1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý sai lầm trong hoạt động an toàn trên công trường xây dựng việt nam

101 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu này là: 1 xác định những nhân tố gây ra sai lầm và biện pháp quản lý sai lầm trong mô hình giải thích nguyên nhân gây ra tai nạn của Mitropoulos, 2 xây dựng bảng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại Học Bách Khoa – ĐHQG – HCM

Cán bộ hướng dẫn khoa học 1: TS LÊ HOÀI LONG

Cán bộ hướng dẫn khoa học 2: PGS TS LƯU TRƯỜNG VĂN

5 TS LÊ HOÀI LONG

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA KỸ THUẬT XÂY DỰNG

PGS TS NGÔ QUANG TƯỜNG

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Ngày, tháng, năm sinh: 06/05/1988 Nơi sinh: Phú Yên Chuyên ngành: Công nghệ và Quản lý Xây dựng Mã số : 60 58 90

I TÊN ĐỀ TÀI:

QUẢN LÝ SAI LẦM TRONG HOẠT ĐỘNG AN TOÀN TRÊN CÔNG TRƯỜNG

XÂY DỰNG VIỆT NAM

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

- Xác định các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân

- Dựa trên các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân, xây dựng bảng tham chiếu giúp ban chỉ huy công trình tự đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đó đến tình hình an toàn lao động trên công trường xây dựng

- Xác định các biện pháp cần được sử dụng để quản lý sai lầm phù hợp với mức độ tác động của các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân

III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ:

IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ:

V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:

1 TS LÊ HOÀI LONG

2 PGS TS LƯU TRƯỜNG VĂN

Tp HCM, ngày tháng năm 2014

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN ĐÀO TẠO TRƯỞNG KHOA

TS LÊ HOÀI LONG TS LƯƠNG ĐỨC LONG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy TS Lê Hoài Long Là một người thầy hết sức tận tâm với học viên, thầy luôn lắng nghe và cho em những lời khuyên trong cuộc sống, định hướng và liên tục khích lệ, truyền ngọn lửa đam mê trong con đường nghiên cứu khoa học

Em xin chân thành cảm ơn thầy PGS TS Lưu Trường Văn Thầy sẽ mãi là tấm gương sáng nhất mà em từng gặp về một người làm khoa học nghiêm túc và chân chính

Em xin chân thành cám ơn tập thể các thầy cô giáo Bộ Môn Thi công và Quản lý Xây Dựng Đại Học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh đã hết mình truyền đạt kiến thức cho chúng em trong suốt khóa học

Xin trân trọng cảm ơn các anh chị em cán bộ quản lý ở công ty An Phong, Hòa Bình, CC1 đã dành rất nhiều thời gian nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập dữ liệu cho nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Xây Dựng Trường Đại Học Xây dựng Miền Trung đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy tại trường trong thời gian thực hiện luận văn

Con xin gửi đến ba mẹ lời cảm ơn sâu sắc nhất, những người đã luôn ủng hộ con,

là điểm tựa mang lại sức mạnh và ý chí trên trên suốt quãng đường mà con đã đi qua

Lời cuối cùng, học viên xin chúc tất cả quý thầy cô giáo, gia đình và bạn bè luôn dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt

Trân trọng!

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tình hình tai nạn lao động ở Việt Nam trong những năm gần đây không có chiều hướng suy giảm Vấn đề này luôn đòi hỏi sự liên tục quan tâm điều tra, nghiên cứu tìm kiếm nguyên nhân và đề ra giải pháp để khắc phục kịp thời

Mục tiêu của nghiên cứu này là: (1) xác định những nhân tố gây ra sai lầm và biện pháp quản lý sai lầm trong mô hình giải thích nguyên nhân gây ra tai nạn của Mitropoulos, (2) xây dựng bảng tham chiếu giúp ban chỉ huy công trường tự đánh giá mức độ tác động của các nhân tố gây ra sai lầm; (3) xác định các biện pháp quản

lý phù hợp với mức độ tác động của các nhân tố gây ra sai lầm trên công trình xây dựng Việt Nam

Thông qua việc nghiên cứu các bài báo về an toàn lao động có liên quan, một danh sách các nhân tố tiềm năng gây ra sai lầm của người công nhân đã được sử dụng Sau đó, một cuộc phỏng vấn bán cấu trúc được thực hiện lần lượt với từng chuyên gia nhằm mục đích lọc bỏ, bổ sung nhân tố mới đồng thời đưa ra các biện pháp để đối phó phù hợp Kết quả là có 18 nhân tố gây ra sai lầm được xác định ở 3 nhóm bao gồm: nhóm nhân tố liên quan tới tài nguyên; nhóm nhân tố liên quan đến

tổ chức, quản lý; nhóm nhân tố liên quan đến thái độ, hành vi của công nhân Có 22 biện pháp quản lý sai lầm của công nhân được xác định được xác định ở 5 nhóm bao gồm: Quản lý công nhân, thiết bị đầu vào; công tác huấn luyện & đào tạo; công tác kiểm tra; quản lý công việc; chế tài

Dựa vào chỉ số HRI, nghiên cứu xây dựng các tiêu chí và bảng tham chiếu giúp ban chỉ huy công trình tự đánh giá mức độ tác động của các nhân tố gây ra sai lầm đến tình hình an toàn lao động trên công trường Đồng thời, thông qua việc sử dụng phương pháp bảng câu hỏi với thang đo Likert, nghiên cứu xây dựng quy trình đánh giá an toàn lao động trên công trường dựa trên các nhân tố gây ra sai lầm và lựa chọn mức độ cần thiết của biện pháp quản lý sai lầm

Trang 6

THESIS ABSTRACT

In Vietnam, the annual injury rate has not a tendency to decrease in recent years

A distinct need has emerged for investigating for accident causation and solution to

reduce the injury rate

The aims of this study are: (1) identifying error inducing factors and error management measures in Mitropoulos’s Systems Model of Construction Accident Causation; (2) raising a reference table to assess the affection level of error inducing factors; (3) raising suitable error management measures for the affection level of error inducing factors for Vietnamese construction sites

A semi-structured interview is conducted with each expert in execution of construction activities to collect data The findings reported here are 18 error inducing factors classified in 3 groups and 22 error management measures classified

in 5 groups

With Hazard Risk Index (HRI), this study raises assessment criteria and a reference table for site manager to measure the affection level of error inducing factors on his construction site

With questionnaire survey method, the procedure of measuring the affection level of error inducing factors and the procedure of selecting suitable error management measures are raised

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan

1 Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi

2 Số liệu trong luận văn đƣợc điều tra trung thực

3 Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Trịnh Minh Trí

Trang 8

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU 3

DANH MỤC HÌNH VẼ 5

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 6

1.1 Giới thiệu chung 6

1.2 Xác nhận vấn đề nghiên cứu 7

1.3 Các câu hỏi và mục tiêu của nghiên cứu 9

1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu 9

1.3.2 Mục tiêu của nghiên cứu 9

1.4 Phạm vi nghiên cứu 9

1.5 Đóng góp dự kiến của nghiên cứu 10

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 11

2.1 Tổng quan các nghiên cứu về an toàn lao động 11

2.1.1 Trên thế giới 11

2.1.2 Ở Việt Nam 15

2.2 Các lý thuyết, khái niệm trong nghiên cứu 16

2.2.1 Sai lầm của công nhân 16

2.2.2 Các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân 16

2.2.3 Công tác quản lý các sai lầm 18

2.3 Nhận xét 19

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Giới thiệu 20

3.2 Quy trình nghiên cứu 20

3.3 Thu thập dữ liệu 22

3.3.1 Khảo sát chuyên gia 22

3.3.2 Xây dựng các tiêu chí đánh giá và quy ước thang đo đối với các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân 28

3.3.3 Thiết kế bảng câu hỏi 31

3.3.4 Các công cụ thống kê 32

Trang 9

3.3.5 Xây dựng bảng tham chiếu đánh giá mức độ nguy hiểm của các nhân tố

gây ra sai lầm của công nhân 33

3.3.6 Quy trình đánh giá an toàn lao động trên công trường dựa trên các nhân tố gây ra sai lầm và lựa chọn biện pháp quản lý sai lầm 35

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

4.1 Khảo sát thu thập số liệu 37

4.1.1 Thông tin mẫu 37

4.1.2 Kiểm định thang đo 37

4.1.3 Đánh giá trị trung vị 37

4.2 Kết luận: 41

4.3 Áp dụng vào 1 công trình điển hình giả định 42

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52

CHƯƠNG 6: TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 58

Phụ lục 1: Bảng câu hỏi khảo sát ý kiến chuyên gia 58

Phụ lục 2: Bảng câu hỏi khảo sát ý kiến chuyên gia 61

Phụ lục 3: Bảng câu hỏi khảo sát ý kiến chuyên gia 64

Phụ lục 4: Ban quản lý an toàn trên công trường được yêu cầu tự đánh giá 85

Phụ lục 5: Cronbach’s Anpha của thang đo 89

Phụ lục 6: Trị trung vị 91

LÝ LỊCH TRÍCH NGANG 94

QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO 94

NGHIÊN CỨU 94

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1-1: So sánh tình hình TNLĐ năm 2009, năm 2010 và năm 2011 [1] 6

Bảng 1-2: Tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2012 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã Hội [1] 6

Bảng 2-1: Các nhân tố có sự tác động quan trọng tới tai nạn lao động 18

Bảng 3-1: Các nhân tố nhân tố gây ra sai lầm 22

Bảng 3-2: Biện pháp quản lý sai lầm của công nhân 25

Bảng 3-3: Tiêu chí đánh giá mức độ tác động của nhân tố gây ra sai lầm của công nhân 28

Bảng 3-4: Quy ước thang đo đánh giá mức độ tác động của các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân 29

Bảng 3-5: Tiêu chí đánh giá khả năng thực hiện an toàn lao động đối với các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân trên công trường 29

Bảng 3-6: Tiêu chí đánh giá mức độ nguy hiểm của các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân 30

Bảng 3-7: Chỉ số đánh giá mức độ nguy hiểm nhân tố (Hazard Risk Index - HRI) 33 Bảng 3-8: Bảng tham chiếu đánh giá được sự mức độ nguy hiểm đối với mỗi nhân tố liên quan đến tài nguyên và tổ chức, quản lý 33

Bảng 3-9: Bảng tham chiếu đánh giá được sự mức độ nguy hiểm đối với mỗi nhân tố liên quan đến thái độ, hành vi của công nhân 34

Bảng 4-1: Thông tin tổng quát số năm kinh nghiệm và vị trí công tác 37

Bảng 4-2: Thống kê trị trung vị đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý sai lầm trong điều kiện mức độ nguy hiểm của nhân tố gây ra sai lầm là BÌNH THƯỜNG 38

Bảng 4-3: Thống kê trị trung vị đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý sai lầm trong điều kiện mức độ nguy hiểm của nhân tố gây ra sai lầm là NGUY HIỂM 38

Bảng 4-4: Thống kê trị trung vị đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý sai lầm trong điều kiện mức độ nguy hiểm của nhân tố gây ra sai lầm là BÁO ĐỘNG 38

Trang 11

Bảng 4-5: Các trường hợp biện pháp quản lý sai lầm được đánh giá là rất cần thiết

trong điều kiện mức độ nguy hiểm của nhân tố gây ra sai lầm là NGUY HIỂM 40

Bảng 4-6: Các trường hợp biện pháp quản lý sai lầm được các chuyên gia giữ ý

kiến trung lập trong việc đánh giá mức độ cần thiết 40

Bảng 4-7: Đánh giá các nhân tố gây ra sai lầm trên công trường điển hình giả định

42

Bảng 4-8: Đánh giá mức độ nguy hiểm nhân tố gây ra sai lầm thuộc nhóm nhân tố

liên quan đến tài nguyên và tổ chức, quản lý trên công trường điển hình giả định 44

Bảng 4-9: Đánh giá mức độ nguy hiểm nhân tố gây ra sai lầm thuộc nhóm nhân tố

liên quan đến thái độ, hành vi của công nhân trên công trường điển hình giả định 45

Bảng 4-10: Kết quả tham chiếu các biện pháp quản lý đối với các nhân tố thuộc

nhóm nhân tố liên quan đến tài nguyên và tổ chức, quản lý 46

Bảng 4-11: Kết quả tra cứu Phụ lục 6 để xác định mức độ cần thiết của biện pháp

quản lý đối phó từng nhân tố gây ra sai lầm 48

Bảng 4-12: Mức độ cần thiết cao nhất của biện pháp quản lý đối phó từng nhân tố

gây ra sai lầm 49

Bảng 4-13: Kết quả tham chiếu (Biện pháp quản lý sai lầm và mức độ cần thiết

tương ứng) 50

Trang 12

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2-1: Mô hình hành vi công nhân của Rasumussen 12

Hình 2-2: Mô hình nguyên nhân gây tai nạn của Mitropoulos [3] 13

Hình 2-3: Trích từ mô hình của Mitropoulos [3] 14

Hình 2-4: Các khía cạnh tác động tới tan nạn lao động [22] 17

Hình 3-1: Sơ đồ khối quy trình nghiên cứu 20

Hình 3-2: Quy trình đánh giá an toàn lao động trên công trường dựa trên các nhân tố gây ra sai lầm và biện pháp quản lý sai lầm 36

Trang 13

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Giới thiệu chung

Các số liệu thống kê cơ bản về tình hình tai nạn Lao động cho thấy, tình hình tai nạn lao động ở Việt Nam trong những năm gần đây không có chiều hướng suy

giảm Số vụ tai nạn và số nạn nhân vẫn còn ở mức cao Theo thống kê của Bộ Lao

động – Thương binh và Xã Hội trong 3 năm gần đây cho thấy, số vụ có người chết

năm 2011 giảm so với 2010, nhưng vẫn ở mức bằng so với năm 2009 (Bảng 1-1)

Bảng 1-1: So sánh tình hình TNLĐ năm 2009, năm 2010 và năm 2011 [1]

TT Chỉ tiêu thống kê Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011

Bảng 1-2: Tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2012 của Bộ Lao động –

Thương binh và Xã Hội [1]

Nghề nghiệp Tổng

số

Số vụ

có người chết

Số vụ có

2 nạn nhân trở lên

Số người

bị nạn

Số lao động

nữ

Số người chết

Số người

bị thương nặng

Trang 14

Nguyễn Trọng Hải đã ước tính chi phí của nhà thầu do tai nạn lao động thi công xây dựng tại Tp Hồ Chí Minh, kết quả cho thấy thiệt hại do tai nạn lao động trong ngành Xây dựng là rất lớn và tùy thuộc vào quy mô công trình, mức độ nghiêm trọng của vụ tai nạn, thiệt hại do tai nạn lao động càng lớn khi tai nạn càng nghiêm trọng [2]

Như vậy, có thể thấy vấn đề an toàn lao động trong lĩnh vực xây dựng luôn đòi hỏi sự liên tục quan tâm điều tra, nghiên cứu tìm kiếm nguyên nhân và đề ra giải pháp để khắc phục kịp thời tình trạng trên

1.2 Xác nhận vấn đề nghiên cứu

Với sự lên án của xã hội và áp lực từ phía chủ đầu tư, các nhà thầu đã có nhiều

nỗ lực trong việc gia tăng phí vào công tác quản lý an toàn lao động Dựa trên các lý thuyết và mô hình về an toàn lao động, hiện nay các biện pháp quản lý an toàn lao động trên công trường đều hầu hết dựa trên các tiêu chuẩn TCVN về an toàn lao động và sản xuất, ngoài ra có thể tham khảo thêm trong các tiêu chuẩn OSHA của

Mỹ Những tiêu chuẩn này tập trung vào biên pháp tự vệ, ngăn chặn về mặt kỹ thuật

để giảm thiểu rủi ro tai nạn đến với người công nhân và được tập trung chủ yếu ở 2 khía cạnh [3]:

- Quản lý chính sách, lập chương trình an toàn để ngăn chặn những điều kiện làm việc không an toàn [3]

- Đào tạo và nâng cao ý thức trách nhiệm của công nhân để ngăn chặn những hành vi không an toàn [3]

Với cách tiếp cận như vậy, có thể thấy có những hạn chế sau:

-“Quản lý ngăn chặn rủi ro đòi hỏi sự tăng cường nỗ lực để giảm thiểu tai nạn Nếu như ta tiếp tận 1 cách chủ động hơn thì có thể tránh các rủi ro về tai nạn, giảm các tai nạn lao động mà không cần tăng cường nỗ lực trong công tác đảm bảo an toàn lao động

- Càng tăng biện pháp, nỗ lực an toàn thì càng tăng chi phí vào công tác an toàn trong khi không tăng năng suất lao động cho công việc Như vậy, những yêu cầu về điều kiện an toàn lao động sẽ nằm trong thế đối lập với năng suất lao động và chi phí bỏ ra

Trang 15

- Sự thất bại trong việc nhận dạng rủi ro gây tai nạn sẽ giới hạn tính hiệu quả của các biện pháp ngăn chặn: có nhiều trường hợp lẽ ra cần có biện pháp ngăn chặn lại bị thiếu hoặc bị phớt lờ đi Có thể thấy, các biện pháp ngăn chặn không thể chỉ ra tất cả các rủi ro gây ra tai nạn được

- Với cách nhìn nhận truyền thống trên thì nguyên nhân gây ra tai nạn chỉ được xem là lỗi của hệ thống quản lý an toàn và nhận thức, thái độ về an toàn của công nhân Nó đã bỏ quả sự tác động của công việc đã dẫn đến sự quyết định chấp nhận rủi ro của người công nhân và thực hiện hành vi không an toàn

- Các cuộc điều tra nghiên cứu về các tai nạn dựa trên cách tiếp cận trên chỉ cho

ta thấy được các hành vi được coi là sai dẫn đến tai nạn lao động và trách nhiệm pháp lý, không hiểu được sâu xa về bản chất của tai nạn lao động.” [3]

Nhận thấy những khiếm khuyết của các mô hình và cách nhìn nhận vấn đề theo cách ở trên Mitropoulos và cộng sự đã đề xuất mô hình giải thích nguyên nhân gây tai nạn lao động nhằm đưa ra những biện pháp ngăn chặn tai nạn lao động 1 cách hiệu quả Theo mô hình, Mitropoulos đã cho rẳng, khả năng người công nhân bị rơi vào tình huống nguy hiểm là kết quả của: (1) hành vi thực hiện công việc hiệu quả dẫn đến những thói quen vi phạm nguyên tắc an toàn, (2) các vi phạm đặc biệt, (3) những hành động ở mức gần giới hạn về khả năng của người công nhân, (4) những tình huống rủi ro không được nhận diện Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng, sự rơi vào tình huống nguy hiểm sẽ tạo ra nguy cơ gây tai nạn nhưng không chắc chắn dẫn đến tai nạn lao động Nói cách khác, điều kiện không an toàn và hành vi không an toàn không đủ để gây tai nạn Muốn tai nạn xảy ra, thì yếu tố nguy hiểm phải được giải phóng ra Những sai lầm và sự thay đổi trong điều kiện làm việc (errors & changes in conditions) là nhân tố gây ra sự giải phóng của yếu tố nguy hiểm Theo

mô hình, những sai lầm và sự thay đổi trong điều kiện làm việc trên chịu sự tác động của 2 nhân tố: (1) các nhân tố gây ra sai lầm, (2) công tác quản lý các sai lầm [3]

Tuy nhiên, nghiên cứu của Mitropoulos chỉ dừng lại ở việc đưa ra khái niệm về hai nhân tố trên chứ không đi sâu vào việc giải thích, phân tích cụ thể các nhân tố gây sai lầm của công nhân trong thực tế là những nhân tố nào, và biện pháp quản lý

Trang 16

cụ thể nào được sử dụng để hạn chế nó Nghiên cứu này sẽ dựa trên hai thuật ngữ trên trong mô hình giải thích nguyên nhân gây ra tai nạn của Mitropoulos để truy tìm những nhân tố gây ra sai lầm của công nhân nhằm đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đó tới các sai lầm của công nhân, từ đó đề xuất các biện pháp quản

lý các sai lầm của công nhân trong các công trình xây dựng ở Việt Nam

1.3 Các câu hỏi và mục tiêu của nghiên cứu

1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Các nhân tố nào gây ra sai lầm của công nhân trong công trường xây dựng ở Việt Nam?

- Hiện nay, trong thực tế công trường Xây dựng Việt Nam có sử dụng những biện pháp nào để quản lý sai lầm của công nhân?

- Căn cứ vào sự đánh giá mức độ tác động của các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân, những biện pháp nào cần được đề xuất để đối phó?

1.3.2 Mục tiêu của nghiên cứu

- Xác định các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân

- Dựa trên các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân, xây dựng bảng tham chiếu giúp ban chỉ huy công trình tự đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đó đến tình hình an toàn lao động trên công trường xây dựng

- Xác định các biện pháp cần được sử dụng để quản lý sai lầm phù hợp với mức

độ tác động của các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu dừng lại ở 1 số giới hạn sau:

- Thời gian nghiên cứu: dữ liệu được thu thập ở thời điểm thực hiện luận văn

- Không gian nghiên cứu: trong nghiên cứu này, việc khảo sát chỉ thực hiện ở các công trường xây dựng nhà dân dụng và công nghiệp trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh

- Đặc trưng dự án:

+ Quy mô: dựa theo nghị định 209/2004/NĐ - CP ngày 16 tháng 12 năm 2004

về việc quản lý chất lượng công trình cụ thể như sau:

 Cấp đặc biệt chiều cao 30 tầng hoặc tổng diện tích sàn 15.000m2

Trang 17

 Cấp 1 chiều cao 20 - 29 tầng hoặc tổng diện tích sàn 10.000 2

m 15.000 2

m

[4]

+ Đang tiến hành xây dựng

+ Có chuyên viên/ kĩ sư quản lý an toàn lao động làm việc toàn thời gian

- Quan điểm phân tích: dữ liệu nghiên cứu được thu thập và phân tích thông

qua việc khảo sát ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực an toàn lao động

1.5 Đóng góp dự kiến của nghiên cứu

- Giúp cho ban quản lý công trường nhận thức và tự đánh giá được mức độ tác động của các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân đối với an toàn lao động trên

công trường, từ đó đưa ra những biện pháp quản lý phù hợp để đối phó

- Góp phần cho chủ đầu tư và nhà thầu nhận thấy việc xác định, làm giảm các nhân tố gây ra sai lầm của người công nhân và tăng cường công tác quản lý các sai lầm là những việc cần thiết để góp phần làm giảm số lượng và mức độ nghiêm trọng của các tai nạn lao động

- Nghiên cứu xác định được các biện pháp nhằm đối phó các các nhân tố gây ra sai lầm của người công nhân, từ đó góp phần tối ưu các giải pháp cho chương trình

an toàn lao động trên công trường nhằm giảm thiểu thương tích cho người lao động, giảm thiệt hại cho công cụ, máy móc, thiết bị; hạn chế sự chậm trễ, ảnh hưởng uy tín của các bên tham gia dự án

Trang 18

nạn lao động xảy ra

Mô hình nguyên nhân gây tai nạn:

Heinrich đã đưa ra lý thuyết Domino Lý thuyết này xem 5 quân cờ Domino là môi trường xã hội, lỗi của con người, các hành động hay điều kiện không an toàn, các tai nạn, các chấn thương Các quân cờ này sắp xếp dây chuyền, nếu quân cờ này

đổ thì quân khác sẽ đổ theo cho đến khi quân cờ tai nạn và chấn thương xảy ra Tuy nhiên, mô hình của Heinrich được đánh giá là quá đơn giản sự kiểm soát hành vi của con người trong việc gây ra các tai nạn Mặc dù vậy, nghiên cứu của Heinrich

đã là nền tảng của nhiều nghiên cứu khác [5]

Peterson (1971) đã đưa ra mô hình đa nguyên nhân Theo mô hình này, một tai nạn xảy ra là do nhiều yếu tố kết hợp với nhau 1 cách ngẫu nhiên và gây ra tai nạn Bằng việc sử dụng lý thuyết này, Peterson cho rằng các nguyên nhân gây tai nạn sẽ được phơi bày Giống như các mô hình khác, Peterson nhấn mạnh nguyên nhân gốc

rễ phải được tìm ra mới có thể cải thiện được hoạt động an toàn và các nguyên nhân gốc rễ liên quan đến hệ thống quản lý, các chính sách, thủ tục quản lý, việc giám sát, huấn luyện… [6]

Lý thuyết về sai lầm của con người:

Rigby (1970) đã định nghĩa sai lầm của con người là “ tập hợp các hành động của con người vượt qua giới hạn cho phép” [7]

Theo đó, các mô hình ứng xử và mô hình sai lầm của con người đã được phát triển:

“Mô hình ứng xử coi con người là nguyên nhân chính gây tai nạn” [8] Các đặc tính cố hữu trong con người làm cho họ luôn có nguy cơ bị tai nạn cao hơn người khác Mô hình này có nhiều ý kiến tranh luận đồng tình cũng như phản đối

Trang 19

Mô hình yếu tố con người: “ tương tự như mô hình ứng xử, mô hình này cho rằng sai lầm của con người là nguyên nhân chính gây tai nạn” [8] Các ý tưởng về xem xét các vấn đề kỹ thuật liên quan đến con người được tổng kết bởi Cooper và Volard như sau: “ Các đặc điểm môi trường cực hạn và sự quá tải trong khả năng của con người là yếu tố tham gia vào tai nạn và sai lầm của con người” [9]

Lý thuyết của Ferrel: là một mô hình trung tâm của các loại mô hình yếu tố con người Theo lý thuyết này, sai lầm của con người là do ba nguyên nhân sau: sự quá tải, ứng xử không chính xác do công nhân phải chịu 1 điều gì đó bất thường, 1 hành động không chính xác do công nhân không biết cách thực hiện cho tốt hoặc do người này cố tình nhận rủi ro [10]

Mô hình mô tả ứng xử công việc của Rasumussen: Theo Rasumussen, công nhân có khuynh hướng dịch chuyển gần về ranh giới của sự mất kiểm soát vì hai áp lực căn bản: áp lực phải tăng hiệu quả công việc và khuynh hướng giảm tối thiểu công sức để tăng khối lượng công việc [3] Kết quả là: “ một sự dịch chuyển một cách hệ thống tiến về phía ranh giới của sự mất kiểm soát và khi vượt qua ranh giới không phục hồi được, công việc không còn được hoàn thành vì lỗi của con người” [11]

Dựa trên mô hình của Rasumussen, Howell đã nhận dạng 3 khu vực hoạt động: vùng an toàn (safe zone) là vùng mà các hành vi của công nhân nằm trong giới hạn được xác định bằng các nguyên tắc an toàn, vùng rủi ro (hazard zone) và vùng mất kiểm soát [12]

Hình 2-1: Mô hình hành vi công nhân của Rasumussen

Trang 20

Mô hình truy tìm căn nguyên gây tai nạn ARCTM: Theo Abdelhamid tai nạn có

cơ hội xảy ra nếu có 1 hay nhiều lý do sau [8]:

+ Không thể xác định được điều kiện không an toàn tồn tại trước khi công việc diễn ra hay được hình thành và phát triển khi công việc đang diễn ra

+ Vẫn tiếp tục làm tiếp công việc mà đã được xác định là không an toàn + Làm công việc không an toàn mà không quan tâm tới môi trường làm việc Như vậy, Abdelhamid đã tiếp tục nhận ra sự yếu kém trong công tác quản lý, đào tạo và nhận thức của công nhân là 3 nguyên nhân căn bản dẫn đến tai nạn lao động

Hình 2-2: Mô hình nguyên nhân gây tai nạn của Mitropoulos [3]

“Các mũi tên trong mô hình thể hiện mối quan hệ nguyên nhân hệ quả Theo

mô hình, tính chất và số lượng các tình huống nguy hiểm trong công việc (hazardous situations) phụ thuộc vào các nhân tố sau: tính chất của công việc và bối cảnh, nỗ lực an toàn để kiểm soát điều kiện làm việc, các điều kiện và công việc không thể dự báo được Hành vi thực hiện công việc hiệu quả (Efficient work behavior) được định hướng bởi: (1) áp lực tạo ra sản phẩm và khối lượng công việc làm tăng hành vi thực hiện công việc hiệu quả; (2) khuynh hướng thạo việc làm tăng hành vi thực hiện công việc hiệu quả và (3) nỗ lực an toàn để kiểm soát hành vi làm giảm hành vi thực hiện công việc hiệu quả và giảm khả năng rơi vào tình huống nguy hiểm (exposures) Như vậy, khả năng bi rơi vào tình huống nguy hiểm là kết

Trang 21

quả của: (1) hành vi thực việc hiệu quả dẫn đến những thói quen vi phạm nguyên tắc an toàn, (2) các vi phạm đặc biệt, (3) những hành động ở mức gần giới hạn về khả năng của người công nhân, (4) những tình huống rủi ro không được nhận diện Tuy nhiên, sự rơi vào tình huống nguy hiểm sẽ tạo nên nguy cơ gây ra tai nạn nhưng không chắn chắn dẫn đến tai nạn Nói cách khác, điều kiện không an toàn và hành vi không an toàn không đủ để gây ra 1 tai nạn Muốn tai nạn xảy ra, thì yếu tố nguy hiểm phải được giải phóng ra Những sai lầm và sự thay đổi trong điều kiện làm việc là nhân tố gây ra sự giải phóng của yếu tố nguy hiểm Những sai lầm và sự thay đổi trong điều kiện làm việc trên chịu sự tác động của 2 nhân tố: (1) các nhân

tố gây ra sai lầm của công nhân, (2) công tác quản lý các sai lầm của công nhân.” [3]

Hình 2-3: Trích từ mô hình của Mitropoulos [3]

Một số nghiên cứu về biện pháp cải thiện an toàn lao động trong ngành Xây dựng

A.R Duff và cộng sự đã chỉ ra rằng hành vi an toàn có thể được đánh giá một cách khách quan và đáng tin cậy Việc đưa ra các mục tiêu, lấy ý kiến phản hồi và

sự quản lý ở công trường sẽ làm cải thiện, nâng cao hiệu quả của việc thực hiện an toàn lao động [13]

C.M Tam và đồng sự đã kết luận rằng việc đào tạo về an toàn, sử dụng công nhân cơ hữu, điều tra lấy ý kiến phản hồi sau mỗi tai nạn, chiến dịch tuyên truyền thói quen thực hiện an toàn là những công cụ hữu hiệu nhất để giảm bớt những tổn thất do tai nạn xảy ra ở công trường [14]

C M Tam và đồng sự đã khám phá ra thái độ của nhà thầu trong công tác quản

lý an toàn là cực kỳ quan trọng bao gồm việc cung cấp thiết bị bảo hộ cá nhân, các cuộc họp thường xuyên về an toàn và đào tạo về an toàn lao động Đồng thời tác giả cũng đã chỉ ra các nhân tố chính ảnh hưởng tới sự thực hiện an toàn bao gồm: nhận

Trang 22

thức về an toàn của ban quản lý, đào tạo về an toàn, nhận thức về an toàn của giám đốc dự án, tinh thần tự giác thực hiện, sự thận trọng trong quá trình vận hành [15]

2.1.2 Ở Việt Nam

Đ.T.X Lan và L.T Văn đă đưa ra các nguyên nhân chính gây nên tai nạn bao gồm: (1) công nhân thiếu nhận thức về tầm quan trọng của an toàn lao động; (2) công nhân chưa được huấn luyện đầy đủ và trang bị bảo hộ; (3) thang và giàn dáo không phù hợp; thiết bị hư cũ; (4) công nhân thao tác thiếu an toàn [16]

Nghiên cứu của Trần Hoàng Tuấn đã cho thấy đặc điểm nhân thân của công nhân gồm: độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, thời gian làm việc trong ngành, sự gắn bó với công ty thông qua thời gian theo làm việc, các công việc thường làm hằng ngày, thói quen hút hay uống rượu bia, việc được huấn luyện an toàn có tác động đến tần suất xảy ra tai nạn Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra các đặc điểm của người quản lý ảnh hưởng đến công tác an toàn gồm: năng lực lãnh đạo, giám sát điều kiện an toàn công trường, tinh thần trách nhiệm và cam kết thực hiện

an toàn, trình độ tổ chức thi công, huấn luyện an toàn lao động, trình độ và kinh nghiệm chuyên môn, quy định và hướng dẫn việc thực hiện an toàn lao động [17] Kết quả nghiên cứu của Lưu Trường Văn và cộng sự đã cho thấy tai nạn lao động trong ngành công nghiệp Việt Nam được gây ra do các nhân tố: nguồn nhân lực không đạt trình độ, hành vi không an toàn và sự quản lý yếu kém [18]

Thực tế bản thân người lao động nhận thức rất rõ rằng làm việc an toàn sẽ không

bị tai nạn và họ không bao giờ muốn tai nạn xảy ra đến với mình [19] Tuy nhiên, dưới áp lực của công việc, khuynh hướng giảm thiểu công sức để hoàn thành công việc và sự hiện diện những công việc không thể dự báo trước đã đẩy người công nhân vào làm việc trong vùng nguy hiểm Hơn nữa, những sai lầm của công nhân xảy ra trong khi thực hiện công việc là không thể tránh khỏi, đặc biệt trong điều kiện làm việc đầy phức tạp của ngành xây dựng Vì vậy, các nhân tố gây ra sai lầm của người công nhân đòi hỏi phải được làm rõ, từ đó các biện pháp quản lý các sai lầm phải được đề xuất để đối phó với các tình huống nguy hiểm

Mặt khác, các nghiên cứu trước đây chưa giúp ban chỉ huy công trình tự nhận thức và đánh giá được thực trạng an toàn lao động trên chính công trường của mình

Trang 23

đồng thời giúp họ bổ sung những biện pháp quản lý để tối ưu hóa chương trình an toàn Vì vậy, đây là hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam

2.2 Các lý thuyết, khái niệm trong nghiên cứu

2.2.1 Sai lầm của công nhân

Rigby đã định nghĩa sai lầm của con người là “một tập hợp các hành động của con người vượt quá giới hạn cho phép” [7] Theo Mitropoulos, sai lầm của con người được xem là “ những hành vi không mong đợi gây thất bại trong việc hoàn thành công việc theo dự định” [3] Reason cũng đã phân loại sai lầm của con người bao gồm 3 dạng: (1) vô ý mất kiểm soát, (2) những hành vi cố ý hành động sai, (3) sai lầm có nguyên nhân từ việc nhận thức sai về tình huống công việc [20]

Sai lầm của công nhân được tác giả tổng hợp và định nghĩa lại như sau: Sai lầm của công nhân là những hành vi của người công nhân do vô ý mất kiểm soát, cố

ý hành động sai hoặc những hành vi có nguyên nhân từ nhận thức sai về tình huống nguy hiểm của công việc dẫn đến khả năng gây ra tai nạn lao động

2.2.2 Các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân

Rasmussen và cộng sự đã định nghĩa các nhân tố gây ra sai lầm là những sự

việc bên ngoài (ví dụ như những sự việc gây ra xao lãng, sự hư hỏng thiết bị, điều kiện môi trường…); tính chất, hoàn cảnh công việc quá yêu cầu hoặc bản chất bên trong mỗi con người có tác động đến sai lầm của người công nhân để có thể dẫn đến tai nạn lao động

Theo tác giả, các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân có liên quan đến những nhân tố tác động đến tai nạn lao động trên công trường xây dựng [21]

Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến tai nạn lao động:

Các nhân tố tác động đến tai nạn lao động được Phuo tóm tắt theo sơ đồ hình 2.1 Tác giả đã chỉ ra các yếu tố liên quan đến hành vi con người, liên quan đến cách thức thực hiện công việc, cách tổ chức và quản lý, và cả điều kiện làm việc Những vấn đề trên tác động trực tiếp cũng như gián tiếp dẫn dến tai nạn xảy ra [22]

Trang 24

Hình 2-4: Các khía cạnh tác động tới tan nạn lao động [22]

Trang 25

Lưu Trường Văn và cộng sự đã nhận dạng và xếp hạng 23 nhân tố có sự tác động quan trọng tới tai nạn lao động bao gồm [18]:

Bảng 2-1: Các nhân tố có sự tác động quan trọng tới tai nạn lao động

STT Nhân tố tác động đến tai nạn lao động

1 Nhận thức của ban chỉ huy công trình và tư vấn giám sát kém

2 Sự mệt mỏi của công nhân vì làm việc ngoài giờ

3 Thiếu trang bị dụng cụ bảo hộ lao động cho công nhân

4 Thiết bị, dụng cụ không đủ điều kiện an toàn

5 Kế hoạch an toàn không hiệu quả

6 Học thức của công nhân khá thấp

7 Công nhân phải chịu áp lực công việc thường xuyên

8 Công nhân không được đào tạo thường xuyên và đúng cách

9 Điều kiện làm việc thiếu ánh sáng

10 Quy trình thi công không phù hơp

11 Thiếu biện pháp phòng ngừa tai nạn trước khi triển khai công việc

12 Tư thế làm việc sai

13 Bố trí mặt bằng thi công chưa hợp lý

14 Biện pháp quản lý an toàn yếu

15 Hệ thống chống đỡ, dàn giáo thiếu an toàn

16 Xây dựng chương trình an toàn không hiệu quả

17 Công tác giám sát an toàn kém

18 Điều kiện thời tiêt xấu

19 Không gian làm việc chật hẹp

20 Thiếu sự thông hơi

21 Tài chính dành cho công tác an toàn lao động của nhà thầu hạn chế

22 Thiếu thiết bị, dụng cụ dự phòng

23 Công trường không ngăn nắp

2.2.3 Công tác quản lý các sai lầm

Là vạch ra biện pháp để người công nhân nhận ra và sửa chữa sai lầm để ngăn chặn tai nạn xảy ra Công tác này phải đưa ra các biện pháp đối phó với sai lầm ở 3 mảng: (1) tránh xa sai lầm, (2) ngăn chặn sự phổ biến của sai lầm, (3) làm giảm nhẹ các sai lầm để giảm thiểu hậu quả của sai lầm [3]

Biện pháp quản lý sai lầm là một hoạt động nhỏ nằm trong hoạt động quản lý an toàn trên công trường xây dựng Kết quả nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự thực hiện an toàn lao động trên công trường của Aksoro và Hadikusumo đã cho thấy nhân tố quản lý an toàn có ảnh hưởng nhiều nhất [23]

Trang 26

2.3 Nhận xét

- Các nghiên cứu về liệt kê và xếp hạng các nhân tố tác động tới tai nạn lao động

sẽ cho ta một cái nhìn tổng quát về các vụ tai nạn lao động đã xảy ra Tuy nhiên, trong khi công nhân là đối tượng thực hiện hành vi lao động và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các vụ tai nạn lao động, các nghiên cứu trước đây chưa cụ thể hóa được các nhân tố nào tác động đến hành vi của người công nhân dẫn đến sai lầm gây ra tai

nạn Đồng thời, chưa tìm ra các biện pháp để đối phó phù hợp

- Các biện pháp quản lý an toàn được tìm thấy trước đây hầu hết đều được phân tích và đánh giá theo sự xếp hạng mức độ quan trọng hay sự cần thiết của biện pháp

đó so với các biện pháp còn lại Với cách làm như vậy, sẽ không thể chỉ rõ ra trong thực tế tương ứng với mỗi nhân tố gây ra sai lầm thì cần phải thực hiện biện pháp đối phó nào thực sự phù hợp Vì vậy, đòi hỏi phải xây dựng 1 quy trình đánh giá mức độ cần thiết của biện pháp quản lý và thực hiện biện pháp đó tương ứng với

từng mức độ nghiêm trọng của nhân tố gây ra sai lầm của người công nhân

Trang 27

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Giới thiệu

Nghiên cứu khảo sát là một phương pháp hữu hiệu trong việc phân tích sự tác động của các biến đến một vấn đề nào đó Chương này giúp xác định rõ phương pháp, công cụ cho quy trình khảo sát và xử lý số liệu thu thập nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra

3.2 Quy trình nghiên cứu

Hình 3-1: Sơ đồ khối quy trình nghiên cứu

Trang 28

Thiết kế sơ bộ bảng câu hỏi: đánh giá mức độ cần thiết của biện pháp quản lý được sử dụng để đối phó với các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân.

Xác định mục tiêu nghiên cứu

- Thu thập, liệt kê danh sách các nhân tố gây ra

sai lầm, quyết định mức độ chi tiết của các nhân

tố và phân nhóm chúng

- Thu thập, liệt kê các biện pháp quản lý sai

lầm được sử dụng để đối phó.

- Các nghiên cứu trước

- Tham khảo ý kiến của những người có kinh nghiệm

- Xây dựng các tiêu chí đánh giá dựa trên sự phân nhóm các nhân tố

gây ra sai lầm:

+ Tiêu chí đánh giá mức độ tác động của các nhân tố gây ra sai lầm.

+ Tiêu chí đánh giá khả năng thực hiện của công trường đối với các

nhân tố đó.

Xây dựng bảng tham chiếu để đánh

giá và lựa chọn biện pháp đối phó

Thiết kế sơ bộ bảng câu hỏi

đánh giá mức độ nguy hiểm của

các nhân tố gây ra sai lầm trên

công trường xây dựng

Thử nghiệm bảng câu hỏi thông

qua ý kiến chuyên gia

Bảng câu hỏi chính xác, rõ ràng, dễ hiểu

Thử nghiệm bảng câu hỏi thông qua ý kiến chuyên gia

Bảng câu hỏi chính xác, rõ ràng, dễ hiểu

Khảo sát ý kiến chuyên gia Thu lại bảng câu hỏi Xử lý kết quả thu được

Đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp

Liên kết bảng câu hỏi tự đánh giá mức độ

nguy hiểm của các nhân tố gây ra sai lầm

và biện pháp quản lý sai lầm của công nhân

Áp dụng vào việc đánh giá

Trang 29

3.3 Thu thập dữ liệu

3.3.1 Khảo sát chuyên gia

Trong nghiên cứu này, một danh sách các nhân tố tiềm năng đã được sử dụng thông qua các nghiên cứu đã được công bố trước đặt biệt là dựa trên phần tổng quan trong bài báo của Lưu Trường Văn et al, "Factors affecting labor accidents in

residential construction projects”, Hội nghị Khoa học và công nghệ lần thứ 11- Đại

học Bách Khoa TP.HCM , pp 285-290, Oct 2009 để xác định các nhân tố gây ra

sai lầm của công nhân trên công trường xây dựng Tuy nhiên, các nhân tố được nêu trong bài báo này được xem là các nhân tố tác động đến tai nạn lao động chứ chưa hẳn đều là các nhân tố có gây ra sai lầm của công nhân trên công trường Vì vậy, một cuộc khảo sát được tiến hành trên 09 chuyên gia có kinh nghiệm đã từng tham gia công trình cấp 1 và cấp đặc biệt nhằm chắt lọc và tìm thêm các nhân tố phù hợp gây ra sai lầm của người công nhân trên công trường xây dựng

Một cuộc phỏng vấn bán cấu trúc được thực hiện lần lượt với từng chuyên gia Trong đó, các chuyên gia được yêu cầu đánh giá các nhân tố tiềm năng để lọc bỏ,

bổ sung nhân tố mới đồng thời đưa ra các biện pháp để đối phó phù hợp

Căn cứ vào đặc điểm và tính chất của các nhân tố, tác giả đã phân thành 3 nhóm: Nhóm nhân tố liên quan tới tài nguyên; Nhóm nhân tố liên quan đến tổ chức, quản lý; Nhóm nhân tố liên quan đến thái độ, hành vi của công nhân

Bảng 3-1: Các nhân tố nhân tố gây ra sai lầm

Các nhân tố gây ra sai lầm của người công nhân

I Nhóm nhân tố liên quan tới tài nguyên

1 Thiết bị, dụng cụ không đủ điều kiện an toàn hoặc không phù hợp để đưa vào sử dụng

2 Thiếu thiết bị, dụng cụ dự phòng

3 Thiếu trang bị dụng cụ bảo hộ lao động cho công nhân

4 Bố trí biển báo cấm, biểu tượng cảnh báo, hàng rào an toàn còn thiếu

5 Thiếu sự hướng dẫn khi áp dụng công nghệ, kĩ thuật thi công hiện đại

6 Công nhân không được đào tạo thường xuyên và đúng cách trong việc vận hành thiết bị, máy móc

7 Nhận thức của công nhân về an toàn lao động khá thấp

8 Tay nghề của công nhân yếu

II Nhóm nhân tố liên quan đến tổ chức, quản lý

9 Biện pháp thi công nguy hiểm, quy trình thi công không phù hợp

Trang 30

10 Thiếu biện pháp phòng ngừa tai nạn trước khi triển khai công việc

11 Việc lập kế hoạch triển khai thi công chưa hoàn chỉnh làm tăng số lượng các công việc phát sinh

III Nhóm nhân tố liên quan đến thái độ, hành vi của công nhân

12 Thói quen thao tác không an toàn của công nhân

13 Công nhân phải chịu áp lực công việc thường xuyên

14 Công nhân mệt mỏi vì làm việc ngoài giờ

15 Công nhân từ chối hoặc không tự nguyện thực hiện công việc theo cách an toàn

16 Công nhân có thái độ thiếu thận trọng, chủ quan khi thực hiện công việc

17 Công nhân thực hiện công việc một cách thiếu tập trung

18 Sự cạnh tranh, xích mích giữa các công nhân trong 1 tổ đội hoặc giữa các đội công nhân với nhau

Trong 18 nhân tố tìm được, bên cạnh những nhân tố liên quan đến tài nguyên là nguyên nhân rõ rệt gây ra sai lầm của công nhân trên công trường, các nhân tố còn lại cũng đạt được sự thống nhất cao về tính chất và mức độ tác động của nó tới sai lầm của người công nhân như sau:

Biện pháp thi công nguy hiểm, quy trình thi công không phù hợp bao gồm: cách

thức tiến hành thi công sai, việc sử dụng công cụ thi công và quy trình thi công thiếu trật tự sẽ tạo ra một môi trường thi công lộn xộn sẽ làm tăng số lượng và mức

độ nguy hiểm của các rủi ro trong khu vực thi công Điều này khiến cho người công nhân vô tình rơi vào tình huống nguy hiểm và có thể xảy ra tai nạn

Biện pháp phòng ngừa tai nạn trước khi triển khai công việc là xác định và

ngăn ngừa tất cả các rủi ro có thể đưa người công nhân đến tình huống gây tai nạn Thất bại trong việc nhận dạng rủi ro trước khi thực hiện công việc hoặc đã nhận dạng ra rủi ro nhưng lại thiếu nhân lực, thời gian hoặc tài chính để trang bị phương tiện đảm bảo an toàn phù hợp thì vẫn khiến công nhân vô tình rơi vào tình huống nguy hiểm

Việc lập kế hoạch triển khai thi công chưa hoàn chỉnh làm tăng số lượng các

công việc phát sinh Khi đó, thiếu thiết bị, dụng cụ và biện pháp đảm bảo an toàn dự

phòng trong khi thi công Mặt khác, thông thường các công việc phát sinh đòi hỏi người công nhân phải làm việc với cường độ cao hơn, dễ dẫn đến sự thiếu trật tự trong quy trình thi công và sự môi trường thi công lộn xộn

Trang 31

Thói quen thao tác không an toàn của công nhân, phải chịu áp lực công việc

thường xuyên: Trong môi trường xây dựng, người công nhân phải chịu ảnh hưởng

trực tiếp từ yếu tố thời tiết Đồng thời, dưới áp lực của tiến độ công việc, người công nhân có khuynh hướng muốn giảm thiểu công sức khi hoàn thành công việc

Do vậy, dần dần họ sẽ quên đi những thao tác an toàn được xem là rườm rà và gây cản trở đến năng suất lao động dù bản thân đã được trang bị thiết bị bảo hộ lao động đầy đủ

Công nhân mệt mỏi vì làm việc ngoài giờ Do áp lực của tiến độ của công việc

phải hoàn thành, người công nhân bị ép buộc phải làm ngoài giờ Khi đó, người công nhân sẽ không đủ sức khỏe và sự tỉnh táo để thực hiện đúng thao tác an toàn hoặc nhận dạng tình huống nguy hiểm để có ứng xử phòng tránh một cách kịp thời

Công nhân từ chối hoặc không tự nguyện thực hiện công việc theo cách an

toàn: Dù đã được đào tạo các nguyên tắc an toàn một cách thường xuyên, tuy nhiên

trong thực tế nhiều trường hợp người công nhân vẫn luôn tự tin rằng tai nạn sẽ không xảy ra với họ Họ cho rằng, với cá nhân họ, việc trang bị thiết bị, dụng cụ bảo

hộ an toàn là hoàn toàn không cần thiết

chuyên gia đều đồng quan điểm rằng, công nhân có kinh nghiệm lâu năm và tay nghề càng cao thì khi thực hiện công việc họ có xu hướng thiếu thận trọng, tỏ thái

độ chủ quan vì nghĩ rằng công việc đó họ đã thao tác nhiều lần và sẽ không có rủi ro

gì bất ngờ xảy ra

Công nhân thực hiện công việc một cách thiếu tập trung: Trong nhiều trường

hợp, trong quá trình thi công, tinh thần người công nhân có thể bị xao lãng, thiếu tập trung bởi các yếu tố khác ngoài công việc như người nhà đau ốm hoặc vấn đề tài chính của gia đình…

Sự cạnh tranh, xích mích giữa các công nhân trong 1 tổ đội hoặc giữa các đội

công nhân với nhau: Khi công trường không được trang bị máy móc, thiết bị đầy đủ

để thi công, sẽ dẫn tới sự tranh giành giữa các tổ đội để thực hiện công việc đạt tiến

độ đề ra Hơn nữa, trình độ văn hóa của công nhân thường thấp nên hay có những lời lẽ, hành động đả kích, khiêu khích lẫn nhau Hậu quả là gây ra tâm trạng ức chế

Trang 32

khi làm việc hoặc người công nhân sẵn sàng chấp nhận rủi ro và thực hiện công việc trong điều kiện thiếu an toàn để giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh

Kế tiếp, ứng với mỗi nhân tố gây ra sai lầm, một danh sách gồm 22 biện pháp quản lý được đưa ra để 09 chuyên gia bổ sung hoặc chắt lọc, loại bỏ bớt những biện pháp được cho là tác động không hiệu quả Đồng thời, các chuyên gia cũng được yêu cầu đánh giá tính rõ nghĩa của các biện pháp được đưa ra

Trong quá trình thu thập các biện pháp đối phó từ các chuyên gia, tác giả nhận thấy:

- Đối với nhóm nhân tố gây ra sai lầm của công nhân liên quan tới tài nguyên và

tổ chức quản lý, biện pháp đối phó chính là cải thiện các nhân tố đó

- Đối với nhóm nhân tố gây ra sai lầm của công nhân liên quan tới thái độ, hành vi; 22 biện pháp đã được đưa ra và phân vào 5 nhóm như sau:

Bảng 3-2: Biện pháp quản lý sai lầm của công nhân

Biện pháp quản lý sai lầm của công nhân

I Quản lý công nhân, thiết bị đầu vào

1 Tổ trưởng mỗi tổ đội đều phải được đào tạo và được cấp chứng chỉ về an toàn lao động

2 Phân loại 3 dạng điều kiện làm việc của công nhân trên công trường (bình thường, trên cao, chật hẹp) Công nhân phải được huấn luyện ATLĐ khi thi công ở 3 dạng điều kiện làm việc trên và thực hiện 3 bài kiểm tra khác nhau Công nhân vượt qua bài kiểm tra ở dạng điều kiện làm việc nào thì được dán tem an toàn loại đó lên mũ bảo hộ và chỉ được phép làm việc ở điều kiện làm việc đã được dán tem

3 Trang bị sổ tay an toàn và bắt buộc công nhân phải trình ra khi vào cổng công trường

4 Kiểm tra độ an toàn của dụng cụ, thiết bị vào công trường và phải được dán tem an toàn

II Công tác huấn luyện & đào tạo

5 Bắt buộc toàn bộ công nhân phải có mặt trước giờ làm việc 30 phút để nghe huấn luyện về công tác an toàn

6 Bố trí khu vực trưng bày những dụng cụ và các hình ảnh về hành vi thực hiện công việc thiếu an toàn ở khu vực thường xuyên qua lại

7 Tổ chức cho công nhân làm bài kiểm tra an toàn lao động định kỳ để duy trì

và nâng cao nhận thức về ATLĐ

8 Khuyến khích công nhân báo cáo cho ban an toàn về các hành vi gây mất an toàn lao động bằng cách xử phạt người vi phạm an toàn và thưởng cho người báo cáo

9 Tổ chức các buổi lễ an toàn lao động định kì (theo quý hoặc tháng) có sự

Trang 33

tham gia của đại diện chính quyền địa phương, các bên tham gia dự án và công nhân: khen thưởng và trao quà tặng cho tổ đội, công nhân tuân thủ tốt các quy định về an toàn trên công trường

III Công tác kiểm tra

10 Kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng dụng cụ bảo hộ lao động của công nhân

11 Kiểm tra định kì máy móc thiết bị trên công trường

12 Thường xuyên kiểm tra và nhắc nhở công tác an toàn đối với các tổ đội mới trong tuần đầu tiên vào công trường

13 Thường xuyên kiểm tra điều kiện an toàn và rủi ro trên công trường

14 Thường xuyên kiểm tra và nhắc nhở công nhân thực hiện ATLĐ vào

khoảng thời gian đầu giờ và cuối giờ làm việc

IV Quản lý công việc

15 Tổ đội phải có giấy phép thi công do trưởng ban an toàn cấp trong 2 trường hợp sau:

+ Đối với các công việc phát sinh

+ Đối với các các khu vực nguy hiểm - được công bố cho các tổ đội thông qua cuộc họp định kì giữa ban an toàn và trưởng các tổ đội

16 Tổ chức nghỉ giữa giờ cho công nhân 2 lần mỗi ngày ngoài thời gian nghỉ chính vào buổi trưa, mỗi lần nghỉ 15 - 20 phút

17 Bố trí các khu nghỉ ngơi cho công nhân gần khu vực làm việc

18 Tổ đội có nhu cầu làm tăng giờ ban đêm cần có giấy xác nhận loại công việc

và danh sách công nhân để hạn chế những công nhân đó tiếp tục làm việc vào sáng hôm sau

21 Phạt tiền tổ đội có hành vi vi phạm nguyên tắc an toàn

22 Buộc công nhân vi phạm nguyên tắc an toàn nghỉ việc thời gian 2 - 3 ngày hoặc buộc thôi việc tùy vào mức độ vi phạm

Trong 22 biện pháp quản lý, một số biện pháp được các chuyên gia diễn giải để đạt tính thống nhất về vai trò tác động của nó tới các nhân tố gây ra sai lầm như sau:

Tổ trưởng mỗi tổ đội đều phải được đào tạo và được cấp chứng chỉ về an toàn

lao động: Số lượng nhân lực ban an toàn lao động không đủ và không thường xuyên

để quản lý, giám sát hết toàn bộ hoạt động công nhân trên công trường Chính vì vậy, tổ trưởng mỗi tổ đội yêu cầu phải được đào tạo và cấp chứng chỉ về an toàn để

có kiến thức căn bản và hệ thống về những nguyên tắc an toàn, khi đó chính họ sẽ

đóng vai trò như những nhân viên an toàn

Trang 34

Phân loại 3 dạng điều kiện làm việc của công nhân trên công trường (bình

thường, trên cao, chật hẹp) Tương ứng với mỗi điều kiện làm việc, công nhân phải

được huấn luyện ATLĐ và thực hiện 3 bài kiểm tra khác nhau Công nhân vượt qua bài kiểm tra ở dạng điều kiện làm việc nào thì được dán tem an toàn loại đó lên mũ bảo hộ và chỉ được phép làm việc ở điều kiện làm việc đã được dán tem Cách phân loại như trên sẽ đảm bảo công nhân đang làm đúng khu vực đã được huấn luyện và ban an toàn dễ dàng trong việc quan sát để quản lý, nhắc nhở Nếu như công nhân vi phạm nguyên tắc về an toàn có thể sẽ bị tước tem an toàn và phải được đào tạo lại

và thực hiện bài kiểm tra để được phép trở lại làm việc

Trang bị sổ tay an toàn và bắt buộc công nhân phải trình ra khi vào cổng công

trường: Sổ tay an toàn là quyển sách hình trình bày các thao tác an toàn khi thực

hiện công việc Việc bắt buộc công nhân phải trang bị và trình ra khi ra vào cổng thể hiện sự quan tâm của ban chỉ huy công trường đối với an toàn lao động của công nhân Hơn nữa, do thời gian đào tạo về an toàn đối với công nhân là tương đối ngắn,

vì vậy việc trang bị sổ tay an toàn cho công nhân là cần thiết để họ có thể xem lại

khi được nghỉ giữa giờ

trong tuần đầu tiên vào công trường Các tổ đội mới khi mới vào làm việc sẽ chưa

phân biệt được các khu vực được xem là nguy hiểm, có khả năng sẽ vô tình rơi vào các khu vực mất kiểm soát trên công trường Ngoài ra, trong tổ đội đó có thể có những cá nhân thường xuyên có thái độ chủ quan hoặc từ chối thực hiện công việc theo cách an toàn Vì vậy, việc thường xuyên theo dõi, kiểm tra để có biện pháp

quản lý, nhắc nhở là cần thiết

thời gian đầu giờ và cuối giờ làm việc Ở hai khoảng thời gian này, thông thường

công nhân có hiện tượng xao lãng, thiếu tập trung Nhất là ở khoảng thời gian cuối giờ làm việc buổi sáng, công nhân bị mệt mỏi vì chịu sự ảnh hưởng của yếu tố thời

tiết, không còn duy trì được sự tập trung cần thiết khi thực hiện công việc

Tổ đội phải có giấy phép thi công do trưởng ban an toàn cấp trong 2 trường

hợp: đối với các công việc phát sinh và đối với các khu vực nguy hiểm Trưởng ban

Trang 35

an toàn có trách nhiệm nhận dạng, đánh giá mức độ rủi ro và đưa biện pháp đảm

bảo an toàn cần thiết trước khi cấp giấy phép thi công cho tổ đội

3.3.2 Xây dựng các tiêu chí đánh giá và quy ước thang đo đối với các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân

3.3.2.1 Giới thiệu

- Trong nghiên cứu này, các nhân tố gây ra sai lầm được xem là các rủi ro (risk)

Theo Harold, rủi ro có liên quan đến các yếu tố xác suất như tần suất, cường độ [24] Như vậy, khi đánh giá các nhân tố gây ra sai lầm chúng ta phải đối mặt với sự không chắc chắn Khi đó, tính chất của các nhân tố gây ra sai lầm có thể được xếp hạng, nghĩa là có thể đánh giá điểm cho nhân tố, và được sử dụng sau này trong việc định nghĩa và quản lý các nhân tố đó

- Việc lựa chọn tiêu chí đánh giá và thang đo đòi hỏi phải được phân tích 1 cách cẩn thận để hiểu tác động thực sự của các nhân tố đối với sai lầm của người công nhân Dựa trên tính chất và đặc điểm của mỗi nhóm nhân tố gây ra sai lầm, tác giả

đã xây dựng chỉ số đánh giá rủi ro ( Hazard Risk Index – HRI) Chỉ số này dựa trên mức độ thường xuyên và mức độ tác động của nhân tố

3.3.2.2 Xây dựng các tiêu chí đánh giá và quy ước thang đo

Theo đó, tác giả đề xuất mỗi nhóm nhân tố được tác giả đánh giá mức độ tác động theo các tiêu chí khác nhau, cụ thể:

Bảng 3-3: Tiêu chí đánh giá mức độ tác động của nhân tố gây ra sai lầm của

công nhân

STT Nhóm nhân tố gây ra sai lầm Tiêu chí đánh giá mức độ tác

động của nhân tố

1 Nhân tố liên quan đến tài nguyên Mức độ ảnh hưởng của nhân tố

2 Nhân tố liên quan đến tổ chức, quản lý Mức độ ảnh hưởng của nhân tố

3 Nhân tố liên quan đến thái độ, hành vi

của người công nhân

Xác suất gây ra tai nạn của nhân

tố

Thang đo Likert với 5 mức phổ biến tương ứng với mỗi nhóm nhân tố được sử dụng để đánh giá mức độ tác động của các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân như sau:

Trang 36

Bảng 3-4: Quy ước thang đo đánh giá mức độ tác động của các nhân tố gây ra

sai lầm của công nhân

Nhóm nhân tố gây ra sai lầm Quy ước thang đo

Nhân tố liên quan đến tài

Nhân tố liên quan đến thái độ,

hành vi của người công nhân

1 0% - 20% 2 20% - 40% 3 40% - 60% 4 60% - 80% 5 80% - 100%

Không xảy ra tai nạn 0%  Chắc chắn xảy ra tai nạn 100%

- Tiêu chí đánh giá khả năng thực hiện an toàn lao động đối với các nhân tố gây

ra sai lầm của công nhân trên công trường và quy ước thang thang đo Likert với 5 mức phổ biến tương ứng với mỗi nhóm nhân tố như sau:

Bảng 3-5: Tiêu chí đánh giá khả năng thực hiện an toàn lao động đối với các

nhân tố gây ra sai lầm của công nhân trên công trường

Nhóm nhân tố gây ra sai

Nhân tố liên quan đến tài

Nhân tố liên quan đến tổ

5 Xảy ra rất thường xuyên

Trang 37

- Tiêu chí đánh giá mức độ nguy hiểm của các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân trên công trường xây dựng:

Bảng 3-6: Tiêu chí đánh giá mức độ nguy hiểm của các nhân tố gây ra sai lầm

của công nhân

STT Nhóm nhân tố gây ra sai

2

Nhân tố liên quan đến tổ

chức, quản lý

Mức độ ảnh hưởng của nhân tố và khả năng thực hiện của công trường đối với mỗi nhân tố

3

Nhân tố liên quan đến thái

độ, hành vi của người công

nhân

Xác suất gây ra tai nạn của nhân tố và mức độ xảy ra thường xuyên của mỗi nhân tố

Lấy ví dụ:

- Nhân tố Thiếu thiết bị, dụng cụ dự phòng thuộc nhóm nhân tố liên quan đến tài

nguyên, mức độ nguy hiểm của nhân tố này được đánh giá theo 2 tiêu chí: mức độ

ảnh hưởng của nhân tố đó đối với sai lầm của công nhân và khả năng thực hiện tại công trường Có thể nhận thấy:

+ Nếu mức độ ảnh hưởng của việc thiếu thiết bị, dụng cụ dự phòng đối với sai lầm của công nhân là 5 (ảnh hưởng rất đáng kể) và khả năng thực hiện việc trang bị

thiết bị, dụng cụ dự phòng là 0% (không trang bị) thì có thể nhận thấy sự thực hiện

an toàn lao động của công trường đối với nhân tố trên là kém

+ Nếu mức độ ảnh hưởng của việc việc thiếu thiết bị, dụng cụ dự phòng đối với sai lầm của công nhân là 1 (không ảnh hưởng) và khả năng thực hiện việc trang bị

thiết bị, dụng cụ dự phòng là 100% (trang bị đầy đủ) thì có thể nhận thấy sự thực

hiện an toàn lao động của công trường đối với nhân tố trên là tốt

- Nhân tố Thói quen thao tác không an toàn của công nhân thuộc Nhóm nhân tố

liên quan đến thái độ, hành vi của công nhân, mức độ nguy hiểm của nhân tố này

được đánh giá theo 2 tiêu chí: Xác suất gây ra tai nạn của nhân tố và mức độ xảy ra thường xuyên của mỗi nhân tố Có thể nhận thấy:

Trang 38

+ Nếu xác suất gây ra tai nạn của Thói quen thao tác không an toàn của công

nhân là 90% và mức độ thường xuyên của Thói quen thao tác không an toàn của công nhân trên công trường là xảy ra rất thường xuyên thì có thể nhận thấy sự thực

hiện an toàn lao động của công trường đối với nhân tố trên là kém

+ Nếu xác suất gây ra tai nạn của Thói quen thao tác không an toàn của công

nhân là 10% và mức độ thường xuyên Thói quen thao tác không an toàn của công nhân trên công trường là rất ít khi xảy ra thì có thể nhận thấy sự thực hiện an toàn

lao động của công trường đối với nhân tố trên là tốt

3.3.3 Thiết kế bảng câu hỏi

3.3.3.1 Giới thiệu

- Bảng câu hỏi là công cụ đắc lực giúp giải quyết vấn đề của nghiên cứu, việc lập bảng câu hỏi nhằm thu thập những thông tin được hoạch định với độ chính xác và hoàn hảo tương đối Bảng câu hỏi phải mang tính khoa học và nghệ thuật, trong đó kinh nghiệm từ thực tế giữ vai trò quan trọng, các từ ngữ dùng trong từng câu hỏi phải rõ ràng và trình tự sắp xếp chúng phải hợp lý để tránh sự nhầm lẫn của đối tượng khi tham gia trả lời Để thiết kế được bảng câu hỏi phù hợp với đề tài nghiên cứu, người thực hiện cần tham khảo những báo cáo trước đây có liên quan đến chủ

đề nghiên cứu [25] Đây là một công cụ hiệu quả và kinh tế nhất để thu thập thông tin, ý kiến cũng như quan điểm của số đông trong 1 thời gian nhất định Với nghiên cứu này, dùng bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu nhằm giúp ích cho việc phân tích sự cần thiết của các biện pháp quản lý tương ứng với từng mức độ nguy hiểm của các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân

Như đã trình bày, có 09 chuyên gia tham gia vòng khảo sát tham khảo ý kiến về các nhân tố gây ra sai lầm và biện pháp quản lý sai lầm Vì vậy, để đạt sự thống nhất chung về tính chất của các nhân tố gây ra sai lầm và ý nghĩa của các biện pháp quản lý sai lầm đồng thời để tránh có sự nhầm lẫn trong ý nghĩa dẫn đến thiên lệch (bias) trong dữ liệu được thu thập, 09 chuyên gia trên tiếp tục tham gia vòng khảo sát đánh giá mức độ quan trọng của biện pháp quản lý sai lầm

- Thang đo Likert với 5 mức phổ biến như sau:

1 Hoàn toàn không đồng ý

Trang 39

2 Không đồng ý

3 Ý kiến trung lập

4 Đồng ý

5 Hoàn toàn đồng ý

3.3.3.2 Nội dung bảng câu hỏi

Nội dung bảng câu hỏi gồm 2 phần:

Phần 1: Tóm tắt nội dung bảng câu hỏi

Phần 2: Khảo sát ý kiến chuyên gia về sự cần thiết đối với 22 biện pháp quản lý tương ứng với từng mức độ nguy hiểm của các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân

3.3.4 Các công cụ thống kê

3.3.4.1 Kiểm định thang đo

Bảng câu hỏi sau khi được thu về sẽ được kiểm tra sự chệch của dữ liệu, sự tương quan giữa các mục hỏi trước khi thực hiện các phân tích:

Đối với những bảng câu hỏi bị khuyết, sẽ được liên hệ để bổ sung nếu có thể

Hệ số Cronbach’s Anpha là một phép kiểm định thống kề về mức độ chặt chẽ mà các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau

Công thức của hệ số Cronbach’s Anpha là:

      

Trong đó là hệ số tương quan trung bình giữa các mục hỏi

Theo quy ước thì một tập hợp các mục hỏi dùng để đo lường được đánh giá là tốt phải có hệ số  lớn hơn hoặc bằng 0.8

3.3.4.2 Trung vị (median) và đánh giá trị trung vị

Giá trị trung bình và trung vị thường xuyên được sử dụng trong thống kê Trung vị là đại lượng mang giá trị nằm ở giữa bộ dữ liệu Trung vị được xác định bằng cách xếp hạng dữ liệu từ nhỏ nhất đến lớn nhất, sau đó xác định vị trí mà số lượng các dữ liệu lớn hơn nó và nhỏ hơn nó bằng nhau Vì vậy, trị trung bình và trung vị có thể bằng nhau hoặc gần bằng nhau Hai giá trị này khác nhau nếu có càng nhiều giá trị của bộ dữ liệu có khuynh hướng lệch về 1 phía hoặc có 1 số giá

Trang 40

trị ở xa so với nhóm dữ liệu còn lại (range) Trong trường hợp này, trị trung bình có thể không còn đại diện cho bộ dữ liệu Khi đó, chúng ta nên sử dụng trung vị thay cho trung bình [26] Trong nghiên cứu này, có 09 chuyên gia tham gia khảo sát nên trị trung vị được sử dụng

3.3.5 Xây dựng bảng tham chiếu đánh giá mức độ nguy hiểm của các nhân tố gây ra sai lầm của công nhân

3.3.5.1 Chỉ số đánh giá mức độ nguy hiểm nhân tố (Hazard Risk Index - HRI)

Bảng 3-7: Chỉ số đánh giá mức độ nguy hiểm nhân tố (Hazard Risk Index - HRI)

STT Nhóm nhân tố gây ra

1 Nhân tố liên quan đến

tài nguyên = (Điểm đánh giá mức độ ảnh hưởng của nhân

tố) x (điểm đánh giá khả năng thực hiện tại công trường đối với nhân tố đó)

2 Nhân tố liên quan đến tổ

chức, quản lý

3

Nhân tố liên quan đến

thái độ, hành vi của

người công nhân

= (Điểm đánh giá xác suất gây ra tai nạn của nhân tố) x (điểm đánh giá mức độ xảy ra thường xuyên của nhân tố đó trên công trường) 3.3.5.2 Xây dựng bảng tham chiếu

Bảng tham chiếu được xây dựng là cơ sở để ban chỉ huy công trường tự đánh giá được sự mức độ nguy hiểm đối với mỗi nhân tố gây ra sai lầm của công nhân Dựa vào chỉ số HRI, tác giả tự đề xuất bảng tham chiếu sau:

a Nhóm nhân tố liên quan đến tài nguyên và tổ chức, quản lý

Bảng 3-8: Bảng tham chiếu đánh giá được sự mức độ nguy hiểm đối với mỗi

nhân tố liên quan đến tài nguyên và tổ chức, quản lý

Mức độ tác động Các nhân tố gây ra sai lầm

0% - 20%

20% - 40%

40% 60%

60% 80%

80% 100%

-% Không thực hiện = 1 - -% Khả năng thực hiện

Ngày đăng: 28/01/2021, 14:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w