1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VẬN DỤNG một số PHƯƠNG PHÁP, kĩ THUẬT dạy và học TÍCH cực TRONG GIẢNG dạy CHƯƠNG i, PHẦN II THÀNH PHẦN HOÁ học của tế bào

28 49 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trọng diểm của đổi mới phương pháp dạy và học là chuyển mạnh từ việc nặng truyền thụ kiến thức sang việc chú trọng bồi dưỡng năng lực cho học sinh đặc biệt là năng lực sáng tạo, năng lực thực hành. Việc vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực sẽ kích thích học sinh tham gia chủ động tích cực vào quá trình nhận thức, phát huy tính sáng tạo, khả năng tự học của học sinh ... đem lại niềm vui và hứng thú cho học sinh . Qua thực tiễn giảng dạy tôi thấy rằng không có một phương pháp dạy học nào tồn tại một cách độc lập và là phương pháp tối ưu. Chính vì vậy, mỗi người giáo viên phải biết lựa chọn, phối hợp các phương pháp dạy và học một cách hợp lí, phù hợp với nội dung kiến thức, với trình độ học sinh, với điều kiện cơ sở vật chất hiện có của nhà trường và đặc biệt phải tạo điều kiện cho học sinh được phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo trong việc tìm ra kiến thức mới. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “Vận dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy chương I, phần II Thành phần hoá học của tế bào môn Sinh học 10”

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

Hiện nay với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin như Internet

có mặt khắp mọi nơi, điện thoại di động, truyền thông đa phương tiện, email kiến thức không còn là tài sản riêng của trường học, học sinh có thể tiếp nhậnthông tin từ nhiều kênh nguồn khác nhau.Việc sử dụng công nghệ mới khiến trẻ

có khả năng giải quyết vấn đề và xử lí nhiều thông tin cùng một lúc Mặt khác,trước sự yêu cầu phát triển kinh tế của xã hội là: người lao động phải sáng tạo,

có kiến thức và có khả năng mang tính chuyên nghiệp; người lao động khôngchỉ đơn thuần kiến thức mà còn là năng lực giải quyết các vấn đề Chính từnhững yêu cầu trên đã buộc ngành giáo dục nói chung và mỗi giáo viên nóiriêng phải đổi mới cách dạy và học cho phù hợp với thực tiễn đòi hỏi phát triểncủa xã hội và đặc điểm tâm sinh lí của học sinh

Trọng diểm của đổi mới phương pháp dạy và học là chuyển mạnh từ việcnặng truyền thụ kiến thức sang việc chú trọng bồi dưỡng năng lực cho học sinhđặc biệt là năng lực sáng tạo, năng lực thực hành Việc vận dụng phương pháp

và kĩ thuật dạy học tích cực sẽ kích thích học sinh tham gia chủ động tích cựcvào quá trình nhận thức, phát huy tính sáng tạo, khả năng tự học của học sinh đem lại niềm vui và hứng thú cho học sinh

Qua thực tiễn giảng dạy tôi thấy rằng không có một phương pháp dạy họcnào tồn tại một cách độc lập và là phương pháp tối ưu Chính vì vậy, mỗi ngườigiáo viên phải biết lựa chọn, phối hợp các phương pháp dạy và học một cáchhợp lí, phù hợp với nội dung kiến thức, với trình độ học sinh, với điều kiện cơ sởvật chất hiện có của nhà trường và đặc biệt phải tạo điều kiện cho học sinh đượcphát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo trong việc tìm ra kiến thứcmới

Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “ Vận dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy chương I, phần II - Thành phần hoá học của tế bào môn Sinh học 10 ”

2 Tên sáng kiến

Trang 2

7 Mô tả bản chất của sáng kiến

* Về nội dung của sáng kiến

7.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

Học sinh lớp 10 mới chuyển từ môi trường học tập cấp trung học cơ sởlên môi trường học tập ở cấp trung học phổ thông còn nhiều bỡ ngỡ, phươngpháp học và cách thức tự học cũng như việc tự sàng lọc kiến thức có nhiều hạnchế Hơn nữa, ở cấp II các em chủ yếu chú trọng học các môn Văn, Toán vànhững môn thi vào cấp III như Lý, Sử, Anh nên kiến thức môn sinh học bị hổngrất nhiều; Phần lớn học sinh quen với việc ôn luyện và học theo kiểu đọc chép,ghi nhớ thuộc lòng bởi mục đích thi cử nên cần thiết phải hình thành thói quenhọc tập tự giác và tích cực và chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức nhằm nângcao hiệu quả dạy và học

Kiến thức trong chương trình sinh học 10 nói chung và phần thành phầnhoá học của tế bào nói riêng vừa mang tính khái quát hóa và trừu tượng hóa khácao, hơn thế nữa có nhiều đơn vị kiến thức liên quan đến kiến thức hoá học màphần lớn các em lại hổng kiến thức môn này nên việc nghiên cứu kiến thức,chuẩn bị bài giảng của giáo viên đòi hỏi có sự chuẩn bị kĩ càng và lựa chọnphương pháp dạy học phù hợp mới phát huy được tính tích cực, chủ động vàsáng tạo trong quá trình học tập của học sinh

Nhiều học sinh hiện nay chỉ chú tâm và đầu từ thời gian cho việc học cácmôn sau này các em sẽ thi vào các trường Đại học mà coi môn Sinh học là mộtmôn học phụ và tỏ ra thờ ơ với môn học, có những em chưa một lần biết đến cácthông tin trong sách giáo khoa viết gì, thực hiện nhiệm vụ học tập hời hợt Bêncạnh đó một bộ phận học sinh có chú tâm học nhưng khả năng tư duy, tổng hợp

Trang 3

kiến thức lại bị hạn chế bởi khả năng của các em Đây là một khó khăn mà hầuhết giáo viên ở các trường phổ thông gặp phải khi thực hiện đổi mới phươngpháp dạy học và trong việc muốn nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Sinhhọc

Đổi mới phương pháp dạy và học đã đang được thực hiện trong mỗi nhàtrường nhưng không phải giáo viên nào cũng hiểu đúng và áp dụng thành thụccác phương pháp, kĩ thuật dạy học mới nên không phát huy được tính tích cực,chủ động, sáng tạo và đem lại hứng thú cho học sinh nên các em dễ bị chán mônhọc

Để thực hiện mục đích đổi mới phương pháp dạy học, trong quá dạy họcsinh học nói chung và dạy sinh học 10 nói riêng, giáo viên phải kết hợp nhiềuphương pháp mới đem lại hiệu quả tốt Bằng phương pháp và kĩ thuật dạy họctích cực, giáo viên có thể giúp học sinh giải mã được kiến thức trong sách giáokhoa bằng các ngôn ngữ riêng như: sơ đồ, bảng biểu, phiếu học tập, thínghiệm Do đó học sinh vừa chủ động lĩnh hội kiến thức vừa nhớ lâu hơn, khảnăng vận dụng sáng tạo hơn và kích thích được hoạt động tích cực học tập củahọc sinh

7 2 Một số phương pháp, kĩ thuật dạy và học tích cực (Theo tài liệu Dạy và

học tích cực Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm – Tổ chức biên soạn:Ban quản lí dự án Việt – Bỉ)

7 2.1 Khái niệm phương pháp, kĩ thuật dạy và học tích cực

7.2.1.1 Phương pháp dạy và học tích cực

Thuật ngữ “Phương pháp dạy và học tích cực”được dùng để chỉ nhữngphương pháp giáo dục/dạy học nhằm phát huy tính tính cực, chủ động, sáng tạocủa người học

Phương pháp dạy học tích cực đề cập đến các hoạt động dạy và học nhằmtích cực hóa hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học Trong

đó các hoạt động học tập được tổ chức, được định hướng bởi giáo viên, ngườihọc không thụ động, chờ đợi mà tự lực, tích cực tham gia vào quá trình tìmkiếm, khám phá, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức dể giải quyết vấn đềtrong thực tiến, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực

Trang 4

khác nhau nhằm tích cực hóa, tăng cường sự tham gia của người học tạo điềukiện cho người học, phát triển tối đa khả năng học tập, năng lực sáng tạo, nănglực giải quyết vấn đề.

7.2.1.2 Kĩ thuật dạy và học tích cực

Kĩ thuật dạy học là biện pháp, cách thức tiến hành các hoạt động dạy họcdựa vào các phương tiện thiết bị nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả giảngdạy và giáo dưỡng hay có thể nói cách khác đó là cách thức hoạt động dạy học,

tổ chức hoạt động giáo dưỡng để bảo đảm hiệu quả, chất lượng giảng dạy

Kĩ thuật dạy học tích cực là những kĩ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệttrong việc phát huy sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình dạy học,kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của học sinh

Có rất nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy và học khác nhau mà người giáoviên có thể sử dụng trong quá trình giảng dạy để phát huy tính tích cực của họcsinh Trong đề tài này chỉ mới đề cập đến một số phương pháp, kĩ thuật dạy họctích cực thường xuyên sử dụng trong giảng dạy Sinh học như: kĩ thuật 5W1H, kĩthuật đặt câu hỏi, kĩ thuật sơ đồ tư duy, kĩ thuật khăn phủ bàn; phương pháp dạyhọc đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học hợp tác

7.2.2 Một số phương pháp dạy và học tích cực

7.2.2.1 Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề

a Thế nào là dạy học đặt và giải quyết vấn đề?

Dạy học đặt và giải quyết vấn đề là sự lĩnh hội tri thức diễn ra thông quaviệc tổ chức cho học sinh hoạt động đặt và giải quyết các vấn đề Sau khi giảiquyết vấn đề học sinh sẽ thu nhận được kiến thức mới, kĩ năng mới hoặc thái độtích cực

b Quy trình của phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề:

* Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức

- Tạo tình huống có vấn đề

- Phát triển và nhận dạng vấn đề nảy sinh

- Phát biểu vấn đề cần giải quyết

* Giải quyết vấn đề dặt ra

- Đề xuất các giả thuyết

Trang 5

- Lập kế hoạch giải quyết vấn đề

- Thực hiện kế hoạch

* Kết luận

- Thảo luận kết quả và đánh giá

- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu

- Kết quả dạy học đặt và nêu vấn đề: Kiến thức/kĩ năng được hình thành ởhọc sinh một cách sâu sắc, vững chắc Nhưng quan trọng hơn là học sinh biếtcách chủ động chiếm lĩnh kiến thức và đánh giá được kết quả học tập của bảnthân và người khác Thông qua đó các năng lực cơ bản được hình thành trong đó

có năng lực vận dụng tri thức để gải quyết vấn đề thực tiến một cách linh hoạt vàsáng tạo

* Ví dụ 1: Khi giảng dạy mục II, Bài Các nguyên tố hoá học và nước Sau

khi cho học sinh tìm hiểu kiến thức tính chất vật lí và hoá học của nước giáo viên cho học sinh nghiên cứu sách giáo khoa và đặt câu hỏi có vấn đề:

Trang 6

- Ở thể rắn hay thể lỏng thì nước đều có cấu tạo là H2O nhưng tại sao trênnhững con sông ở vùng lạnh nước lại có thể biến thành thể rắn và nổi lên trênmặt nước?

Để trả lời câu hỏi này, học sinh phải thấy được điểm khác biệt trong cấutrúc của nước đá và nước thường (mật độ, khoảng cách các phân tử nước ) Từđây học sinh rút ra được là nước đá ở thể rắn, nhẹ nên có thể nổi lên trên mặtnước Câu hỏi này sẽ kiểm tra được khả năng áp dụng những thông tin đã thuđược từ kiến thức tính chất hoá học của nước và hình vẽ 3.2 vào tình huống mới

- Vậy, điều gì sẽ xảy ra nếu ta đưa các tế bào sống vào ngăn đá của tủlạnh?

- Tại sao người ta thường bảo quản rau, quả tươi trong ngăn mát màkhông để trong ngăn đá của tủ lạnh?

- Tại sao nguồn nước ngọt trên trái đất của chúng ta là vô tận nhưng hiện nay có nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có nước ta lại đang bị thiếu khá nghiêm trọng?

- Theo em chúng ta phải làm gì để khắc phục vấn đề thiếu nước ngọt hiện nay?

Với các câu hỏi trên vừa kích thích tư duy sáng tạo của học sinh vừa triểnkhai các ý tưởng vào tình huống thực tế đồng thời giúp học sinh cón hững suynghĩ vượt khỏi khuôn khổ của tình huống hiện tại

* Ví dụ 2: Khi giảng dạy mục I – Cấu trúc của prôtêin bài prôtêin, có thể dặt câu

hỏi vấn đề như sau:

- Vì sao hằng ngày chúng ta cần phải ăn thịt, trứng, cá, sữa?

Sau khi học sinh trả lời, giáo viên chốt: các loại thức ăn trên chứa nhiều dưỡngchất quan trọng cung cấp cho cơ thể chúng ta, đặc biệt là thành phần prôtêin

- Vậy, prôtêin có cấu trúc như thế nào? Để trả lời câu hỏi này, GV gợi ýhọc sinh bằng các câu hỏi nhỏ và đồng thời chiếu hình ảnh minh hoạ:

+ Đơn phân của prôtêin có cấu tạo như thế nào?

+ Các axit amin liên kết với nhua như thế nào để tạo thành chuỗipôlipeptit (cấu trúc bậc 1)?

+ Chuỗi polipeptit sẽ tiếp tục được biến đổi như thế nào để hình thành cấutrúc bậc 2, bậc 3 và bậc 4?

+ Cấu trúc không gian ba chiều của prôtêin có ý nghĩa gì?

Trang 7

Với những cấu hỏi chẻ nhỏ như trên, HS sẽ tự thu nhận kiến thức, hiểu rõ đượccấu trúc của prôtêin qua kênh chữ và kênh hình mà không phải là thụ động

Sau khi HS đã hiểu rõ cấu trúc của prôtêin giáo viên tiếp tục đưa câu hỏitình huống:

- Điều sẽ xảy ra nếu như các liên kết hiđrô trong prôtêin bị phá huỷ?

Trong dạy học hợp tác, giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động trongnhững nhóm nhỏ để học sinh cùng thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong mộtthời gian nhất định Trong nhóm dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, học sinh kếthợp giữa làm việc cá nhân, làm việc theo cặp, chia sẻ kinh nghiệm và hợp táccùng nhau để giải quyết nhiệm vụ được giao

*Hoạt động hợp tác trong nhóm học sinh cần thể hiện được 5 yếu tố sau đây:

- Có sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực: kết quả của nhóm chỉ cóđược khi có sự hợp tác làm việc, chia sẻ của tất cả các thành viên trong nhóm.Mỗi thành viên hoặc cặp thành viên được giao một phần nhiệm vụ chung củanhóm kết quả của nhóm được tạo ra khi kết hợp tất cả các kết quả của các thànhviên

- Thể hiện trách nhiệm của các nhân: Mỗi cá nhân đều được phân côngtrách nhiệm thực hiện một phần công việc và tích cực làm việc để góp vào kếtquả chung Tránh tình trạng chỉ nhóm trưởng và thư kí làm việc và ý kiến đượctôn trọng còn các thành viên khác đứng ngoài cuộc, quan sát, không làm việchoặc không được sử dụng kết quả

- Khuyến khích sự tương tác: Trong quá trình hợp tác cần có sự trao đổi,chia sẻ giữa các thành viên trong nhóm để tạo thành ý kiến chung của cả nhóm,

Trang 8

- Rèn luyện các kĩ năng xã hội: Tất cả các thành viên đều có cơ hội để rènluyện kĩ năng như: lắng nghe tích cực, đặt câu hỏi, đưa thông tin phản hồi tíchcực, thuyết phục, ra quyết định

- Kĩ năng đánh giá: Cả nhóm học sinh thường xuyên rà soát công việcđang làm “Chúng ta đang làm thế nào?” và kết quả ra sao? Học sinh có thể đưa

ra ra ý kiến nhận định đúng hoặc sai, tốt hoặc chưa tốt để góp phần hoàn thiệncác nhiệm vụ được giao và kết quả của nhóm

Ví dụ: Khi dạy mục I, bài Cacbohidrat và Lipit giáo viên có thể chia lớp

thành 4 nhóm với nhiệm vụ học tập như sau:

Yêu cầu: Các nhóm quan sát hình vẽ về cấu trúc đường đơn, đường đôi vàđường đa Đại diện các nhóm trình bày ý kiến

Hãy quan sát hình 6.1 sách giáo khoa, tìm ý phù hợp điền vào chỗ chấm:

- Thành phần cấu tạo của ADN

- Hai mạch được liên kết

- Chiều của hai mạch

Trang 9

Qua phiếu học tập này học sinh không giúp hình thành kiến thức mới vềcấu trúc của ADN mà còn phát triển kĩ năng so sánh

7.2.2.3 Phương pháp vấn đáp ơrictic (hay vấn đáp tìm tòi, phát hiện)

Giáo viên tổ chức trao đổi ý kiến, kể cả tranh luận- giữa giáo viên với cảlớp, có khi giữa giáo viên với học sinh, thông qua đó nắm được tri thức mới Hệthống câu hỏi phải nhằm phát hiện, đặt ra và giải quyết vấn đề, buộc học sinhphải luôn cố gắng tư duy tự lực tìm lời giải đáp

Trong phương pháp này hệ thống câu hỏi của giáo viên giữ vai trò chỉđạo, quyết định chất lượng lĩnh hội kiến thức của học sinh Trật tự logic của cáccâu hỏi hướng dẫn từng bước học sinh phát hiện ra bản chất của sự vật, quy luậtcủa hiện tượng, kích thích tính tích cực tìm tòi, sự ham muốn tìm hiểu

* Ví dụ: Khi giảng dạy mục II – Bài 5: Prôtêin, giáo viên có thể nêu vấn đề:

- Nhiều nhà khoa học cho rằng: “không có prôtêin thì không có sự sống”.Tại sao?

Sau đó, giáo viên tiếp tục nêu các câu hỏi kế tiếp một cách logic để hướngdẫn học sinh học sinh trả lời Qua đó từng bước học sinh phát hiện ra bản chấtvai trò của prôtêin trong tế bào và cơ thể là gì? Hệ thống câu hỏi có thể đưa ralà:

- Trong tế bào và cơ thể prôtêin giữ những chức năng gì? Cho ví dụ minhhoạ?

- Tại sao người ta lại khuyên chúng ta cần phải ăn prôtêin từ các nguồnthực phẩm khác nhau?

- Xưa, người ta thường nói: “Bệnh gút là bệnh bệnh của người giàu” Tạisao?

Hệ thống câu hỏi đưa ra như trên không chỉ định hướng cho học sinh hiểuđược ý nghĩa của prôtêin mà còn kích thích tính tích cực tìm tòi, sự ham muốntìm hiểu của học sinh

7.2.3 Một số kĩ thuật dạy và học tích cực

Trang 10

7.2.3.1 kĩ thuật dạy học 5W1H

* Cách thực hiện kĩ thuật dạy học 5W1H

- Các câu hỏi được đưa ra theo thứ tự ngẫu nhiên hoặc theo một trật tự địnhngầm trước, với các từ khóa: cái gì, ở đâu, khi nào, thế nào, tại sao, ai

Ví dụ: Vấn đề là gì?

Vấn đề xảy ra ở đâu?

Vấn đề xảy ra khi nào?

Tại sao vấn đề lại xảy ra?

Làm thế nào để giải quyết vấn đề?

Ai sẽ tham gia giải quyết vấn đề?

Khi nào thì vấn đề giải quyết xong?

* Lưu ý

Các câu hỏi cần ngắn gọn, đi thẳng vào chủ đề

Các câu hỏi cần bám sát vào hệ thống từ khóa 5W1H (What, where, when,who, why, how)

* Ưu điểm của kĩ thuật 5W1H

- Nhanh chóng, không mất thời gian, mang tính logic cao

- Có thể áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau

- Có thể áp dụng cho cá nhân

* Hạn chế của kĩ thuật 5W1H

- Ít có sự phối hợp của các thành viên

- Dễ dẫn đến tình trạng “9 người 10 ý”

- Dễ tạo cảm giác “Bị điều tra”

* Ví dụ: Khi dạy bài axit nuclêic giáo viên có thể đặt các câu hỏi sau:

- Axit nucleic (ADN) nằm ở đâu trong tế bào?

- Đơn phân cấu trúc nên ADN là gì?

- ADN có cấu trúc như thế nào?

- Ai là người đưa ra mô hình cấu trúc không gian của ADN?

Trang 11

- Cấu trúc không gian của ADN được mô tả như thế nào?

- Tại sao A chỉ liên kết với T mà không liên kết với G hoặc X và G chỉliên kết X mà không liên kết với T hoặc A?

- Thế nào là nguyên tắc bổ sung?

- Nguyên tắc bổ sung có ý nghĩa như thế nào?

7.2.3.2 Kĩ thuật bản đồ tư duy

* Khái niệm bản đồ tư duy

- Bản đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trìnhbày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việccủa cá nhân hay nhóm về một chủ đề Lược đồ tư duy có thể được viết trên giấy,trên bản trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính

* Cách làm bản đồ tư duy

- Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề

- Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết mộtkhái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN HOA.Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu Nhánh chính đó đượcnối với chủ đề trung tâm Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên cácnhánh

- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dungthuộc nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường

- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo

* Ứng dụng của bản đồ tư duy

- Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:

- Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề;

Trang 12

* Ưu điểm của bản đồ tư duy

- Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu;

- Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng;

- Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại;

- Học sinh được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng

Ví dụ: Khi học bài các nguyên tố hoá học và nước, sau khi giáo viên và học sinh hoàn thành việc hình thành kiến thức mới từng mục thì cho học sinh tự tổnghợp kiến thức bài học bằng sơ đồ tư duy Dưới đây là một trong các sản phẩm

mà các em học sinh đã làm

Với việc tổng kết kiến thức bài học bằng sơ đồ tư duy trên cơ sở hiểu kiến thức sẽ học sinh học bài nhanh chóng, nhớ kiến thức lâu hơn đồng thời rèn được kĩ năng sơ đồ hóa kiến thức, kĩ năng tự học ở học sinh đồng thời phát huy tính sáng tạo ở học sinh

Trang 13

7 3 Thiết kế bài giảng ứng dụng phương pháp, kĩ thuật dạy và học tích cực

BÀI 5 CACBOHIDRAT VÀ LIPIT

I Mục tiêu

1 Kiến thức:

- Kể tên được các loại đường đơn, đường đôi và đường đa cũng như nguồngốc chứa chúng trong tự nhiên

- Trình bày được cấu trúc và vai trò của các loại đường trong tế bào và cơ thể

- Kể tên được các loại lipit đơn giản và phức tạp

- Trình bày được cấu trúc và vai trò của các loại lipit

2 Kĩ năng:

- Phát triển kĩ năng tổng hợp thông tin, sơ đồ hóa kiến thức, kĩ năng so sánhkiến thức

- Phát triển kĩ năng quan sát hình vẽ, nghiên cứu sách giáo khoa

- Phát triển kĩ năng lắng nghe và phản hồi tích cực; kĩ năng xã hội thông quahoạt động trao đổi nhóm học tập về cấu trúc, chức năng của cacbohidrat và lipit,câu hỏi vận dụng thực tiễn

- Hình thành kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin về sử dụng cacbohidrat vàlipit phù hợp mang lại hiệu quả tốt cho sức khoẻ của con người

- Hình thành năng lực tư duy thông qua so sánh được sự khác nhau về cấu tạocác loại hợp chất hữu cơ cấu tạo nên tế bào, qua đó thấy được sự phù hợp về cấutrúc và chức năng của các hợp chất hữu cơ trong tế bào

Trang 14

- Hình thành năng lực giải quyết vấn đề khi học sinh tranh luận về các bệnh lí,hiện tượng tích cực và không tích cực đến sức khoẻ có thể xảy ra khi sử dụnghợp lí và không hợp lí đường và lipit.

- Hình thành năng lực quản lí thời gian, quản lí nhóm, đảm nhiệm trách nhiệm,hợp tác trong hoạt động nhóm

- Phát triển năng lực giao tiếp: học sinh phát triển ngôn ngữ nói, viết thong quahoạt động thảo luận nhóm; khả năng trình bày trước đám đông

- Hình thành năng lực tự học thông qua việc tự lập kế hoạch học tập, nghiêncứu tài liệu

II Phương pháp, kĩ thuật dạy học

1 Phương pháp dạy học: Phương pháp nêu vấn đề, dạy học hợp tác

2 Kĩ thuật dạy học: kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật khăn phủ bàn

III Chuẩn bị

1 Đối với giáo viên

- Sưu tầm các hình ảnh liên quan đến nội dung bài học:

- Phân công nhiệm vụ cho học sinh, bút dạ, giấy A0

- Máy chiếu, máy vi tính

2 Hãy cho biết nguồn gốc tự nhiên của đường đơn, đường đôi và đường đa?

3 Tại sao chúng ta không nên uống nhiều và ăn nhiều đồ ngọt?

4 Vì sao người không tiêu hoá được xenlulôzơ nhưng chúng ta vẫn phải ăn rauxanh hằng ngày?

Ngày đăng: 28/01/2021, 14:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1. Hoàn thành bảng sau: - VẬN DỤNG một số PHƯƠNG PHÁP, kĩ THUẬT dạy và học TÍCH cực TRONG GIẢNG dạy CHƯƠNG i, PHẦN II THÀNH PHẦN HOÁ học của tế bào
1. Hoàn thành bảng sau: (Trang 16)
1. Hoàn thành bảng sau: - VẬN DỤNG một số PHƯƠNG PHÁP, kĩ THUẬT dạy và học TÍCH cực TRONG GIẢNG dạy CHƯƠNG i, PHẦN II THÀNH PHẦN HOÁ học của tế bào
1. Hoàn thành bảng sau: (Trang 17)
- GV chiếu hình hình ảnh một số loại đường yêu cầu HS quan sát và kết hợp thông tin SGK hoàn thành phiếu học tập. - VẬN DỤNG một số PHƯƠNG PHÁP, kĩ THUẬT dạy và học TÍCH cực TRONG GIẢNG dạy CHƯƠNG i, PHẦN II THÀNH PHẦN HOÁ học của tế bào
chi ếu hình hình ảnh một số loại đường yêu cầu HS quan sát và kết hợp thông tin SGK hoàn thành phiếu học tập (Trang 20)
HS: các nhóm quan sát hình vẽ kết hợp đọc thông tin sách giáo khoa, thảo luận thống nhất ý kiến để trả lời câu hỏi. - VẬN DỤNG một số PHƯƠNG PHÁP, kĩ THUẬT dạy và học TÍCH cực TRONG GIẢNG dạy CHƯƠNG i, PHẦN II THÀNH PHẦN HOÁ học của tế bào
c ác nhóm quan sát hình vẽ kết hợp đọc thông tin sách giáo khoa, thảo luận thống nhất ý kiến để trả lời câu hỏi (Trang 21)
hoàn thiện được bảng phân biệt - VẬN DỤNG một số PHƯƠNG PHÁP, kĩ THUẬT dạy và học TÍCH cực TRONG GIẢNG dạy CHƯƠNG i, PHẦN II THÀNH PHẦN HOÁ học của tế bào
ho àn thiện được bảng phân biệt (Trang 22)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w