Đề án chia làm 2 giai đoạn với những chỉ tiêu cụ thể nhằm thúc đẩy sự hòa nhập của người khuyết tật trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, lao động, xây dựng, giao thông, công nghệ thông t[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
BÙI VĂN LÂM
HỖ TRỢ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TIẾP CẬN CÁC
CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG TẠI QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
BÙI VĂN LÂM
HỖ TRỢ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TIẾP CẬN CÁC
CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG TẠI QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01 LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Bình
HÀ NỘI - 2016
Mục lục
Trang 3Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam với khoảng 6,7 triệu người từ 5 tuổi trở lên là người khuyết tật tương ứng với khoảng 7,8% dân số(1) Trong đó người khuyết tật vận động chiếm tỉ lệ lớn nhất trong tổng số các dạng tật cụ thể như sau: 29% khuyết tật vận động; 17% khuyết tật thần kinh, tâm thần; 14% tật nhìn; 16% khuyết tật nghe, nói; 7% tật trí tuệ và 17% các dạng tật khác Tại địa bàn quận Hà Đông
có 1.900 NKT chiếm 0,67% trong tổng dân số 284.500 người(2)
Người khuyết tật là một trong những nhóm dân cư chịu thiệt thòi nhất trong xã hội hiện nay, khi hoạt động sinh sống hòa nhập xã hội họ gặp phải rất nhiều những khó khăn và cản trở Đảng, Nhà nước và nhân dân đã và đang đẩy mạnh sự quan tâm hỗ trợ NKT có được cuộc sống tốt hơn về cả vật chất lẫn tinh thần nhằm đảm bảo công bằng, vì con người và phát triển bền vững quốc gia Mặc dù vậy thực tế vẫn còn những vấn đề mà NKT đang gặp phải,
đó là sự kỳ thị và phân biệt đối xử, số đông NKT chưa biết hoặc chưa biết hoặc chưa có điều kiện, khả năng tiếp cập, hiểu biết về những chính sách ưu đãi dành cho họ…, điều đó đã dẫn đến khả năng hòa nhập và phát triển của NKT bị hạn chế
Cơ sở hành lang pháp lý về quyền của NKT bằng hệ thống pháp luật, chính sách, chương trình như: Luật người khuyết tật Việt Nam, các thông tư, nghị định hướng dẫn thi hành luật, các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếp cận công trình công cộng đã được ban hành áp dụng thực hiện và
có những thành tựu nhất định Tuy nhiên việc thực thi các chính sách hỗ trợ ở
1
Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009
2 Báo cáo số liệu NKT quận Hà Đông năm 2014 – Sở Lao động Thương binh và Xã hội TP
Hà Nội cung cấp
Trang 4cấp địa phương còn có những hạn chế nhất định do nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó có 2 nhóm nguyên nhân sau: thứ nhất do sự chưa phổ biến sâu rộng về quyền của NKT đến với cán bộ quản lý, cán bộ trực tiếp gúp đỡ NKT cũng như các tổ chức của NKT và bản thân họ còn hạn chế, thứ hai là sự thực thi các chính sách quyền của NKT còn thiếu sự quan tâm của tất cả những bên liên đới
Bài nghiên cứu tôi muốn làm rõ việc thực hiện hỗ trợ NKT VĐ trong việc tiếp cận sử dụng hiệu quả các công trình công cộng là Ủy ban nhân dân
và trạm y tế từ tuyến huyện xuống xã với hai hoạt động cụ thể là tư vấn pháp
lý về quyền tiếp cận và vận động việc thực thi chính sách về quyền tiếp cận
cho NKT VĐ tại một địa bàn cụ thể với tên đề tài: “Hỗ trợ người khuyết tật vận động tiếp cận các công trình công cộng tại quận Hà Đông, thành phố
Hà Nội” Nghiên cứu sẽ chỉ ra những cách thức vận động chính sách phù hợp
và sự hỗ trợ về pháp lý cho NKT VĐ về quyền tiếp cận sử dụng các công trình công cộng hiện nay, từ kết quả của đề tài sẽ ghóp phần giúp các nhà quản lý xã hội, nhà hoạch định chính sách, cộng đồng và toàn xã hội có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề nghiên cứu cũng như sẽ có những tác động thay đổi nhằm xóa bỏ những rào cản giúp NKT VĐ có thể tiếp cận các công trình công cộng dễ dàng hơn, công bằng hơn
2 Tổng quan nghiên cứu
Kinh tế và xã hội hiện nay ngày càng phát triển đi cùng với nó là các nhu cầu của con người và đặc biệt là quyền con người cần được đảm bảo thực hiện đầy đủ để phù hợp với sự phát triển tiến bộ và công bằng xã hội Chính sách phát triển kinh tế đi đôi với đảm bảo an sinh xã hội đang được Đảng và Nhà nước quan tâm hơn bao giờ hết, sự đảm bảo về mức độ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội lên mọi cá nhân trong xã hội luôn được coi trọng và thể chế hóa trong các văn bản luật pháp cụ thể, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ đối với các nhóm người yếu thế trong xã hội nhằm đảm bảo sự đối xử công
Trang 5bằng và cơ hội bình đẳng ngang nhau Tuy nhiên hiện nay việc thực hiện chưa đầy đủ các văn bản pháp luật hỗ trợ đảm bảo an sinh xã hội do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn tới việc một số người bị mất đi các quyền lợi đã được quy định
Cộng đồng người khuyết tật nói chung và người khuyết tật vận động nói riêng hiện nay gặp vô vàn những khó khăn trong cuộc sống, họ bị mất đi nhiều cơ hội để hòa nhập phát triển trong đó có việc họ ít có cơ hội tiếp cận các công trình công cộng do mang trong mình những khiếm khuyết cơ thể, cộng với sự hỗ trợ hạn chế từ cộng đồng và gia đình, những rào cản mà người khuyết tật vận động gặp phải từ môi trường xã hội là rất nhiều và chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ Đã có rất nhiều những nghiên cứu khoa học xã hội liên quan đến người khuyết tật nói chung như: Nghiên cứu về tâm sinh lý của người khuyết tật; Nghiên cứu về quy mô sự tăng giảm về số lượng người khuyết tật qua các giai đoạn các thời kỳ cụ thể; Sự phân bố địa vực của người khuyết tật; Sự tiếp cận các công trình giao thông, y tế, trường học, bệnh viện; các nghiên cứu về đánh giá xác định các dạng tật, phân loại khuyết tật, nghiên cứu về việc thực thi chính sách pháp luật về NKT…nhằm giúp người khuyết tật có thể hòa nhập xã hội tốt hơn Song những nghiên cứu này thường đề cập chung cho người khuyết tật, các nghiên cứu nhắc tới sự hỗ trợ người khuyết tật vận động rất ít, đặc biệt ít là các nghiên cứu về sự hỗ trợ người khuyết tật vận động tiếp cận các công trình công cộng cụ thể là công trình, cơ quan trụ
sở làm việc thuộc UBND và TYT cấp huyện trở xuống xã phường
2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu nước ngoài “Disability and social inclusion in Ireland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011” (Khuyết tật và hòa nhập xã hội ở Ireland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011) Nghiên cứu xem xét NKT
có hoàn cảnh khó khăn hòa nhập xã hội, trong đó nghiên cứu: thu nhập, trình
độ học vấn, kinh tế, và tham gia xã hội và đồng thời chỉ ra rằng yếu tố mặc cảm tự ti là một trong những yếu tố cản trợ NKT tham gia hòa nhập xã hội và
Trang 6cuộc sống hàng ngày Báo cáo này nêu lên sự khác biệt giữa NKT và không khuyết tật trong việc tham gia hòa nhập cộng đồng Thông qua việc thống kê các số liệu thu thập được để đánh giá mức độ đói nghèo, sự tham gia giáo dục của NKT Đồng thời tìm hiểu thêm mức độ ảnh hưởng của NKT đến cuộc sống hàng ngày và tới những người khác Báo cáo cũng nhấn mạnh đến yếu tố khuyết tật có ảnh hưởng lớn đến đời sống của NKT, thiết kế nơi làm việc không phù hợp với các dạng tật, sự kỳ thị của cộng đồng và việc tiếp cận giao thông đi lại còn khó khăn
Nghiên cứu nước ngoài “The National Disability Strategy report, Council of Australian Gorvement 2012” (Báo cáo chiến lược Quốc Gia về NKT, Hội đồng chính phủ Úc, 2012) Chiến lược NKT quốc gia đã đưa ra bản
kế hoạch mười năm để cải thiện cuộc sống cho NKT Úc Kế hoạch này sử dụng sự đồng bộ và thống nhất của tất cả các ban ngành địa phương về chính sách và chương trình qua đó cho phép NKT thực hiện đầy đủ các chức năng, tiềm năng của họ như những công dân khác Chiến lược này đóng góp một vai trò không nhỏ trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền lợi cho NKT, từ đó đảm bảo các chính sách mà NKT và gia đình họ được hưởng Một trong sáu khía cạnh
ưu tiên hành động giành cho NKT, gia đình và người chăm sóc họ có khía cạnh liên quan đến hỗ trợ cho NKT, đó là “NKT có thể được tiếp cận các công trình giao thông, công viên, các tòa nhà và nhà ở, thông tin kĩ thuật số và công nghệ truyền thông, đời sống dân sự , thể thao, giải trí văn hóa… “Thứ hai là Quan tâm đến hệ thống giáo dục dành cho NKT và khả năng tham gia học tập của NKT” Chiến lược này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ bảo vệ, thúc đẩy và thực hiện các quyền con người của người khuyết tật
Nó sẽ giúp đảm bảo rằng các nguyên tắc làm cơ sở Công ước được kết hợp vào các chính sách và chương trình ảnh hưởng tới người khuyết tật, gia đình
và người chăm sóc họ Vì lợi ích của tất cả mọi người, các rào cản đối với những đóng góp có thể được thực hiện bởi những người có khuyết tật, gia đình và người chăm sóc cần được loại bỏ Chiến lược vượt ra ngoài hệ thống
Trang 7chuyên gia hỗ trợ người khuyết tật được cung cấp bởi khối thịnh vượng chung, các quốc gia và vùng lãnh thổ theo Hiệp định người khuyết tật quốc gia (NDA)
Dựa vào những luận điểm của hai công trình nghiên cứu báo cáo trên
để phục vụ cho nghiên cứu khoa học của mình Hai công trình nghiên cứu khoa học nên trên đã tập trung rất nhiều vào khả năng hòa nhập xã hội của người khuyết tật, đưa ra những luận điểm về sự khó khăn mà NKT phải đối mặt trong cuộc sống Nhưng việc đưa ra các hướng hỗ trợ cụ thể cho người khuyết tật vận động tiếp cận các công trình cơ quan trụ sở làm việc công cộng như UBND và TYT thì chưa được đề cập mà chỉ nói về thực trạng khó khăn
mà NKT gặp phải mà thôi
2.2 Các nghiên cứu trong nước
Báo cáo Quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế kiểm định kỳ phổ cập (UPR) chu kỳ II Báo cáo này được soạn thảo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 60/251 ngày 15/3/2006 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, Nghị quyết số 5/1 ngày 18/06/2007 và Quyết định số 17/119 ngày 19/6/2011 của Hội đồng Nhân quyền nhằm kiểm điểm tình hình thực hiện các quyền con người trên lãnh thổ Việt Nam Tại mục Người khuyết tật số thứ tự
66 ghi Việt Nam đã ký Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2008 và
dự kiến hoàn thành thủ tục phê chuẩn trong năm 2014, cũng như đang nỗ lực xây dựng và hoàn thiện luật pháp, chính sách nhằm thúc đẩy quyền của người khuyết tật Trong lộ trình phê chuẩn Công ước về quyền của người khuyết tất, Việt Nam đã ban hành Luật về người khuyết tật năm 2010 và xây dựng các văn bản thi hành Trong giai đoạn 2010-2013, đã có 13 văn bản dưới Luật được ban hành có liên quan tới người khuyết tật trong các lĩnh vực truyền thông, thể thao, du lịch, tiếp cận an sinh xã hội và thúc đẩy thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ Số 67 ghi chính sách chung của Nhà nước là khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật thực hiện bình đẳng về các quyền về
Trang 8chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và phát huy khả năng của họ để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội Người khuyết tật được Nhà nước và xã hội trợ giúp chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp và được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật Số 68 ghi Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án Trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020 nhằm đẩy mạnh thực hiện các chính sách trợ giúp người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật, đồng thời thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam về 7 lĩnh vực ưu tiên trong Thập
kỷ thứ II Thiên niên kỷ Biwako về người khuyết tật khu vực châu Á – Thái Bình Dương Đề án chia làm 2 giai đoạn với những chỉ tiêu cụ thể nhằm thúc đẩy sự hòa nhập của người khuyết tật trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, lao động, xây dựng, giao thông, công nghệ thông tin, văn hóa, thể thao, pháp lý… Bên cạnh đó, Chính phủ cũng triển khai một loạt các chính sách trợ giúp người khuyết tật như đề án trợ giúp phục hồi chức năng cho người tâm thần; tham gia và thực hiện các sáng kiến của quốc tế và khu vực; tăng cường sự tham gia của người khuyết tật và bảo vệ quyền của người khuyết tật; hỗ trợ thành lập các tổ chức tự lực của người khuyết tật; trợ giúp đào tạo nghề và tạo việc làm; cải thiện khả năng tiếp cận và sử dụng các công trình văn hoá, công cộng và các dịch vụ xã hội cơ bản khác của người khuyết tật
Trong báo cáo này có quy định và luận điểm liên quan đến việc hỗ trợ cải thiện khả năng tiếp cận và sử dụng các công trình văn hoá, công cộng và các dịch vụ xã hội cơ bản khác của người khuyết tật nói chung, sự hỗ trợ người khuyết tật vận động tiếp cận các công trình trụ sở làm việc có nằm trong hạng mục người khuyết tật Nghiên cứu này sẽ cụ thể hơn những cách
hỗ trợ NKT VĐ tiếp cận các công trình công cộng là UBND và TYT
Nghiên cứu của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội với đề tài: “Vai trò của tổ chức người tàn tật trong việc xây dựng các chính sách, chương trình quốc gia về về dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật của bộ thương binh lao động và xã hội” Nghiên cứu này cũng nói đến việc xây dựng và thực hiện
Trang 9các chính sách cho người khuyết tật để họ được đáp ứng nhu cầu việc làm của mình, họ được tư vấn hỗ trợ dạy nghề, qua đây người khuyết tật biết được những nơi có thể nhận mình vào làm việc, để có thể có một công việc phù hợp với bản thân, tuy nhiên hai đề tài nêu trên nội dung chủ yếu là định hướng và giải quyết nhu cầu việc làm cho NKT, mà chưa hề đề cập đến nhu cầu tiếp cận của NKT vận động với các công trình công cộng
Nghiên cứu hòa nhập xã hội: “Giảm thiểu sự kì thị và phân biệt đối sử với NKT Việt Nam” - Viện ngiên cứu phát triển xã hội, Ban Tuyên Giáo Trung ương và Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, 2010 Nghiên cứu này chỉ ra rằng có 14 khó khăn mà NKT đang gặp phải trong đó có khó khăn trong việc tiếp cận các công trình công cộng
Nghiên cứu khoa học: “Mặc cảm tự ti của NKT trong quá trình hòa nhập xã hội” – Đinh Thị Thủy, 2013 Nghiên cứu đánh giá những yếu tố tác động ảnh hưởng của mặc cảm tự ti đến cuộc sống của NKT VĐ và làm rõ vai trò hoạt động hỗ trợ can thiệp của cán bộ địa phương đối với NKT VĐ có mặc cảm tự ti
Nghiên cứu khoa học: “Biện hộ thực hiện chính sách xây dựng công trình công cộng phù hợp với người khuyết tật vận động dựa vào cộng đồng, nghiên cứu tại hai trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và trường đại học Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội” 2014 Công trình đẩy
mạnh các hoạt động biện hộ thực hiện chính sách xây dựng công trình công cộng phù hợp với người khuyết tật vận động dựa vào cộng đồng và được nghiên cứu tại trường học, đối tượng người khuyết tật chủ yếu là sinh viên, đề tài này có nhiều luận điểm phù hợp để áp dụng vào công trình nghiên cứu đi sau là hỗ trợ người khuyết tật vận động tiếp cận sử dụng các công trình công cộng cụ thể là cơ quan, công trình trụ sở làm việc, công trình cũng bổ sung và làm rõ sự hỗ trợ về biện hộ thực hiện chính sách xây dựng công trình công cộng phù hợp với người khuyết tật vận động
Trang 10Theo Dantri.com về chương trình người khuyết tật tiếp cận các công trình công cộng thì phần lớn các công trình đang xây dựng và sử dụng đều thiếu phương tiện và trang thiết bị cũng như các giải pháp thiết kế tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật, là rào cản hạn chế người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội
Hiện nay các công trình công cộng ở nước ta mới chỉ đáp ứng một phần nào các công cụ để hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, nói chung người khuyết tật còn rất nhiều khó khăn rào cản để tiếp cận sử dụng các công trình công cộng một cách đầy đủ và đúng nghĩa hòa nhập xã hội
Hoạt động hỗ trợ trong công tác xã hội được ví là xương sống trong công tác xã hội đối với tất cả mọi hoạt động trợ giúp đối tượng, đối với đối tượng người khuyết tật vận động và sự hỗ trợ tiếp cận sử dụng các công trình công cộng liên quan lại ít được nghiên cứu và đề cập Nghiên cứu xin được chỉ ra thực trạng các công trình công cộng UBND, TYT tại địa bàn đáp ứng việc sử dụng cho NKT VĐ như thế nào cũng như thực trạng và nhu cầu tiếp cận sử dụng của người khuyết tật vận động tại đây đối với các hạng mục công trình công cộng này, các cơ quan tổ chức liên quan đến hỗ trợ vận động chính sách, hỗ trợ tư vấn pháp lý để người khuyết tật có cơ hội nói lên nguyện vọng
sử dụng và được đáp ứng phù hợp với quyền lợi tiếp cận sử dụng ngang bằng với những người không khuyết tật Đề tài cũng nghiên cứu cách hỗ trợ phù hợp, đánh giá thực tiễn tại địa vực nghiên cứu và các chính sách pháp luật liên quan đến người khuyết tật
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu kiểm nghiệm tính ứng dụng lý thuyết nhu cầu của tác giả Maslow, lý thuyết về quyền con người và một số lý thuyết khác Có thể làm sáng tỏ hơn nữa về lý thuyết và CTXH nói chung