- Phân tích cấu trúc mạng sự phối hợp của các bên khi trao đổi thông tin và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện một dự án cụ thể.. Sau khi tiến hành phân tích xếp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
NGUYỄN MINH TÂM
ỨNG DỤNG SOCIAL NETWORK ANALYSIS (SNA)
ĐỂ PHÂN TÍCH SỰ PHỐI HỢP GIỮA CÁC BÊN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA –ĐHQG -HCM Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS LÊ HOÀI LONG
Cán bộ chấm nhận xét 1 : PGS TS LƯU TRƯỜNG VĂN
Cán bộ chấm nhận xét 2 : PGS TS NGUYỄN THỐNG
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp HCM ngày 15 tháng 02 năm 2014
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 PGS.TS Ngô Quang Tường
2 PGS TS Lưu Trường Văn
3 PGS TS Nguyễn Thống
4 TS Lương Đức Long
5 TS Lê Hoài Long
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành
PGS TS NGÔ QUANG TƯỜNG
Trang 3
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngày, tháng, năm sinh: 20/05/1985 Nơi sinh: Hải Dương Chuyên ngành: C ng ng ệ v Quản dựng Mã số : 60.58.90
I TÊN ĐỀ TÀI:
ỨNG DỤNG SOCIAL NETWORK ANALYSIS (SNA) ĐỂ PHÂN TÍCH
SỰ PHỐI HỢP GIỮA CÁC BÊN TRONG MỘT DỰ ÁN XÂY DỰNG
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
- Xem xét những nguyên nhân dẫn đến sự phối hợp giữa các bên trước khi thực hiện một dự án
- Xem xét những yếu tố quyết định sự phối hợp của các bên trong quá trình thực hiện
dự án
- Phân tích cấu trúc mạng sự phối hợp của các bên khi trao đổi thông tin và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện một dự án cụ thể
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 24/06/2013
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 22/11/2013
V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : TS L HO I LONG
Tp HCM, ngày tháng năm 2013
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
(Họ tên và chữ ký)
TS LÊ HOÀI LONG
CHỦ NHIỆM BỘ MÔN ĐÀO TẠO
(Họ tên và chữ ký)
TS LƯƠNG ĐỨC LONG TRƯỞNG KHOA KỸ THUẬT XÂY DỰNG
(Họ tên và chữ ký)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình, kịp thời của các thầy cô, sự quan tâm, động viên, chia sẻ từ gia đình, đồng nghiệp và bạn bè Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Bộ môn Thi công và Quản lý xây dựng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn đúng thời hạn Thầy hướng dẫn TS Lê Hoài Long, người đã luôn quan tâm, định hướng và truyền đạt những kinh nghiệm quí báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Anh Châu Trần Minh Nhựt – học viên cao học khóa 2012, đã giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình tìm kiếm những nguồn tài liệu tham khảo quí giá
Tập thể Ban quản lý dự án Bến Cát – Tỉnh Bình Dương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập dữ liệu
ThS Nguyễn Cảnh Toàn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình đã luôn sát cánh bên tôi giúp tôi vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tôi hoàn thành luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 11 năm 2013
Trang 5TÓM TẮT
Ngành công nghiệp xây dựng có những đặc điểm khác biệt so với những ngành công nghiệp khác Do tính chất duy nhất và đặc thù nên mỗi dự án xây dựng đều khác nhau và thời gian hoàn thành dự án cũng khác nhau Việc có nhiều tổ đội tham gia với một nguồn lớn nguyên vật liệu, thiết bị thi công, nên việc quản lý rất khó khăn và đòi hỏi có sự phối hợp của tất cả các bên tham gia vào dự án Phối hợp là phương thức quản lý dự án tiên tiến trong lĩnh vực xây dựng hiện đại để tạo nên sự hợp tác của các bên từ khi chuẩn bị dự án đến khi kết thúc dự án và bàn giao đưa vào sử dụng Sự phối hợp ngày càng tăng và được cải thiện nhằm giảm thiểu những mâu thuẫn, tranh chấp và khiếu nại Các bên tham gia làm việc trong một môi trường hòa hợp, tin tưởng lẫn nhau
để thực hiện dự án một cách hiệu quả Qua đó, chất lượng của dự án được đảm bảo, không vượt quá phạm vi chi phí được duyệt, thời gian hoàn thành đúng kế hoạch được
đề ra Thông qua nghiên cứu đã nhận dạng được 10 nguyên nhân và 24 yếu tố quyết định sự phối hợp của các bên trong quá trình thực hiện một dự án xây dựng Sau khi tiến hành phân tích xếp hạng, kiểm tra sự khác biệt trong quan điểm trả lời của các nhóm (chủ đầu tư, nhà thầu thi công, tư vấn) đối với những nguyên nhân và những yếu
tố này, công cụ phân tích mạng xã hội (SNA) được ứng dụng để xem xét sự tương tác
và cách ứng xử của các bên trong một dự án cụ thể dựa trên 2 nhóm yếu tố quyết định lớn nhất: cấu trúc mạng trao đổi thông tin và cấu trúc mạng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong Dự án Bến Cát – Tỉnh Bình Dương Các phân tích cấu trúc mạng đã chỉ
ra thành viên “Chỉ huy trưởng công trình” (SM) là trung tâm và đại diện cho mối quan
hệ chặt chẽ với các thành viên khác dự án
Trang 6ABSTRACT
The Construction Industry has different characteristics from the others Due to the unique and specific, the project is different from each other and so is the execution time With many teams, materials, equipments, the management has some difficulties and requires all cooperative parties Partnering is the innovative management in modern construction industry to create the partnering of the parties from the beginning
to the end and handover project The increasing partnering reduces disagreements, conflicts and disputes Partners work in harmonious environment, mutual trust to carry out the effective project Whereby the project has high quality, ensures the cost and the time in progress Throught out studying, 10 causes and 24 determinant factors have been indentified After analyzing, ranking and checking the different opinions of three groups (Owner, Contractor, Consultant), social network analysis (SNA) will be applied
to exame the iteraction and behavior basing on two grand groups: communication and problem solving in case study: Ben Cat Project – Binh Duong Province The result indicated that “Site Manager” (SM) has the highest centrality, closeness centrality and betweeness centrality
Trang 7
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện
Tất cả các số liệu, tài liệu tham khảo, trích dẫn đều chính xác, trung thực và có nguồn gốc cụ thể trong phạm vi hiểu biết của tôi
Tp Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 11 năm 2013
Trang 8MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
DANH MỤC HÌNH VẼ 7
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
1.1 Giới thiệu chung 9
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu 10
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 10
1.4 Phạm vi nghiên cứu 11
1.5 Đóng góp dự kiến của nghiên cứu 11
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 12
2.1 Giới thiệu 12
2.2 Sự phối hợp trong các dự án xây dựng 12
2.2.1 Dự án xây dựng 12
2.2.2 Các bên tham gia dự án xây dựng 12
2.2.3 Khái niệm sự phối hợp 13
2.2.4 Các yếu tố cần thiết của phối hợp 13
2.2.5 Lợi ích của phối hợp 14
2.3 Các nghiên cứu trước đây 15
2.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới 15
2.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 16
2.4 Phân tích mạng xã hội (Social network analysis) 18
2.4.1 Lịch sử phát triển của phân tích mạng xã hội (SNA) 18
2.4.2 Khái niệm phân tích mạng xã hội (SNA) 20
2.4.3 Mô tả dữ liệu mạng xã hội 21
2.4.4 Đặc tính của mạng và các đối tượng 22
2.4.4.1 Kích thước mạng (size of network) 22
Trang 92.4.4.2 Mật độ mạng (density of network) 22
2.4.4.3 Mức độ của các đối tượng (degree of actors) 22
2.4.5 Khái niệm về khoảng cách và các mối quan hệ 23
2.4.5.1 Khoảng cách giữa các đối tượng (distance between actors) 23
2.4.5.2 Bước (Walks) 23
2.4.5.3 Đường dẫn (Paths) 24
2.4.6 Tính trung tâm (centrality) 24
2.4.6.1 Mức độ trung tâm (degree centrality) 25
2.4.6.2 Mối quan hệ chặt chẽ trung tâm (closeness centrality) 26
2.4.6.3 Mối quan hệ trung gian trung tâm (betweeness centrality) 28
2.4.6.4 Độ lệch tâm trung tâm 29
2.4.7 Tại sao sử dụng phân tích mạng xã hội (SNA) 30
2.4.8 Các nghiên cứu trước đây về SNA trong xây dựng 31
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Qui trình nghiên cứu 34
3.2 Bảng câu hỏi khảo sát 35
3.3 Xác định kích thước mẫu 36
3.4 Kiểm định thang đo 37
3.5 Các phương pháp và công cụ nghiên cứu 38
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Qui trình phân tích số liệu 39
4.2 Khảo sát thử (Pilot test) 42
4.3 Phân tích số liệu khảo sát chính thức – kiểm định thang đo 43
4.3.1 Thời gian công tác trong nghành xây dựng 43
4.3.2 Vị trí công tác 44
4.3.3 Số dự án đã tham gia thực hiện 44
4.3.4 Nguồn vốn đầu tư của dự án 44
4.3.5 Loại công trình đã tham gia 45
Trang 104.3.6 Giá trị dự án lớn nhất đã tham gia 45
4.3.7 Kinh nghiệm trong việc phối hợp khi thực hiện các dự án xây dựng 46
4.3.8 Kiểm tra độ tin cậy thang đo Cronbach’s alpha 46
4.4 Xếp hạng các nguyên nhân dẫn đến sự phối hợp và các yếu tố quyết định sự phối hợp 47
4.4.1 Nguyên nhân dẫn đến sự phối hợp giữa các bên khi thực hiện một dự án xây dựng 47
4.4.2 Yếu tố quyết định sự phối hợp giữa các bên trong một dự án xây dựng 48
4.5 Kiểm định khác biệt về trị trung bình mức độ đồng ý và hệ số tương quan hạng Spearman giữa các nhóm trả lời 50
4.5.1 Nguyên nhân dẫn đến sự phối hợp giữa các bên khi thực hiện một dự án xây dựng 52
4.5.1.1 Kiểm định Kruskal-Wallis sự khác biệt về trị trung bình mức độ đồng ý nguyên nhân dẫn đến sự phối hợp giữa các nhóm 52
4.5.1.2 Hệ số tương quan hạng Spearman 52
4.5.2 Yếu tố quyết định sự phối hợp giữa các bên trong một dự án xây dựng 53
4.5.2.1 Kiểm định Kruskal-Wallis sự khác biệt về trị trung bình mức độ đồng ý giữa các nhóm 53
4.5.2.2 Hệ số tương quan hạng Spearman 54
CHƯƠNG 5: ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH MẠNG XÃ HỘI (SNA) ĐỂ PHÂN TÍCH SỰ PHỐI HỢP GIỮA CÁC BÊN TRONG MỘT DA XÂY DỰNG CỤ THỂ 56
5.1 Lựa chọn cấu trúc mạng sự phối hợp giữa các bên trong một DA xây dựng 56
5.2 Nghiên cứu tình huống (case study) 57
5.2.1 Giới thiệu nghiên cứu tình huống (case study) 57
5.2.2 Lựa chọn case study 58
5.2.3 Thu thập dữ liệu case study 59
5.3 Phân tích cấu trúc của mạng trao đổi thông tin 63
5.3.1 Mật độ của mạng trao đổi thông tin 67
Trang 115.3.2 Mức độ trung tâm của các đối tượng trong mạng trao đổi thông tin 67
5.3.3 Mối quan hệ chặt chẽ trung tâm của các đối tượng trong mạng trao đổi thông tin 70
5.3.4 Mối quan hệ trung gian trung tâm của các đối tượng trong mạng trao đổi thông tin 72
5.3.5 Một số vấn đề thường gặp trong quá trình trao đổi thông tin trong DA 75
5.4 Phân tích cấu trúc của mạng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong DA 76
5.4.1 Mật độ mạng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong DA 78
5.4.2 Mức độ trung tâm của mạng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong DA 78
5.4.3 Mối quan hệ chặt chẽ trung tâm của mạng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong DA 80
5.4.4 Mối quan hệ trung gian trung tâm của mạng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong DA 83
5.4.5 Một số vấn đề thường gặp trong quá trình giải quyết những vấn đề trong DA thường gặp 85
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
6.1 Kết luận 87
6.2 Kiến nghị 88
6.3 Hướng phát triển đề tài 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 96
Trang 12DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Bảng tốc độ tăng trưởng GDP năm 2004-2012
Bảng 2.1: So sánh các yếu tố chi phí, tiến độ, và bất đồng khi có sự phối hợp và không phối hợp giữa các bên trong quá trình thực hiện dự án
Bảng 2.2: Các trung tâm nghiên cứu mạng xã hội trong giai đoạn 1940-1969
Bảng 3.1 Các phương pháp và công cụ nghiên cứu
Bảng 4.1 Đặt tên nhãn cho các nguyên nhân
Bảng 4.2 Thời gian công tác trong nghành xây dựng
Bảng 4.3 Vị trí công tác
Bảng 4.4 Số dự án đã tham gia thực hiện
Bảng 4.5 Nguồn vốn đầu tư của dự án
Bảng 4.6 Loại công trình đã tham gia
Bảng 4.7 Giá trị dự án lớn nhất đã tham gia
Bảng 4.8 Kinh nghiệm trong việc phối hợp
Bảng 4.9 Hệ số Cronbach’s alpha của các nhóm yếu tố
Bảng 4.10 Giá trị trung bình và xếp hạng mức độ đồng ý các nguyên nhân
Bảng 4.11 Giá trị trung bình và xếp hạng mức độ đồng ý các yếu tố
Bảng 4.12 Kiểm định giá trị trung bình mức độ đồng ý nguyên nhân dẫn đến sự phối hợp của các nhóm theo Kruskal-Wallis
Bảng 4.13 Tương quan hạng Spearman về mức độ đồng ý nguyên nhân dẫn đến sự phối hợp giữa các nhóm
Bảng 4.14 Kiểm định giá trị trung bình mức độ đồng ý yếu tố quyết định sự phối hợp của các nhóm theo Kruskal-Wallis
Bảng 4.15 Tương quan hạng Spearman về mức độ đồng ý yếu tố quyết định sự phối hợp giữa các nhóm
Bảng 5.1 Bảng giá trị trung bình và xếp hạng năm hình thức trao đổi thông tin
Bảng 5.2 Mật độ của mạng trao đổi thông tin
Trang 13Bảng 5.3 Mức độ trung tâm của các đối tượng trong mạng trao đổi thông tin
Bảng 5.4 Mối quan hệ chặt chẽ trung tâm của các đối tượng trong mạng trao đổi thông tin
Bảng 5.5 Mối quan hệ trung gian trung tâm của các đối tượng trong mạng trao đổi thông tin
Bảng 5.6 Mật độ mạng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong dự án
Bảng 5.7 Mức độ trung tâm của các đối tượng trong mạng phối hợp giải quyết những vấn đề nảy sinh trong dự án
Bảng 5.8 Mối quan hệ chặt chẽ trung tâm của các đối tượng trong mạng phối hợp giải quyết những vấn đề nảy sinh trong dự án
Bảng 5.9 Mối quan hệ trung gian trung tâm của các đối tượng trong mạng phối hợp giải quyết những vấn đề nảy sinh trong dự án
Trang 14DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Mạng có hướng đơn giản (trích Izquierdo vcs, 2006)
Hình 2.2 Hai cách mô tả dữ liệu (trích Izquierdo vcs, 2006)
Hình 2.3 Tổng mức độ đi vào và đi ra một nút
Hình 3.1 Sơ đồ qui trình nghiên cứu
Hình 3.2 Quy trình thu thập dữ liệu
Hình 4.1 Qui trình phân tích số liệu
Hình 5.1 Mạng trao đổi thông tin không chính thức
Hình 5.2 Mạng trao đổi thông tin chính thức
Hình 5.3 Biểu đồ mức độ trung tâm của các đối tượng trong mạng trao đổi thông tin Hình 5.4 Biểu đồ mối quan hệ chặt chẽ trung tâm của các đối tượng trong mạng trao đổi thông tin
Hình 5.5 Biểu đồ mối quan hệ trung gian trung tâm của các đối tượng trong mạng trao đổi thông tin
Hình 5.6 Mạng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong dự án
Hình 5.7 Biểu đồ mức độ trung tâm của các đối tượng trong mạng phối hợp giải quyết những vấn đề nảy sinh trong dự án
Trang 15Hình 5.8 Biểu đồ mối quan hệ chặt chẽ trung tâm của các đối tượng trong mạng phối hợp giải quyết những vấn đề nảy sinh trong dự án
Hình 5.9 Mối quan hệ trung gian trung tâm của các đối tượng trong mạng phối hợp giải quyết những vấn đề nảy sinh trong dự án
Trang 16CHƯƠNG 1 : ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu chung:
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp và khó khăn, thương mại sụt giảm, tăng trưởng thấp đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam Việc thắt chặt tài khóa tiền tệ để kiềm chế lạm phát là cần thiết nhưng hệ quả là cầu nội địa giảm, hàng tồn kho lớn, lãi suất tín dụng tăng cao, doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, sản xuất kinh doanh bị đình trệ Ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam cũng không tránh khỏi thực trạng này Từ năm 2004 đến nay, nghành công nghiệp xây dựng luôn đóng góp từ 8-10% vào tổng sản phẩm quốc nội hàng năm (GDP) và được duy trì với tốc độ tăng trưởng mạnh từ 10-12%/năm Tuy nhiên, do ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới và trong nước, cộng với lãi suất ngân hàng tăng cao, đầu tư công bị cắt giảm, thị trường bất động sản đóng băng càng làm cho các doanh nghiệp trong ngành xây dựng nhọc nhằn tìm lại đà tăng trưởng Giai đoạn từ năm 2003 - 2007, nghành công nghiệp - xây dựng tăng trưởng bình quân 10,31%, năm 2008 giảm xuống còn 5,97% và năm
2009 chỉ còn 5,54%, nguyên nhân chủ yếu do việc thắt chặt tiền tệ kiềm chế lạm phát Nhờ các giải pháp kích cầu, năm 2010 tốc độ tăng trở lại 7,68% nhưng qua năm 2011,
2012 lại giảm chỉ còn 5,53% và 4,52%, đây là mức tăng trưởng thấp nhất trong 22 năm
qua (Nguồn Báo đầu tư, 08/01/2013)
Bảng 1.1 Bảng tốc độ tăng trưởng GDP năm 2004-2012
Ngành công nghiệp
và xây dựng 10.6 10.3 10.6 5.97 5.54 7.68 5.53 4.52
(Nguồn:Báo đầu tư và ngân hàng thế giới, truy cập ngày 28/03/2013)
Ngành công nghiệp - xây dựng tăng trưởng thấp kéo theo tốc độ tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế bị sụt giảm (5,03%), đây là mức độ tăng thấp nhất kể từ
Trang 17năm 2005 tới nay và thấp hơn cả tốc độ tăng trưởng của năm 2009 Điều này cho thấy, ngành xây dựng luôn là ngành công nghiệp mũi nhọn, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của xã hội Việc đưa ra những giải pháp nhằm khôi phục ngành xây dựng là hết sức cấp thiết
Các dự án xây dựng cần có nguồn vốn đầu tư lớn và sự tham gia của tất cả các bên: Chủ đầu tư, thiết kế, nhà thầu thi công, các đơn vị tư vấn, nhà cung cấp… do vậy
sự phối hợp không chặt chẽ, trao đổi thông tin không tốt sẽ làm phát sinh nhiều vấn đề trong suốt quá trình thực hiện dự án Chi phí của dự án tăng không những làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà thầu thi công, mà còn ảnh hưởng đến các yêu cầu đặt ra ban đầu của chủ đầu tư và gây ra các mối quan hệ không tốt giữa các bên trong quá trình thực hiện dự án
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu:
Một dự án xây dựng luôn đối diện với những vấn đề phức tạp và ảnh hưởng đến tất cả các bên tham gia: thông tin của dự án, phạm vi công việc, sự tin tưởng lẫn nhau, các vấn đề nảy sinh, lợi ích đạt được khi kết thúc dự án Những vấn đề này kết hợp với những biến đổi liên tục của nền kinh tế như khủng hoảng, lạm phát dẫn đến chi phí dự
án bị vượt trội, tiến độ bị chậm trễ, chất lượng không đảm bảo Việc đẩy mạnh hợp tác
và phối hợp giữa các bên trong quá trình thực hiện dự án giúp cải thiện chất lượng và các dịch vụ của dự án (Abdulaziz A Bubshait, 2001)
Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra là:
Nguyên nhân nào dẫn đến sự phối hợp giữa các bên trước khi thực hiện dự án?
Yếu tố nào quyết định sự phối hợp của các bên trong quá trình thực hiện dự án?
Cấu trúc mạng sự phối hợp của các bên khi trao đổi thông tin và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện một dự án cụ thể như thế nào?
1.3 Mục tiêu nghiên cứu:
Để giải quyết cho các câu hỏi nghiên cứu trên, mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:
Xem xét những nguyên nhân dẫn đến sự phối hợp giữa các bên trước khi thực hiện một dự án xây dựng
Trang 18 Xem xét những yếu tố quyết định sự phối hợp của các bên trong quá trình thực hiện dự án xây dựng
Phân tích cấu trúc mạng sự phối hợp của các bên khi trao đổi thông tin và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện một dự án cụ thể
1.4 P ạm vi ng iên cứu:
Do thời gian nghiên cứu và khả năng thu thập số liệu có hạn, để tập trung vào vấn
đề nghiên cứu phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Thời gian thực hiện luận văn: 05 tháng (24/6/2013 – 22/11/2013)
Không gian nghiên cứu: các dự án xây dựng dân dụng tại khu vực Tp.HCM và một số tỉnh thành khác
Đối tượng khảo sát: Chủ đầu tư, tư vấn và nhà thầu thi công
Giai đoạn thực hiện nghiên cứu: giai đoạn thực hiện dự án (giai đoạn thi công)
1.5 Đóng góp dự kiến của nghiên cứu:
Về mặt thực tiễn: giúp các bên tham gia dự án như chủ đầu tư, tư vấn và nhà thầu thi công xác định được những nguyên nhân dẫn đến sự phối hợp trước khi thực hiện một dự án và các yếu tố quyết định sự phối hợp trong quá trình thực hiện dự án Thông qua sự phối hợp chặt chẽ, chi phí của dự án dự án giảm xuống, chất lượng nâng cao, an toàn - tiến độ đảm bảo Đề tài cũng giới thiệu một công cụ tham khảo mới (phân tích mạng xã hội) được dùng để lập bản đồ và đo lường quan hệ xã hội Thông qua các số liệu định lượng và hình ảnh hiển thị, các bên có thể khám phá, phân tích vị trí, vai trò của từng thành viên trong dự án hoặc đơn vị của mình, từ đó kịp thời đưa ra những giải pháp để cải thiện mối quan hệ ngày càng tốt hơn
Về mặt học thuật : đề tài giới thiệu một hướng nghiên cứu mới bằng cách sử dụng công cụ phân tích mạng xã hội (social network analysis) áp dụng vào trong lĩnh vực xây dựng Nghiên cứu áp dụng trong đề tài là cơ sở tham khảo cho các nghiên cứu tương lai vận dụng, phát triển để đi sâu vào giải quyết mối quan hệ của các bên từ khi bắt đầu dự án đến khi kết thúc dự án hoặc các mối quan hệ phức tạp
Trang 19CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN
2.1 Giới thiệu:
Ngành công nghiệp xây dựng năng động và có vai trò quan trọng trong nền kinh
tế của bất kỳ quốc gia nào Hiện nay, những dự án xây dựng ngày càng phức tạp và khó khăn: tranh chấp – kiện tụng sẵn sàng nảy sinh, lợi nhuận thấp, chậm tiến độ và vượt chi phí Một khi các bên cảm thấy không hài lòng lẫn nhau có thể nảy sinh các mâu thuẫn làm phá vỡ dự án và ảnh hưởng đến mối quan hệ của các bên (Harmon, 2003)
Sự phối hợp giữa các bên ngày càng tăng và được cải thiện nhằm giảm thiểu những mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu nại Các bên tham gia cùng nhau và làm việc trong một môi trường hòa hợp, tin tưởng lẫn nhau để thực hiện dự án hiệu quả Qua đó, chất lượng của dự án được đảm bảo, không vượt quá phạm vi chi phí được duyệt, thời gian hoàn thành đúng kế hoạch được đề ra
2.2 Sự phối hợp trong các dự án xây dựng:
mô, kinh phí và thời gian Quy mô thể hiện khối lượng và chất lượng của công việc thực hiện Kinh phí là chi phí thực hiện công việc tình bằng tiền Thời gian thể hiện trình tự trước sau thực hiện các công việc và thời gian hoàn thành dự án (Lan, 2012)
2.2.2 Các bên tham gia dự án xây dựng (Lan, 2012):
Dự án xây dựng cần có sự hợp sức của các bên tham gia vào trong dự án: chủ đầu tư, đơn vị thiết kế, nhà thầu thi công, đơn vị tư vấn giám sát hay tư vấn quản lý dự
án (nếu có)
Trang 20 Chủ đầu tư là tổ chức sở hữu vốn hay được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và
Đơn vị tư vấn là tổ chức chuyên môn đại diện cho chủ đầu tư quản lý thực hiện
dự án với vai trò giám sát hay chủ nhiệm điều hành dự án
2.2.3 Khái niệm sự phối hợp:
Sự phối hợp là một quá trình thiết lập và thực hiện các mối quan hệ vì mục tiêu chung của dự án và lợi ích của các bên tham gia Sự phối hợp là một cam kết lâu dài giữa hai hoặc nhiều bên trong thời gian thực hiện dự án Mục đích của việc phối hợp nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể bằng cách tối đa hóa nguồn lực của các bên tham gia Điều này dẫn đến phải thay đổi các mối quan hệ theo kiểu truyền thống nhưng vẫn không làm ảnh hưởng đến tổ chức (Construction Industry Institute, n.d)
Theo (Policy & Resources Committee, 2001), sự phối hợp là phương thức quản
lý được thực hiện bởi hai hoặc nhiều bên trong dự án nhằm đạt được những mục tiêu
cụ thể Việc xem xét lợi ích của việc phối hợp giữa các bên là rất quan trọng và được thực hiện ngay từ khi bắt đầu dự án, thông qua hình thức lựa chọn nhà thầu: tư vấn, thiết kế, thi công Theo quan điểm chủ đầu tư, một nhà thầu có năng lực và phối hợp tốt là những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến khả năng thắng thầu và thành công của dự
án sau này, các yếu tố về giá dự thầu chỉ là một trong số những tiêu chí sau cùng để đánh giá
2.2.4 Các yếu tố cần thiết của phối hợp:
Phối hợp là mối quan hệ được tạo ra giữa chủ đầu tư, tư vấn và nhà thầu nhằm mục đích đạt được các mục tiêu về lợi ích cho các bên Phối hợp bao gồm các thỏa thuận về nguyên tắc để chia sẻ rủi ro trong quá trình thực hiện dự án qua đó thiết lập, cải thiện môi trường hợp tác giữa các bên Phối hợp không phải là một thỏa thuận hợp
Trang 21đồng, nó cũng không tạo ra bất kỳ quyền và nghĩa vụ nào có thể thi hành trước pháp luật Thay vào đó, tìm kiếm sự phối hợp để tạo ra những quan điểm hợp tác mới trong quá trình thực hiện dự án xây dựng Để tạo những quan điểm này, mỗi bên phải tìm hiểu các mục tiêu, nhu cầu của nhau, và tìm kiếm cách thức mà những mục tiêu này chồng lên nhau (L Edelman et al., 1991)
Khi sự phối hợp được thiết lập, dự án được thực hiện một cách hiệu quả, những những mâu thuẫn được thay thế bằng các mối quan hệ hợp tác thông qua:
Sự chia sẻ: Các bên sẵn sàng chia sẻ rủi ro và tài nguyên khi thực hiện dự án
Sự mong đợi: Mỗi bên tham gia mong muốn dự án mình thực hiện sẽ thành công, đây chính là nền tảng của sự làm việc chung sau này
Niềm tin và sự tin tưởng: Niềm tin được tạo dựng khi được đi đôi với những hành động chắc chắn, tin cậy
Sự cam kết: Mỗi bên tham gia đồng ý thực hiện các cam kết khi tham gia dự án
Trách nhiệm: Trách nhiệm là sự thừa nhận và chấp nhận những phạm vi công việc phải hoàn thành của các bên
Đối mặt với những thử thách: Các bên tham gia phải dám đối đầu với những khó khăn, vượt qua những thách thức, cùng nhau giải quyết những bất đồng
Hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau: Các bên tham gia phải có sự hiểu biết, tôn trọng quyền hạn, trách nhiệm, sự mong đợi và phạm vi của các bên
Giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau: Kết quả của sự phối hợp là sự cố gắng và nỗ lực của tất cả các bên tham gia Sự phối hợp sẽ hiệu quả nếu các bên biết giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau
2.2.5 Lợi ích của phối hợp:
Các dự án xây dựng nảy sinh rất nhiều vấn đề cần giải quyết trong quá trình thực hiện, việc chậm trễ tiến độ thường do các nguyên nhân chính: công tác giải phóng mặt bằng khó khăn, quản lý dự án yếu kém, nhà thầu không đủ năng lực, thiết kế sai, thiếu
kinh phí, thanh quyết toán chậm… (Chan et al., 2003), sự phối hơp dựa trên nguyên tắc
cơ bản của sự cam kết, tin tưởng, tôn trọng, bình đẳng Sự phối hợp mang lại lợi ích
Trang 22cho tất cả các bên như: Giảm thiểu chanh chấp, khiếu kiện; Quản lý thời gian, chi phí, chất lượng, an toàn tốt hơn; Giải quyết vấn đề trong công việc kịp thời; Trao đổi thông tin hiệu quả; Cải thiện mối quan hệ thân thiết; Giảm chi phí quản lí; Làm gia tăng sự
đổi mới và hài lòng giữa các bên
2.3 Các nghiên cứu trước đ :
2.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới:
(Chan et al., 2003), các công ty xây dựng đã áp dụng phối hợp trong các dự án xây dựng và kết quả rất triển vọng, rõ ràng Thông qua phối hợp dự án không vượt chi phí, chậm trễ tiến độ, và xảy ra những tranh chấp Một khảo sát 78 người tham gia dự
án để chỉ ra những lợi ích quan trọng của việc phối hợp đó là: cải thiện mối quan hệ giữa các bên tham gia dự án; cải thiện thông tin liên lạc giữa các bêm tham gia; xử lí được những tình trạng khẩn cấp trong khoảng thời gian ngắn; thay đổi dự án hoặc kinh doanh
(Azlan-Shah Ali et al., 2010), nghành công nghiệp xây dựng Malaysia cạnh tranh và có nhiều rủi ro cao Số lượng các công ty xây dựng tăng vọt trong những năm gần đây bao gồm cả các công ty được thành lập ở khu vực nông thôn Những công ty nhỏ thường phải đối mặt với vấn đề về năng lực và danh tiếng khi cạnh tranh với những công ty khác Việc tăng giá nguyên vật liệu: sắt, thép, xi măng đặt ra mối đe dọa đến các công ty nhỏ gặp khó khăn về tài chính, trong khi các công ty lớn tại những thời điểm thường xuyên phải đối mặt với việc thiếu lao động có tay nghề hoặc thiếu lực lượng lao động Việc xây dựng các mối quan hệ hợp tác bằng cách bảo đảm lợi ích lẫn nhau để tất cả các bên tham gia đều đạt được mục đích của mình là một giải pháp lý tưởng để cải thiện tình trạng trên Bằng việc kiểm tra quá trình thực hiện các dự án hợp tác xây dựng ở Malaysia, liên quan đến mức độ hài lòng của ngành công nghiệp xây dựng, và những lợi ích chi phối đến quan hệ hợp tác Kết quả cho thấy phần lớn số người được hỏi đồng ý rằng, thông tin liên lạc và chức năng giữa các bên là hai nhân tố quan trọng nhất trong việc xác định thực hiện một dự án
Trang 23(Shah et al., 2011), hợp đồng đóng vai trò chi phối chủ yếu ở các dự án quy mô lớn và phức tạp Các dự án mặc dù luôn có những loại hợp đồng cụ thể và các qui định ràng buộc nhưng vẫn thất bại, nguyên nhân chính là do hợp đồng không đầy đủ (thiếu sót về phạm vi, chất lượng, chi phí, và thời gian) dẫn đến các bên không hài lòng, kiện tụng, tranh chấp và các vấn đề khác trong dự án Chỉ có sự tin tưởng và phối hợp tốt mới mang lại sự thành công trong các hợp đồng xây dựng
(Cheung, 2003), sự phối hợp yếu là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả kém trong ngành công nghiệp xây dựng Hồng Kông, tuy nhiên khi có sự phối hợp các hợp đồng hợp tác được ký kết một cách toàn diện Nghiên cứu xem xét cách hành xử của các bên khi tham gia các dự án xây dựng, đặc biệt là yếu tố tin tưởng
(Cynthia M.Ruff et al., 1996), các dự án sửa chữa hoàn thành đã chỉ ra rằng chi phí vượt trội, chậm trễ tiến độ, bất đồng là những nhân tố thường xuất hiện tại những
dự án này Để dự án được thực hiện đúng tiến độ và không vượt chi phí thì chủ đầu tư
và nhà thầu phải thường xuyên trao đổi thông tin, giải quyết vấn đề linh hoạt trong suốt quá trình thực hiện dự án
Bảng 2.1 So sánh các yếu tố chi phí, tiến độ và bất đồng khi có sự phối hợp và
không phối hợp giữa các bên trong quá trình thực hiện dự án
vượt chi phí
33% (14/42) dự án không vượt chi phí
2.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam:
(Bình, 2011), đã chỉ những nguyên nhân dẫn đến sự tăng mức đầu tư trong giai đoạn thi công của công trình giao thông ở Việt Nam trong đó một phần do chủ đầu tư
Trang 24không phối hợp chặt chẽ với tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, và nhà thầu thi công để kịp trao đổi thông tin, bàn bạc và giải quyết những vấn đề vướng mắc, phát sinh
(Long et al., 2010), việc phối hợp trong lĩnh vực xây dựng đã được cải thiện trong những năm gần đây Phương pháp mới này không chỉ áp dụng đối với các dự án xây dựng tại Việt Nam và mà còn áp dụng với các nước đang phát triển, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề nảy sinh giữa các bên khi phối hợp thực hiện dự án Phân tích nhân tố chỉ ra bảy nhân tố cơ bản tồn tại khi các bên phối hợp với nhau: năng lực không phù hợp, thiếu sự cam kết trong công việc, các bên không quen phối hợp, thông tin kém, thiếu các bên liên quan tham gia, những vấn đề bên ngoài, và sự không thỏa hiệp
(Long et al., 2010*), phát triển một mô hình sử dụng phân tích hồi qui để chỉ ra mức độ thành công khi phối hợp trong các dự án xây dựng Có 04 mức độ: sự cống hiến; làm việc theo nhóm; thẩm quyền; và sự công bằng
(Nguyễn et al., 2004), nghiên cứu những nhân tố thành công của các dự án trong các dự án xây dựng lớn tại Việt Nam, đã xác định được 05 nhân tố ảnh hưởng lớn: cam kết vì mục tiêu chung của dự án, kinh phí đầy đủ suốt dự án, nguồn lực đầy đủ, trình độ của người quản lý dự án, trình độ của ban quản lý dự án
(Tùng, 2011), các dự án hạ tầng giao thông thường có mức đầu tư lớn, thời gian thực hiện kéo dài Vì vậy, việc xây dựng hệ thống báo cáo thông tin thường xuyên nhằm kiểm soát chặt chẽ và đảm bảo mọi thiếu sót trong quá trình thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro, hệ thống báo cáo này phải được thông tin kịp thời đến các cấp quản lý có trách nhiệm
Các nghiên cứu trên chỉ ra sự cần thiết phối hợp giữa các bên trong quá trình thực hiện dự án xây dựng Thông qua sự phối hợp: chủ đầu tư, tư vấn, nhà thầu chính, nhà thầu phụ và các nhà cung cấp tạo nên một nhóm dự án để cùng phát triển các mối quan hệ cam kết hợp tác, chia sẻ vì mục tiêu chung, trao đổi thông tin hiệu quả và giải quyết vấn đề nhanh chóng Những nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở việc nhận dạng các yếu tố dẫn đến sự thành công của dự án mà chưa đi sâu vào việc phân tích mối quan hệ của các bên Đề tài sẽ ứng dụng công cụ phân tích mạng xã hội (SNA) để phân tích và
Trang 25đo lường mối quan hệ của các bên trong quá trình thực hiện một dự án xây dựng cụ thể dựa trên các mặt: trao đổi thông tin và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong công việc
2.4 Phân tích mạng xã hội (Social network analysis):
2.4.1 Lịch sử phát triển của phân tích mạng xã hội (SNA):
(Freeman, 2011), phân tích mạng xã hội hiện đại được giới thiệu bởi bác sĩ tâm thần Jacob L Moreno, và nhà tâm lý học Helen Jennings Họ tiến hành nghiên cứu một nhóm tù nhân của một nhà tù và sau đó là nhóm nữ sinh trong một trường giáo dưỡng Moreno và Jennings đã đặt tên cho phương pháp này là “Phương pháp đo lường các quan hệ xã hội theo nhóm” Ban đầu, phương pháp này thu được nhiều hiệu quả đối với các nhà tâm lý học và xã hội học của Mỹ Tuy nhiên, nó chỉ được áp dụng trong một khoảng thời gian ngắn, vào những năm 1940 các nhà khoa học xã hội Mỹ nhất đã quay trở lại với phương pháp truyền thống “tập trung vào đặc điểm của các cá nhân”
Trong cùng khoảng thời gian này, nhà nhân chủng học W Lloyd Warner (Đại học Harvard) tiếp cận phương pháp mạng xã hội Các tiếp cận này hoàn toàn độc lập với Moreno và Jennings Warner thiết kế môn học "thiết kế mạng dây dẫn trong phòng", một thành phần mạng xã hội về nghiên cứu năng suất lao động trong nghành công nghiệp điện Ngoài ra, ông và các đồng nghiệp cũng tiến hành nghiên cứu mạng
xã hội ở hai thành phố Yankee và Deep South, Mỹ Tuy nhiên những người như Warner không thể làm lay động được nhiều sự quan tâm như Moreno và Jennings đã làm Khi Warner chuyển đến Đại học Chicago năm 1935, thì các nghiên cứu tiếp tục của Đại học Harvard cũng không còn
Phiên bản thứ ba của phân tích mạng xã hội xuất hiện năm 1936, khi nhà tâm lý học người Đức, Kurt Lewin và sinh viên của ông cùng nhau phát triển một cấu trúc quan điểm dẫn đường cho các nghiên cứu về mạng xã hội trong lĩnh vực tâm lý
Đến năm 1970, mười sáu trung tâm nghiên cứu mạng xã hội xuất hiện, tuy nhiên các trung tâm này đã không thành công trong việc cung cấp một mô hình chung cho phương pháp nghiên cứu mạng xã hội Cho đến khi, Harrison C White cùng với sinh
Trang 26viên của ông tại Đại học Harvard đã tổng quát cấu trúc mô hình để trao đổi thông tin và đưa ra nhiều học thuyết quan trọng về mạng xã hội Vào cuối những năm 1970, phân tích mạng xã hội đã được công là một nghành khoa học xã hôi
Bảng 2.2 Các trung tâm nghiên cứu mạng xã hội trong giai đoạn 1940-1969
Michigan State Nông thôn học Charles P Loomis
Chicago Sinh học – Toán học Nicolas Rashevsky Mỹ
Columbia Xã hội học Paul Lazersfeld
Iowa State Trao đổi thông tin Everett Rogers Mỹ
MIT Khoa học chính trị Ithiel de Sola Pool
Syracuse Sức mạnh cộng đồng Linton C Freeman
Morris H Sunshine
Mỹ
Đến năm 1980, phân tích mạng xã hội được thành lập trong nhiều lĩnh vực, với một tổ chức chuyên nghiệp (INSNA), hội nghị thường niên (Sunbelt), phần mềm chuyên dụng (ví dụ, UCINET) và tạp chí riêng của mình (mạng xã hội) Trong những năm 1990, phân tích mạng thâm nhập vào nhiều lĩnh vực bao gồm cả vật lý và sinh
Trang 27học Bên cạnh đó, phân tích mạng cũng được áp dụng vào một số lĩnh vực ứng dụng như tư vấn quản lý (cách quản lý và chia sẻ kiến thức và quan hệ của các thành viên trong nhóm), y tế công cộng (ngăn chặn sự lây lan của bệnh truyền nhiễm, chăm sóc sức khỏe cộng đồng), và tội phạm (mối quan hệ giữa các cá nhân trong mạng lưới tội phạm) (Borgatti, 2009)
(Chinowsky, 2008), các phương pháp phân tích mạng gần đây đang nhận được
áp dụng nhiều trong lĩnh vực kỹ thuật và xây dựng Trong đó các khái niệm về sự tin tưởng và trao đổi thông tin giữa các bên tham gia dự án đang nhận được những sự chú
ý đáng kể Các dự án xây dựng là những hệ thông không ổn định, bất kì những thay đổi ban đầu nào cũng sẽ ảnh hưởng đến thành công của dự án Việc liên hệ giữa phương pháp phân tích xã hội truyền thống và nâng cao việc thực hiện dự án là động lực cho việc mở rộng khái niệm về mạng vào khu vực của các nhóm dự án cao cấp trong đó mỗi dự án xây dựng là sự kết hợp giữa sự tương tác trong xã hội và sự hợp tác trong dự
án
2.4.2 Khái niệm phân tích mạng xã hội (SNA):
Trong những năm gần đây, SNA nổi lên như là một phương pháp nghiên cứu quan trọng, thu được nhiều kết quả trong các lĩnh vực khoa học xã hội như: nhân chủng học, sinh học, truyền thông, kinh tế, địa lý, công nghệ thông tin, tâm lý xã hội, xã hội học, và trở thành một chủ đề phổ biến trong học thuật và nghiên cứu
(Izquierdo et al., 2006), thuật ngữ mạng có những ý nghĩa khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau Trong các ngành khoa học xã hội, mạng thường được định nghĩa như là một tập hợp các đối tượng (hoặc các tác nhân, các nút, các điểm, các đỉnh) có thể có những mối quan hệ (hoặc liên kết) với nhau (hình 2.1) Mạng có thể có ít hoặc nhiều đối tượng, và có thể có một hoặc nhiều loại quan hệ giữa các cặp đối tượng Mạng mô tả cho một loại quan hệ duy nhất giữa các đối tượng được gọi là mạng đơn, trong khi mạng mô tả nhiều hơn một quan hệ được gọi là mạng kép
Trang 28Hình 2.1 Mạng có hướng đơn giản (trích Izquierdo et al., 2006)
C
BA
Mỗi liên kết hoặc mỗi mối liên hệ thường có hướng tức là bắt nguồn từ một đối tượng gốc và đi đến một đối tượng mục tiêu Sự liên kết được thể hiện bằng các mũi tên (hình 2.1), và các mắt xích liên kết được thể hiện bằng các đoạn thẳng Các liên kết này có thể thay đổi (ví dụ A liên kết đến B và B liên kết đến A), đối với những liên kết như vậy có thể được biểu diễn bằng một mũi tên hai đầu Các liên kết có thể có độ lớn hoặc có trọng số khác nhau Những độ lớn này này có thể là các số nhị phân (đại diện cho sự hiện diện hay vắng mặt của một liên kết), dấu hiệu (đại diện cho một liên kết tiêu cực, liên kết tích cực, hoặc không có liên kết), thứ tự (đại diện cho liên kết mạnh nhất, mạnh tiếp theo, vv); hay trên giá trị (tính trên một khoảng thời gian hoặc thang đo
tỷ lệ)
Phân tích mạng xã hội là xem xét mối quan hệ giữa các đối tượng (Nút – nodes)
và các quan hệ giữa các đối tượng (liên kết – ties) (Scott, 2000)
2.4.3 Mô tả dữ liệu mạng xã hội (Izquierdo et al., 2006):
Hai cách phổ biến nhất mô tả dữ liệu mạng xã hội bằng cách vẽ mạng (gragh) và
sử dụng ma trận (matrix) Hình thức phổ biến nhất của ma trận trong phân tích mạng
xã hội là một ma trận vuông với nhiều dòng (hoặc cột) Các ô của ma trận ghi lại thông tin về mối quan hệ giữa mỗi cặp đối tượng (ví dụ như trong số của chúng) Các ma trận này được đọc: hàng liên kết với cột
Hình 2.2 Hai cách mô tả dữ liệu (trích Izquierdo et al., 2006)
Trang 29Ma trận đơn giản và phổ biến nhất là theo dạng nhị phân Có nghĩa là, nếu một mối quan hệ hiện diện, một giá trị 1 được nhập vào trong ô, nếu không có mối quan hệ, một giá trị 0 được nhập vào Loại ma trận được gọi là ma trận liền kề (adjacency matrix) Ma trận liền kề là cực kỳ hữu ích để tiến hành phân tích các hình thức khác nhau của đồ thị
2.4.4 Đặc tính của mạng v các đối tƣợng (Izquierdo et al., 2006)
2.4.4.1 Kích thước mạng (size of network)
Kích thước của một mạng có thể được xác định về số lượng các nút của mạng (Hanneman, 2005), hoặc theo số cạnh trong mạng Mạng hình 2.2 có số nút = 3, số cạnh = 4
Mật độ của một mạng có thể cung cấp cho cái nhìn sâu hơn vào các hiện tượng như tốc độ khuếch tán thông tin giữa các nút, hoặc các đối tượng có mức độ cao về các mối quan hệ Đôi khi nó cũng được dùng như một biện pháp đo lường khả năng kết nối của mạng
Trong mạng hình 2.2: Số liên kết thực tế = 4; số liên kết có thể có trong mạng
có hướng n×(n-1) = 3×(3-1)=6 Vậy mật độ của mạng là = 4/6
2.4.4.3 Mức độ của các đối tượng (degree of actors)
Trong một mạng vô hướng, mức độ của một nút là số lượng các liên kết mà nút
đó có Trong mạng có hướng, cần phân biệt giữa liên kết đi vào (mức độ đi vào, degree) và các liên kết đi ra (mức độ đi ra, out-degree) Thống kê các hàng của ma trận liền kề: Tổng của các yếu tố trong hàng của nó là mức độ đi ra của nó Thống kê các cột của ma trận liền kề: Tổng của các yếu tố trong cột của nó là mức độ đi vào của nó
Trang 30in-Mức độ đi ra một đối tượng là một biện pháp đo lường sự ảnh hưởng như thế nào có thể đến các đối tượng
Hình 2.3 Tổng mức độ đi vào và đi ra một nút
ABC
2.4.5 Khái niệm về khoảng cách và các mối quan hệ (Izquierdo et al., 2006)
2.4.5.1 Khoảng cách giữa các đối tượng (distance between actors)
Khoảng cách giữa hai đối tượng là số cạnh nhỏ nhất đi từ một đối tượng này đến một đối tượng khác hay còn gọi là khoảng cách ngắn nhất giữa hai đối tượng
Nếu hai đối tượng liền kề, khoảng cách giữa chúng là 1 nghĩa là phải mất một bước (hoặc cạnh) để đi đến nó Nếu A liên kết B, B liên kết C (A không liên kết C), thì khoảng cách giữa A và C là 2 (hình 2.4)
Trang 31Ví dụ bước giữa A và C trong đồ thị thể hiện trong hình 2.5 là:
{A, B, C} chiều dài = 2;
{A, B, D, C} chiều dài = 3;
{A, B, E, D, C} chiều dài = 4;
{A, B, D, B, C} chiều dài = 4;
2.4.5.3 Đường dẫn (Paths)
Đường dẫn chính là liên kết giữa hai đối tượng Một đường dẫn là một bước trong đó mỗi đối tượng được sử dụng một lần Trường hợp ngoại lệ duy nhất cho điều này là một đường dẫn khép kín, bắt đầu và kết thúc với cùng một đối tượng
Trong hình 2.5, có một số lượng hạn chế các đường dẫn liên kết A và C: {A, B, C}, {A, B, D, C}, {A, B, E, D, C}
Chiều dài của một đường dẫn là số lượng các liên kết trong đó Chiều dài của một đường dẫn ngắn nhất giữa hai đối tượng là khoảng cách ngắn nhất giữa chúng Như vậy, khoảng cách đo được giữa A và C trong đồ thị của hình 2.5 là 2
2.4.6 Tính trung tâm (centrality)
Tính trung tâm của một nút trong mạng là một phần quan trọng trong cấu trúc của nó (ví dụ, tầm quan trọng của một người trong xã hội, tầm quan trọng của một căn phòng trong tòa nhà, hoặc tầm quan trọng của một con đường trong một mạng lưới đô thị) Có nhiều cách đo lường tính trung tâm trong mạng, tất cả đều nhằm mục đích định lượng sự nổi bật của một đối tượng trong một mạng lưới, nhưng chúng khác nhau về tiêu chuẩn sử dụng để đạt được điều đó (Izquierdo et al., 2006)
Trang 32(O’Malley et al., 2008), đo lường tính trung tâm phản ánh sự nổi bật của các đối tượng trong một mạng Đây là cách đo lường mức độ của đối tượng hầu hết được sử dụng rộng rãi bắt nguồn từ dữ liệu mạng
Có ba phương pháp để tính toán tính trung tâm của một nút: dựa trên mức độ (degree), dựa trên sự chặt chẽ (closeness) và dựa trên mối quan hệ trung gian (betweeness) Phương pháp đo lường mức độ được dựa trên ý tưởng có nhiều mối quan
hệ hơn thì sẽ quan trọng hơn Phương pháp đo lường tính chặt chẽ dựa vào việc các đối tượng cách xa nhau thì có mối quan hệ không đáng kể và giả sử các đối tượng này có thể tiếp cận đối tượng kia ở những con đường ngắn hơn Cuối cùng, khi sử dụng phương pháp đo lường mối quan hệ trung gian, một đối tượng nằm ở trung tâm và nằm giữa các đối tượng khác, (Izquierdo et al., 2006)
2.4.6.1 Mức độ trung tâm (degree centrality)
Đối tượng có nhiều mối quan hệ với các đối tượng khác có thể chiếm ưu thế so với các đối tượng khác và có nhiều cách khác nhau để giải quyết những vấn đề Do vậy, biện pháp rất đơn giản nhưng hiệu quả khi đo lường mức độ trung tâm của đối tượng là đo lường mức độ của đối tượng đó
Trong mạng vô hướng, các đối tượng này chỉ khác với những đối tượng khác ở
số lượng kết nối mà chúng có Với mạng có hướng, cần phân biệt giữa mức độ đi vào
và mức độ đi ra Nếu một đối tượng nhận được nhiều mối quan hệ, chúng được xem là nổi bật (hoặc có uy tín cao) và có nhiều đối tượng khác tìm cách hướng những quan hệ
về chúng, đây có thể là một chỉ dẫn quan trọng Những đối tượng với mức độ bên ngoài cao bất thường có thể làm ảnh hưởng đến nhiều đối tượng khác, hoặc làm cho những đối tượng khác nhận ra sự ảnh hưởng của các đối tượng đó Như vậy, các đối tượng có mức độ đi ra cao thường gọi là những đối tượng có sức ảnh hưởng, (Izquierdo
et al., 2006)
(Wasserman et al., 1994), giả sử cho một đồ thị: G = (V, E) với n đỉnh
+ Mức độ trung tâm của đỉnh ni là:
Trang 33Với: n là số đỉnh ; deg(ni):Mức độ của nút ni (xem mục 3.2.3.3)
Hình 2.6 Mạng vô hướng và ma trận liền kề tương ứng (với nút A là nút trung
tâm, trong khi nút B là nút yếu nhất)
A B
2.4.6.2 Mối quan hệ chặt chẽ trung tâm (closeness centrality)
Các biện pháp đo lường mức độ trung tâm có thể bị chỉ trích bởi vì chỉ xem xét trực tiếp các mối quan hệ mà một đối tượng có hơn là mối quan hệ gián tiếp với tất cả các đối tượng khác Mục đích của phương pháp đo lường sự chặt chẽ nhằm cải thiện việc xem xét các khoảng cách từ mỗi đối tượng này đến các đối tượng khác, (Izquierdo
et al., 2006)
Trang 34Đo lường mối quan hệ chặt chẽ trung tâm bằng cách sử dụng khoảng cách ngắn nhất giữa hai đối tượng là nghịch đảo của tổng khoảng cách ngắn nhất từ đối tượng đó đến tất cả các đối tượng khác trong đồ thị
(Wasserman et al., 1994), giả sử cho một đồ thị: G = (V, E) với n đỉnh
Mối quan hệ chặt chẽ trung tâm của đỉnh ni là:
1d(n , n )
+ Nút E có: d(E,A)=1; d(E,B)=2; d(E,C)=2; d(E,D)=1
- Vậy mối quan hệ chặt chẽ trung tâm tiêu chuẩn của:
Trang 352.4.6.3 Mối quan hệ trung gian trung tâm (betweeness centrality)
Mối quan hệ trung gian trung tâm nghĩa là khi một đối tượng ở giữa, các đối tượng khác làm cho đối tượng đó trở nên mạnh hơn Bởi vì đối tượng đó có thể kiểm soát luồng thông tin giữa chúng Các nút với mối quan hệ trung gian cao thường được gọi là đối tượng then chốt
Hình 2.7 Mạng vô hướng Nút B và I có các mối quan hệ trung gian lớn hơn các
Tính trung gian của nút i là tỉ lệ giữa tổng số đường dẫn ngắn nhất giữa hai nút
j, k trong mạng mà i nằm trên đó và tổng số đường dẫn ngắn nhất qua hai nút j, k đó Theo đó, các nút xuất hiện trên nhiều đường dẫn ngắn nhất giữa các nút khác nhau có tính trung gian cao hơn so với các nút không có
(Wasserman et al., 1994), giả sử cho một đồ thị: G = (V, E) với n đỉnh
Mối quan hệ trung gian trung tâm của đỉnh ni là:
Trang 36Hình 2.8 Mạng vô hướng với nút B có mối quan hệ trung gian lớn nhất và ma
trận đường dẫn ngắn nhất qua hai nút
B-C -
D-C-B D-E-B
D-C-B-A D-E-B-A
Trong hình 2.8:
* Nút A có mối quan hệ trung gian CB(A) = 0 (vì A không là nút trung gian)
* Nút B nằm trên đường dẫn ngắn nhất qua 2 nút: A và C; A và D; A và E; C và E
2.4.6.4 Độ lệch tâm trung tâm
Đối với mỗi đối tượng, chúng ta có thể tính toán khoảng cách ngắn nhất kij từ đối tượng i đến các đối tượng j Độ lệch tâm trung tâm của một nút i là đại lượng lớn nhất giữa kim (từ đối tượng i đến đối tượng m) và kin (từ đối tượng i đến đối tượng n)
EC (ni) = Max(kim , kin )
Độ lệch tâm trung tâm tiêu chuẩn là :
EC’ (ni) = EC (ni)/(n-1) Với : n là số đỉnh
Ví dụ trên hình 2.8:
- Nút A : KAB = 1, KAC = 2, KAD = 3, KAE = 2
Trang 37+ Độ lệch tâm trung tâm của nút A là:
EC (A) = max (KAB, KAC, KAD, KAE) = 3 + Độ lệch tâm trung tâm tiêu chuẩn của nút A là: EC’ (A) = 3/4 = 0.75
- Tương tự: EC’(B) = 0.5 ; EC’(C) = 0.5; EC’(D) = 0.75; EC’(E) = 0.5
2.4.7 Tại sao sử dụng phân tích mạng xã hội (SNA):
Hình 2.9 Sơ đồ đại diện cho một bộ phận sản xuất của một công ty dầu khí lớn (trích
Cross et al., 2001) Exploration & Production
Senior Vice President Jones
Exploration Drilling Production
Williams Taylor
Jones Cole
Moore Ramirez
Production O'Brien
Reaservolr Shapiro
Smith Andrews Moore Paine
Nếu muốn hiểu rõ nhiệm vụ của các thành viên trong một dự án, thông qua sơ đồ
tổ chức có thể tìm ra người có vị trí cao nhất Người này được trao quyền để đưa ra những quyết định hoặc xem xét chức năng của từng công việc sẽ được phân chia như thế nào Tuy nhiên trong sơ đồ tổ chức, thật khó để biết dự án đó làm việc như thế nào
Xem xét sơ đồ đại diện cho một bộ phận sản xuất của một công ty dầu khí lớn như hình 2.9 Nhà quản lý cấp cao muốn biết nhóm này đang chuẩn bị chia sẻ kiến thức
vể công tác khoan như thế nào vì thế họ dùng phân tích mạng xã hội (SNA) Trong sơ
đồ tổ chức, có thể dễ dàng nhận thấy Jones là người quản lý cao nhất của nhóm, trong
Trang 38khi Cole chỉ là nhân viên có vai trò thấp hơn rất nhiều Tuy nhiên phân tích mạng xã hội (SNA) đã chỉ ra rằng có một sự tương phản với sơ đồ tổ chức, những người quản lí cấp trung và Cole đều đóng vai trò then chốt trong mạng trao đổi thông tin trong nhóm Cole không chỉ kết nối với nhiều người, là trung tâm của nhóm mà anh ta còn kết nối với cả những người ở cấp cao hơn, đây chính là những người đại diện cho sản xuất và
là điểm tựa của nhóm
Thông qua cuộc phỏng vấn thêm với những người quan trọng trong nhóm, bao gồm cả Jones Rõ ràng Jones đã bị loại bỏ khỏi công việc hàng ngày của nhóm Sự thiếu vắng Cole trong nhóm dẫn đến công việc chậm trễ, điều này đã tác động không nhỏ đến công việc của nhóm Nếu không có phân tích mạng xã hội (SNA), thì sự thiếu vắng Jones và vai trò quan trọng của Cole trong nhóm có thể không được chú ý Sau khi dùng phân tích mạng xã hội (SNA), nhà quản lý cấp cao có thể xem xét bộ phận sản xuất hoạt động như thế nào
2.4.8 Các nghiên cứu trước đ về phân tích mạng xã hội (SNA) trong xây dựng:
(Mead, 2001), thông tin về các dự án ngày càng trở nên phức tạp: về công nghệ, các bên liên quan… Việc việc trao đổi thông tin hiệu quả sẽ giúp cho dự án thành công, tuy nhiên vấn đề này liên quan đến con người và trao đổi thông tin là một vấn đề rất khó đo lường mức độ Nghiên cứu trình bày một phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học xã hội để phân tích và đo lường việc trao đổi thông tin xảy ra như thế nào giữa các cá nhân và nhóm, đó là phân tích mạng xã hội (SNA)
(Swan et al., 2001), cho rằng sự tin tưởng quyết định sự thành công của dự án Việc đánh giá mức độ tin tưởng giữa các cá nhân làm việc cùng nhau trong các dự án xây dựng hay các bên tham gia dự án thông qua công cụ Social network analysis (SNA) SNA cung cấp một số phương pháp phân tích để phân tích cấu trúc (structural)
và các mối quan hệ (links) giữa các bên trong dự án Các khái niệm về khoảng cách (distance), xu hướng tập trung (centrality) thể hiện vai trò và sự tham gia của các bên tham gia trong mạng lưới; nhóm (clique), cụm hoặc lõi (cluster or cores) cho thấy các
cá nhân hoặc nhóm cá nhân hoạt động trong mạng lưới dự án
Trang 39(Park et al., 2009), xây dựng hiện nay đang có những bước phát triển to lớn do
sự toàn cầu hóa của thế giới, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ truyền thông và
sự mở rộng của khu vực thương mại khối tự do Tại Hàn Quốc, do sự suy thoái của thị trường xây dựng trong nước nên các công ty xây dựng đã mở rộng sang thị trường các nước khác trong một thập kỷ qua Để làm giảm rủi ro trong quá trình mở rộng, các công ty xây dựng Hàn Quốc đã tìm cách hợp tác với nhau Nghiên cứu tập trung vào việc hình thành mạng lưới cộng tác của các nhà thầu Hàn Quốc khi thâm nhập thị trường nước ngoài Phân tích mạng xã hội (SNA) được sử dụng để xem xét một loạt các mô hình hợp tác và tác động của chúng dựa vào sự thực hiện các dự án Dữ liệu thu thập từ 389 dự án ở nước ngoài được thực hiện bởi các công ty xây dựng Hàn Quốc từ năm 1990 dựa vào qui mô của các công ty, cách thức hợp tác, và công nghệ thi công Kết quả của phân tích SNA cho thấy một loạt các xu hướng của mạng lưới hợp tác khi thực hiện dự án trong các điều kiện rủi ro
(Yang et al., 2011), nghiên cứu tập trung vào việc xác định thiếu sót của các nghiên cứu trước đây về quản lý các bên liên quan: quá trình quản lý các bên liên quan, phương pháp quản lý các bên liên quan và quản lý mối quan hệ các bên liên quan Dựa trên kinh nghiệm, một danh sách quản lý hiệu quả được đề xuất, và sử dụng phân tích mạng xã hội (SNA) để xác định ảnh hưởng của các bên liên quan về việc ra quyết định Những phát hiện này là tài liệu tham khảo ban đầu để hướng tới cách tiếp cận có hệ thống phương pháp quản lý các bên liên quan
(Ruan et al., 2011), phân tích mạng xã hội (SNA) đã được áp dụng trong nghiên cứu quản lý xây dựng tại Anh và có xu hướng áp dụng trong một quy mô lớn Phân tích mạng xã hội đã được sử dụng như một công cụ hiệu quả để phân tích thông tin và dòng chảy kiến thức giữa các nhóm dự án xây dựng, là nền tảng của sự hợp tác và cải thiện quá trình thực hiện Phân tích mạng xã hội dựa trên một giả định về sự quan trọng của mối quan hệ giữa các đơn vị tương tác Quan điểm của mạng xã hội bao gồm các lý thuyết, mô hình và ứng dụng được thể hiện bằng các khái niệm hoặc qui trình Sự thành công hay thất bại của các tổ chức thường phụ thuộc vào sự phối hợp trong chính
Trang 40nội bộ của tổ chức đó Nghiên cứu này xem xét các tài liệu hiện có dựa trên các ứng dụng SNA trong ngành công nghiệp xây dựng tại Anh Từ việc xem xét, nghiên cứu đề xuất một số cải tiến trong việc áp dụng SNA trong ngành công nghiệp xây dựng