1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VÀ HỢP ĐỒNG MUA LẠI TRÁI PHIẾU

28 684 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Thị Trường Trái Phiếu Và Hợp Đồng Mua Lại Trái Phiếu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 39,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo giáo trình Thị trườngchứng khoán thì trái phiếu là một loại chứng khoán nợ quy định nghĩa vụ củangười phát hành người đi vay phải trả cho người đứng tên sở hữu chứng khoánngười cho

Trang 1

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VÀ HỢP

ĐỒNG MUA LẠI TRÁI PHIẾU I.THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

1.Trái phiếu

1.1.Khái niệm và đặc điểm của trái phiếu

Hiện nay các nhà nghiên cứu tài chính tiền tệ vẫn chưa thống nhất với nhau kháiniệm trái phiếu Theo từ điển kinh tế Oxford, trái phiếu là những chứng từ hứa trảnhững khoản tiền vào những thời điểm nhất định Theo giáo trình Thị trườngchứng khoán thì trái phiếu là một loại chứng khoán nợ quy định nghĩa vụ củangười phát hành (người đi vay) phải trả cho người đứng tên sở hữu chứng khoán(người cho vay) một khoản tiền nhất định bao gồm cả gốc và lãi trong nhữngkhoảng thời gian cụ thể Tuy nhiên khái niệm về trái phiếu thường được đề cậpnhư là một cam kết của người phát hành sẽ thanh toán cho người sở hữu trái phiếunhững khoản tiền xác định bao gồm cả gốc và lãi vào những khoảng thời gian xácđịnh trong tương lai tuỳ thuộc vào phương thức trả đã được quy định khi pháthành, trái phiếu thường có mệnh giá, lãi suất và ngày đáo hạn Khi một nhà đầu tưmua trái phiếu thì có nghĩa là nhà đầu tư đó đã cho tổ chức phát hành vay tiền

Trái phiếu có thể được phát hành dưới dạng chứng chỉ vật chất hay phi vậtchất( ghi sổ hay điện tử), tuy nhiên dù theo hình thức nào thì trái phiếu đều baogỗm những thông tin sau:

Mệnh giá: là giá trị ghi trên trái phiếu mà tổ chức phát hành cam kết trả cho người

sở hữu trái phiếu và ngày đáo hạn

Trang 2

Ngày đáo hạn: là ngày mà tổ chức phát hành thanh toán số tiền theo mệnh giá chongười sở hữu trái phiếu.

Lãi suất: tổ chức phát hành cam kết sẽ thanh toán cho chủ sở hữu trái phiếu một sốtiền lãi vào một ngày xác định hoặc theo định kỳ Trái phiếu phát hành với một tỷ

lệ lãi suất danh nghĩa được xác định bởi các điều kiện thị trường tại thời điểm chàobán trái phiếu Lãi suất thường được công bố theo tỷ lệ phần trăm (%) so với mệnhgiá của trái phiếu Lãi suất có thể được quy định trả hàng năm hoặc trả định kỳ Sốtiền lãi trái phiếu hay còn gọi là trái tức có thể được tính rất dễ dàng bằng cáchnhân mệnh giá với tỷ lệ lãi suất

Giá mua: là khoản tiền thực tế mà người mua bỏ ra để có được quyền sở hữu tráiphiếu Giá mua có thể là bằng mệnh giá (ngang giá) hay cao hơn mệnh giá( giá giatăng) hay thấp hơn mệnh giá(giá chiết khấu) Tuy nhiên dù giá mua là loại nào thìtiền lãi luôn được xác định theo mệnh giá trái phiếu, và đến ngày đáo hạn, tráiphiếu được thanh toán theo mệnh giá

Kỳ hạn: Kỳ hạn của trái phiếu thường được phân thành 3 loại là ngắn hạn, trunghạn và dài hạn Trái phiếu ngắn hạn thông thường có kỳ hạn một năm trở xuống,trái phiếu trung hạn có kỳ hạn từ 1- 10 năm, trái phiếu dài hạn có kỳ hạn từ 10 nămtrở lên Kỳ hạn của bất kỳ loại trái phiếu nào cũng được xác định trong hợp đồngphát hành trái phiếu Kỳ hạn cho biết khoảng thời gian người nắm giữ trái phiếunhận được tiền lãi định kỳ vào năm trước khi khoản vay mà tổ chức phát hành phảihoàn trả tiền gốc theo mệnh giá trái phiếu Kỳ hạn trái phiếu càng dài rủi ro giá tráiphiếu thị trường biến động càng lớn

Quyền mua lại: cho phép tổ chức phát hành trái phiếu thu hồi trái phiếu và hoàn lạivới mức giá dự kiến trước thời hạn thanh toán Tổ chức phát hành sử dụng quyền

Trang 3

nàyđể bảo vệ họ không phải trả lãi suất cao hơn đối với số tiền mà họ vay Tổ chứcphát hành thu hồi trái phiếu khi tỷ lệ lãi suất trên thị trương thấp hơn lãi suất tráiphiếu của tổ chức đã phát hành trước đó và có thể phát hành trái phiếu mới với tỷ

lệ lãi suất thấp hơn

1.2 Phân loại trái phiếu

1.2.1 Phân loại theo hình thức phát hành

Theo hình thức phát hành trái phiếu được phân thành 2 loại là trái phiếu vô danh vàtrái phiếu ghi danh

Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên nghười chủ sở hữu trái phiếutrên bề mặt trái phiếu cũng như trên sổ của tổ chức phát hành Tới kỳ hạn thanhtoán trái tức, trái chủ cắt phần cuống phiếu trả lãi tương ứng đem tới tổ chức pháthành hay ngân hàng được tổ chức phát hành uỷ quyền để nhận trái tức Tới thờiđiểm đáo hạn, trái chủ trình giấy chứng nhận sở hữu trái phiếu để nhận lại tiền gốcbằng với mệnh giá Đặc điểm của trái phiếu vô danh là dễ dàng chuyển nhượng,bất kỳ người nào có trái phiếu trong tay đều có quyền được hưởng lãi và quyềnđược thanh toán trái phiếu Người sở hữu trái phiếu có thể nắm giữ trái phiếu đếnngày đáo hạn hoặc có thể bán nó trên thị trường thứ cấp trước ngày đáo hạn

Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu ghi rõ họ tên và địa chỉ người sở hữu tráiphiếu trên bề mặt trái phiếu và trong sổ của tổ chức phát hành Đặc điểm của tráiphiếu ghi danh là khó chuyển nhượng, trường hợp bị mất có thể xin cấp lại Đếnngày nhận tiền lãi đại lý công ty phát hành sẽ gửi séc trả lãi cho người sở hữu tráiphiếu

Trang 4

Trái phiếu ghi danh được chia làm 2 loại: Trái phiếu đăng ký từng phần và tráiphiếu đăng ký toàn phần.

 Trái phiếu đăng ký từng phần: tên và địa chỉ người chủ sở hữu được ghi lạivới mục đích tiếp nhận mọi văn bản thông báo và để thanh toán vốn gốc vào

kỳ đáo hạn, trái tức sẽ được nhận gửi kèm theo cuống phiếu trả lãi (như tráiphiếu vô danh)

 Trái phiếu đăng ký toàn phần: tên và địa chỉ của người chủ sở hữu được ghilại với mục đích tiếp nhận mọi văn bản thông báo và để thanh toán tiền vốnkhi đáo hạn và nhận trái tức Trái tức được thanh toánkhi có phiếu kiểm tracủa tổ chức phát hành 6 tháng một lần Một dạng phổ biến của trái phiếuđăng ký toàn phần là đăng ký trong sổ, dang này không có giấy chứng nhận

sở hữu trái phiếu mà thay vào đó là quyền sở hữu trái phiếu được thể hiệnbằng cách ghi vào trong sổ tên và địa chỉ người sở hữu

1.2.2 Phân loại theo đối tuợng phát hành

Trái phiếu được phân thành hai loại là trái phiếu chính phủ và trái phiếu côngty

1.2.2.1 Trái phiếu chính phủ:

Trái phiếu do chính phủ hoặc chính quyền địa phương phát hành nhằm mụcđích cân đối ngân sách, thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, trái phiếuloại này được bảo đảm bằng ngân sách quốc gia hoặc ngân sách của chínhquyền địa phương trong trường hợp phát hành trái phiếu chính quyền địaphương Trái phiếu chính phủ là loại trái phiếu an toàn nhất, hầu như không córủi ro vì có nguồn vốn ngân sách bảo đảm cuối cùng

Trang 5

Trái phiếu chính phủ: được chia thành 2 loại là tín phiếu kho bạc và trái phiếu

kho bạc trung và dài hạn

 Tín phiếu kho bạc: là những công cụ ngắn hạn từ một năm trở xuống, phổbiến nhất là loại 3 tháng và 6 tháng Các tín phiếu ngắn hạn là nhữngcông cụ chiết khấu

 Trái phiếu kho bạc trung và dài hạn: Trái phiếu trung hạn được phát hành

từ một năm đến mười năm, trái phiếu dài hạn được phát hành với kỳ hạn

từ mười năm đến ba mươi năm Các trái phiếu rung và dài hạn thường cómức lãi suất cố định và được trả lãi trên cơ sở một hoặc nửa năm

Trái phiếu chính quyền địa phương: là những công cụ nợ cho các chính

quyền địa phương và các cơ quan của họ phát hành để tài trợ cho các dự án

và các nhu cầu chi tiêu của chính quyền địa phương Trái phiếu chính quyềnđịa phương bao gồm các loại sau:

 Tín phiếu địa phương ngắn hạn: là loại tín phiếu có kỳ hạn 6 thánghoặc ít hơn

 Trái phiếu trách nhiêm chung (GOB): được đảm bảo bằng năng lựcthu thuế của chính quyền địa phương, tiền để trả lãi và gốc được lấy

Trang 6

1.2.2.2 Trái phiếu công ty:

Trái phiếu công ty là loại trái phiếu được phát hành bởi các công ty nhằmhuy động vốn cho đầu tư phát triển Trái phiếu công ty là một khoản vaytrong đó tổ chức phát hành là người đi vay, con người mua trái phiếu làngười cho vay Các công ty phát hành trái phiếu khi có nhu cầu huy độngvốn lớn để tài trợ cho việc mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh màkhông đủ điều kiên hoặc không muốn phát hành cổ phiếu, hoặc do chiếnlược quản lý vốn của công ty Trái phiếu công ty có thể là trái phiếu ngắnhạn (kỳ phiếu), trung và dài hạn Nhưng thông thường, khi có nhu cầu vốnngắn hạn các công ty thường vay vốn qua các ngân hàng hơn là phát hành kỳphiếu

Các loại trái phiếu công ty gồm:

 Trái phiếu có thể mua lại trước hạn: Một số công ty quy định trongtrái phiếu của họ có điều khoản cho phép công ty mua lại trái phiếutrước khi đến hạn Thông thường, công ty chấp nhận trả cho người cotrái phiếu theo giá gia tăng (tức là lớn hơn mệnh giá trái phiếu) khicông ty muốn mua lại trái phiếu đó Loại trái phiếu này mang lại cho

tổ chức phát hành một lợi thế là công ty có thể chủ động trả lại nợ nếuthấy không còn nhu cầu vay vốn nữa hoặc trong trường hợp lãi suấtthị trường xuống thấp hơn so với lúc phát hành, tức là giá trái phiếutăng lên thì công ty có thể mua lại trái phiếu mình đã phát hành theogiá thấp hơn như đã định trước và có thể phát hành đợt mới theo lãisuất thấp hơn Về phía người mua trái phiếu thì đây là một bất lợi, dovậy loại trái phiếu này thường phải bán rẻ hơn so với trái phiếu không

có đặc tính này

Trang 7

 Trái phiếu có thể chuyển đổi: Đây là loại trái phiếu có thể chuyển đổitương tự như loại cổ phiếu có thể chuyển đổi Trái phiếu chuyển đổicho phép người sở hữu nó có thể chuyển đổi sang một loại chứngkhoán nhất định, chứng khoán này có thể là cổ phiếu ưu đãi hay cổphiếu thường của công ty phát hành (thông thường là cổ phiếuthường) Nhiều công ty phát hành trái phiếu có thể chuyển đổi vì điều

đó làm cho trái phiếu trở nên hấp dẫn và dễ bán hơn Đặc tính chuyểnđổi được quy định ngay lúc phát hành trái phiếu và chỉ được chỉnh sửalại trong trường hợp tách cổ phiếu hoặc trả cổ tức bằng cổ phiếu

 Trái phiếu kèm chứng quyền: Đây là loại trái phiếu cho hip ngườimua được mua kèm theo quyền mua một số lượng cổ phiếu nhất địnhứng với số lượng trái phiếu nắm giữ với mức giá nhất định trọng mộtkhoảng thời gian xác định Cũng như trái phiếu chuyển đổi, đặc quyềnmua này được xác định ngay từ đầu khi phát hành trái phiếu Trườnghợp tách cổ phiếu hoặc trả cổ tức bằng cổ phiếu thì số lượng quyềnđược điều chỉnh lại tương tự như trên và giá trị trái phiếu phát hànhđược tính vào vốn nợ của công ty, còn giá trị của chứng quyền đượctính vào vốn cổ đông

 Trái phiếu có bảo đảm: Tổ chức phát hành thường đưa ra các tài sảnlàm vật bảo đảm cho các trái phiếu phát hành, trái chủ được bảo đảmvới độ cao trong trường hợp tổ chức phát hành không có khả năng trả

nợ bởi vì họ có một trái quyền trên tài sản thế chấp Nếu công tykhông thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì người thụ thác tài sản có quyền sởhữu tài sản nhân danh cho những trái chủ này, sau đó người thụ tháctài sản có thể thanh toán tiền và phân phát tiền cho những trái chủ này

Trang 8

 Trái phiếu thu nhập (incomes bond): Trái phiếu thu nhập là loại tráiphiếu thường do những công ty đang trong thời kỳ tổ chức lại pháthành (công ty lâm vào tình trạng phá sản) Công ty phát hành cam kếttrả vốn khi đáo hạn nhưng chỉ trả lãi nếu như có đủ thu nhập Dokhông cam kết trả lãi, trái phiếu thu nhập giao dịch với nguyên giá,bán với mức chiết khấu lớn và được xem như một dạng đầu cơ.

 Trái phiếu không có phiếu trả lãi (zero-coupon bonds): Trái phiếukhông có phiếu trả lãi là loại trái phiếu không trả lãi định kỳ Nhà đầu

tư thường mua trái phiếu này ở mức giá chiết khấu Sự tăng giá củatrái phiếu bằng mệnh giá khi đáo hạn biểu hiện cho tổng số tiền thunhập của nhà đầu tư Nếu trái phiếu không có phiếu trả lãi trước đượcgiữ cho đến thời điểm đáo hạn thì vốn đầu tư của nhà đầu tư đượctăng lên bằng mệnh giá, vì vậy sẽ không có lãi trên vốn Lãi trên vốnchỉ có thể được nếu như người nắm giữ bán trái phiếu đi trước thờiđiểm đáo hạn với giá cao hơn giá cơ bản của nó ở thời điểm bán Nếubán thấp hơn, phần chênh lệch này được coi như là phần lỗ vốn Lợisuất đáo hạn đối với trái phiếu không có phiếu trả lãi thường cao hơn

so với trái phiếu trả lãi tương ứng Tuy nhiên trên thực tế, trái phiếukhông có phiếu trả lãi thường được bán với mức chiết khấu lớn và kỳđáo hạn dài, do vậy sẽ chịu ảnh hưởng lớn bởi biến động lãi suất

 Trái phiếu seri: Là loại trái phiếu được phát hành một đợt nhưng mỗiseri có ngày đáo hạn khác nhau, theo định kỳ đều đặn cho đến khitoàn bộ đợt phát hành được hoàn trả

 Trái phiếu đầu cơ (speculative bonds hay junk bonds): là loại tráiphiếu do các doanh nghiệp có mứ đọ uy tín thấp phát hành, vì vậy loại

Trang 9

trái phiếu này có rất nhiều rủi ro và phải bán với giá thấp Thôngthường trái phiếu đầu cơ sẽ đưa ra lợi tức cao hơn các trái phiếu thôngthường khác Những nhà đầu tư sẽ yêu cầu có thu nhập cao hơn khimua trái phiếu đầu cơ vì họ phải chịu nhiều rủi ro hơn.

 Trái phiếu Euro (euro bonds): Trái phiếu châu Âu là loại trái phiếuđược giao dịch bằng ngoại tệ Những nhà đầu tư nước ngoài khi mualoại trái phiếu này phải cân nhắc băng cách dự đoán sự biến đổi tỷ giá

vì tiền lãi và vốn đầu tư phải được chuyển đổi sang ngoại tệ

2 Thị trường trái phiếu

2.1 Khái niệm thị trường trái phiếu

Là một bộ phận của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu là thị trường pháthành và giao dịch các loại trái phiếu của chính phủ, các doanh nghiệp và các tổchức khác theo quy định của pháp luật Trái phiếu được phát hành trên thị trường

sơ cấp qua nhiều phương thức khác nhau như bảo lãnh phát hành, đấu thầu Sau

đó chúng sẽ được tiến hành giao dịch trên thị trường thứ cấp Trên thị trường thứcấp, các trái phiếu được mua bán giữa các nhà đầu tư và các tổ chức đầu tư thôngqua các nhà môi giới, kinh doanh chứng khoán Thị trường trái phiếu thứ cấp đượcchia làm hai loại là thị trường Sở giao dịch và thị trường OTC.Tại thị trường nàycác nhà đầu tư có thể dễ dàng mua bán các trái phiếu trước khi tới hạn thanh toán.Thị trường Sở giao dịch: trái phiếu được giao dịch trên thị trường có tổ chức cótính lỏng cao dễ dàng chuyển sang tiền mặt Trên Sở giao dịch, kết quả yết giá vàgiao dịch được công bố trên hệ thống máy tính Hệ thống này được kết nối với cácthành viên của Sở giao dịch và các tổ chức đầu tư đồng thời được công bố ra côngchúng

Trang 10

Thị trường OTC: các loại trái phiếu không được giao dịch trên Sở giao dịch sẽđược giao dịch trên thị trường OTC Thị trường OTC bao gồm số lượng đông đảocác nhà môi giới và kinh doanh chứng khoán Những nhà môi giới và kinh doanhchứng khoán không cùng ở một nơi mà sử dụng máy tính cũng như điên thoại đểtiến hành giao dịch Các nhà môi giới khi nhận được lệnh từ khách hàng sẽ trởthành nhà tạo lập thị trường và đặt mức giá hiện tại của tất cả các chứng khoánOTC dưới hình thức của nhiều nguồn thông tin, ví dụ như hình thức truyền thôngtin điện tử và thông báo ra công chúng hàng ngày

2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường trái phiếu

Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường trái phiếu gắn liền với lịch sử hìnhthành và phát triển của thị trường chứng khoán Hình thức sơ khai của thị trườngchứng khoán đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm, vào khoảng thế kỷ 15 ở cáctrung tâm thương mại của các nước phương Tây, trong các phiên chợ hay hội chợcác thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để thương lượng mua bán trao đổihàng hoá, đăc điểm của các hoạt động này là các thương gia chỉ trao đổi với nhau

về các hợp đồng mua bán hàng hoá mà không có sự xuất hiện của bất cứ hàng hoá,giấy tờ nào Đến cuối thế kỷ 15, khu chợ riêng này đã trở thành thị trường hoạtđộng thường xuyên với những quy ước xác định có tính bắt buộc cho các cuộcthương lượng

Buổi họp đầu tiên diễn ra vào năm 1453 tại một lữ quán của gia đình Vanber,thành phố Bruges, Vương quốc Bỉ.Trước lữ quán có một bảng hiệu vẽ hình 3 chiếctúi da và chữ Bourse Ba túi da tượng trưng cho ba nội dung của thị trường là Thịtrường hàng hoá, Thị trường ngoại tệ và Thị trường chứng khoán động sản; chữBourse có nghĩa là “ mậu dịch thị trường” hay còn gọi là “ nơi buôn bán chứngkhoán”

Trang 11

Đến năm 1547, thị trường ở thành phố Bruges bị sụp đổ do cửa biển Evin nơi dẫncác tàu thuyền vào buôn bán tại thành phố bị cát biển lấp mất Tuy nhiên vào năm

1531, thị trường này được dời đến thành phố Anvers (Bỉ), từ đó thị trường này pháttriển nhanh chóng Một thị trường như vậy cũng được thành lập ở London (Anh)vào thế kỷ 18 và sau đó là một loạt thị trường tại Pháp, Đức, Ý, một số nước Bắc

Âu và Mỹ cũng được thành lập Sau một thời gian hoạt động thị trường đã chứng

tỏ khả năng không đáp ứng được yêu cầu của cả ba giao dịch khác nhau, vì thế thịtrường hàng hoá được tách thành các khu thương mại, thị trường ngoại tệ đượctách ra và phát triển thành thị trường hối đoái, thị trường chứng khoán động sản trởthành thị trường chứng khoán

Là một bộ phận của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu có những đặctrưng riêng biệt khác hẳn với các thị trường khác vì hàng hoá giao dịch trên thịtrường là các trái phiếu- một loại hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư bản Bảnchất của thị trường thể hiện mối quan hệ cung cầu của vốn đầu tư, giá cả của hànghoá chứa đựng thông tin về chi phí vốn đầu tư

2.3 Phân loại thị trường trái phiếu

2.3.1 Phân loại theo thị trường

 Thị trường trái phiếu sơ cấp: Thị trường trái phiếu sơ cấp là thị trường muabán lần đầu các trái phiếu mới được phát hành của chủ thể phát hành Thịtrường sơ cấp còn được gọi là thị trường phát hành hay thị trường cấp một.Khi có nhu cầu huy động vốn, Chính phủ, các doanh nghiệp và các tổ chứckhác được phép phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật để bán chocác tổ chức cá nhân đầu tư trên thị trường này Việc phát hành trái phiếuđược chính các tổ chức này hay thông qua các tổ chức tài chính trung gian

Trang 12

thực hiên thông quahoạt động bảo lãnh phát hành, đấu thầu hay đại lý pháthành.

 Thị trường trái phiếu thứ cấp: Thị trường trái phiếu thứ cấp là nơi các tráiphiếu được mua đi bán lại giữa các tổ chức, cá nhân đầu tư với nhau Điểmkhác biệt cơ bản giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp là ở thị trường

sơ cấp tổ chức phát hành thu được tiền từ đợt phát hành còn ở thị trường thứcấp thì không Tuy nhiên hai thị trường này có mối quan hệ vô cùng khăngkhít, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, tiền đề và thị trường thứ cấp làđộng lực cho thị trường sơ cấp phát triển

2.3.2 Phân loại theo hình thức phát hành

 Phát hành riêng lẻ: là việc phát hành trong đó trái phiếu được bán trongphạm vi một số người nhất định, với những điều kiện hạn chế, không tiếnhành một cách rộng rãi ra công chúng Việc phát hành chứng khoán riêng lẻthông thường chịu sự điều chỉnh của Luật công ty và trái phiếu phát hànhnhư vậy không phải là đối tượng giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán

 Phát hành ra công chúng: là việc phát hành trong đó trái phiếu được bánrộng rãi ra công chúng, cho một số lượng lớn người đầu tư trong đó phảigiành một tỷ lệ nhất định cho nhà đầu tư nhỏ và khối lượng phát hành phảiđạt mức nhát định Việc phát hành chứng khoán ra công chúng chịu sự chiphối của pháp luật về chứng khoán và phải được cơ quan quản lý nhà nước

về thị trường chứng khoán cấp phép Sau khi phát hành trên thị trường sơcấp, trái phiếu sẽ được giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán nếu đáp ứngđược quy định của Sở giao dịch chứng khoán Các tổ chức phát hành trái

Trang 13

phiếu ra công chúng phải thực hiện một chế độ báo cáo, công bố thông tincông khai và chịu sự giám sát riêng theo quy định của pháp luật

Trái phiếu chính phủ đương nhiên được niêm yết và giao dịch trên Sở giao dịchchứng khoán dù phát hành theo bất cứ hình thức nào, tuy nhiên trái phiếu chínhphủ cũng cần đáp ứng một số điều kiện nhất định như chuẩn hoá về mặt kỹthuật phát hành để đảm bảo trái phiếu có thể niêm yết và giao dịch trên Sở giaodịch chứng khoán một cách thuận lợi

2.2.3 Phân loại theo thời hạn

 Trái phiếu ngắn hạn: là loại trái phiếu có kỳ hạn từ một năm trở xuống,được gọ là tín phiếu

 Trái phiếu trung hạn: là trái phiếu có kỳ hạn từ một năm trở lên đến 10 năm

 Trái phiếu dài hạn: là trái phiếu có kỳ hạn từ 10 năm trở lên

II HỢP ĐỒNG MUA LẠI TRÁI PHIẾU

1.Khái niệm hợp đồng mua lại

Hợp đồng mua lại (Repurchase Agreements- REPOS) là một thoả thuận mua bánchứng khoán giữa hai bên, bên bán chứng khoán gọi là người bán, bên mua chứngkhoán được gọi là người mua, người bán bán chứng khoán cho người mua và sẽmua lại số chứng khoán đó vào một ngày xác định trong tương lai

Các chứng khoán được sử dụng để giao dịch trong hợp đồng mua lại thường là cácloại giấy tờ có giá có độ an toàn cao như chứng chỉ Quỹ đầu tư, chứng chỉ tiền gửi,các trái phiếu chính phủ ,đặc biệt là trái phiếu chính phủ, hầu hết các giao dịchmua lại được tiến hành trên các trái phiếu chính phủ

Trang 14

Mỗi hợp đồng mua lại đều bao gồm các thông tin cơ bản sau:

 Tên các bên tham gia hợp đồng: các thông tin cần thiết về người mua vàngười bán trái phiếu như tên, địa chỉ, số tài khoản Người mua và ngườibán trái phiếu có thể là các nhà đầu tư tổ chức hoặc cá nhân, các trung giantài chính như các ngân hàng, các công ty chứng khoán, các công ty bảohiểm

 Loại trái phiếu: trái phiếu được giao dịch trong hợp đồng mua lại được xácđịnh cụ thể ngay trong hợp đồng, đó thường là các trái phiếu có độ tin cậycao như trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc nhà nước

 Giá mua: là giá trái phiếu được hai bên thoả thuận sao cho hợp lý nhất, giámua có thể thấp hơn hoặc cao hơn giá trị thực của trái phiếu tuỳ theo mứccung- cầu về trái phiếu đó trên thị trường

 Ngày giao dịch / Ngày thanh toán: là ngày hợp đồng mua lại có hiệu lực, bênbán và bên mua trái phiếu phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhau, bên bánphải chuyển giao đầy đủ số trái phiếu cho bên mua, ngược lại bên mua phảitrả đủ tiền cho bên bán theo giá mua

 Ngày đáo hạn: là ngày hợp đồng mua lại đáo hạn, số trái phiếu bán ra trướcđây được mua lại, người bán phải mua lại theo giá bằng giá bán trước đâycộng thêm một khoản chênh lệch

 Thời hạn hợp đồng mua lại: là thời gian tính từ lúc hợp đồng có hiệu lực đếnlúc hợp đồng đáo hạn

 Lãi suất hợp đồng mua lại: là lãi suất tính trên tổng số tiền giao dịch tronghợp đồng, lãi suất này do người mua trả cho người bán, lãi suất của hợp

Ngày đăng: 30/10/2013, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w