năm 2011 NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ và tên học viên: Trần Ngọc Tiệp Giới tính: Nam Ngày, tháng, năm sinh: 11/07/1982 Nơi sinh: Ninh Bình Chuyên ngành: Địa chất dầu khí ứng dụng Mã
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA ĐỊA CHẤT DẦU KHÍ -o0o -
TRẦN NGỌC TIỆP
XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỊA CHẤT ĐÁ MÓNG NỨT NẺ CẤU
TẠO X - BỂ CỬU LONG
Chuyên ngành: ĐỊA CHẤT DẦU KHÍ ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP Hồ Chí Minh, 14 tháng 01 năm 2012
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA - ĐHQG - HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Vĩnh Tuân
Cán bộ chấm nhận xét 1: TS Phạm Quang Ngọc
Cán bộ chấm nhận xét 2: TS Hoàng Phước Sơn
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại Học Bách Khoa, ĐHQG Tp HCM ngày 10 tháng 01 năm 2012
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)
1 TSKH Trần Lê Đông
2 TS Bùi Thị Luận
3 TS Phạm Quang Ngọc
4.TS Hoàng Phước Sơn
5 TS Nguyễn Quốc Quân
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA
TSKH Trần Lê Đông Nguyễn Việt Kỳ
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
- -o0o -
Tp HCM, ngày … tháng … năm 2011
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: Trần Ngọc Tiệp Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 11/07/1982 Nơi sinh: Ninh Bình
Chuyên ngành: Địa chất dầu khí ứng dụng Mã số học viên: 10360642 Khóa (năm trúng tuyển): 2010
1 - TÊN ĐỀ TÀI: XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỊA CHẤT ĐÁ MÓNG NỨT NẺ CẤU TẠO X -
BỂ CỬU LONG
2 - NHIỆM VỤ LUẬN VĂN
Nhiệm vụ / mục tiêu của luận văn:
Phân tích và tổng hợp tất cả các loại tài liệu thực tế: tài liệu địa chấn, tài liệu địa vật lý giếng khoan
và các kết quả khác (MDT, DST,…) đồng thời sử dụng một số các kết quả nghiên cứu đá móng khác như là nghiên cứu trường ứng suất kiến tạo kết hợp thực địa, nghiên cứu các thuộc tính địa chấn, nghiên cứu đặc điểm đá móng nứt nẻ để xây dựng mô hình địa chất cấu tạo X thuộc bồn trũng Cửu Long, đưa ra được hệ thống phân bố nứt nẻ trong tầng móng cấu tạo X với độ chính xác cao nhất có thể
Nội dung nghiên cứu bao gồm:
Giới thiệu các phương pháp nghiên cứu đá móng nứt nẻ phổ biến Gồm có:
o Các phương pháp địa vật lý
o Phương pháp nghiên cứu trường ứng suất kiến tạo kết hợp thực địa
o Phương pháp nghiên cứu thuộc tính địa chấn
Giới thiệu phương pháp xây dựng mô hình địa chất theo mô hình Net Pore Volume và mô hình Halo trong đá móng nứt nẻ
Xây dựng hàm nội suy giá trị độ rỗng mô hình
Tổng hợp dữ liệu của các phương pháp nghiên cứu để xây dựng mô hình địa chất cấu tạo X bồn trũng Cửu Long
Sử dụng mô hình địa chất xây dựng được để tính toàn trữ lượng dầu và khí tại chỗ
3 - NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 1/2011
4 - NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 12/2011
5 - HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS TS Trần Vĩnh Tuân
Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN KHOA QUẢN LÝ (Họ tên và chữ ký) QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH CHUYÊN NGÀNH (Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận Văn Tốt nghiệp Thạc Sĩ này, tác giả xin chân thành cảm
ơn thầy Trần Văn Xuân và quý thầy cô trong Bộ môn Địa Chất Dầu Khí - Khoa Địa Chất và Kỹ Thuật Dầu khí, Phòng Đào Tạo Sau Đại Học - Trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh, cùng với Ban Giám Đốc, Ban lãnh đạo và các anh
em đồng nghiệp Phòng Thăm Dò công ty dầu khí Phú Quý đã tạo điều kiện cho tác giả được tiếp cận với nguồn tài liệu, dữ liệu thực tế trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tác giả xin gởi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo PGS.TS Trần Vĩnh Tuân là người đã theo sát, tận tình hướng dẫn và chỉnh lý cho tác giả trong quá trình hoàn thành cuốn Luận văn này
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến chú Nguyễn Văn Tân, chuyên viên địa chấn, địa vật lý phòng thăm dò Vietsovpetro đã tận tình chỉ dạy, truyền đạt nhiều kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian công tác cũng như những góp ý ân tình trong suốt thời gian hoàn thành luận văn thạc sĩ vừa qua
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bố mẹ, quý công ty và các bạn đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian hoàn thành luận văn này
Trang 5
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Độ chính xác của mô hình địa chất quyết định rất lớn đến các bài toán kỹ thuật liên quan như: tính toán trữ lượng, công tác thiết kế lựa chọn vị trí, số lượng và quỹ đạo tối ưu của các giếng khoan Ngoài ra độ chính xác của mô hình địa chất còn giúp chính xác hóa quá trình mô phỏng vỉa, hỗ trợ đắc lực cho chiến lược phát triển mỏ,…
Hiện nay, các mô hình địa chất trong đá móng nứt nẻ được xây dựng ở các công ty dầu khí đang chỉ dừng lại ở mức độ chính xác chưa cao, phán ánh chưa đúng mức độ nứt nẻ về cả định tính và định lượng của đá móng Nội dung luận văn thạc sĩ này đưa ra một phương pháp xây dựng mô hình địa chất trong đá móng nứt
nẻ, trong đó kết hợp nhiều nguồn dữ liệu khác nhau của nhiều phương pháp nghiên cứu đá móng khác nhau Mô hình địa chất đá móng nứt nẻ cấu tạo X - bể Cửu Long được xây dựng theo phương pháp này đã được hoàn thiện và đưa vào phục vụ sản xuất, cho kết quả khả quan, chứng minh cho tính đúng đắn của phương pháp đề ra Trong phần nội dung của luận văn, tác giả đi từ giới thiệu tổng quan các phương pháp nghiên cứu đá móng nứt nẻ đang phổ biến nhất hiện nay đến trình bày chi tiết phương pháp xây dựng mô hình địa chất đá móng cấu tạo X thông qua việc kết hợp các nguồn dữ liệu của các phương pháp nghiên cứu đá móng nứt nẻ, trong
đó có kết hợp với phương pháp xác định mức độ nứt nẻ của đá móng thông qua hàm nội suy toán học được thành lập dựa trên số liệu thực nghiệm của nhiều mỏ lân cận Cuối cùng tác giả trình bày về các kết quả đạt được là các mô hình địa chất theo phương pháp Net Pore Volume và phương pháp Halo Bên cạnh các mô hình xây dựng được, tác giả đưa ra các công thức tính toán và các kết quả tính độ rỗng cũng như tính trữ lượng dầu và khí tại chỗ của các mô hình
Trong phần kết luận và kiến nghị, tác giả đưa ra một số kết luận về đặc điểm của mô hình địa chất cấu tạo X Tác giả cũng xin đưa ra một số kết luận về tính đúng đắn của mô hình cũng như tính đúng đắn của phương pháp xây dựng mô hình địa chất đã thực hiện
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG BỒN TRŨNG CỬU LONG 1
1.1 Vị trí kiến tạo 1
1.2 Các thành tạo địa chất 2
1.2.1 Móng trước Kainozoi 2
1.2.2 Trầm tích Kainozoi 3
1.3 Đặc điểm kiến tạo 8
1.3.1 Phân tầng kiến trúc 8
1.3.1.1 Phức hệ móng trước Kainozoi 8
1.3.1.2 Phức hệ lớp phủ trầm tích, phun trào Kainozoi 8
1.3.2 Đứt gãy 9
1.3.3 Lịch sử biến dạng Mezozoi muộn - Kainozoi sớm bồn trũng Cửu Long và vùng kế cận 11
1.4 Lịch sử phát triển địa chất 16
1.4.1 Giai đoạn Jura muộn - Creta (J3 - K) 16
1.4.2 Giai đoạn Paleocen - Eocen sớm 17
1.4.3 Giai đoạn Eocen muộn - Miocen sớm 17
1.4.4 Giai đoạn Miocene giữa - Đệ tứ (N12 - Q) 20
1.5 Hệ thống dầu khí [1] 20
1.5.1 Đá sinh 20
1.5.2 Đá chứa 23
1.5.3 Đá chắn 27
1.5.4 Các play hydrocacbon và các kiểu bẫy 28
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐÁ MÓNG NỨT NẺ 31
2.1 Phân tích tài liệu địa vật lý giếng khoan 31
2.1.1 Phương pháp đo đường kính giếng 31
2.1.2 Phương pháp đo mật độ 32
2.1.3 Phương pháp đo điện trở suất 33
2.1.4 Phương pháp Gamma Ray 34
Trang 72.2 Nghiên cứu trường ứng suất kiến tạo kết hợp thực địa 38
2.3 Nghiên cứu các thuộc tính địa chấn 41
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu sự liên kết các mạch địa chấn (Coherency Technology) 42
2.3.2 Thuật toán và thuộc tính Ant-tracking 44
2.4 Nghiên cứu đặc trưng của đá nứt nẻ chứa dầu [12] 46
2.5 Phương pháp xây dựng mô hình tích hợp nghiên cứu đá móng nứt nẻ 47
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH TÍCH HỢP CHO ĐÁ MÓNG NỨT NẺ CẤU TẠO X 48
3.1 Mục đích và phương pháp xây dựng mô hình địa chất 48
3.2 Đặc điểm đá móng cấu tạo X, bồn trũng Cửu Long 48
3.2.1 Kết quả minh giải tài liệu địa chấn 48
3.2.2 Hình thái kiến trúc, đứt gãy và nứt nẻ 50
3.2.3 Hệ thống dầu khí 52
3.2.4 Các pha biến dạng kiến tạo tác động lên đá móng 54
3.3 Phương pháp xây dựng mô hình 55
3.4 Các bước xây dựng mô hình địa chất cho vỉa tầng móng của cấu tạo Xb 56 3.4.1 Mô hình cấu trúc 59
3.4.1.1 Mô hình đứt gãy và mạng lưới Pillar 59
3.4.1.2 Tạo phân lớp cho mạng lưới 3D 60
3.4.1.3 Ranh giới Dầu - Nước 61
3.4.2 Mô hình thông số 61
3.4.2.1 Mô hình Net Pore Volume (NPV) 62
3.4.2.2 Mô hình Halo 64
CHƯƠNG 4: ỨNG DỤNG TÍNH TOÁN TRỮ LƯỢNG CHO VỈA TẦNG MÓNG CẤU TẠO X 73
4.1 Các thông số tính toàn 74
4.2 Tính toán trữ lượng cho vỉa tầng móng cấu tạo X theo mô hình Net Pore Volume 75
4.3 Tính toán trữ lượng khối Móng cấu tạo X theo mô hình Halo 76
4.4 Đối chiếu và so sánh kết quả trữ lượng của 2 mô hình NPV và Halo 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 8DANH SÁCH HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
DANH SÁCH HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ địa động lực hiện tại và sự phân bố các bồn trũng KZ sớm khu
vực Đông Nam Châu Á
Hình 1.2 Cột địa tầng tổng hợp bồn trũng Cửu Long [1]
Hình 1.3 Mặt cắt phân tầng kiến trúc theo hướng TB-ĐN ở phần Nam bồn
trũng Cửu Long
Hình 1.4 Bản đồ đứt gãy chính trong bồn trũng Cửu Long
Hình 1.5 Rìa lục địa tích cực thời kì J3-K
Hình 1.6 Rìa lục địa tích cực thời kì Creta muộn
Hình 1.7 Kiến tạo khu vực trong Kainozoi sớm (Robert Hall, 1996)
Hình 1.8 Các listric hình thành do căng dãn và sụt lún không đều
Hình 1.9 Granit nứt nẻ, biến đổi mạnh tại độ sâu 3828.2 m, GK BH425 (a) và
theo lát mỏng nhuộm màu (b) Hình 1.10 Mẫu lõi GK BH425 (3838.9m), nứt nẻ bị nấp đầy một phần hoặc
toàn phần bởi khoáng vật thứ sinh zeolit và calcit Hình 1.11 Đặc trưng lỗ hổng của đá phun trào tại GK R8 (3212.2m)
Hình 1.12 Biến đổi độ rỗng theo chiều sâu của các thành tạo Oligocene dưới Hình 2.1 Sự thay đổi của đường Caliper theo đường kính giếng khoan
Hình 2.2 Đường cong ghi kết quả đo mật độ
Hình 2.3 Đường cong ghi kết quả đo điện trở suất
Hình 2.4 Đường cong Gama Ray
Hình 2.5 Nứt nẻ dẫn liên tục qua tài liệu minh giải FMI
Hình 2.6 Đồ thị hoa hồng thể hiện xu thế của nứt nẻ dẫn liên tục
Hình 2.7 Hình ảnh về hướng góc nghiêng của đứt gãy
Hình 2.8 Ví dụ tổng hợp và phân tích cùng lúc nhiều nguồn dữ liệu karota
khác nhau Hình 2.9 Vị trí các điểm lộ quan sát được đá móng nứt nẻ
Hình 2.10 Điểm lộ Kê Gà - Phan Thiết
Hình 2.11 Quy luật hình thành các khe nứt sinh kèm ở lân cận các đứt gãy Hình 2.12 Trường ứng suất hình thành trong khối đá đứt gãy
Hình 2.13 Các mạch địa chấn liên quan đến các đặc điểm địa chất khác nhau Hình 2.14 Các cách sắp mạch địa chấn đầu vào cho thuật toán Coherency
Hình 2.15 Mặt cắt thuộc tính Coherency qua cấu tạo X
Hình 2.16 Mặt cắt địa chấn 3D Time Slice và 3D Coherency Slice qua cấu tạo
X (1800ms) Hình 2.17 Mặt cắt thuộc tính Ant-tracking qua cấu tạo X
Hình 2.18 Mặt cắt 3D Ant-tracking Slice qua cấu tạo X
Hình 3.1 Mặt cắt địa chấn theo phương TB-ĐN qua cấu tạo X
Hình 3.2 Mặt cắt địa chấn theo phương TN-ĐB qua cấu tạo X
Hình 3.3 Bản đồ thời gian nóc tầng móng
Hình 3.4 Bản đồ độ sâu nóc tầng móng
Hình 3.6 Bản đồ đẳng sâu của bề mặt Móng kèm đứt gãy của mỏ X
Hình 3.7 Mặt cắt địa chấn đi qua ba vị trí giếng khoan của mỏ X
Trang 9Hình 3.9 Nóc và đáy của mô hình vỉa chứa
Hình 3.10 Mối quan hệ độ rỗng theo chiều sâu giếng khoan X-1X, X-2X, X-3X Hình 3.11 Mô hình phân bố độ rỗng theo chiều sâu
Hình 3.12 Biểu đồ thể hiện các giá trị khoảng cách lớn nhất đến đứt gãy của 3
Mỏ X, Y và Z Hình 3.13 Nội suy độ rỗng áp dụng trong mô hình HALO
Hình 3.14 Công thức tính toán và đồ thị thể hiện sự phân bố độ rỗng theo chiều
ngang trong phương pháp HALO Hình 3.15 Mô hình phân bố độ rỗng ra xa đứt gãy với khoảng cách lớn nhất
150m Hình 3.16 Sự phân bố độ rỗng theo mô hình Halo
DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các pha biến dạng chính trong Mezozoi-Kainozoi [7]
Bảng 1.2 Các đặc tính cơ bản tầng đá mẹ bể Cửu Long
Bảng 3.1 Cấu hình mạng lưới 3D của mô hình địa chất cấu tạo X
Bảng 3.2 Các tham số thể hiện các giá trị độ rỗng theo chiều sâu
Bảng 3.3 Khoảng cách lớn nhất đến đứt gãy của mỏ X
Bảng 4.1 Thể tích đá chứa của vỉa tầng móng theo từng cấp trữ lượng
Bảng 4.2 Các hàm số thể hiện các giá trị NTG theo chiều sâu
Bảng 4.3 Hệ số giãn nở thành hệ của vỉa tầng móng cấu tạo X
Bảng 4.4 Độ bão hoà nước của vỉa tầng móng cấu tạo X – cấu tạo X
Bảng 4.5 Kết quả trữ lượng OIIP theo mô hình NPV
Bảng 4.6 Kết quả trữ lượng OIIP theo mô hình Halo
Bảng 4.7 Kết quả so sánh trữ lượng OIIP giữa mô hinh NPV và mô hình Halo
CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10FMI Formation Micro Image TVDSS True Vertical Depth Sub Sea
Trang 11MỞ ĐẦU i.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam có chủ trương đẩy mạnh công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí trên toàn bộ thềm lục địa Việt Nam Bồn trũng Cửu Long là nơi có tiềm năng lớn về dầu khí và đang là nguồn cung cấp trữ lượng chủ yếu phục vụ nền công nghiệp dầu khí Việt Nam Hầu hết dầu khí được khai thác ở bồn này là từ các Mỏ có sản lượng cao như: Bạch Hổ, Rồng, Ruby, Rạng Đông, Sư Tử Đen và mỏ X vừa được phát hiện gần đây Ngoài các tầng chứa trong trầm tích Miocen và Oligocen, tầng chứa trong đá móng Granitoid nứt nẻ là đối tượng chính của công tác tìm kiếm và thăm dò dầu khí của khu vực này
Để có thể đánh giá về đặc tính chứa của móng cũng như xác định rõ hơn về sự phân bố của nứt nẻ trong vỉa tầng đá móng, trên cơ sở đó việc chọn đề tài: “Xây dựng mô hình địa chất đá móng nứt nẻ cấu tạo X bể Cửu Long” Mô hình được xây dựng có thể sử dụng tính toán trữ lượng nhằm đối chiếu với trữ lượng được tính bằng phương pháp thể tích Bên cạnh đó, kết quả chính xác của mô hình địa chất còn giúp chính xác hóa cho việc mô phỏng vỉa và việc chọn vị trí giếng khoan và số lượng giếng khai thác tối ưu, đồng thời theo dõi, cập nhật và thay đổi chế độ khai thác mỏ hợp lý
i.2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài: Nghiên cứu khả năng tổng hợp dữ liệu của nhiều phương
pháp nghiên cứu đá móng nứt nẻ khác nhau để xây dựng mô hình địa chất cấu tạo X bồn trũng Cửu Long với độ chính xác cao nhất có thể, phục vụ cho các công tác tính toán trữ lượng, thiết kế giếng khoan và phát triển mỏ
Nhiệm vụ của đề tài:
Tìm hiểu các phương pháp nghiên cứu đá móng phổ biến
Nghiên cứu sự phân bố của đứt gãy, khe nứt theo chiều sâu và theo khoảng cách ngang đến đứt gãy, nghiên cứu mối quan hệ giữa độ rỗng với đứt gãy và khe nứt Trên cơ sở đó xây dựng hàm toán học nội suy giá trị độ rỗng theo chiều sâu và theo khoảng cách đến các đứt gãy
Nghiên cứu xây dựng mô hình địa chất theo mô hình Net Pore Volume (NPV)
và mô hình Halo
Trang 12 Nghiên cứu phương pháp xây dựng mô hình địa chất cho đá móng dựa trên khả năng tổng hợp nhiều nguồn dữ liệu của các phương pháp khác nhau
Xây dựng mô hình độ rỗng của đá móng cấu tạo X phục vụ cho bài toán tính toán trữ lượng
Tính toán thể tích rỗng của cấu tạo theo mô hình NPV và mô hình Halo
i.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Khối đá móng nứt nẻ cấu tạo X bồn trũng Cửu Long Phạm vi nghiên cứu: Hiện nay có rất nhiều phương pháp nghiên cứu đá móng
nứt nẻ để xây dựng mô hình địa chất Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này tác giả chỉ trình bày và tổng hợp các kết quả nghiên cứu đá móng phổ biến nhất của các công ty dầu khí hiện nay, để từ đó tiến hành xây dựng mô hình địa chất và mô hình độ rỗng phục vụ các bài toán kỹ thuật khác
i.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Trước đây các phương pháp xây dựng mô hình địa chất đá
móng nứt nẻ sử dụng tương đối ít nguồn dữ liệu Trong đề tài này tác giả đưa ra phương pháp tiếp cận mới trong việc nghiên cứu đá móng, thông qua việc kết hợp nhiều nguồn dữ liệu khác nhau của nhiều phương pháp nghiên cứu đá móng khác nhau để xây dựng mô hình địa chất
Ý nghĩa thực tiễn: Với mô hình địa chất đá móng nứt nẻ cấu tạo X được xây
dựng theo phương pháp nêu trên đã cho kết quả tương đối chính xác, phục vụ một cách hiệu quả và có độ tin cậy khá cao cho các bài toán kỹ thuật khác như: tính toán trữ lượng, bài toán lựa chọn ví trí và thiết kế quỹ đạo giếng khoan tối ưu hay phục
vụ hữu ích trong công tác phát triển mỏ
i.5 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung của luận văn thạc sĩ “Xây dựng mô hình địa chất đá móng nứt nẻ cấu tạo X - bể Cửu Long” gồm có những chương sau đây:
Chương 1 giới thiệu chung về vị trí địa lý, đặc điểm địa chất của bồn trũng Cửu Long là bồn trầm tích chứa đối tượng nghiên cứu cấu tạo X Nội dung giới thiệu bao gồm vị trí kiến tạo, các thành tạo địa chất, đặc điểm kiến tạo cũng như lịch sử phát triển địa chất của bồn trũng Cửu Long Các hệ thống dấu khí cũng như các kiểu bẫy có trong bồn trũng cũng được giới thiệu trong chương này
Trang 13Chương 2 giới thiệu với độc giả về đặc điểm đá móng cấu tạo X - bồn trũng
Cửu Long, trong đó có trình bày các kết quả minh giải tài liệu địa chấn, chỉ rõ các địa tầng, phân tập địa tầng cũng như về hình thái kiến trúc đứt gãy và nứt nẻ của cấu tạo Cũng trong chương này, tác giả trình bày về hệ thống dầu khí của cấu tạo X, gồm có: đá mẹ, bẫy, tầng chắn, tầng chứa, sự di cư cũng như quá trình hình thành các đứt gãy thông qua các pha biến dạng kiến tạo tác động lên đá móng
Chương 3: Trong chương ba, tác giả giới thiệu về các phương pháp nghiên
cứu đá móng nứt nẻ phổ biến hiện nay, gồm có: các phương pháp địa vật lý giếng khoan, phương pháp nghiên cứu trường ứng suất kiến tạo kết hợp thực địa, phương pháp phân tích các thuộc tính địa chấn và cuối cùng là khả năng xây dựng mô hình địa chất cấu tạo X bằng cách kết hợp các phương pháp nghiên cứu đá móng
Chương 4 tác giả đi sâu trình bày phương pháp xây dựng mô hình địa chất cấu tạo X thông qua việc kết hợp các nguồn dữ liệu của các phương pháp nghiên cứu đá móng nứt nẻ, trong đó có kết hợp với phương pháp xác định mức độ nứt nẻ của đá móng thông qua hàm nội suy toán học được thành lập dựa trên số liệu thực nghiệm của nhiều mỏ lân cận Cuối cùng tác giả đưa ra các mô hình địa chất theo phương pháp Net Pore Volume và phương pháp Halo Bên cạnh các mô hình xây dựng được, tác giả đưa ra các công thức tính toán và các kết quả tính độ rỗng của các mô hình trên
Trong phần kết luận và kiến nghị, tác giả đưa ra một số kết luận về đặc điểm của mô hình địa chất cấu tạo X Tác giả cũng xin đưa ra một số kết luận về tính đúng đắn của mô hình cũng như tính đúng đắn của phương pháp xây dựng mô hình địa chất đã thực hiện
i.6 Cơ sở tài liệu và thực hiện
Để hoàn thành các nhiệm vụ nêu trên tác giả đã tiến hành:
Thu thập, tổng hợp tài liệu địa chất và địa vật lý thuộc cấu tạo X
đã được báo cáo
Phân tích các kết quả khoan tại các giếng X-1X, X-2X, X-3X dựa trên tài liệu địa vật lý giếng khoan
Các tài liệu về địa chất, địa vật lý giếng khoan …
File ASCII của 3 giếng khoan X-1X, X-2X và X-3X gồm: well header, well
Trang 14 Các tài liệu mô tả về các bước thực hiện xây dựng mô hình địa chất và cách
tính trữ lượng được tham khảo từ các công ty
Ứng dụng tin học vào đề tài: sử dụng phần mềm GeoFrame và phần mềm Wave để phân tích trường sóng và minh giải tài liệu địa chấn, sử dụng phần mềm Excel để nội suy hàm tính toán độ rỗng, xác lập mối quan hệ giữa độ rỗng với chiều sâu và khoảng cách ngang đến các đứt gãy; sử dụng phần mềm Petrel để xây dựng mô hình địa chất và tính độ rỗng theo mô hình Halo
và mô hình NPV
Trang 15vỏ lục địa Âu-Á Bồn trũng Cửu Long là một võng sụt kiểu tách dãn trong Kainozoi sớm, bị phủ bởi lớp phủ thềm kiểu rìa lục địa thụ động Kainozoi muộn (N12-Q) Vào Mesozoi muộn (J3-K) vùng này nằm ở phần trung tâm của cung macma kéo dài theo hướng ĐB-TN từ Đà Lạt đến đảo Hải Nam Móng của bồn trũng Cửu Long chủ yếu được tạo nên bởi các đá xâm nhập granitoid và phun trào thuộc cung macma này
Hình 1.1 Sơ đồ địa động lực hiện tại và sự phân bố các bồn trũng KZ sớm khu vực
Đông Nam Châu Á
Trang 161.2 Các thành tạo địa chất
Theo tài liệu khoan, địa tầng của bể Cửu Long bao gồm đá móng cổ trước Kainozoi và trầm tích lớp phủ Kainozoi Đặc trưng thạch học - trầm tích, hóa thạch của mỗi phân vị địa tầng được thể hiện tóm tắt trên cột địa tầng tổng hợp của bể (Hình 1.2)
1.2.1 Móng trước Kainozoi
Tại bể Cửu Long, cho đến nay đã có hàng trăm giếng khoan sâu vào móng trước Kainozoi tại nhiều vị trí khác nhau Về mặt thạch học đá móng có thể xếp thành hai nhóm chính: granit và granodiorit-diorit, ngoài ra còn gặp đá biến chất và các thành tạo núi lửa
So sánh các phức hệ macma xâm nhập trên đất liền với đá móng kết tinh ngoài khơi bể Cửu Long, theo đặc trưng thạch học và tuổi tuyệt đối có thể xếp chúng tương đương với 3 phức hệ: Hòn Khoai, Định Quán và Cà Ná
Phức hệ Hòn Khoai có thể được xem là phức hệ đá macma cổ nhất trong
móng của bể Cửu Long, phức hệ có tuổi Trias muộn Theo tài liệu Địa chất Việt Nam (Tập II “Các thành tạo magma”) thì granitoid Hòn Khoai được ghép chung với các thành tạo magma xâm nhập phức hệ Ankroet-Định Quán gồm chủ yếu là amphybol-biotit-diorit, monzonit và adamelit Đá bị biến đổi, cà nát mạnh Phần lớn các khe nứt đã bị lấp đầy bởi khóang vật thứ sinh: calcite-epidot-zeolit Đá có thể phân bố chủ yếu ở phần cánh của các khối nâng móng, như cánh phía Đông Bắc mỏ Bạch Hổ
Phức hệ Định Quán gặp khá phổ biến ở nhiều cấu tạo Bạch Hổ (vòm Bắc), Ba
Vì, Tam Đảo và Sói Ở các mỏ Hồng Ngọc, Rạng Đông, Sư Tử Đen và Sư Tử Vàng (ở phía Bắc bể), chủ yếu là đá granodiorit, đôi chỗ gặp monzonit-biotit-thạch anh đa sắc Đá thuộc loại kiềm vôi, có thành phần axit vừa phải SiO2 dao động 63-67% Các thành tạo của phức hệ xâm nhập này có mức độ dập vỡ và biến đổi cao Hầu
Trang 17hết các khe nứt đều được lấp đầy bởi các khóang vật thứ sinh: calcite, zeolit, thạch anh và clorit Trong đới biến đổi mạnh biotit thường bị clorit hóa Phức hệ Định Quán có tuổi tuyệt đối dao động từ 130 đến 155tr năm
Phức hệ Cà Ná có tuổi Jura muộn là phức hệ magma phát triển và gặp phổ
biến nhất trên toàn bể Cửu Long Phức hệ đặc trưng là granit thủy mica và biotit, thuộc loại Natri-Kali, dư nhôm (Al=2.98%, Si (~69%) và ít Ca Các khối granitoid phức hệ magma xâm nhập này thành tạo đồng tạo núi và phân bố dọc theo hướng trục của bể Đá bị dập vỡ, nhưng mức độ biến đổi thứ sinh yếu hơn so với hai phức
1.2.2 Trầm tích Kainozoi
Nằm bất chỉnh hợp trên mặt đá móng kết tinh bào mòn và phong hóa là thành tạo Kainozoi bao gồm chủ yếu các trầm tích lục nguyên đôi chỗ chứa than hoặc xen lẫn phun trào núi lửa Các thành tạo này được xếp vào các hệ tầng sau: Cà Cối (E2
cc), Trà Cú (E31 tc), Trà Tân (E32 tt), Bạch Hổ (N11 bh), Côn Sơn (N12 cs), Đồng Nai (N13 đn) và Biển Đông (N2 bđ) (Hình 1.2)
Paleogen, Eocen, Hệ tầng Cà cối (E 2 cc) Hệ tầng này được phát hiện tại giếng
khoan CL-1X trên đất liền và một vài giếng khoan thăm dò trên cấu tạo Sư Tử Trắng (ST-1X, 2X …) Hệ tầng đặc trưng bởi trầm tích vụn thô: cuội sạn kết, cát kết
đa khoáng, xen các lớp mỏng bột kết và sét kết hydromica-clorit-sericit Trầm tích
có màu nâu đỏ, đỏ tím, tím lục sặc sỡ với độ chọn lọc rất kém, đặc trưng kiểu molas
lũ tích lục địa thuộc các trũng trước núi Creta-Paleocen-Eocen Chiều dày hệ tầng
có thể đạt tới 600m
Trang 18Hình 1.2 Cột địa tầng tổng hợp bồn trũng Cửu Long [1]
Trang 19Paleogen, Oligocen dưới, Hệ tầng Trà Cú (E 3 1 tc) Hệ tầng Trà Cú đã xác lập ở
giếng khoan (GK) Cửu Long-1X Trầm tích gồm chủ yếu là sét kết, bột kết và cát kết, có chứa các vỉa than mỏng và sét vôi, được tích tụ trong điều kiện sông hồ Đôi khi gặp các đá núi lửa, thành phần chủ yếu là porphyry diabas, tuf basalt và gabro-diabas Chiều dày của hệ tầng tại phần trũng sâu, phần sườn các khối nâng Trung tâm như Bạch Hổ, Rồng và Sư Tử Trắng có thể đạt tới 500m Tuổi của hệ tầng theo
phức hệ bào tử phấn (Oculopollis, Magnastriatites) được xác định là Paleogen,
tỷ lệ cát/sét khoảng 35-50% Phần giữa gồm chủ yếu là sét kết nâu đậm, nâu đen, cát kết và bột kết, tỷ lệ cát/sét khoảng 40-60% (phổ biến khoảng 50%), đôi nơi có xen các lớp mỏng đá vôi, than Phần dưới gồm chủ yếu là cát kết hạt mịn đến thô, đôi chỗ sạn, cuội kết xen sét kết nâu đậm, nâu đen, bột kết, tỷ lệ cát/sét thay đổi trong khoảng rộng từ 20-50% Các trầm tích của hệ tầng được tích tụ chủ yếu trong môi trường đồng bằng sông, aluvi – đồng bằng ven bờ và hồ Các thành tạo núi lửa tìm thấy ở nhiều GK thuộc các vùng Bạch Hổ, Bà Đen, Ba Vì đặc biệt ở khu vực lô
Trang 2001 thuộc phía Bắc đới Trung Tâm với thành phần chủ yếu là andesit, andesit-basalt, gabro-diabas với bề dày từ vài mét đến 100m
Sét kết của hệ tầng Trà Tân có hàm lượng và chất lượng vật chất hữu cơ cao đặc biệt là tầng Trà Tân giữa, chúng là những tầng sinh dầu khí tốt ở bể Cửu Long đồng thời là tầng chắn tốt cho tầng đá móng granit nứt nẻ Tuy tầng cát kết nằm xen kẹp có chất lượng thấm, rỗng và độ liên tục thay đổi từ kém đến tốt, nhưng cũng là đối tượng tìm kiếm đáng lưu ý ở bể Cửu Long
Trong mặt cắt hệ tầng đã gặp những hóa thạch bào tử phấn: F Trilobata,
Verutricolporites, Cicatricosiporites, xác định tuổi Oligocen muộn, nhưng cũng có
tác giả cho rằng các thành tạo hệ tầng Trà Tân còn có cả yếu tố Oligocen giữa
Neogen, Miocen dưới, Hệ tầng Bạch Hổ (N 1 1 bh) Hệ tầng Bạch Hổ được xác
lập ở giếng khoan BH-1X
Hệ tầng Bạch Hổ có thể chia thành hai phần: phần trên gồm chủ yếu là sét kết màu xám, xám xanh xen kẽ với cát kết và bột kết, tỷ lệ cát, bột kết tăng dần xuống dưới (đến 50%) Phần trên cùng của mặt cắt là tầng “sét kết Rotalid” bao phủ toàn
bể, chiều dày thay đổi trong khoảng từ 50 đến 150m Phần dưới gồm chủ yếu là cát kết, bột kết (chiếm trên 60%), xen với các lớp sét kết màu xám, vàng, đỏ Các trầm tích của hệ tầng được tích tụ trong môi trường đồng bằng aluvi-đồng bằng ven bờ ở phần dưới, chuyển dần lên đồng bằng ven bờ - biển nông ở phần trên Đá núi lửa đã được phát hiện thấy ở nhiều GK thuộc lô 01 ở phía Bắc bể, chủ yếu là basalt và tuf basalt, bề dày từ vài chục đến 250m Hệ tầng Bạch Hổ có chiều dày thay đổi từ 100-1500m (chủ yếu trong khoảng từ 400-1000m) Các trầm tích của hệ tầng phủ không chỉnh hợp góc trên các trầm tích của hệ tầng Trà Tân
Tầng sét kết chứa Rotalia là tầng đá chắn tuyệt vời cho toàn bể Các vỉa cát xen
kẽ nằm trong và ngay dưới tầng sét kết Rotalia và ở phần trên của phía dưới mặt cắt
có khả năng chứa khá tốt, chúng là đối tượng tìm kiếm quan trọng thứ ba ở bể Cửu
Trang 21Long Dầu hiện cũng đang được khai thác từ tầng cát này như ở mỏ Hồng Ngọc, Rạng Đông, và Sư Tử Đen
Neogen, Miocen giữa, Hệ tầng Côn Sơn (N 1 2 cs) Hệ tầng Côn Sơn được xác
lập ở GK 15B-1X
Hệ tầng Côn Sơn gồm chủ yếu cát kết hạt thô-trung, bột kết (chiếm từ 75% đến 80%), xen kẽ với các lớp sét kết màu xám, nhiều màu dày 5m - 15m, đôi nơi có lớp than mỏng Bề dày hệ tầng thay đổi từ 250m - 900m Trầm tích của hệ tầng được thành tạo trong môi trường sông (aluvi) ở phía Tây, đầm lầy - đồng bằng ven bờ ở phía Đông, Đông Bắc Các thành tạo của hệ tầng Côn Sơn phủ không chỉnh hợp góc yếu trên các trầm tích của hệ tầng Bạch Hổ Trầm tích của hệ tầng nằm gần như ngang hoặc uốn nhẹ theo cấu trúc bề mặt nóc hệ tầng Bạch Hổ, nghiêng thoải về Đông và Trung tâm bể, không bị biến vị Tuy đá hạt thô của hệ tầng có khả năng thấm, chứa tốt, nhưng chúng lại nằm trên tầng chắn khu vực (sét kết Rotalia) nên hệ tầng này và các hệ tầng trẻ hơn của bể xem như không có triển vọng chứa dầu khí
Neogen, Miocen trên, Hệ tầng Đồng Nai (N 1 3 đn) Hệ tầng này được xác lập ở
GK 15G-1X
Tuổi của hệ tầng được xác định theo tập hợp phong phú bào tử Hệ tầng Đồng Nai chủ yếu là cát hạt trung xen kẽ với bột và các lớp mỏng sét màu xám hay nhiều màu, đôi khi gặp các vỉa carbonat hoặc than mỏng, môi trường trầm tích đầm lầy – đồng bằng ven bờ ở phần Tây bể, đồng bằng ven bờ - biển nông ở phần Đông và Bắc bể Bề dày của hệ tầng thay đổi trong khoảng 500-750m Các trầm tích của hệ tầng nằm gần như ngang, nghiêng thoải về Đông và không bị biến vị
Neogen, Pliocen - Đệ Tứ, Hệ tầng Biển Đông (N 2 -Q bđ) Hệ tầng Biển Đông
chủ yếu là cát hạt trung-mịn với ít lớp mỏng bùn, sét màu xám nhạt chứa phong phú hóa đá biển và glauconit thuộc môi trường trầm tích biển nông, ven bờ, một số nơi
có gặp đá carbonat Chúng phân bố và trải đều khắp tòan bể, với bề dày khá ổn định
Trang 22trong khoảng 400-700m Trầm tích của hệ tầng nằm gần như ngang, nghiêng thoải
về Đông và không bị biến vị
1.3 Đặc điểm kiến tạo
1.3.1 Phân tầng kiến trúc
Tham gia vào cấu trúc địa chất bồn trũng Cửu Long và lục điạ kế cận gồm 2 phức hệ - thành hệ kiến trúc: Phức hệ móng trước Kainozoi và lớp phủ trầm tích Kainozoi (Hình 1.3)
1.3.1.1 Phức hệ móng trước Kainozoi
Tổ hợp thạch kiến tạo (THTKT) cung magma Jura muộn-Creta
THTKT tách dãn Creta muộn trên cung magma Jura muộn-Creta
- THTKT bồn trũng sau va mảng tạo núi Jura sớm-giữa phân bố rộng
rãi ở đới Đà Lạt song chưa gặp ở móng bồn trũng Cửu Long
- Các đá thuộc các THTKT bồn trước cung rìa lục địa tích cực
Permi-Trias sớm Hà Tiên và tái cải nhiệt sau va mảng Permi-Trias giữa cũng chưa gặp ở bồn trũng Cửu Long
- Các đá biến chất cao gặp ở giếng khoan Sói và một số giếng khoan ở
khu vực Rồng, đá xâm nhập tuổi C3 – P1, T2 ở khu vực Bạch Hổ, Rạng Đông có thể là di chỉ kiểu thể tù của móng kết tinh và cung magma Paleozoi muộn Mesozoi sớm hoặc có thể là một bộ phận của
móng kết tinh
1.3.1.2 Phức hệ lớp phủ trầm tích, phun trào Kainozoi
Phức hệ lớp phủ trầm tích phun trào Kainozoi gồm 2 tầng kiến trúc (Hình
1.3) như sau:
Tầng kiến trúc dưới (thành tạo rift Kainozoi sớm) được thành tạo do ảnh hưởng tách dãn và có tuổi cùng thời với giai đoạn tạo vỏ đại dương Biển
Trang 23Đông (32-16 tr năm) Cấu tạo nên tầng kiến trúc này là các trầm tích lục nguyên phun trào bazan tuổi Eoxen muộn - Mioxen sớm, dày trung bình 3-4
km, có chỗ đạt tới 5-6 km
Tầng kiến trúc trên được thành tạo bởi :
- Ở bồn trũng Cửu Long là lớp phủ trầm tích kiểu thềm bình ổn với bề
dày cực đại 2000 m
- Ở phần ĐB bồn trũng Cửu Long và ở lục địa kế cận là lớp phủ trầm
tích phun trào bazan có bề dày không vượt quá 500 m
Hình 1.3 Mặt cắt phân tầng kiến trúc theo hướng TB-ĐN
ở phần Nam bồn trũng Cửu Long
1.3.2 Đứt gãy
Đặc điểm đứt gãy được mô tả trong phần này chủ yếu dựa vào bản đồ đứt gãy chính trong bồn trũng Cửu Long (Hình 1.4) (chưa được xuất bản) của Tiến sĩ Phạm Huy Long Trong khu vực nghiên cứu có 4 nhóm đứt gãy:
Nhóm đứt gãy phương Đông Bắc - Tây Nam: Gồm 6 hệ đứt gãy
F1: Hệ đứt gãy ĐN Sư Tử Nâu - TB Hải Sư Đen
F2: Hệ đứt gãy ĐN Sư Tử Đen
F3: Hệ đứt gãy ĐN Sư Tử Trắng
F4: Hệ đứt gãy Phú Quý - Đông Nam Sói
Trang 24F5: Hệ đứt gãy ĐN Rồng
F6: Hệ đứt gãy Kê Gà - Đông Côn Đảo
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà địa chất: nhóm đứt gãy này đóng vai trò
phân bậc cấu trúc, thấp dần theo hướng từ TB về ĐN Đứt gãy F1, F2, F3 là ranh giới giữa các khối listric hoạt động trong thời kỳ lắng đọng trầm tích tầng F & E
Đứt gãy F4 hoạt động chủ yếu trong D, C còn đứt gãy F5, F6 chủ yếu trước D
sau E Hầu hết các đứt gãy hoạt động đồng trầm tích trong F, E, D, C và đều tái hoạt động mạnh sau BI-1, có nơi sau BI-2
Nhóm đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam: gồm 4 đứt gãy và hệ đứt gãy
F7: Đứt gãy Sông Hậu
F8: Đứt gãy Gò Công - Bến Lức
F9: Hệ đứt gãy Sông Sài Gòn
F10: Đứt gãy An Lộc - Chứa Chan
Nhóm đứt gãy này đóng vai trò phân bậc cấu trúc với hướng thấp dần từ ĐB về
TN Các đứt gãy thuộc nhóm này có hướng dốc về phía TN, góc dốc khá lớn
(60-800)
Đứt gãy phương kinh tuyến: gồm 1 đứt gãy
F11 Đứt gãy Lộc Ninh - Thủ Dầu Một
Đứt gãy này phát sinh và phát triển vào J3-K, tái hoạt động vào Oligocen muộn F11 tác động vào phần Tây nam bồn trũng Cửu Long
Nhóm đứt gãy phương vĩ tuyến và á vĩ tuyến: gồm 5 đứt gãy và hệ đứt gãy
F12 Đứt gãy Phan Thiết - Mũi Né
F13 Đứt gãy Hàm Tân - Bắc Diamond
F14 Hệ đứt gãy Bắc Hải Sư Đen
F15 Đứt gãy Ba Vì - Rạng Đông
F16 Đứt gãy Báo Gấm - Bắc Sói
Nhóm đứt gãy này hoạt động mạnh sau trầm tích E, trước D; đồng trầm tích trong D, C và tái hoạt động sau C-trước BI-1 và sau BI-1
Trang 25Hình 1.4 Bản đồ đứt gãy chính trong bồn trũng Cửu Long
1.3.3 Lịch sử biến dạng Mezozoi muộn - Kainozoi sớm bồn trũng Cửu Long và vùng kế cận
Các pha biến dạng của bồn trũng Cửu Long và vùng kế cận đã được tiến sĩ Phạm Huy Long nghiên cứu rất chi tiết Theo tác giả này có 7 pha biến dạng chính (Bảng 1.1) Tuy nhiên ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến các pha biến dạng ở bồn trũng Cửu Long có thể nghiên cứu được
E2 : Có tuổi Jura muộn - Creta được chia làm 2 pha: E21 và E22 với di chỉ là
bề mặt không chỉnh hợp góc giữa các thành tạo lục nguyên-phun trào tuổi Creta muộn (Hệ tầng Đơn Dương) và các đá granitoid phức hệ Định Quán-
Trang 26Đèo Cả tuổi Jura muộn-Creta E21 có tuổi Jura muộn-Creta với di chỉ là cung magma kiểu I phương TB-ĐN và các đứt gãy nghịch phương ĐB-TN Cung magma này liên quan đến quá trình hút chìm vỏ đại dương dưới vỏ lục địa Indosini từ ĐN về TB E22 có tuổi Creta muộn với di chỉ là granite tương tự kiểu A (Ankroet), graben Đơn Dương, Đăk Rium lấp đầy bằng các đá lục nguyên phun trào axit kiểu molas và các đai axit phương á kinh tuyến E22liên quan tới sự thay đổi góc dốc của đới hút chìm (dốc hơn so với pha E21)
E3 : Có tuổi Eoxen muộn-đầu Oligocen muộn và được chia làm 2 pha E31 và E32 Pha E31 xảy ra đồng trầm tích tầng địa chấn phân tập F và E Di chỉ của pha này là các bán địa hào, bán địa lũy kiểu listric kéo dài theo phương ĐB-
TN, các đứt gãy listric có góc dốc rất thoải, đổ về ĐN và các đai mafic, axit phương ĐB-TN với góc dốc gần thẳng đứng (phức hệ Cù Mông, Phan Rang) E31 là pha tách dãn liên quan đến quá trình tách dãn tạo Biển Đông trẻ và đóng kín Biển Đông cổ theo đới hút chìm Kuching-Lupar E32 xảy ra sau trầm tích tập F và E nhưng trước tập D Di chỉ của pha này là các đứt gãy trượt bằng phương ĐT và BN, đứt gãy nghịch phương ĐB-TN (đứt gãy nghịch TB Bạch Hổ) Pha biến dạng sau trầm tích này liên quan đến sự ngưng nghỉ và đổi trục tách dãn Biển Đông và trượt bằng từ TB về ĐN của mini mảng Indosini do sự va mảng Ấn-Úc và Âu-Á
E4 : Có tuổi Oligocen muộn và được chia thành 2 pha E41 và E42 E41 xảy ra đồng trầm tích tập D Di chỉ của pha này là các bán địa hào, bán địa lũy kiểu listric kéo dài theo phương ĐT Các đứt gãy listric, phần lớn đổ về phía bắc, đôi nơi đổ về phía nam (phần phía nam của bồn trũng Cửu Long), các đai axit và mafic phương ĐT với góc dốc gần thẳng đứng E41 là pha tách dãn đồng trầm tích liên quan đến quá trình tách dãn tạo Biển Đông trẻ theo phương BN và tiếp tục đóng kín Biển Đông cổ theo đới hút chìm Kuching-Lupar E42 xảy ra sau trầm tích tập D song trước tập C Di chỉ của pha này là các đứt gãy trượt bằng phương TB-ĐN và ĐB-TN, đứt gãy nghịch phương vĩ tuyến (khu vực Rạng Đông) Pha biến dạng sau trầm tích này liên quan đến
Trang 27sự ngưng nghỉ và đổi trục tách dãn Biển Đông trẻ, đóng kín Biển Đông cổ theo đới hút chìm Kuching-Lupar và sự dịch chuyển từ TB về phía ĐN của mini mảng Indosini do sự va mảng Ấn-Úc và Âu-Á
E5 : Có tuổi Oligocen muộn-Mioxen sớm bao gồm 2 pha E51 và E52 E51xảy ra đồng trầm tích tập C và BI (có thể chỉ là phần dưới của BI) Di chỉ để lại là các bán địa hào và bán địa lũy (chủ yếu trong C đầu BI) kiểu listric kéo dài theo phương ĐB-TN Ranh giới các khối listric là các đứt gãy thuận đồng trầm tích chủ yếu đổ về ĐN Liên quan đến quá trình tách dãn còn sinh ra các đai axit, mafic kéo dài theo phương ĐB-TN với góc dốc thẳng đứng Pha tách dãn E51 là hệ quả của hoạt động tách dãn tạo vỏ đại dương mới của Biển Đông trẻ E52 xảy ra sau trầm tích tập C và phần dưới tập BI và để lại di chỉ
là các đứt gãy trượt bằng BN, ĐT, nếp uốn, đứt gãy nghịch phương ĐB-TN Pha E52 liên quan đến quá trình ngưng nghỉ hoàn toàn tách dãn Biển Đông trẻ (khoảng 16 triệu năm.), đóng kín và va mảng Biển Đông cổ theo đới khâu Kuching-Lupar và hoạt động mạnh mẽ theo cơ chế trượt bằng từ TB về ĐN của mini mảng Indosini do va mảng và tạo núi mạnh mẽ ở Himalayas của 2 mảng thạch quyển Ấn-Úc và Âu-Á
E6 : Có tuổi Mioxen giữa-Đệ Tứ với quá trình tách dãn ĐT tạo các đứt gãy
thuận, đứt gãy tách, bồn trũng trầm tích, các chuỗi họng núi lửa theo phương
BN Liên quan đến quá trình tách dãn này là sự hút chìm của Biển Đông trẻ xuống vi mảng Philipin và tạo núi khối tảng ở Đông Dương
E7 : Là trường ứng suất hiện tại với trục σ1 thẳng đứng, σ3 nằm ngang
phương ĐB-TN, σ2 nằm ngang phương TB-ĐN Di chỉ của chúng là các khe nứt tách phương TB-ĐN và các khe nứt cắt phương TB-ĐN với hướng đổ
ĐB hoặc TN với góc dốc 40-500 ghi nhận bằng tài liệu FMI Trường ứng suất này liên quan đến quá trình nâng vòm khối tảng vùng lãnh thổ Đông Dương
Trang 28Bảng 1.1 Các pha biến dạng chính trong Mezozoi-Kainozoi [7]
Trang 29Tuổi Pha biến dạng Bằng chứng Sự kiện hoạt động kiến tạo E3 (Eocene muộn- đầu
Oligocene)
Các đai phương ĐB-TN
Cấu trúc listric bao gồm các bán địa hào, bán địa lũy phương ĐB-TN
Đứt gãy nghịch Bạch Hổ
Các đứt gãy trượt bằng phương
Các đai Felsis, phương vĩ độ
Các bất chỉnh hợp giữa trầm tích tuổi Creta trên, Jura trên và Creta dưới
Các bất chỉnh hợp giữa trầm tích
Kz dưới và Jura trên- Creta
Hút chìm trong giai đoạn J3-K Tách giãn trên cung magma trong thời kỳ K2
E1 (cuối Jurassic giữa- đầu
Trang 301.4 Lịch sử phát triển địa chất
Quá trình tiến hóa kiến tạo hình thành và phát triển của bồn trũng Cửu Long có thể chia làm bốn giai đoạn như sau:
1.4.1 Giai đoạn Jura muộn - Creta (J3 - K)
Vào đầu giai đoạn này vùng nghiên cứu nằm trên cung magma của rìa lục địa tích cực kiểu Andes, do mảng Thái Bình Dương bị hút chìm xuống dưới phía Đông Nam lục địa Âu - Á Các hoạt động magma xâm nhập và phun trào xảy ra mạnh mẽ Các phức hệ Định Quán - Đèo Cả, hệ tầng Đèo Bảo Lộc - Nha Trang là minh chứng cho thời kì này (Hình 1.5)
Hoạt động hút chìm vẫn tiếp tục diễn ra đến cuối Creta muộn, nhưng vào thời
kì này góc hút chìm gần như thẳng đứng đã dẫn tới sự tách dãn trên cung núi lửa Pluton, và di chỉ để lại của thời kì này là phức hệ Ankoet, hệ tầng Đơn Dương (Hình 1.6)
Hình 1.5 Rìa lục địa tích cực thời kì J3-K
Hình 1.6 Rìa lục địa tích cực thời kì Creta muộn
Trang 311.4.2 Giai đoạn Paleocen - Eocen sớm
Vào giai đoạn này cả Đông Nam Á bị bao quanh bởi đới hút chìm, phía Tây và Tây nam mảng Ấn-Úc húc vào mảng Âu-Á, phía Đông và Đông nam mảng Thái Bình Dương hút chìm dưới mảng Âu - Á, vùng nghiên cứu nằm trong vùng có chế
độ nâng lên mạnh mẽ Trong giai đoạn này đã xảy ra quá trình phong hoá, bóc mòn trên cả khu vực Đông Dương Kết quả của phong hóa bóc mòn là lộ ra đá xâm nhập trước Kanozoi
Điều này giải thích vì sao trong cột địa tầng của bồn trũng Cửu Long vắng mặt trầm tích tuổi Paleocen - Eocen sớm thay vào đó là trầm tích Eocen muộn và trầm tích Oligocen sớm phủ bất chỉnh hợp lên móng trước Kanozoi Đây là một bất chỉnh hợp mang tính chất khu vực rộng lớn đánh dấu một giai đoạn gián đoạn trầm tích trong một thời gian kéo dài (gần 30 triệu năm)
1.4.3 Giai đoạn Eocen muộn - Miocen sớm
Trong giai đoạn này vùng nghiên cứu chịu ảnh hưởng của các hoạt động kiến tạo khu vực mạnh mẽ:
Mảng Ấn-Úc và mảng Thái Bình Dương vẫn tiếp tục hút chìm vào mảng Âu -
Á
Sự hút chìm tiêu biến Biển Đông cũ và tách giãn tạo vỏ đại dương mới
Hai đứt gãy Sông Hồng và Ba Tháp hoạt động mạnh mẽ, đẩy mảng Shan Indonisia về phía Đông Nam
-Bản đồ kiến tạo khu vực vào giai đoạn này được thể hiện trên Hình 1.7
Những hoạt động kiến tạo khu vực này đã tác động rất lớn đến quá trình hình thành và phát triển của Bồn trũng Cửu Long Đó là một quá trình dài vừa tách dãn sụt lún vừa trầm tích, đồng thời xen kẽ các pha ngưng nghỉ đổi trục tách dãn, nghịch đảo kiến tạo nâng lên bóc mòn hay bị nén ép hình thành các dạng kiến trúc khác nhau, quá trình đó trình tự như sau:
Đầu Eocen muộn: bắt đầu quá trình tách giãn, trục của trường tách giãn là
TB-ĐN, tạo nên các địa hào, bán địa hào xen kẽ với các địa lũy, bán địa luỹ kéo dài theo phương ĐB - TN, các địa hào và địa lũy này được lấp đầy bởi các trầm tích
Trang 32tuổi Eocen muộn, không liên tục, thuộc hệ tầng Cà Cối đặc trưng với trầm tích hạt thô: cuội sạn kết, cát kết, trầm tích có màu đỏ đến tím lục, độ chọn kém phản ánh môi trường trầm tích lục địa Các thành tạo trầm tích này tương ứng với tập địa chấn F
Hình 1.7: Kiến tạo khu vực trong Kainozoi sớm (Robert Hall, 1996)
Chuyển sang giai đoạn Oligocen sớm hoạt động tách giãn vẫn tiếp tục diễn ra,
đi cùng với tách dãn là sự sụt lún không đều, làm xuất hiện các bán địa hào, và bán địa lũy, hay còn gọi là cấu trúc các listric (Hình 1.8) Các bán địa hào và bán địa lũy này vẫn tiếp tục chịu tác động bởi nhiều hoạt động kiến tạo làm cho chúng sụt lún sâu hơn cùng quá trình trầm tích Môi trường trầm tích chuyển đổi liên tục từ lục địa sang môi trường đầm hồ và vũng vịnh ven biển, thuộc hệ tầng Trà Cú, Trà Tân tương ứng với các tập địa chấn E, D và C
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà địa chất thì quá trình sụt lún và trầm tích
từ Eocen muộn đến cuối Oligocen là không liên tục, tuy hoạt động tách dãn chiếm
ưu thế nhưng đan xen vào đó là các thời kì ngưng nghỉ, nâng lên bóc mòn, đó là sự thay đổi phương trường ứng suất từ ĐB-TN sang Á kinh tuyến rồi sau ngưng nghỉ lại đổi phương trường ứng suất sang ĐB-TN gây ra căng giãn và nén ép, các bề mặt không chỉnh hợp giữa D và E, giữa C và D là minh chứng cho điều này
Khu vực
nghiên cứu
Trang 33Vào cuối Oligocen: Trường lực căng dãn yếu dần, lực đẩy về phía ĐN chiếm
ưu thế, vùng nghiên cứu chuyển từ chế độ tách dãn, sụt lún trầm tích sang chế độ nén ép nâng lên bóc mòn tạo nên bất chỉnh hợp sau C Đồng thời xuất hiện các đứt gãy nghịch và trượt bằng Những đứt gãy này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các đới khe nứt, dập vỡ lớn trong móng Ngoài ra trong giai đoạn chịu trường lực ép này đã tạo nên các nếp uốn cho các tập E, D và C
Hình 1.8 Các listric hình thành do căng dãn và sụt lún không đều
Đây cũng chính là thời điểm kết thúc quá trình đồng tạo rift Tuy nhiên hoạt động kiến tạo căng dãn hay nén ép vẫn còn tiếp tục nhưng với cường độ yếu hơn Đầu Miocen sớm: Bể Cửu Long vẫn tiếp tục sụt lún, hoạt động kiến tạo vẫn còn nhưng yếu hơn giai đoạn trước, trầm tích lấp đầy bể mở rộng hơn, chủ yếu là các trầm tích hạt nhỏ, mịn có xen kẽ các lớp bột sét màu lục, phản ánh môi trường trầm tích là vùng vịnh cửa sông và tam giác châu Đến giữa Miocen sớm hoạt động tách dãn tái hoạt động, để lại dấu ấn là lớp phun trào basalt nằm giữa tập địa chấn BI Vào cuối Miocen sớm: hoạt động tách giãn ngưng nghỉ hoàn toàn, bồn trũng vẫn tiếp tục sụt lún từ từ, biển tiến vào theo diện rộng Trầm tích biển nông phân bố rộng khắp trên toàn bồn trũng, trầm tích có tính chất sét (xen kẽ ít bột), đây là loại sét giàu hoá thạch Rotalia, hay còn gọi là sét Rotalia kjhnik dày 50 ÷ 200mét, thuộc
hệ tầng Bạch Hổ, là một tầng chắn khu vực tuyệt vời cho toàn bồn trũng
Trang 341.4.4 Giai đoạn Miocene giữa - Đệ tứ ( N12 - Q)
Vào giai đoạn này, bồn trũng Cửu Long nằm trên vùng có chế độ rìa lục địa thụ động, các hoạt động kiến tạo rất yếu và ít ảnh hưởng tới cấu trúc bồn trũng Quá trình sụt lún đồng trầm tích vẫn tiếp tục diễn ra
Được hình thành trong chế độ kiến tạo bình ổn, các trầm tích có thế nằm ngang
là chủ yếu, đôi nơi gặp thế nằm nghiêng, gá đáy lên bề mặt của trầm tích trước đó Phủ bất chỉnh hợp lên hệ tầng Bạch Hổ là hệ tầng Côn Sơn (Miocene giữa), tương ứng với tập địa chấn BII, thành phần thạch học chủ yếu là cát, sét, cacbonat
và một ít lớp than xen kẽ Bề dày hệ tầng thay đổi từ 250 ÷ 900 mét Trầm tích hệ tầng này hầu như nằm ngang, hoặc có gợn sóng theo cấu trúc bề mặt nóc của hệ tầng Bạch Hổ
Cùng một chế độ kiến tạo bình ổn, Hệ tầng Đồng Nai (Miocene trên) phủ bất chỉnh hợp lên hệ tầng Côn Sơn, chủ yếu là cát hạt trung xen kẽ với bột và các lớp sét mỏng màu xám hay nhiều màu đôi khi gặp cacbonat Môi trường trầm tích là đồng bằng ven bờ ở phía Tây bể và trầm tích biển nông ở phía Đông và Bắc của bể Tương ứng với tập địa chấn BIII
Trên cùng là trầm tích hệ tầng Biển Đông (Pliocen-Đệ tứ), tương ứng với tập địa chấn A Trầm tích biển nông, nằm ngang, không uốn nếp, mức độ gắn kết yếu
Trang 35 Tầng sét Oligocene dưới và Eocene ( 1 2
E ) có bề dày từ 0m đến 600m ở phần trũng sâu bể
Đăc điểm đá mẹ của các tầng được thể hiện trong Bảng 1.1
Độ phong phú vật chất hữu cơ
Trong Miocene dưới có cacbon hữu cơ thuộc loại trung bình, giá trị S1, S2 rất thấp thuộc loại nghèo, chưa có khả năng sinh hydrocarbon (HC) Vì vậy, dầu khí chứa trong tầng này là các sản phẩm di cư từ nơi khác đến (HI=0.48-0.5 kg HC/t.TOC)
Tầng Oligocene trên rất phong phú vật chất hữu cơ (loại rất tốt), TOC dao động từ 3.5% đến 6.1% Wt, đôi nơi tới 11-12%, các chỉ tiêu S1 và S2 cũng có giá trị rất cao S1: 4-12kg HC/t.đá và S2: 16.7-21 kg HC/t.đá Ở các trũng sâu giá trị này có thể rất cao, như các mẫu của giếng khoan CNV-1X, giá trị HI có thể đạt tới 477 kg HC/t.TOC (Bảng 1.1)
Vật chất hữu cơ thuộc tầng Oligocene dưới và Eocene thuộc loại tốt vàrất tốt TOC: 0.97- 2.5% Wt, với các chỉ tiêu S1: 0.4-2.5 kg HC/t.đá và S2: 3.6-8.0 kg HC/t.đá Ở tầng này lượng hydrocarbon trong đá mẹ có giảm so với tầng trên là
do đã sinh dầu và giải phóng phần lớn hydrocarbon vào đá chứa Vì vậy chỉ tiêu
Trang 36Loại vật chất hữu cơ và môi trường lắng đọng
Đối với tầng đá mẹ Miocene dưới loại vật chất hữu cơ thuộc loại III là chủ yếu, có xen kẽ loại II, chỉ tiêu Pr/Ph đạt 1.49 đến 2.23 chứng tỏ chúng được tích tụ trong môi trường cửa sông, đồng bằng ngập nước có xen kẽ biển nông
Đối với tầng đá mẹïOligocene trên loại vật chất hữu cơ chủ yếu là loại II, thứ yếu là loại I và ít hơn là loại III Chỉ tiêu Pr/Ph phổ biến 1.6-2.3 phản ánh chúng được tích lũy trong môi trường cửa sông, vùng nước lợ- biển nông, một số ít trong điều kiện đầm hồ
Đối với tầng đá mẹïOligocene dưới và Eocene loại vật chất hữu cơ chủ yếu loại II, thứ yếu là loại III, không có loại I Các giá trị Pr/Ph cũng chỉ đạt 1.7-2.35 phản ánh điều kiện tích tụ cửa sông, nước lợ gần bờ và một phần đầm hồ
Độ trưởng thành vật chất hữu cơ
Mức độ trưởng thành vật chất hữu cơ được xác định theo chỉ số phản xạ vitrinit Ro Khi Ro đạt đến 0.6-0.8% vật chất hữu cơ mới vào giai đoạn trưởng thành Trong giai đoạn này chỉ giải phóng lượng nhỏ hydrocarbon khí và lỏng ra khỏi đá mẹ Khi vật chất hữu cơ bị chìm sâu và Ro đạt ngưỡng trên 0.8% mới có cường độ sinh dầu mạnh, khi đó điều kiện tăng thể tích khí, HC lỏng, tăng áp suất giảm độ nhớt, giảm lượng nhựa asphalten và giải phóng hàng loạt HC ra khỏi đá mẹ di cư vào bẫy chứa Độ sâu ứng với pha này ở các cấu tạo như: cấu tạo Sư Tử Đen là 3300m, cấu tạo Bạch Hổ là 3975m Theo kết quả phân tích Ro cho thấy các mẫu của vật chất hữu cơ của trầm tích Miocene dưới chỉ nằm bên trái của đường 0.6% Tầng Oligocene trên nằm ở bên phải đường 0.6%, còn tầng Oligocene dưới và Eocene nằm xung quanh đường 0.8% Như vậy chỉ có các tầng
Trang 37đá mẹ Oligocene trên và Oligocene dưới- Eocene mới đạt mức trưởng thành và trưởng thành muộn, đồng thời là nguồn cung cấp chủ yếu HC cho các bẫy chứa của bể Cửu Long Vì vậy các chỉ tiêu Tmax và Ro thường có giá trị cao hơn trong kerogen (Tmax > 435- 446 độ, Ro > 0.6% - 0.8%)
1.5.2 Đá chứa
Đá chứa trong bể Cửu Long bao gồm: đá grantoid nứt nẻ, hang hốc của móng kết tinh, phun trào dạng vỉa hoặc đai mạch và cát kết có cấu trúc lỗ rỗng giữa hạt, đôi khi có nứt nẻ, có nguồn gốc và tuổi khác nhau
Đá chứa granitoid nứt nẻ hang hốc của móng kết tinh đặc trưng cho bể Cửu Long có xu hướng giập vỡ và biến đổi mạnh (phong hoá) ở phần trên của mặt cắt Nứt nẻ hang hốc được hình thành do hai yếu tố: nguyên sinh - sự co rút của đá magma khi nguội lạnh và quá trình kết tinh; thứ sinh - hoạt động kiến tạo và quá trình phong hoá, biến đổi thuỷ nhiệt tương đương với giá trị độ rỗng nguyên sinh và thứ sinh Đối với đá chứa móng nứt nẻ độ rỗng thứ sinh đóng vai trò chủ đạo, bao gồm độ rỗng nứt nẻ và độ rỗng hang hốc (Hình 1.9) Hoạt động thuỷ nhiệt đi kèm với hoạt động kiến tạo đóng vai trò hai mặt đối với việc tăng, giảm tính di dưỡng của đá chứa: làm tăng kích thước các nứt nẻ, hang hốc đã được hình thành từ trước, nhưng cũng có khi lấp đầy hoàn toàn hoặc một phần các nứt nẻ bởi các khoáng vật thứ sinh (Hình 1.10)
Dầu khí cũng được phát hiện trong đá magma phun trào hang hốc, nứt nẻ ở Đông Bắc Rồng dưới dạng vỉa dày từ vài mét tới 80m nằm kẹp trong đá trầm tích của các tập CL5 Đá phun trào gặp hầu hết trên các cấu tạo, đặc biệt phát triển mạnh về phía Tây và Tây Nam bể Đó là basalt, andesit và diabas được nhận biết theo giá trị gammaray rất thấp, sự tăng của điện trở PEF, NPOR và RHOB Những đá này thường là chặt sít, đôi nơi phát triển hang hốc thông nối với nhau khi có nứt nẻ cắt qua (Hình 1.12) Nhìn chung đá chất lượng đá chứa không cao, độ rỗng chung có thể đạt tới 8-14%
Trang 38Hình 1.9 Granit nứt nẻ, biến đổi mạnh tại độ sâu 3828.2m, GK BH425 (a) và theo
lát mỏng nhuộm màu (b)
Cát kết là một trong những loại đá chứa chính của bể Cửu Long có tuổi từ Oligocene sớm tới Miocene muộn ứng với các tập từ CL6 cho tới CL5 có nguồn gốc từ lục địa tới biển nông ven bờ
Hình 1.10 Mẫu lõi GK BH425 (3838.9m), nứt nẻ bị nấp đầy một phần hoặc toàn
phần bởi khoáng vật thứ sinh zeolit và calcit
Trang 39Hình 1.11 Đặc trưng lỗ hổng của đá phun trào tại GK R8 (3212.2m)
Cát kết Oligocene dưới là askos-lithic, đôi chỗ nằm xen kẽ với các tập đá núi lửa dày, ứng với hệ tầng Trà Cú có nguồn gốc quạt bồi tích, sông ngòi nằm trên đá móng kết tinh ở phần cao của móng và chuyển sang sét tiền châu thổ (prodelta) và đầm hồ ở phần sâu của bể Độ rỗng cát kết Oligocene dưới có thể đạt tới 18%, trung bình là trong khoảng 11-16% Độ thấm dao động trong khoảng 1-250 milidarcy Tại phần giữa và phần trên của mặt cắt Oligocene dưới cát kết có chất lượng tốt hơn Theo chiều sâu tính chất thấm chứa của đá có xu hướng giảm dần (Hình 1.12) [17]
Cát kết Oligocene tập trên (CL5-CL5.3) hạt mịn xen lớp mỏng với sét, bột kết, đôi chỗ với các tập đá núi lửa, phát triển rộng trên diện tích của bể Các vỉa dầu được phát hiện tập trung trong cát kết tập CL5.3 như trên mỏ Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Sư Tử Đen Phần trên của tập CL-5.2 chủ yếu là sét, cát bột kết xen kẽ các tập sét nâu đen giàu vật chất hữu cơ, ở phần dưới các vỉa cát kết xen lớp với bột sét kết, các vỉa carbonat mỏng và than Đá chứa của tập cát CL5.3 là cát bột kết xen lớp với các tập sét nâu thành tạo trong môi trường delta: lòng sông, đồng bằng ngập lụt, tiền châu thổ (prodelta) và biển nông Độ rỗng từ 12% - 21%, trung bình 14%, độ thấm từ 2-26mD
Trang 40Cát kết chứa dầu Miocene dưới gặp ở phần trên (CL4.1) và phần dưới (tập CL4.2) Chúng phát triển rộng khắp trong phạm vi bể, chủ yếu có nguồn gốc sông ngòi, delta, đồng bằng ngập lụt, vũng vịnh, các vỉa cát kết xen kẽ với bột và sét Vỉa dầu trong cát kết bắt gặp trên mỏ Bạch Hổ và Đông Bắc Rồng với các tầng sản phẩm 23-27 Độ rỗng 13% - 25%, trung bình là 19%, độ thấm trung bình là 137mD [17] Phần trên của tập CL4.1 được thành tạo trong môi trường biển nông
do bị ảnh hưởng của biển tiến mang tính khu vực, gồm xen kẽ lớp của các vỉa cát mỏng với bột và sét có thành phần chính là montmorilonit Cát kết hạt thô (đôi khi có sạn) tới trung bình mịn gắn kết yếu, tới bở rời Dầu trong những vỉa này gặp khá phổ biến trên hầu hết các cấu tạo như : trung tâm Rồng (tầng sản phẩm 21-22, Sư Tử Đen là tầng sản phẩm B10, ở Rạng Đông là các tầng: P, Q, R Độ rỗng dao động từ 14% - 28%, độ thấm trong khoảng từ 1-1300 mD Đây là các vỉa cát có điện trở thấp từ 3-7 ohmn.m, nên gặp khó khăn khi minh giải và phân tích tài liệu log
Hình 1.12 Biến đổi độ rỗng theo chiều sâu của các thành tạo Oligocene dưới