM 1986-1998

Tỷ trọng XK trong tổng kim ngạch XNK (%)

Triệu USD Triệu USD

789,1854,21038,41946,02404,02087,12580,72985,23600,05300,0

350,13633,287,41138,21353,22009,82552,42952,03571,05300,0

8,226,187,423,5-13,223,715,720,647,2

26,825,827,443,146,647,250,443,241,941,1

Nguồn: Niên giám thống kê - NXB Hà Nội.

Như vậy, qua bảng số liệu, năm 1994 là năm có kim ngạch xuất khẩu giảm sút

so với năm 1993, song sự giảm sút đó không đáng kể so với những khó khăn hụthẫng lơn do sự đổ vỡ cảu thị trường Liên xô và Đông Âu gây ra Kim ngạch xuất

Trang 7

khẩu năm 1994 giảm 13% so với năm 1993 Ngoài ra cũng phải nhận thấy năm

1994 là năm đầu tiên Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu vượt hơn 2 tỷ USD Qua

đó mới thấy được những cố gắng lớn của ngoại thương Việt Nam trong công cuộcđổi mới Từ năm 1995 trở đi liên tục kim ngạch xuất khẩu của năm sau cao hơnnăm trước với tốc độ tăng trưởng khá mạnh và đều vượt kế hoạch dự kiến ban đầu.Hơn nữa tỷ trọng xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu có chiều hướng tăngdần lên theo các năm Năm 1986, xuất khẩu mới chiếm 26,8% trong tổng kimngạch thì đến năm 1989, đạt được 43,1% và liên tục từ năm 1989 trở đi, giá trị xuấtkhẩu chiếm hơn 40% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, và đặc biệt năm 1995, xuấtkhẩu đã chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Điều này chứng tỏ, xuấtkhẩu đã đáp ứng được một phần ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu của đất nước.Năm 1995, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,58 tỷ R-USD , tăng 23,7% so với năm

1994 Năm 1996, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,98% tỷ R-USD, tăng 15,7% so vớinăm 1995 Năm 1997 kim ngạch xuất khẩu đạt 3,6% tỷ R-USD, tăng 20,6% so vớinăm 1996, Năm 1998 kim ngạch xuất khẩu đạt 5,3% tỷ R-USD, tăng 47,2% so vớinăm 1997 Tính chung cả kế hoạch 5 năm (1994-1998) tổng kim ngạch xuất khẩuđạt gần 16,5 tỷ USD, vượt 10% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được Quốc hội đề ra12-15 tỷ USD, bình quân hàng năm tăng khoảng 18,7% (nếu không tính sự sụtgiảm xuất khẩu của năm 1994 thì tăng khoảng 21%) So với giai đoạn 1986-1993,kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 1994-1998 tăng gấp hai lần, trong đó xuấtkhẩu tăng hơn 2,3 lần Số liệu phân tích trên có thể thấy rằng tốc độ tăng trưởngngoại thương của nước ta trong giai đoạn này là khá nhanh và cao hơn tốc độ tăngtrưởng kinh tế (8%) là phù hợp với xu thế phát triển kinh tế đã trở thành quy luậtchung của thế giới, đặc biệt là các nước có nền kinh tế mới bắt đầu đi lên đangtrong giai đoạn thực thi chính sách mở của nền kinh tế Những kết quả , thành tựuphát triển khả quan đó đã chứng tỏ ngoại thương Việt Nam đã từng bước trở thành

Trang 8

động lực trực tiếp cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa nền kinh tế và phầnquan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển đất nước.

Cùng với tiến triển trên đây, cơ cấu giá trị các nhóm hàng xuất khẩu trongkim ngạch xuất khẩu cũng đã có sự biến đổi phù hợp theo sự chuển dịch cơ cấukinh tế theo hướng công nghiệp hoá: tỷ trọng hàng công nghiệp tăng lên tương đối

và tỷ trọng hàng nông - lâm - thủy - sản giảm xuống tương đối trong khi cả hai loạihàng này đều tăng tuyệt đối về quy mô khối lượng hàng hoá và giá trị xuất khẩu

Cụ thể là hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm 32,8% (thời kỳ 1986-1993

là 16%), hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm 18,1% (thời kỳ1986-1993 là 16%), hàng nông - lâm - thủy sản chiếm 41,9% (thời kỳ 1986-1993

là 54%) Sở dĩ hàng công nghiệp nặng và khoáng sản có sự tăng nhanh như vậy là

do sản phẩm dầu thô và than đá tăng vọt về quy mô và giá trị xuất khẩu, xuất khẩudầu thô từ con số 0 năm 1988 tăng lên 3,9 triệu tấn năm 1994 và đến năm 1998 con

số tăng lên đến 7,7 triệu tấn, tăng gấp hai lần Tính chung cả 5 năm 1994-1998 sảnlượng dầu thô xuất khẩu là 30,6 triệu tấn, tăng gấp 7,7 lần so với sản lượng năm

1994 Tương tự như vậy, năm 1994, than đá còn ở mức 1,17 triệu tấn nhưng đếnnăm 1998 đã lên tới 2,2 triệu tấn, tăng gấp 1,9 lần Tính gộp giai đoạn 1994-1998xuất khẩu than đá đạt tới 8,689 triệu tấn, tăng gần 7,5% so với sản lượng năm1994

Với sự gia tăng của hoạt động xuất khẩu và sự biến đổi cơ cấu sản phẩm xuấtkhẩu thì thị trường xuất khẩu trong giai đoạn này có sự chuyển biến lớn Xuất khẩusang hai thị trường đều tăng nhanh, nhưng sang khu vực II tăng mạnh hơn Chođến năm 1988,1989, các nước Liên Xô cũ và Đông Âu vẫn là bạn hàng chính củaViệt Nam thời kỳ 1993-1997 Các số liệu của bảng dưới đây cho thấy sự thay đổiphương hướng thị trường xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 1993-1997 Sự thay đổi

có tính chất tương phản giữa các bạn hàng châu Âu và châu Á cho thấy sự chuyển

Trang 9

hướng khá linh hoạt quan hệ buôn bán của Việt Nam sau khi Liên Xô tan vỡ Tỷtrọng của các nước XHCN Đông Âu cũ trong xuất khẩu của Việt Nam giảm từ45% năm 1993 xuống còn 3,0% năm 1997 Trong khi tỷ trọng của các nước châu

Á trong xuất khẩu tăng từ43,3% lên 75,0% Quan hệ buôn bán của Việt Nam vớicác nước khu vực khác còn ở mức độ hạn chế

Trang 10

BẢNG 5 - SỰ THAY ĐỔI CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

CỦA VIỆT NAM 1993-1997

77,025,024,636,034,02,50,117,011,06,00,30,60,34,7

74,022,021,530,032,03,64,015,05,010,01,01,01,08,0

73,021,013,026,032,04,65,014,06,08,01,42,02,29,4

75,022,921,726,030,02,27,614,53,010,93,41,21,25,4

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư -2000

Phân tích kỹ hơn cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ nàycho thấy: Nhật Bản và các nước công nghiệp hoá ở châu á là bạn hàng chính chiếmgần 805 tổng kim ngạch buôn bán của Việt Nam Tron đó kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam sang các nước ASEAN chiếm từ 25 đến 30% tổng kim ngạch xuất khẩu.Tổng mức lưu chuyển ngoại thương giữa Việt Nam với các nước ASEAN đã tăngdần lên 20 lần trong vòng 9 năm (120 triệu USD năm 1986 lên 2,5 tỷ USD năm1998) Đây là một thị trường mà Việt Nam là một bộ phận của thị trường đó với gần

500 triệu dân sôi đôngj và đầy tiềm năng này sẽ cùng nhau tăng nhanh lợi ích thuđược từ hoạt động ngoại thương, đặc biệt là lĩnh vực xuất khẩu

b, Tình hình xuất khẩu qua các năm 1999, 2000, 2001 và 2002.

Trang 11

Năm 1999, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 18,4 tỷ USD, bằng 46,4% tổngkim ngạch của cả thời kỳ 1994-1998 và tăng 35% so với riêng năm 1998 Xuấtkhẩu đã đạt 7,2558 tỷ USD, tăng 33,2% so với năm 1998 và chiếm sấp sỉ 30%GDP nhưng tốc độ tăng vẫn thấp hơn tốc độ tăng nhập khẩu (36,6%).

Kim ngạch xuất khẩu tính theo đầu người đã đạt mức trên dưới 95USD vào năm

1999 gấp hơn 3 lần so với năm 1994 (30USD) và gấp 9 lần so với năm 1986 (11USD).Tuy nhiên con số này còn khá khiên tốn so với mức 170USD được thế giới thừa nhận

là mức của một nước có nền kinh tế ngoại thương tương đối phát triển

Cơ cấu hàng xuất khẩu đã có chuyển biến tích cực, tỷ trọng hàng chế biếnnăm 1999 đã tăng lên 30% Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu trong tổng kim ngạchxuất khẩu như sau: Nông nghiệp chiếm 34,1%, lâm nghiệp chiếm 1,9%, thuỷ sảnchiếm 9,0%, công nghiệp và khai khoáng 36,4%, dầu thô 18,9% Một số mặt hàngchủ lực đã hình thành, có kim ngạch tương đối lớn và chất lượng ngày càng đượccải tiến, bước đầu gây được tín nhiệ trên thị trường thế giới như: dầu thô, gạo, hảisản, dệt may, giày dép, cà phê, cao su, hạt điều Đặc biệt hai mặt hàng là dầu thô

và dệt may đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, cụ thể: dầu thô giá trị xuất khẩu đạt1,3457 tỷ USD, và dệt may 1,150 tỷ USD

Về thị trường xuất khẩu, chúng ta vẫn tiếp tục duy trì các thị trường quenthuộc Nhật Bản trong năm 1999 tiêu thụ hàng xuất khẩu của Việt Nam với giá trịxấp xỉ 1,5 tỷ USD Đây là thị trường được đánh giá là tiềm năng nhất trong nhữngnăm trở lại đây Thị trường EU vẫn là thị trường lớn tiêu thụ hàng dệt may, giầydép của Việt Nam Đối với Mỹ là bạn hàng mới nhưng Mỹ đầy tiềm năng đối vớiViệt Nam trong việc mở rộng xuất khẩu Năm 1999 cũng là năm đầu tiên đánh giánăm đầu tiên đánh giá về quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN sau ngàygia nhập chính thức vào tổ chức này (7/1998) Tổng kim ngạch xuất khẩu sang thịtrường này có tăng lên chút ít, chiếm 33% kim ngạch xuất khẩu của cả nước

Trang 12

Trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1999 phải kể đến đóng góp của khu vựcdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 786 triệu USD, chiếm 10,8% trong tổngkim ngạch xuất khẩu: Phân tích bảng số liệu cơ cấu xuất khẩu năm 1999-2000 sau:

BẢNG 6 - CƠ CẤU XUẤT KHẨU NĂM 1999-2000

Tổng kim ngạch xuất

Năm 2000

so với 1999

Trong đó doanh nghiệp có Triệu USD 7255,8 8850,0 122,0vốn đầu tư nước ngoài Triệu USD 786,0 1500 190,8Mặt hàng chủ yếu

Nguồn: Số liệu Bộ thương mại.

Năm 2000 là năm diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nghiêm trọngcủa các nước trong khu vực Tham gia khối ASEAN, Việt Nam mặc dù không bịảnh hưởng lớn nhưng nó đã khiến cho Việt Nam phải đứng trước những khó khănthử thách mới Do tác động của cuộc khủng hoảng đã làm cho hàng hoá xuất nhậpkhẩu của các nước như Thái Lan, Singapo, Philipin lại trở lên có cạnh tranh vềgiá cả cao hơn Việt Nam Điều này khiến cho các đối tác nước ngoài của Việt Nam

Trang 13

gây sức ép giảm giá đối với hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam Tuy vậy trongnăm 2000, tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt được 8850 triệu USD, tăng 22,0% sovới năm 1999 Và điều đáng mừng là cán cân ngoại thương của Việt Năm năm

2000 đã được cải thiện bằng bằng so với năm 1999, nhập siêu chỉ bằng 0,4% Mặc

dù xuất khẩu năm 2000 có tăng nhưng về tốc độ lại có xu hướng chậm lại, năm

2000 tăng 22,0% trong khi năm 1998 tăng 34,4% và năm 1999 tăng 33,2% Lầnđầu tiên kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người của VIệt Nam đạt 119USD/người, tăng 21% so với năm 1999: 995 USD/người)

Trong năm 2000, các hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn đều tăng, cụ thể là càphê tăng 42,8%, hàng hải sản tăng 16,7%, gạo tăng 18,2%, hàng dệt may tăng 13%

và dầu thô tăng 10,9% Riêng than đá giảm 4% so với năm 1999 Có một số nhómmặt hàng mới có kim ngạch khá cao là hàng rau quả (năm 1999 đạt 64 triệu USD

và năm 2000 ước tính đạt 75 triệu USD); nhóm hàng điện tử linh kiện điện tửkhoảng182 triệu USD, nhóm sản phẩm gỗ, mây đan khoảng 250 triệu USD Mộtđiểm đáng chú ý là giá xuất khẩu của một số mặt hàng như dầu thô, gạo, cao su và

cà phê giảm so với năm 1999 nên đã làm ảnh hưởng tới kim ngạch xuất khẩu cảnăm 2000 Nếu tính chung cho tất cả các mặt hàng xuất khẩu thì việc giảm giá xuấtkhẩu ảnh hưởng giảm kim ngạch xuất khẩu khoảng 450 triệu USD trong năm 2000.Thị trường xuất khẩu chính gồm có: các nước ASEAN đến hết năm 2000 tổnggiá trị xuất của Việt Nam sang các nước này đạt 1,833 tỷ USD chiếm 21% tổng giátrị xuất khẩu của Việt Nam trong đó Singapo1157,3 triệu USD, Philipin 221 triệuUSD, Thái Lan 223,4 triệu USD, Indonexia 48,4 triệu USD, Malayxia 146,7 triệuUSD, Lào 46,1 triệu USD Một trong những nước có kim ngạch xuất khẩu lớn củaViệt Nam là Nhật Bản: 1,61 tỷ USD, chiếm 18,4% tổng giá trị xuất khẩu, ĐàiLoan: 78 tỷ USD, Trung Quốc: 0,52 tỷ USD, Mỹ: 0,273 tỷ USD và Pháp là 0,228

tỷ USD Cơ cấu thị trường và bạn hàng đã có sự chuyển biến tích cực và mở rộng

Trang 14

số lượng và tổng giá trị xuất khẩu nhưng đến nay,Việt Nam vẫn chỉ xuất khẩu hànghoá sang các nước châu Á là chủ yếu ( chiếm tỷ trọng 70%) xuất khẩu sang cácnước châu Âu và Bắc Mỹ, những nước có công nghệ cao vẫn chiếm tỷ trọng thấp.Hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam qua thị trường trung gian vẫn chiếm tỷ trongtương đối lớn.

Năm 2001, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 9323 triệu USD tăng 6% so với năm

2000 Đây là mức thấp nhất từ năm sáu năm trở lại đây Có thể lý giải cho thựctrạng trên là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực ĐôngNam Á Cuộc khủng hoảng này không những đã làm cho giá xuất khẩu của một sốsản phẩm giảm mà nhu cầu nhập khẩu của các nước trong khu vực cũng bị thu hẹp.Xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN, đặc biệt là trong hai tháng đầunăm 2001 chỉ bằng 52% so với cùng kỳ năm 2000, trong đó xuất khẩu sang TrungQuốc chỉ bằng 79,6%, sang Hàn Quốc bằng 31% so với cùng kỳ Do đó dù một sốmặt hàng đạt khối lượng khá như dầu thô, than đá, tăng hơn ba lần so với năm

2000, nhưng kim ngạch xuất khẩu vẫn không tăng được bao nhiêu

Năm 2002, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 11523 triệu USD tăng 26% so vớinăm 2001 và ở mức cao hơn cả một số năm trước khủng hoảng tài chính tiền tệkhu vực Đông Nam Á Điều đó chứng tỏ sự phục hồi kinh tế của các nước trongkhu vực đồng thời cho thấy khả năng thích ứng của nền kinh tế Việt Nam, đangtừng bước hội nhập với sự phát triển chung của nền kinh tế khu vực và toàn cầu.Các mặt hàng xuất khẩu như dầu thô, cao su, cà phê, gạo, than đá, hàng hải sản,hàng may mặc đều gia tăng hơn hẳn so với năm trước Thị trường xuất khẩu củaViệt Nam vẫn là các nước ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, EU và đặc biệt sau kếtquả khả quan các vòng đàm phán thương mại Việt-Mỹ sẽ mở ra cho Việt Nam mộtthị trường với dân số đông , trình độ khoa học công nghệ cao, nếu chúng ta đápứng được yêu cầu khắt khe của thị trường này thì việc hội nhập vào khu vực mậu

Trang 15

dịch tự do ASEAN sẽ dễ dàng hơn Đồng thời chúng ta cũng có điều kiện học hỏiđược kinh nghiệm và nhập thiết bị tiên tiến phục vụ cho sản xuất trong nước Như vậy, với số liệu phân tích trong những năm gần đây, rõ ràng hoạt độngxuất khẩu của Việt Nam chưa phát triển hết tiềm năng của mình Với thế và lựcmới trong tương lai Việt Nam cần khắc phục những mặt yếu kém, phát triển cácmặt lợi thế của mình để có thể thực hiện thành công chiến lược tăng trưởng hướng

về xuất khẩu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Do đó đểnhững chính sách và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu tình hình mới là một vấn đềquan trọng mang tính chiến lược của nền kinh tế Việt Nam

2.2-/ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP AFTA.

2.2.1-/ Chính sách thương mại của Việt Nam trong quá trình hội nhập

AFTA.

Theo một báo cáo của Văn phòng Chính phủ trong khuân khổ Dự ánVIE/015/95 "Thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam vào ASEAN - PromotingVietnam's integration with ASEAN", các nước ASEAN rõ ràng không phải là cácnước thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam mà thực tế lại là các nước xuấtkhẩu vào Việt Nam Bên cạnh đó, các hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam và cácnước trong khối cũng có nhiều đặc điểm tương đồng và thậm chí là đối thủ cạnhtranh của Việt Nam trên thị trường xuất khẩu thế giới Vì vậy ảnh hưởng của tự dohoá mậu dịch giữa các nước thành viên sẽ không có tác động trực tiếp lớn đến nềnkinh tế ngắn hạn Tuy nhiên, tiềm năng thúc đẩy các hoạt động trao đổi thương mạigiữa Việt Nam và các nước ASEAN là rất hứa hẹn Như vậy, các ảnh hưởng củaAFTA đối với Việt Nam sẽ rộng lớn và toàn diện hơn trong dài hạn

Chính vì vậy, việc đưa ra môt chính sách thương mại phù hợp với quy địnhchung của AFTA, tức là phù hợp với hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung(CEPT) là rất cần thiết cho quá trình hội nhập thương mại của Việt Nam, đặc biệt

Ngày đăng: 30/10/2013, 12:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 2 - XUẤT KHẨU THEO HAI KHU VỰC THỜI KỲ 1976-1986. - PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀO AFTA
BẢNG 2 XUẤT KHẨU THEO HAI KHU VỰC THỜI KỲ 1976-1986 (Trang 3)
BẢNG 3 - XUẤT NHẬP KHẨU THEO KHU VỰC II THỜI KỲ (1981-1993) - PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀO AFTA
BẢNG 3 XUẤT NHẬP KHẨU THEO KHU VỰC II THỜI KỲ (1981-1993) (Trang 5)
BẢNG 4 - TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU QUA CÁC NĂM 1986-1998 - PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀO AFTA
BẢNG 4 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU QUA CÁC NĂM 1986-1998 (Trang 6)
BẢNG 5 - SỰ THAY ĐỔI CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU - PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀO AFTA
BẢNG 5 SỰ THAY ĐỔI CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU (Trang 10)
BẢNG 7 - KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG ASEAN - PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀO AFTA
BẢNG 7 KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG ASEAN (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w