Thiểu năng tuần hoàn não (TNTHN) là một hội chứng bệnh lý với những biểu hiện lâm sàng khác nhau nhưng có cùng một cơ chế bệnh sinh là giảm lưu lượng tuần hoàn não 5 , 7. Thiểu năng tuần hoàn não thường xảy ra ở những người có độ tuổi từ trung niên trở lên, nhất là những người cao tuổi và lao động trí óc. Những người bị TNTHN đặc biệt là TNTHN mãn tính nếu không được điều trị kịp thời có thể chuyển sang tai biến mạch máu não 7. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2010 đã có 33 triệu người bị tai biến mạch máu não, trong đó có khoảng 17 triệu ca mắc bệnh lần đầu 5. Phát hiện và điều trị sớm thiểu năng tuần hoàn não sẽ hạ thấp tỷ lệ tai biến mạch máu não, hạ thấp tỷ lệ tàn phế và tử vong vốn rất cao (đứng thứ hai sau bệnh tim mạch) 5 , 7. Cho đến nay, điều trị thiểu năng tuần hoàn não bằng nội khoa vẫn là xu hướng chủ yếu không những ở Việt Nam mà ngay cả trên Thế giới. Điều trị bằng ngoại khoa (loại bỏ mảng xơ vữa, nối mạch…) chỉ được chỉ định trong một số trường hợp có tai biến mạch máu não tạm thời hay thực thụ 5. Tuy nhiên, sử dụng thuốc lâu dài ít nhiều ảnh hưởng đến gan, thận và giá thành cao. Từ trường là tác nhân vật lý được các nhà nghiên cứu đánh giá là có tác dụng cải thiện tuần hoàn tại chỗ, bảo vệ tế bào trong điều kiện bất lợi như thiếu oxy, viêm, phù nề và kích thích tái tạo tế bào 3,8. Suốt hơn hai thập kỷ qua, bên cạnh việc ứng dụng điều trị từ trường các trường hợp đau, xương chậm liền, phương pháp này còn được sử dụng điều trị có hiệu quả vết loét mạn tính hậu quả của đái tháo đường, phòng chống đông tắc mạch sau phẫu thuật, nhưng vẫn có ít các nghiên cứu ứng dụng từ trường trong điều trị thiếu máu cục bộ mô, đặc biệt là thiểu năng tuần hoàn não. Với mong muốn đánh giá hiệu quả của từ trường đối với sự cải thiện tuần hoàn não trên bệnh nhân thiểu năng tuần hoàn não nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài” Đánh giá hiệu quả của từ trường trong điều trị thiểu năng tuần hoàn não” với hai mục tiêu sau: 1. Đánh giá sự thay đổi tuần hoàn não dưới tác dụng của từ trường ở bệnh nhân thiểu năng tuần hoàn não. 2. Tìm hiểu một số tác dụng không mong muốn khi điều trị bằng từ trường trên bệnh nhân thiểu năng tuần hoàn não. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 . ĐẠI CƯƠNG TNTHN 1.1.1. Giải phẫu, sinh lý tuần hoàn và chuyển hóa ở não 2, 5, 6, 7. Hình 1.1: Giải phẫu tuần hoàn não ( Nguồn Frank H. Neter MD – ATLAS giải phẫu người, Tr 140,141)10 Não được tưới máu bởi 2 hệ động mạch: + Hệ động mạch cảnh cung cấp máu cho khoảng 23 trước của bán cầu đại não. Động mạch cảnh trong chia làm 4 nghành tận: động mạch não trước, động mạch não giữa, động mạch thông sau và động mạch mạch mạc trước. Mỗi loại động mạch lại chia 2 loại ngành: Ngành nông cung cấp máu cho vỏ não. Ngành sâu đi vào trong não. Có 2 nhánh sâu quan trọng là động mạch Hubuer (nhánh của động mạch não trước) và động mạch thể vân ngoài còn gọi là động mạch Charcot (nhánh của động mạch não giữa). Đặc điểm quan trọng của hệ động mạch này là hệ thống nông và sâu độc lập nhau. Các nhánh nông có nối thông với nhau, còn các nhánh sâu có cấu trúc như nhánh tận. + Hệ động mạch sống nền: Hệ động mạch này phân bố máu cho thân não, tiểu não, mặt dưới của thuỳ thái dương và thùy chẩm. Phân bố máu cho thân não, gồm 3 nhóm: Nhóm các động mạch trung tâm đi vào sâu theo đường giữa. Nhóm các động mạch vòng ngắn đi vào theo đường trước bên. Nhóm các động mạch vòng dài đi bao quanh mặt bên của thân não và đi sâu theo đường sau bên. Phân bố máu cho tiểu não gồm 3 động mạch: Động mạch tiểu não trên. Động mạch tiểu não trước dưới. Động mạch tiểu não sau dưới. Phân bố cho thuỳ chẩm và mặt dưới thuỳ thái dương: là động mạch não sau, đây là một nhánh động mạch tận. Tuần hoàn não có 3 hệ thống nối thông quan trọng. Hệ thống nối thông các động mạch lớn trước não, giữa động mạch cảnh trong, động mạch cảnh ngoài và giữa các động mạch đốt sống. Hệ thống tạo đa giác Willis gồm động mạch thông trước, động mạch não trước, động mạch thông sau và động mạch não sau. Hệ thống ở quanh vỏ não với sự nối thông giữa các nhánh nông của các động mạch não. Đặc điểm sinh lý và chuyển biến của tuần hoàn não. + Tiêu thụ oxy và glucose của não: Não tiêu thụ O2 trung bình 3,3 – 3,8ml100gphút, tiêu thụ glucose của não trung bình 5,6mg100g nãophút. + Lưu lượng tuần hoàn não: Lưu lượng tuần hoàn não trung bình ở người lớn là: 49,8 ± 5,4ml100g não phút. Trong đó, ở chất xám là 79,7 ± 10,7100g não phút, chất trắng là 20,5± 2,5ml100g não phút. + Đặc điểm chuyển hoá của não và điều hoà tuần hoàn não. Khi lượng máu qua não xuống 20ml100g1phút về lâm sàng chưa có dấu hiệu gì, từ dưới 20ml100g1 phút thì ion K+ thoát ra khỏi tế bào não và ion Na+, Ca++ di chuyển vào trong tế bào và tế bào não bị huỷ hoại (do Ca++ hoạt hoá men tạo gốc tự do). Năng lượng hoạt động của tế bào não là do sự oxy hoá glucose, khi thiếu máu, thiếu oxy, sự chuyển hoá chỉ tạo ra một lượng thấp ATP và nồng độ axit lactic tăng gây toan hóa vùng thiếu máu và sẽ làm huỷ hoại tế bào não. Khi xảy ra thiếu máu cục bộ ở não, sẽ gây dãn các vi mạch tại vùng thiếu máu do các chất chuyển hoá gây ra. Lúc này lượng máu não biến đổi theo huyết áp toàn thân. Hậu quả là nếu huyết áp hạ thì làm máu lên não giảm làm tăng thêm thiếu máu cục bộ và nếu huyết áp tăng, máu lên não nhiều sẽ làm tăng quá trình thẩm thấu của hàng rào máu não gây phù não. 1.1.2. Cơ chế bệnh sinh TNTHN 2, 5, 6, 7: Cơ chế bệnh sinh của TNTHN rất đa dạng và phức tạp song nguyên nhân chính hay gặp đó là vữa xơ động mạch và tăng huyết áp. Vữa xơ động mạch là nguyên nhân hay gặp nhất làm cho thành mạch bị vữa xơ trở nên thô ráp tạo điều kiện thuận lợi cho tiểu cầu bám vào, lớn dần (hẹp lòng mạch) và vỡ ra từng mảnh theo dòng máu lên não làm chậm (dòng chảy) gây thiểu năng tuần hoàn não mạn tính, có các mảnh bong ra mà kích thước lớn bịt kín lòng động mạch gây thiếu máu trên chỗ tắc. Rối loạn lipit máu đặc biệt tăng LDL C là yếu tố nguy cơ nghiêm trọng nhất đối với bệnh lý vữa xơ động mạch bởi lượng LDL C chiếm tới 70% của tổng hợp Cholesterol lưu hành trong máu. + Tăng huyết áp, lâu ngày làm cho động mạch não mất hoặc giảm sự đàn hồi thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch não và làm cản trở tuần hoàn. + Tác động từ bên ngoài động mạch đốt sống gây TNTHN hệ sống nền: Theo Hồ Hữu Lương, ngoài ra còn gặp các nguyên nhân sau: Hư đĩa đệm cột sống cổ. Các dị dạng bẩm sinh của động mạch não. Bệnh tim mạch và các bệnh mạn tính gây thiếu ô xy. Hạ huyết áp. 1.1.3 Lâm sàng để chẩn đoán TNTHN 5, 7: Theo Phạm Khuê, trong các căn cứ đưa vào để chẩn đoán TNTHN thì những triệu chứng lâm sàng giữ vị trí hàng đầu. Chúng rất phong phú và xuất hiện sớm, tiêu biểu giúp chúng ta nghĩ ngay đến TNTHN. Các dấu hiệu này nhiều khi hướng cho ta sử dụng các kỹ thuật cận lâm sàng được đúng hơn. Biểu hiện chung: + Những triệu chứng không đặc hiệu của TNTHN: Đau đầu: Gặp trên 91% bệnh nhân. Đau đầu thường có tính chất lan tỏa, co thắt, hoặc khu trú ở vùng chẩm gáy, trán, đau tăng lên khi căng thẳng thần kinh. Kèm theo đau đầu bệnh nhân có cảm giác nặng nề, u ám trong đầu. Chóng mặt: Gặp trên 87% bệnh nhân, tính chất rất đa dạng. Có thể biểu hiện dưới dạng chóng mặt kiểu tiền đình, kiểu rối loạn phối hợp động tác, rối loạn thăng bằng hoặc có cảm giác bập bềnh như ngồi trên thuyền. Rối loạn cảm giác: Biểu hiện sớm, cảm giác đau ở tay, chân và toàn thân, đau ở các kẽ liên sườn, chuột rút, các rối loạn thần kinh thực vật. Hay có cảm giác lạnh, kiến bò, tê cóng người. Đặc biệt là triệu chứng ù tai, cảm giác nóng ở đầu. Biểu hiện thần kinh thực thể: Dấu hiệu hay gặp nhất trong giai đoạn đầu là run các ngón tay khi đưa tay thẳng ngang, tư thế đứng không vững khi làm nghiệm pháp Romberg. + Những triệu chứng tiêu biểu: Rối loạn về giấc ngủ: mất ngủ, rối loạn nhịp ngủ, giảm chất lượng giấc ngủ và mọi kiểu phối hợp giữa các yếu tố đó. Đa số tác giả thấy rối loạn giấc ngủ hay gặp nhất là mất ngủ, trằn trọc ban đêm, tỉnh giấc không ngủ lại được. Rối loạn về sự chú ý: Thường bị rối loạn ngay từ giai đoạn đầu của bệnh, là trở ngại đầu tiên của bệnh đối với khả năng làm việc, dần dần nặng hơn và phức tạp hơn, cuối cùng là sự sa sút trí tuệ. Rối loạn về tri giác: Theo Kehrer, thị giác và thính giác vẫn bình thường nhưng bệnh nhân thấy và nghe được ít hơn người trẻ. Các chức năng phân tích của não bị rối loạn, rõ nhất với thị giác và thính giác, hay gặp giảm thính lực, hẹp thị trường… Rối loạn về trí nhớ: Tất cả các tác giả đều cho rối loạn về trí nhớ là một trong những biểu hiện chủ yếu của TNTHN. Đặc điểm là giảm rõ rệt trí nhớ gần, khó nhớ lại sự việc vừa xẩy ra, có thể nhớ một số việc nhưng không có khả năng sắp xếp lại theo đúng trình tự xuất hiện. Rối loạn về xúc cảm: Rối loạn về xúc cảm gần như bao giờ cũng gặp và biểu hiện rất đa dạng, phần lớn là tình trạng vừa hay dễ xúc động khóc lóc vừa hay dễ bực mình cáu gắt. Rối loạn về nhân cách tính tình: Sự thay đổi nhân cách tính tình trong TNTHN lệ thuộc rất nhiều vào tình trạng tâm sinh lý trước kia của người bệnh. Schneider phân ra 3 loại tiến triển của rối loạn nhân cách hay gặp trong TNTHN: Thứ nhất là bệnh sảng khoái, ba hoa, nói nhiều; thứ hai là vô tình cảm, nghèo nàn về tư duy trí tuệ và thứ ba là loại tình cảm thất thường dễ kích động. TNTHN hệ động mạch đốt sống thân nền: Bệnh cảnh lâm sàng được Schott mô tả một cách khá đầy đủ từ năm 1965. Các triệu chứng lâm sàng rất nhiều và đa dạng, lúc thì biểu hiện thần kinh rất phong phú, điển hình nhưng hết nhanh, lúc thì rất nghèo nàn, chỉ đơn độc một triệu chứng. Nổi bật nhất là tam chứng: đau đầu phía sau vùng gáy, chẩm; chóng mặt, mệt mỏi toàn thân. Trên thực tế TNTHN hệ động mạch đốt sống thân nền gặp tới 30% trong rối loạn tuần hoàn não nói chung nhưng chiếm tới 70% trong thể rối loạn tuần hoàn não tạm thời và thường gặp ở lứa tuổi 4060. 1.1.3. Cận lâm sàng để chẩn đoán TNTHN 13, 7: Lưu huyết não : Lưu huyết não có thể đánh giá khách quan tình trạng thành động mạch, trương lực mạch ở não, thể tích tưới máu phút của từng bán cầu, cũng như đánh giá một cách chính xác mức độ tổn thương do vữa xơ mạch não. Chụp X quang cột sống cổ Phim chụp thẳng: để nhận định về các tương quan trục trong mặt phẳng trước và tư thế các mỏm móc của các đoạn cột sống cổ giữa và dưới. Phim chụp nghiêng: phát hiện tổn thương diện khớp, thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống, mất đường cong sinh lý cột sống cổ. Phim chụp chếch 34 phải, chếch 34 trái: để phát hiện các biến đổi của lỗ ghép. Thoái hoá cột sống cổ Gai xương ở mấu bán Dính C4C5 bẩm sinh nguyệt và thân đốt Hình 1.2: Một số hình ảnh Xquang thoái hóa cột sống cổ. (Nguồn phim Xquang của bệnh nhân chụp tại khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Y dược cổ truyền Quảng Ninh) 1.1.4. Điều trị TNTHN 5, 7. Điều trị TNTHN bằng nội khoa là xu hướng chính hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Các phương pháp điều trị ngoại khoa (nối mạch, lấy huyết khối, loại bỏ mảng vữa xơ...) chỉ đề cập đến khi bệnh nhân có tai biến mạch máu não. • Điều trị TNTHN bằng nội khoa Y học hiện đại Có rất nhiều loại thuốc khác nhau và kết quả cũng có khác nhau, có thể chia làm bốn nhóm thuốc chính 8: Nhóm 1: Các chất tổng hợp hữu cơ, các thuốc chính thường dùng là Stugerol, Pipratecol, Sermoin, Firacetam... Nhóm 2: Các chất giống sinh học hay các chất có họ gần giống với các vitamin: Bradilan, Nicyl, Vasocalm. Nhóm 3: Các chất có nguồn thực vật như: Tanakan, Rutin. Nhóm 4: Gồm các thuốc có nguồn gốc khác như: Cavinton. Duxil, Vasobral. Các thuốc trên đều nhằm mục đích giãn mạch, tăng cường tuần hoàn, tăng trao đổi chất qua hàng rào máu não. • Dự phòng TNTHN + Loại trừ yếu tố nguy hại: điều trị bệnh tăng huyết áp, điều trị tăng cholesterol máu. + Biện pháp chung giữ gìn sức khoẻ: xây dựng chế độ ăn với người vữa xơ động mạch, tăng huyết áp là hạn chế số lượng calo đưa vào, khuyến khích dùng dầu thực vật, hạn chế muối, mỡ động vật. + Chế độ luyện tập, vận động thể lực: Người bị TNTHN nên thường xuyên kết hợp đi bộ, chạy chậm nhẹ nhàng, thở sâu, thở bụng theo phương pháp dưỡng sinh khí công. + Chế độ lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi hợp lý. Nên tránh những thói quen có hại như: Thuốc lá, rượu, sinh hoạt tình dục quá mức, những xúc cảm quá mức. 1.2. TNTHN THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN 10. 1.2.1. Quan niệm Y học cổ truyền về TNTHN. Y học cổ truyền không có bệnh danh về TNTHN, nhưng những biểu hiện lâm sàng của bệnh đã được y học cổ truyền phương đông mô tả trong phạm trù huyễn vựng (chóng mặt); đầu thống (đau đầu); thất miên (mất ngủ); kiện vong (hay quên). Nguyên nhân gây ra chứng này thương do tâm huyết, can huyết, tỳ khí và thận khí hư kết hợp với đàm ẩm, huyết ứ. 1.2.1.1. Chứng đầu thống: Sách chứng trị nói: “Đầu thống, đầu phong chia hai mà là một: phân ra mới, lâu để chữa”. Y học cổ truyền cho rằng đầu là chủ dương chi hội, thanh dương chi phủ, tủy hải chi sở tại. Nghĩa là đầu là nơi tụ hội của mọi phần dương, là nơi ở của bộ não, khí huyết của ngũ tạng, lục phủ đều hội tụ ở đó. Đau đầu là triệu chứng chủ quan của nhiều chứng bệnh khác nhau, nguyên nhân đau đầu là ngoại cảm hay nội thương . Do ngoại cảm phong, hàn, thấp, nhiệt mà phong tà là chính: nếu phong hiệp hàn thì hàn ngưng huyết trệ, trở ngại mạch lạc, huyết uất là trong gây đau đầu; nếu phong hiệp nhiệt thì phong nhiệt nhiễu lên, khí huyết nghịch loạn gây đau đầu; nếu phong hiệp thấp làm thanh dương không thăng cũng gây đau đầu. Do nội thương tình chí, can mất sơ tiết, uất hóa hỏa, hỏa vượng thương âm, can mất nhu dưỡng hoặc thân âm bất túc, thủy bất tư dưỡng mộc, can thận âm hao, can dương thượng cang. Thận tinh hao lâu, tủy não hư sinh đau đầu hoặc âm tổn cập dương thận dương suy vi thanh dương không phát, càng sinh đau đầu; mặt khác ăn nhiều chất bổ béo ngọt, tỳ mất kiện vận, đàm thấp nội sinh dẫn đến đau đầu. Ngoài ra, bệnh lâu ngày nhập lạc mạch, khí huyết vận hành bất thông, huyết ứ nội trở, bất thông tắc thống, đều sinh đau đầu. 1.2.1.2. Chứng huyễn vựng: “Huyễn” là mục huyễn là chỉ trạng thái hoa mắt hoặc trước mắt tối sầm, “ Vựng” là đầu vựng là cảm thấy mọi vật xung quanh xoay chuyển như ngồi trên tàu, xe hoặc trên thuyền. Hai triệu chứng này thường đồng thời xẩy ra nên có tên là huyễn vựng. Sách Tố vấn chí nhân yếu đại luận cho rằng: mọi chứng quay cuồng chao đảo đều thuộc can hỏa, ý nói do can phong nội động sinh ra, về sách hà gian lục thư cho là phong và hỏa gây nên, dương thuộc hỏa, dương chủ động nên gây ra chao động. Đan khê tâm pháp cho rằng không có đàm thì không “huyễn”, cho nên trước hết cần chữa đờm. Sách cảnh nhạc toàn thư viết: Không hư thì không thành “huyễn”, không thành “vựng” ý nói là huyễn vựng là do hư hiệp hỏa, phép chữa là bổ hư bình can hỏa. Nguyên nhân bệnh lý: Can dương thượng cang: Bình thường can dương khô nóng ở trên gây huyễn vựng, hoặc do tình chí không thư thái, uất ức lâu ngày khiến can âm hao, can dương thăng động gây nhiễu tầng không gây huyễn vựng: có khi thận âm hư tổn không dưỡng được can mộc dẫn đến can âm thiếu, can dương bốc lên gây huyễn vựng. Đàm trọc trung trở: Do ăn nhiều các thứ béo bổ, hại đến tỳ vị, thức ăn uống không hóa thành tân dịch mà biến thành đờm thấp, khiến dương không thăng, trọc âm không giáng gây huyễn vựng. Thận tinh bất túc: Do tiên thiên thiếu khiến thận tinh thiếu, tủy thiếu, không bổ sung cho não gây huyễn vựng. Khí huyết đều hư: Bệnh lâu không khỏi, hao tổn khí huyết, hoặc sau khi mất máu, bệnh chưa phục hồi, hoặc tỳ, vị hư nhược không vận hóa thức ăn được để sinh ra khí huyết đều hư, khí hư thì dương yếu, huyết hư thì não không được nuôi dưỡng đều gây nên huyễn vựng. 1.2.1.3. Thất miên: Mất ngủ là nói bình thường không ngủ được, nhẹ thì muốn ngủ rất khó, hoặc giấc ngủ không sâu, khi thức tỉnh, nặng thì cả đêm không ngủ, y học cổ đại gọi là “không ngủ được” hoặc là không ngủ. Chứng này thường kèm theo chóng mặt, đau đầu, hồi hộp hay quên. Nguyên nhân bệnh lý: Do lo nghĩ và lao động nhiều hại đến tâm tỳ, huyết dịch hao tổn không dưỡng được tâm, dẫn đến tâm thần không yên thành mất ngủ. Sách chứng trị tài nói: “Lo nghĩ hại tỳ quanh năm mất ngủ”. Từ đó thấy tâm tỳ hư yếu dẫn đến mất ngủ và có quan hệ đến huyết hư. Do cơ thể suy yếu hoặc bị ốm lâu, thận âm hao tổn, không nuôi dưỡng được tâm, tâm hỏa hun đốt làm thần chí không yên gây mệt, mất ngủ. Sách Cổ kim y thống viết: do thận tủy thiếu, chân âm không thăng mà tâm hỏa khô nóng làm cho mất ngủ. Do ăn uống không điều độ, thức ăn đình trệ ở vị, lâu thành đờm nhiệt, trở ngại bên trong, đàm nhiệt nhiều loạn ở trên nên nằm không yên. Sách Trương thị y thông viết: mạch hoạt sác hữu lực là mất ngủ, bên trong có đàm hỏa ứ trệ. 1.2.1.4. Kiện vong: Là chứng giảm trí nhớ, hay quên, y học cổ truyền cho rằng do chân âm suy tổn làm cho não thiếu sự nhuận dưỡng dẫn tới não suy nhược, giảm trí nhớ, lú lẫn, quên sự việc đã xẩy ra. Chu Đan Khê cho rằng: Chứng này đều do lo nghĩ quá mức thương tổn tâm hỏa, đến nỗi tinh thần không sáng suốt, gặp việc hay quên, vì lo nghĩ quá mức là bệnh ở tâm tỳ. Uông ngang viết: “tình và chí của người ta tàng ở thận, thận tinh không đủ thì tình chí suy, thận khí không thông lên tâm được cho nên mê muội chóng quên”(nhân chi tinh dữ chí giai tàng vu thận, thận tinh bất túc tắc chí suy bất năng thượng thông vu tâm, cố mê hoặc thiện vong dã). Do đó có thể biết hay quên phần nhiều do tâm tỳ và thận suy tổn mà sinh ra. 1.2.2. Biện chứng luận trị theo thể bệnh. 1.2.2.1. Khí huyết lưõng hư + Triệu chứng: hoa mắt, chóng mặt, hồi hộp sợ sệt, mất ngủ hay quên, giấc ngủ không yên, sắc mặt kém tươi nhuận, lưỡi nhợt rêu lưỡi mỏng, mạch tế sác. + Phương pháp điều trị: bổ khí huyết, kiện tỳ. + Phương thuốc thường dùng: Thập toàn đại bổ gia giảm. 1.2.2.2. Can thận âm hư + Triệu chứng: váng đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, trí nhớ giảm sút, lưỡng mục khô sáp, chi tê mỏi, miệng khô, lưng gối đau mỏi, sắc mặt đỏ, 2 gò má đỏ, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế sác. + Phương pháp điều trị: tư bổ can thận. + Phương thuốc thường dùng: kỷ cúc địa hoàng thang gia giảm. 1.2.2.3. Đàm trệ huyết ứ + Triệu chứng: mất ngủ hay mê, đau đầu cố định không di chuyển, hoa mắt chóng mặt, sắc mặt xanh, chất lưỡi tím bệu trệ nhớt có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp. + Phương pháp điều trị: kiện tỳ, bổ thận, tiêu đàm, hoạt huyết hóa ứ. + Phương thuốc thường dùng: huyết phủ trục ứ thang gia giảm. 1.3. ĐẠI CƯƠNG ĐIỀU TRỊ TỪ TRƯỜNG 3, 4, 12, 8. 1.3.1. Cơ sở khoa học điều trị bằng từ trường. Cơ thể con người là một vật thể phát từ. Người ta đã đo được từ trường của cơ thể tuy nó vô cùng nhỏ bé và khó nhận thấy. Từ trường chung của cơ thể bằng khoảng 106 từ trường trái đất (0,60,7nT), từ trường của não bộ khoảng 1013mT (107nT). Đây được gọi là từ trường nội sinh. Nguồn gốc của từ trường nội sinh là kết quả hoạt động điện của các mô sinh học. Từ trường nội sinh thay đổi theo trạng thái bệnh lý của mô và được coi là nguồn thông tin quan trọng đối với hoạt động sống của cơ thể. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu về từ trường cho thấy, trong cơ thể có nhiều mô đích có khả năng chịu sự tác động của từ trường như các ion tự do, các phân tử protein (protein màng, kênh ion xuyên màng....), nước và các phân tử sinh học có cấu trúc dạng lưỡng cực điện... Vì vậy, nếu dùng một từ trường ngoài tác động vào cơ thể sẽ làm thay đổi từ trường tự thân của tổ chức dẫn tới điều chỉnh hoạt động chức năng của tổ chức cơ thể. Điều trị bằng từ trường là hình thức sử dụng từ trường không đổi hoăc biến thiên tác động lên cơ thể với mục đích điều trị. Tác nhân từ có thể được sinh ra từ nam châm (từ trường không đổi) hoặc từ dòng điện (nam châm điện) có thể thay đổi về tần số và độ lớn của từ. Tế bào dường như không phân biệt được nguồn gốc của từ trường mà chỉ có thông tin của trường, do đó từ trường sinh ra từ nam châm vĩnh cửu hay nam châm điện đều có tác dụng trên mô sinh học. Ngày nay, phương tiện điều trị từ trường chủ yếu được sản xuất theo nguyên lý nam châm điện do sự linh hoạt trong chế độ liều điều trị (cả về độ lớn của từ trường và tần số). Trong môi trường dịch ngoại bào có rất nhiều các nguyên tử, ion, gốc tự do, các nguyên tử và ion này được cấu tạo từ rất nhiều các nguyên tố như carbon, hydro, nitơ, phốt pho, đồng, chì, kẽm, natri, clo… Các ion, gốc tự do có điện tử không tạo cặp lớp ngoài cùng đều có mô men từ spin riêng, và do đó là một đích chịu tác động trực tiếp của từ trường ngoài. Các ion tự do này còn chịu tác động gián tiếp của từ trường thông qua tác động lên cấu trúc màng tế bào (protein xuyên màng), từ trường làm thay đổi tính thấm của màng đối với một số loại ion nhất định như ion Ca2+, ion Na+, K+ làm cho các ion này đi lại qua màng dễ dàng hơn. Trong cơ thể sống có khá nhiều các dạng phân cực khác nhau như những phân tử protein có kích thước lớn ở trạng thái trung hòa về điện, nhưng hai đầu đối diện lại có ưu thế của các điện tích khác nhau như nhóm RCOO hay RNH3+ gây ra, đó là một lưỡng cực. Nước chiếm 6070% trọng lượng cơ thể, 75% trọng lượng não bộ. Phân tử nước có chứa hai liên kết OH, mỗi liên kết OH là một mômen lưỡng cực và mômen lưỡng cực này tồn tại ngay cả khi không có bất cứ tác động nào. Nếu không có điện trường ngoài, các lưỡng cực này sắp xếp hỗn loạn, nhưng khi có trường ngoài, lập tức mômen lưỡng cực sẽ định hướng theo điện trường, từ trường, do đó về nguyên lý sẽ ảnh hưởng tới hoạt tính sinh học tế bào. Tế bào là đơn vị cơ bản của mô sống. Tất cả các tế bào đều có một điện thế màng được tạo ra do sự dịch chuyển của các dòng ion qua màng tế bào (điện thế phụ thuộc ion) và phát sinh hiện tượng điện sinh học. Bình thường, mô khỏe mạnh ở trạng thái cân bằng hoạt động điện và chức năng nên có khả năng bù trừ tốt do đó hầu như không quan sát được sự thay đổi đáng kể nào của mô dưới tác động của từ trường. Ngược lại, ở mô tổn thương từ trường có tác động hiệu quả hơn. Trong bất kỳ mô tổn thương nào đều tồn tại một dòng điện được gọi là “dòng tổn thương”. Dòng này có cường độ và điện thế rất nhỏ (dưới 1mA, nên được gọi là vi dòng). Dòng “tổn thương” có vai trò quan trọng trong kích thích quá trình lành thương nội sinh. Dòng tổn thương sinh ra các tín hiệu điện từ trường nội sinh và kích thích sự di chuyển của các tế bào tới chỗ tổn thương, do đó hồi phục hoạt động điện và chức năng bình thường của mô. Các tác nhân vật lý như điện trường, từ trường đều có thể ảnh hưởng đến dòng điện này theo các nguyên lý vật lý thông thường, do đó có thể tăng cường hoặc giảm quá trình lành thương nội sinh. Bản chất của quá trình này là sự thay đổi mật độ ion giữa hai bên màng tế bào, dẫn đến sự mất cân bằng ion hai bên màng và phát sinh quá trình bệnh lý. Tác nhân từ có thể tác động trực tiếp đến các ion tự do này, gây ra sự sắp xếp trở lại vị trí ban đầu, phục hồi lại điện thế màng của tế bào, của mô, do đó kích thích nhanh quá trình lành thương. Vì những lý do trên mà đứng về phương diện vật lý, khi sử dụng từ trường ngoài tác động lên cơ thể có thể gây ra những thay đổi về mặt lý hóa từ đó có thể gây ra các đáp ứng sinh học. 1.3.2. Tác dụng của từ trường đối với bệnh lý thiểu năng tuần hoàn não Cải thiện tuần hoàn: Người ta cho rằng từ trường tác động lên vi tuần hoàn và vi mạch máu, thông qua điều hòa kênh Ltype Ca2+ cơ trơn thành mạch, gây co cơ trơn tăng trương lực mạch, đồng thời kích thích tế bào nội mạch sản xuất nitric oxide có tác dụng gây giãn mạch và hạn chế hiện tượng co thắt bất thường của mạch máu. Cùng với tác động làm giảm độ nhớt của máu; gây hiệu ứng sắt từ lên phân tử Hemoglobin đặc biệt những khu vực máu chảy chậm và nồng độ oxy cao (tiểu động mạch), từ trường góp phần làm tăng tốc độ dòng máu lên não và tăng hiệu quả trao đổi oxy cũng như các chất chuyển hóa khác tại chỗ. Hệ quả là cải thiện tuần hoàn, dinh dưỡng tại chỗ. Quá trình viêm và phù nề: Từ trường có khả năng kiểm soát quá trình viêm, làm giảm mức độ nặng của đáp ứng viêm. Có nhiều cơ chế tham gia vào quá trình này. Một mặt từ trường giúp phục hồi trương lực mạch thông qua việc tác động trực tiếp lên cơ trơn thành mạch đã làm giảm hiện tượng thoát mạch và giảm phù nề. Mặt khác, người ta còn thấy khả năng ức chế quá trình viêm của từ trường thông qua việc ức chế sản xuất các hóa chất trung gian gây viêm (interferonγ, interleukin6, gốc tự do) đồng thời kích thích các chất trung gian có tác dụng chống viêm (interleukin10), tăng khả năng đáp ứng miễn dịch của đại thực bào với các tác nhân gây viêm ngoại lai. Tác dụng lên bảo vệ tế bào: Trên thực nghiệm, từ trường có khả năng ức chế quá trình chết tế bào theo chương trình thông qua việc điều hòa dòng ion canxi nội bào (giảm dòng canxi ngoại bào vào nội bào), ức chế sự giải phóng canxi từ các kho dự trữ nội bào nên hạn chế sự tăng canxi nội bào, do đó hạn chế được sự phá hủy của tế bào. Ngoài ra từ trường còn tham gia đảm bảo sự toàn vẹn và duy trì chức năng hàng rào máu não qua cơ chế điều hòa trương lực mạch nên làm giảm tình trạng phù não do vận mạch. Bên cạnh đó, từ trường còn tác động gián tiếp thông qua tăng cường các cơ chế bảo vệ tế bào nội sinh như tăng sản xuất protein sốc nhiệt (heat shock protein hsp), nitric oxide, opioid, tăng cường tác nhân chống oxy hóa và điều hoà lưu lượng máu tại chỗ. Ngoài ra, từ trường còn kích thích quá trình tăng sinh mạch, cải thiện tuần hoàn bàng hệ, cải thiện sự nuôi dưỡng mô, đặc biệt trong thiếu máu bán cấp và mạn tính.
Trang 1ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA TỪ TRƯỜNG TRONG ĐIỀU TRỊ THIỂU NĂNG TUẦN HOÀN
NÃO
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: BÁC SỸ LÊ THỊ HẢI CỘNG SỰ: BÁC SỸ: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN ĐIỀU DƯỠNG: ĐẶNG QUỐC THÀNH ĐƠN VỊ: KHOA PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
QUẢNG NINH-2018
Trang 2TNTHN: Thiểu năng tuần hoàn não
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
não……… 3
Hình 1.2: Một số hình ảnh Xquang thoái hóa cột sống cổ……….……9
Hình 1.3 Máy điều trị từ trường MAG-EXPERT……….…… 16
Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo giới………28
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm các triệu chứng lân sàng chính của bệnh nhân……….31
Biểu đồ 3.3 Đặc điểm lâm sàng theo hàn nhiệt………32
Biểu đồ 3.4: Triệu chứng lâm sàng chính trước và sau điều trị………34
Trang 4Bảng 2.1: Tiêu chuẩn chẩn đoán TNTHN của Khajiev (1979)………24
Bảng 2.2: Đáng giá khả năng nhìn nhớ……….25
Bảng 2.3: Đáng giá khả năng nghe nhớ………26
Bảng 3.1: Đặc điểm về tuổi……… ………28
Bảng 3.2: Thời gian mắc bệnh……….…29
Bảng 3.3 Đặc điểm yếu tố nguy cơ của đối tượng nghiên cứu……….…29
Bảng 3.4 Đặc điểm bán cầu tổn thương và động mạch tổn thương của bệnh nhân trước nghiên cứu………30
Bảng 3.5: Đặc điểm thể bệnh trên lâm sàng……….……31
Bảng 3.6: Kết quả điều trị theo thang điểm Khajiev……… …………32
Bảng 3.7: Kết quả test nhìn nhớ và nghe nhớ……….32
Bảng 3.8: Kết quả điều trị theo mức độ hồi phục………33
Bảng 3.9 Sự cải thiện các chỉ số lưu huyết não trước và sau điều trị………34
Bảng 3.10 Tác dụng không mong muốn của từ trường……… 34
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiểu năng tuần hoàn não (TNTHN) là một hội chứng bệnh lý với những biểuhiện lâm sàng khác nhau nhưng có cùng một cơ chế bệnh sinh là giảm lưu lượngtuần hoàn não [5 ], [7]
Thiểu năng tuần hoàn não thường xảy ra ở những người có độ tuổi từ trungniên trở lên, nhất là những người cao tuổi và lao động trí óc Những người bịTNTHN đặc biệt là TNTHN mãn tính nếu không được điều trị kịp thời có thểchuyển sang tai biến mạch máu não [7] Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới(WHO) năm 2010 đã có 33 triệu người bị tai biến mạch máu não, trong đó cókhoảng 17 triệu ca mắc bệnh lần đầu [ 5] Phát hiện và điều trị sớm thiểu năng tuầnhoàn não sẽ hạ thấp tỷ lệ tai biến mạch máu não, hạ thấp tỷ lệ tàn phế và tử vongvốn rất cao (đứng thứ hai sau bệnh tim mạch) [5 ], [7]
Cho đến nay, điều trị thiểu năng tuần hoàn não bằng nội khoa vẫn là xu hướngchủ yếu không những ở Việt Nam mà ngay cả trên Thế giới Điều trị bằng ngoạikhoa (loại bỏ mảng xơ vữa, nối mạch…) chỉ được chỉ định trong một số trường hợp
có tai biến mạch máu não tạm thời hay thực thụ [5] Tuy nhiên, sử dụng thuốc lâudài ít nhiều ảnh hưởng đến gan, thận và giá thành cao
Từ trường là tác nhân vật lý được các nhà nghiên cứu đánh giá là có tác dụngcải thiện tuần hoàn tại chỗ, bảo vệ tế bào trong điều kiện bất lợi như thiếu oxy,viêm, phù nề và kích thích tái tạo tế bào [ 3],[8] Suốt hơn hai thập kỷ qua, bên cạnhviệc ứng dụng điều trị từ trường các trường hợp đau, xương chậm liền, phươngpháp này còn được sử dụng điều trị có hiệu quả vết loét mạn tính hậu quả của đáitháo đường, phòng chống đông tắc mạch sau phẫu thuật, nhưng vẫn có ít các nghiêncứu ứng dụng từ trường trong điều trị thiếu máu cục bộ mô, đặc biệt là thiểu năngtuần hoàn não Với mong muốn đánh giá hiệu quả của từ trường đối với sự cải thiệntuần hoàn não trên bệnh nhân thiểu năng tuần hoàn não nên chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài” Đánh giá hiệu quả của từ trường trong điều trị thiểu năng tuần hoàn não” với hai mục tiêu sau:
1. Đánh giá sự thay đổi tuần hoàn não dưới tác dụng của từ trường ở bệnh nhân thiểu năng tuần hoàn não.
Trang 72. Tìm hiểu một số tác dụng không mong muốn khi điều trị bằng từ trường trên bệnh nhân thiểu năng tuần hoàn não.
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 ĐẠI CƯƠNG TNTHN
1.1.1. Giải phẫu, sinh lý tuần hoàn và chuyển hóa ở não [2], [5], [6], [7].
Hình 1.1: Giải phẫu tuần hoàn não
( Nguồn Frank H Neter MD – ATLAS giải phẫu người, Tr 140,141)[10]
* Não được tưới máu bởi 2 hệ động mạch:
+ Hệ động mạch cảnh cung cấp máu cho khoảng 2/3 trước của bán cầu đạinão Động mạch cảnh trong chia làm 4 nghành tận: động mạch não trước, độngmạch não giữa, động mạch thông sau và động mạch mạch mạc trước Mỗi loại độngmạch lại chia 2 loại ngành:
Trang 9- Ngành nông cung cấp máu cho vỏ não.
- Ngành sâu đi vào trong não Có 2 nhánh sâu quan trọng là độngmạch Hubuer (nhánh của động mạch não trước) và động mạch thể vân ngoài còngọi là động mạch Charcot (nhánh của động mạch não giữa)
Đặc điểm quan trọng của hệ động mạch này là hệ thống nông và sâu độc lậpnhau Các nhánh nông có nối thông với nhau, còn các nhánh sâu có cấu trúc nhưnhánh tận
+ Hệ động mạch sống nền: Hệ động mạch này phân bố máu cho thân não, tiểunão, mặt dưới của thuỳ thái dương và thùy chẩm
* Phân bố máu cho thân não, gồm 3 nhóm:
- Nhóm các động mạch trung tâm đi vào sâu theo đường giữa
- Nhóm các động mạch vòng ngắn đi vào theo đường trước bên
- Nhóm các động mạch vòng dài đi bao quanh mặt bên của thân não và đi sâutheo đường sau bên
* Phân bố máu cho tiểu não gồm 3 động mạch:
- Động mạch tiểu não trên
- Động mạch tiểu não trước dưới
- Động mạch tiểu não sau dưới
* Phân bố cho thuỳ chẩm và mặt dưới thuỳ thái dương: là động mạch não sau,
đây là một nhánh động mạch tận
* Tuần hoàn não có 3 hệ thống nối thông quan trọng.
- Hệ thống nối thông các động mạch lớn trước não, giữa động mạch cảnhtrong, động mạch cảnh ngoài và giữa các động mạch đốt sống
- Hệ thống tạo đa giác Willis gồm động mạch thông trước, động mạch nãotrước, động mạch thông sau và động mạch não sau
- Hệ thống ở quanh vỏ não với sự nối thông giữa các nhánh nông của các độngmạch não
* Đặc điểm sinh lý và chuyển biến của tuần hoàn não.
+ Tiêu thụ oxy và glucose của não: Não tiêu thụ O2 trung bình 3,3 –
3,8ml/100g/phút, tiêu thụ glucose của não trung bình 5,6mg/100g não/phút
Trang 10+ Lưu lượng tuần hoàn não: Lưu lượng tuần hoàn não trung bình ở người lớnlà: 49,8 ± 5,4ml/100g não/ phút Trong đó, ở chất xám là 79,7 ± 10,7/100g não/phút, chất trắng là 20,5± 2,5ml/100g não/ phút.
+ Đặc điểm chuyển hoá của não và điều hoà tuần hoàn não
- Khi lượng máu qua não xuống 20ml/100g/1phút về lâm sàng chưa có dấuhiệu gì, từ dưới 20ml/100g/1 phút thì ion K+ thoát ra khỏi tế bào não và ion Na+,Ca++ di chuyển vào trong tế bào và tế bào não bị huỷ hoại (do Ca++ hoạt hoá mentạo gốc tự do)
- Năng lượng hoạt động của tế bào não là do sự oxy hoá glucose, khi thiếumáu, thiếu oxy, sự chuyển hoá chỉ tạo ra một lượng thấp ATP và nồng độ axit lactictăng gây toan hóa vùng thiếu máu và sẽ làm huỷ hoại tế bào não
- Khi xảy ra thiếu máu cục bộ ở não, sẽ gây dãn các vi mạch tại vùng thiếumáu do các chất chuyển hoá gây ra Lúc này lượng máu não biến đổi theo huyết áptoàn thân Hậu quả là nếu huyết áp hạ thì làm máu lên não giảm làm tăng thêm thiếumáu cục bộ và nếu huyết áp tăng, máu lên não nhiều sẽ làm tăng quá trình thẩmthấu của hàng rào máu não gây phù não
C chiếm tới 70% của tổng hợp Cholesterol lưu hành trong máu
+ Tăng huyết áp, lâu ngày làm cho động mạch não mất hoặc giảm sự đàn hồithúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch não và làm cản trở tuần hoàn
+ Tác động từ bên ngoài động mạch đốt sống gây TNTHN hệ sống nền:
* Theo Hồ Hữu Lương, ngoài ra còn gặp các nguyên nhân sau:
Trang 11- Hư đĩa đệm cột sống cổ
- Các dị dạng bẩm sinh của động mạch não
- Bệnh tim mạch và các bệnh mạn tính gây thiếu ô xy
- Hạ huyết áp
1.1.3 Lâm sàng để chẩn đoán TNTHN [5], [7]:
Theo Phạm Khuê, trong các căn cứ đưa vào để chẩn đoán TNTHN thì nhữngtriệu chứng lâm sàng giữ vị trí hàng đầu Chúng rất phong phú và xuất hiện sớm,tiêu biểu giúp chúng ta nghĩ ngay đến TNTHN Các dấu hiệu này nhiều khi hướngcho ta sử dụng các kỹ thuật cận lâm sàng được đúng hơn
Biểu hiện chung:
+ Những triệu chứng không đặc hiệu của TNTHN:
Đau đầu: Gặp trên 91% bệnh nhân Đau đầu thường có tính chất lantỏa, co thắt, hoặc khu trú ở vùng chẩm gáy, trán, đau tăng lên khi căng thẳng thầnkinh Kèm theo đau đầu bệnh nhân có cảm giác nặng nề, u ám trong đầu
Chóng mặt: Gặp trên 87% bệnh nhân, tính chất rất đa dạng Có thểbiểu hiện dưới dạng chóng mặt kiểu tiền đình, kiểu rối loạn phối hợp động tác, rốiloạn thăng bằng hoặc có cảm giác bập bềnh như ngồi trên thuyền
Rối loạn cảm giác: Biểu hiện sớm, cảm giác đau ở tay, chân và toànthân, đau ở các kẽ liên sườn, chuột rút, các rối loạn thần kinh thực vật Hay có cảmgiác lạnh, kiến bò, tê cóng người Đặc biệt là triệu chứng ù tai, cảm giác nóng ởđầu
Biểu hiện thần kinh thực thể: Dấu hiệu hay gặp nhất trong giai đoạnđầu là run các ngón tay khi đưa tay thẳng ngang, tư thế đứng không vững khi làmnghiệm pháp Romberg
+ Những triệu chứng tiêu biểu:
Rối loạn về giấc ngủ: mất ngủ, rối loạn nhịp ngủ, giảm chất lượng giấcngủ và mọi kiểu phối hợp giữa các yếu tố đó Đa số tác giả thấy rối loạn giấc ngủ haygặp nhất là mất ngủ, trằn trọc ban đêm, tỉnh giấc không ngủ lại được
Trang 12Rối loạn về sự chú ý: Thường bị rối loạn ngay từ giai đoạn đầu củabệnh, là trở ngại đầu tiên của bệnh đối với khả năng làm việc, dần dần nặng hơn vàphức tạp hơn, cuối cùng là sự sa sút trí tuệ.
Rối loạn về tri giác: Theo Kehrer, thị giác và thính giác vẫn bình thườngnhưng bệnh nhân thấy và nghe được ít hơn người trẻ Các chức năng phân tích củanão bị rối loạn, rõ nhất với thị giác và thính giác, hay gặp giảm thính lực, hẹp thịtrường…
Rối loạn về trí nhớ: Tất cả các tác giả đều cho rối loạn về trí nhớ là mộttrong những biểu hiện chủ yếu của TNTHN Đặc điểm là giảm rõ rệt trí nhớ gần,khó nhớ lại sự việc vừa xẩy ra, có thể nhớ một số việc nhưng không có khả năngsắp xếp lại theo đúng trình tự xuất hiện
Rối loạn về xúc cảm: Rối loạn về xúc cảm gần như bao giờ cũng gặp vàbiểu hiện rất đa dạng, phần lớn là tình trạng vừa hay dễ xúc động khóc lóc vừa hay
dễ bực mình cáu gắt
Rối loạn về nhân cách tính tình: Sự thay đổi nhân cách tính tình trongTNTHN lệ thuộc rất nhiều vào tình trạng tâm sinh lý trước kia của người bệnh.Schneider phân ra 3 loại tiến triển của rối loạn nhân cách hay gặp trong TNTHN:Thứ nhất là bệnh sảng khoái, ba hoa, nói nhiều; thứ hai là vô tình cảm, nghèo nàn
về tư duy trí tuệ và thứ ba là loại tình cảm thất thường dễ kích động
TNTHN hệ động mạch đốt sống thân nền:
Bệnh cảnh lâm sàng được Schott mô tả một cách khá đầy đủ từ năm
1965 Các triệu chứng lâm sàng rất nhiều và đa dạng, lúc thì biểu hiện thần kinh rấtphong phú, điển hình nhưng hết nhanh, lúc thì rất nghèo nàn, chỉ đơn độc một triệuchứng
Nổi bật nhất là tam chứng: đau đầu phía sau vùng gáy, chẩm; chóngmặt, mệt mỏi toàn thân
Trên thực tế TNTHN hệ động mạch đốt sống thân nền gặp tới 30%trong rối loạn tuần hoàn não nói chung nhưng chiếm tới 70% trong thể rối loạn tuầnhoàn não tạm thời và thường gặp ở lứa tuổi 40-60
1.1.3 Cận lâm sàng để chẩn đoán TNTHN [13], [7]:
Trang 13* Lưu huyết não :
Lưu huyết não có thể đánh giá khách quan tình trạng thành động mạch, trương lực
mạch ở não, thể tích tưới máu/ phút của từng bán cầu, cũng như đánh giá một cáchchính xác mức độ tổn thương do vữa xơ mạch não
* Chụp X quang cột sống cổ
Phim chụp thẳng: để nhận định về các tương quan trục trong mặt phẳng trước
và tư thế các mỏm móc của các đoạn cột sống cổ giữa và dưới
Phim chụp nghiêng: phát hiện tổn thương diện khớp, thoát vị đĩa đệm, trượt đốtsống, mất đường cong sinh lý cột sống cổ
Phim chụp chếch 3/4 phải, chếch 3/4 trái: để phát hiện các biến đổi của lỗ ghép
Thoái hoá cột sống cổ Gai xương ở mấu bán Dính C4-C5 bẩm sinh
nguyệt và thân đốt
Hình 1.2: Một số hình ảnh Xquang thoái hóa cột sống cổ.
(Nguồn phim Xquang của bệnh nhân chụp tại khoa chẩn đoán hình ảnh
bệnh viện Y dược cổ truyền Quảng Ninh)
1.1.4 Điều trị TNTHN [5], [7].
Điều trị TNTHN bằng nội khoa là xu hướng chính hiện nay ở Việt Namcũng như trên thế giới Các phương pháp điều trị ngoại khoa (nối mạch, lấy huyếtkhối, loại bỏ mảng vữa xơ ) chỉ đề cập đến khi bệnh nhân có tai biến mạch máunão
• Điều trị TNTHN bằng nội khoa Y học hiện đại
Trang 14Có rất nhiều loại thuốc khác nhau và kết quả cũng có khác nhau, có thể chialàm bốn nhóm thuốc chính [8]:
- Nhóm 1: Các chất tổng hợp hữu cơ, các thuốc chính thường dùng là Stugerol,Pipratecol, Sermoin, Firacetam
- Nhóm 2: Các chất giống sinh học hay các chất có họ gần giống với các vitamin:Bradilan, Nicyl, Vasocalm
- Nhóm 3: Các chất có nguồn thực vật như: Tanakan, Rutin
- Nhóm 4: Gồm các thuốc có nguồn gốc khác như: Cavinton Duxil, Vasobral.Các thuốc trên đều nhằm mục đích giãn mạch, tăng cường tuần hoàn, tăngtrao đổi chất qua hàng rào máu não
+ Loại trừ yếu tố nguy hại: điều trị bệnh tăng huyết áp, điều trị tăngcholesterol máu
+ Biện pháp chung giữ gìn sức khoẻ: xây dựng chế độ ăn với người vữa
xơ động mạch, tăng huyết áp là hạn chế số lượng calo đưa vào, khuyến khích dùngdầu thực vật, hạn chế muối, mỡ động vật
+ Chế độ luyện tập, vận động thể lực: Người bị TNTHN nên thườngxuyên kết hợp đi bộ, chạy chậm nhẹ nhàng, thở sâu, thở bụng theo phương phápdưỡng sinh khí công
+ Chế độ lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi hợp lý Nên tránh những thóiquen có hại như: Thuốc lá, rượu, sinh hoạt tình dục quá mức, những xúc cảm quámức
1.2 TNTHN THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN [10]
1.2.1 Quan niệm Y học cổ truyền về TNTHN.
Y học cổ truyền không có bệnh danh về TNTHN, nhưng những biểu hiện lâmsàng của bệnh đã được y học cổ truyền phương đông mô tả trong phạm trù "huyễnvựng" (chóng mặt); "đầu thống" (đau đầu); "thất miên" (mất ngủ); "kiện vong" (hayquên) Nguyên nhân gây ra chứng này thương do tâm huyết, can huyết, tỳ khí vàthận khí hư kết hợp với đàm ẩm, huyết ứ
Trang 151 Chứng đầu thống:
Sách chứng trị nói: “Đầu thống, đầu phong chia hai mà là một: phân ra mới,lâu để chữa” Y học cổ truyền cho rằng đầu là " chủ dương chi hội, thanh dương chiphủ, tủy hải chi sở tại" Nghĩa là đầu là nơi tụ hội của mọi phần dương, là nơi ở của
bộ não, khí huyết của ngũ tạng, lục phủ đều hội tụ ở đó Đau đầu là triệu chứng chủquan của nhiều chứng bệnh khác nhau, nguyên nhân đau đầu là "ngoại cảm hay nộithương"
- Do ngoại cảm phong, hàn, thấp, nhiệt mà phong tà là chính: nếu phong hiệp hànthì hàn ngưng huyết trệ, trở ngại mạch lạc, huyết uất là trong gây đau đầu; nếuphong hiệp nhiệt thì phong nhiệt nhiễu lên, khí huyết nghịch loạn gây đau đầu;nếu phong hiệp thấp làm thanh dương không thăng cũng gây đau đầu
- Do nội thương tình chí, can mất sơ tiết, uất hóa hỏa, hỏa vượng thương âm, canmất nhu dưỡng hoặc thân âm bất túc, thủy bất tư dưỡng mộc, can thận âm hao,can dương thượng cang Thận tinh hao lâu, tủy não hư sinh đau đầu hoặc âm tổncập dương thận dương suy vi thanh dương không phát, càng sinh đau đầu; mặtkhác ăn nhiều chất bổ béo ngọt, tỳ mất kiện vận, đàm thấp nội sinh dẫn đến đauđầu Ngoài ra, bệnh lâu ngày nhập lạc mạch, khí huyết vận hành bất thông,huyết ứ nội trở, bất thông tắc thống, đều sinh đau đầu
“huyễn”, không thành “vựng” ý nói là huyễn vựng là do hư hiệp hỏa, phép chữa là
bổ hư bình can hỏa
Trang 16Nguyên nhân bệnh lý:
-Can dương thượng cang: Bình thường can dương khô nóng ở trên gây huyễnvựng, hoặc do tình chí không thư thái, uất ức lâu ngày khiến can âm hao, candương thăng động gây nhiễu tầng không gây huyễn vựng: có khi thận âm hư tổnkhông dưỡng được can mộc dẫn đến can âm thiếu, can dương bốc lên gây huyễnvựng
-Đàm trọc trung trở: Do ăn nhiều các thứ béo bổ, hại đến tỳ vị, thức ăn uốngkhông hóa thành tân dịch mà biến thành đờm thấp, khiến dương không thăng,trọc âm không giáng gây huyễn vựng
-Thận tinh bất túc: Do tiên thiên thiếu khiến thận tinh thiếu, tủy thiếu, không bổsung cho não gây huyễn vựng
-Khí huyết đều hư: Bệnh lâu không khỏi, hao tổn khí huyết, hoặc sau khi mấtmáu, bệnh chưa phục hồi, hoặc tỳ, vị hư nhược không vận hóa thức ăn được đểsinh ra khí huyết đều hư, khí hư thì dương yếu, huyết hư thì não không đượcnuôi dưỡng đều gây nên huyễn vựng
“Lo nghĩ hại tỳ quanh năm mất ngủ” Từ đó thấy tâm tỳ hư yếu dẫn đến mất ngủ
và có quan hệ đến huyết hư
-Do cơ thể suy yếu hoặc bị ốm lâu, thận âm hao tổn, không nuôi dưỡng đượctâm, tâm hỏa hun đốt làm thần chí không yên gây mệt, mất ngủ Sách "Cổ kim ythống" viết: do thận tủy thiếu, chân âm không thăng mà tâm hỏa khô nóng làmcho mất ngủ
Trang 17-Do ăn uống không điều độ, thức ăn đình trệ ở vị, lâu thành đờm nhiệt, trở ngạibên trong, đàm nhiệt nhiều loạn ở trên nên nằm không yên Sách "Trương thị ythông" viết: mạch hoạt sác hữu lực là mất ngủ, bên trong có đàm hỏa ứ trệ.
2 Biện chứng luận trị theo thể bệnh.
+ Triệu chứng: hoa mắt, chóng mặt, hồi hộp sợ sệt, mất ngủ hay quên, giấcngủ không yên, sắc mặt kém tươi nhuận, lưỡi nhợt rêu lưỡi mỏng, mạch tế sác.+ Phương pháp điều trị: bổ khí huyết, kiện tỳ
+ Phương thuốc thường dùng: Thập toàn đại bổ gia giảm
+ Triệu chứng: váng đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, trí nhớ giảm sút, lưỡngmục khô sáp, chi tê mỏi, miệng khô, lưng gối đau mỏi, sắc mặt đỏ, 2 gò má đỏ, chấtlưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế sác
+ Phương pháp điều trị: tư bổ can thận
+ Phương thuốc thường dùng: kỷ cúc địa hoàng thang gia giảm
+ Triệu chứng: mất ngủ hay mê, đau đầu cố định không di chuyển, hoa mắtchóng mặt, sắc mặt xanh, chất lưỡi tím bệu trệ nhớt có điểm ứ huyết, mạch huyềnsáp
Trang 18+ Phương pháp điều trị: kiện tỳ, bổ thận, tiêu đàm, hoạt huyết hóa ứ.
+ Phương thuốc thường dùng: huyết phủ trục ứ thang gia giảm
1.3 ĐẠI CƯƠNG ĐIỀU TRỊ TỪ TRƯỜNG [3], [4], [12], [8].
1.3.1 Cơ sở khoa học điều trị bằng từ trường.
Cơ thể con người là một vật thể phát từ Người ta đã đo được từ trường của cơthể tuy nó vô cùng nhỏ bé và khó nhận thấy Từ trường chung của cơ thể bằngkhoảng 10-6 từ trường trái đất (0,6-0,7nT), từ trường của não bộ khoảng 10-13mT(10-7nT) Đây được gọi là từ trường nội sinh Nguồn gốc của từ trường nội sinh làkết quả hoạt động điện của các mô sinh học Từ trường nội sinh thay đổi theo trạngthái bệnh lý của mô và được coi là nguồn thông tin quan trọng đối với hoạt độngsống của cơ thể Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu về từ trường cho thấy, trong cơthể có nhiều mô đích có khả năng chịu sự tác động của từ trường như các ion tự do,các phân tử protein (protein màng, kênh ion xuyên màng ), nước và các phân tửsinh học có cấu trúc dạng lưỡng cực điện Vì vậy, nếu dùng một từ trường ngoàitác động vào cơ thể sẽ làm thay đổi từ trường tự thân của tổ chức dẫn tới điều chỉnhhoạt động chức năng của tổ chức cơ thể
Điều trị bằng từ trường là hình thức sử dụng từ trường không đổi hoăc biếnthiên tác động lên cơ thể với mục đích điều trị Tác nhân từ có thể được sinh ra từnam châm (từ trường không đổi) hoặc từ dòng điện (nam châm điện) có thể thay đổi
về tần số và độ lớn của từ Tế bào dường như không phân biệt được nguồn gốc của
từ trường mà chỉ có thông tin của trường, do đó từ trường sinh ra từ nam châm vĩnhcửu hay nam châm điện đều có tác dụng trên mô sinh học Ngày nay, phương tiệnđiều trị từ trường chủ yếu được sản xuất theo nguyên lý nam châm điện do sự linhhoạt trong chế độ liều điều trị (cả về độ lớn của từ trường và tần số)
Trong môi trường dịch ngoại bào có rất nhiều các nguyên tử, ion, gốc tự do,các nguyên tử và ion này được cấu tạo từ rất nhiều các nguyên tố như carbon,hydro, nitơ, phốt pho, đồng, chì, kẽm, natri, clo… Các ion, gốc tự do có điện tửkhông tạo cặp lớp ngoài cùng đều có mô men từ spin riêng, và do đó là một đíchchịu tác động trực tiếp của từ trường ngoài Các ion tự do này còn chịu tác độnggián tiếp của từ trường thông qua tác động lên cấu trúc màng tế bào (protein xuyên
Trang 19màng), từ trường làm thay đổi tính thấm của màng đối với một số loại ion nhất địnhnhư ion Ca2+, ion Na+, K+ làm cho các ion này đi lại qua màng dễ dàng hơn.
Trong cơ thể sống có khá nhiều các dạng phân cực khác nhau như những phân
tử protein có kích thước lớn ở trạng thái trung hòa về điện, nhưng hai đầu đối diệnlại có ưu thế của các điện tích khác nhau như nhóm R-COO- hay R-NH3 gây ra, đó
là một lưỡng cực Nước chiếm 60-70% trọng lượng cơ thể, 75% trọng lượng não
bộ Phân tử nước có chứa hai liên kết OH, mỗi liên kết OH là một mô-men lưỡngcực và mô-men lưỡng cực này tồn tại ngay cả khi không có bất cứ tác động nào.Nếu không có điện trường ngoài, các lưỡng cực này sắp xếp hỗn loạn, nhưng khi cótrường ngoài, lập tức mô-men lưỡng cực sẽ định hướng theo điện trường, từ trường,
do đó về nguyên lý sẽ ảnh hưởng tới hoạt tính sinh học tế bào
Tế bào là đơn vị cơ bản của mô sống Tất cả các tế bào đều có một điện thếmàng được tạo ra do sự dịch chuyển của các dòng ion qua màng tế bào (điện thếphụ thuộc ion) và phát sinh hiện tượng điện sinh học Bình thường, mô khỏe mạnh
ở trạng thái cân bằng hoạt động điện và chức năng nên có khả năng bù trừ tốt do đóhầu như không quan sát được sự thay đổi đáng kể nào của mô dưới tác động của từtrường Ngược lại, ở mô tổn thương từ trường có tác động hiệu quả hơn Trong bất
kỳ mô tổn thương nào đều tồn tại một dòng điện được gọi là “dòng tổn thương”.Dòng này có cường độ và điện thế rất nhỏ (dưới 1mA, nên được gọi là vi dòng).Dòng “tổn thương” có vai trò quan trọng trong kích thích quá trình lành thương nộisinh Dòng tổn thương sinh ra các tín hiệu điện từ trường nội sinh và kích thích sự
di chuyển của các tế bào tới chỗ tổn thương, do đó hồi phục hoạt động điện và chứcnăng bình thường của mô Các tác nhân vật lý như điện trường, từ trường đều có thểảnh hưởng đến dòng điện này theo các nguyên lý vật lý thông thường, do đó có thểtăng cường hoặc giảm quá trình lành thương nội sinh Bản chất của quá trình này là
sự thay đổi mật độ ion giữa hai bên màng tế bào, dẫn đến sự mất cân bằng ion haibên màng và phát sinh quá trình bệnh lý Tác nhân từ có thể tác động trực tiếp đếncác ion tự do này, gây ra sự sắp xếp trở lại vị trí ban đầu, phục hồi lại điện thế màngcủa tế bào, của mô, do đó kích thích nhanh quá trình lành thương
Trang 20Vì những lý do trên mà đứng về phương diện vật lý, khi sử dụng từ trườngngoài tác động lên cơ thể có thể gây ra những thay đổi về mặt lý hóa từ đó có thểgây ra các đáp ứng sinh học.
1.3.2 Tác dụng của từ trường đối với bệnh lý thiểu năng tuần hoàn não
- Cải thiện tuần hoàn: Người ta cho rằng từ trường tác động lên vi tuần hoàn
và vi mạch máu, thông qua điều hòa kênh L-type Ca2+ cơ trơn thành mạch, gây co
cơ trơn tăng trương lực mạch, đồng thời kích thích tế bào nội mạch sản xuất nitricoxide có tác dụng gây giãn mạch và hạn chế hiện tượng co thắt bất thường củamạch máu Cùng với tác động làm giảm độ nhớt của máu; gây hiệu ứng sắt từ lênphân tử Hemoglobin đặc biệt những khu vực máu chảy chậm và nồng độ oxy cao(tiểu động mạch), từ trường góp phần làm tăng tốc độ dòng máu lên não và tănghiệu quả trao đổi oxy cũng như các chất chuyển hóa khác tại chỗ Hệ quả là cảithiện tuần hoàn, dinh dưỡng tại chỗ
- Quá trình viêm và phù nề: Từ trường có khả năng kiểm soát quá trình
viêm, làm giảm mức độ nặng của đáp ứng viêm Có nhiều cơ chế tham gia vào quátrình này Một mặt từ trường giúp phục hồi trương lực mạch thông qua việc tácđộng trực tiếp lên cơ trơn thành mạch đã làm giảm hiện tượng thoát mạch và giảmphù nề Mặt khác, người ta còn thấy khả năng ức chế quá trình viêm của từ trườngthông qua việc ức chế sản xuất các hóa chất trung gian gây viêm (interferon-γ,interleukin-6, gốc tự do) đồng thời kích thích các chất trung gian có tác dụng chốngviêm (interleukin-10), tăng khả năng đáp ứng miễn dịch của đại thực bào với các tácnhân gây viêm ngoại lai
- Tác dụng lên bảo vệ tế bào: Trên thực nghiệm, từ trường có khả năng ức
chế quá trình chết tế bào theo chương trình thông qua việc điều hòa dòng ion can-xinội bào (giảm dòng can-xi ngoại bào vào nội bào), ức chế sự giải phóng can-xi từcác kho dự trữ nội bào nên hạn chế sự tăng can-xi nội bào, do đó hạn chế được sựphá hủy của tế bào Ngoài ra từ trường còn tham gia đảm bảo sự toàn vẹn và duy trìchức năng hàng rào máu não qua cơ chế điều hòa trương lực mạch nên làm giảmtình trạng phù não do vận mạch
Trang 21Bên cạnh đó, từ trường còn tác động gián tiếp thông qua tăng cường các cơchế bảo vệ tế bào nội sinh như tăng sản xuất protein sốc nhiệt (heat shock protein-hsp), nitric oxide, opioid, tăng cường tác nhân chống oxy hóa và điều hoà lưu lượngmáu tại chỗ Ngoài ra, từ trường còn kích thích quá trình tăng sinh mạch, cải thiệntuần hoàn bàng hệ, cải thiện sự nuôi dưỡng mô, đặc biệt trong thiếu máu bán cấp vàmạn tính
1.3.3 Máy điều trị từ trường MAG-EXPERT.
Hình 1.3 Máy điều trị từ trường MAG-EXPERT.
(Nguồn hướng dẫn sử dụng máy điều trị từ trường MAG-EXPERT, Hãng
Physionmed – Cộng Hòa Liên Bang Đức sản xuất, Tr 5)
Máy điều trị từ trường sẽ tạo ra một từ trường bao quanh vùng điều trị khihoạt động Hệ thống được điều khiển bằng vi xử lý Microprocessor dễ vận hành vớimàn hình tinh thể lỏng LCD thông báo các thông số điều trị Độ an toàn chính xáccao khi vận hành
- Hai kênh điều trị độc lập với công nghệ MFC tập trung tối đa sóng từ trườngvào vùng cần điều trị
Trang 22- Lựa chọn nhiều chế độ điều trị Hệ thống điều khiển cho phép người sử dụngđặt nhiều chế độ điều trị với tần số khác nhau sao cho phù hợp nhất với liệu phápđiều trị.
- Công suất phát từ trường lớn tới 100 Gauss Máy cho phép điều chỉnh côngsuất phát từ trường từ 1 đến 100 Gauss rất thuận tiện điều trị phù hợp với thể trạngcủa mỗi bệnh nhân
- Với bộ nhớ chương trình điều trị tiêu chuẩn:
Trong máy có lưu sẵn 90 chương trình điều trị tiêu chuẩn với thông số điều trịđược lập trình sẵn Bác sỹ sử dụng chỉ cần thao tác đơn giản để gọi chương trình đó
ra là sử dụng được ngay mà không cần phải cài đặt lại các thông số điều trị
Ngoài ra máy còn cho phép lưu trữ thêm 50 phác đồ điều trị thường xuyên sửdụng do người sử dụng lưu vào để ứng dụng lại nhiều lần
- Có màn hình thông báo lớn bằng tinh thể lỏng LCD thông báo tất cả cácthông số liên quan đến việc điều trị như: tần số điều trị, hiệu suất trị liệu, cường độ,thời gian trị liệu, nội dung của chương trình Tạo thuận tiện cho bác sỹ sử dụng vàtheo dõi các thông số mình cài đặt cũng như toàn bộ quá trình điều trị các bệnhnhân
- Được thiết kế nhờ có bộ vi xử lý do đó bác sỹ dễ dàng cài đặt các chức năng
và thông số điều trị được điều chỉnh không cần bàn phím mà bằng núm xoay vô cực.Núm xoay vô cực này còn tránh được sự hỏng hóc do vặn quá liều như tại các loạimáy khác
- Có chức năng thông báo cho biết thời gian điều trị đã kết thúc bằng tín hiệu
âm thanh và đèn khi điều trị xong máy sẽ tự động dừng hoạt động Đảm bảo an toàn
và tiết kiệm năng lượng
- Được thiết kế với hệ thống kiểm soát tự động Máy có hệ thống kiểm soát tựđộng mọi tình trạng hoạt động của máy và sẽ thông báo bằng âm thanh và đèn đểngười sử dụng biết và tự dừng hoạt động khi có sự cố sảy ra Hệ thống kiểm soát tựđộng còn giúp tạo ra độ an toàn cao khi chuyển nhầm chế độ làm việc và các sự cốsảy ra khi máy đang hoạt động
Trang 231.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ BẰNG TỪ TRƯỜNG TRONG BỆNH
LÝ THIẾU MÁU CỤC BỘ MÔ.
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới.
Xu và cộng sự (2013) đánh giá sự ảnh hưởng của từ trường không đổi lêntốc độ dòng chảy động mạch cơ chày trước trên chuột Tốc độ đỉnh của dòng chảyđược đo dưới kính hiển vi huỳnh quang, có camera ghi lại và hiển thị trên màn hình.Thí nghiệm tiến hành trên 3 nhóm chuột: nhóm bình thường; nhóm bị thắt độngmạch cơ chày trước; nhóm thắt và cấy ghép thiết bị phát từ trường không đổi160mT vào đốt sống thắt lưng 5 trong 7 tuần Đo vận động của thành mạch ở cácthời điểm 3, 5 và 7 tuần Kết quả cho thấy sự tăng có ý nghĩa biên độ co bóp độngmạch ở vùng thiếu máu
Grant và cộng sự (1993) tiến hành thực nghiệm trên 12 con thỏ bị làm tắcđộng mạch não trước, động mạch não giữa trái trong vòng hai giờ, tiếp đó cho táitưới máu trong bốn giờ, 6 con trong số này được điều trị bằng điện từ trường xung2,8 mT, 75 Hz, điều trị ngay sau tắc mười phút cho đến khi kết thúc tái tưới máu(350 phút) Đánh giá trên cộng hưởng từ (MRI), mô học và ghi điện thế gợi thầnkinh Cuối giờ thứ sáu, 12 con thỏ được chụp cộng hưởng từ hạt nhân và làm xétnghiệm mô bệnh học Kết quả, điện từ trường xung làm giảm sự lan rộng của phù
vỏ não trên cộng hưởng từ 13,5±3,2% so với 38,9±4,4% ở nhóm chứng với p <0,001 Sự khác biệt này thấy chủ yếu ở đoạn xa nhất (thiếu máu nặng), còn ở các látcắt gần sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,07 Trên tiêu bản nhuộm
mô học cho thấy sự giảm diện tích chết thần kinh do thiếu máu vùng vỏ não có ýnghĩa ở lát cắt xa nhất (thiếu máu nặng nhất) ở nhóm tiếp xúc từ trường so vớichứng (11,7±3,2% so với 38,0±6,2%, p < 0,01) Tỷ lệ diện tích mô thần kinh hoại tửvùng thể vân cũng giảm có ý nghĩa ở nhóm tiếp xúc từ trường so với nhóm chứng(35,9±9,6% so với 63,3±6,4%, p < 0,05) Biên độ điện thế sợi thần kinh nhóm điềutrị từ trường phục hồi trung bình 54,9±22,8% so với 27,7±11,8% ở nhóm chứng, tuynhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 Nghiên cứu cho thấy khảnăng giảm phù nề nhu mô não cũng như khả năng bảo vệ mô thần kinh khu vựcthiếu máu nặng
Trang 24Liu và cộng sự (2006) nghiên cứu tác dụng của từ trường xoay chiều lên thểtích ổ nhồi máu, phù não và chuyển hóa của các gốc tự do trên chuột sau thiếu máunão 2 giờ và tái tưới máu 24 giờ Từ trường với cảm ứng từ 0,09T, tần số 42Hz(2500 vòng/phút), tác động tại chỗ (đầu chuột) trong 15 phút vào các thời điểmngay sau tái tưới máu, sau tái tưới máu 6 giờ, 12 giờ và 18 giờ Kết quả, thành phầnnước trong não thấp hơn ở nhóm tiếp xúc từ trường so với chứng ở mọi thời điểmtrừ thời điểm ngay sau tái tưới máu Phù não giảm có ý nghĩa ở cả 4 thời điểm(2,48±0,22%; 2,32±0,19%; 2,23±0,36%; 2,91±0,44%, p < 0,05) nhưng không có sựkhác biệt có ý nghĩa giữa các thời điểm với nhau Thể tích ổ nhồi máu ở nhóm điềutrị thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng (128,21±15,05mm3; 171,22±40,50mm3,p<0,05) Thành phần SOD trong mô não tăng (54,54±3,85; 69,52±5,88 kNU/g,p<0,05) trong khi đó MAD (malondialdehyde) giảm (0,85±0,06, 1,03±0,09 μmol/g,p<0,05) Nghiên cứu này cho thấy từ trường xung có thể cải thiện khả năng chốngoxy hóa của mô não trong thiếu máu não cấp hay trong tổn thương tái tưới máu,giảm thể tích ổ nhồi máu và giảm mức độ phù não.
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nguyễn Trọng Lưu và cộng sự (2006) điều trị thiểu năng tuần hoàn não cho 43bệnh nhân bằng từ trường xoay chiều 50Hz, 40mT đặt hai bên thái dương hoặc haibên cột sống cổ mỗi lần 20 phút trong 10-15 ngày Kết quả 95,35% bệnh nhân giảmtrên 50% triệu chứng sau đợt điều trị Trên xét nghiệm lưu huyết não đồ cho thấy từtrường làm giảm rõ rệt tình trạng tăng trương lực thành mạch (α/T giảm từ56,46±4,88% xuống 20,42±5,93%, p < 0,01); sự xuất hiện sóng phụ cao hơn có ýnghĩa sau điều trị so với trước điều trị (93,75% so với 59,38%, p < 0,05); tăng lưulượng tuần hoàn não: thể tích máu tuần hoàn qua bán cầu tăng có ý nghĩa từ161,79±37,73 ml/phút lên 234,72±80,54 ml/phút (p = 0,001)
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
- Mẫu bệnh án nghiên cứu (phụ lục)
- Thang điểm đánh giá khả năng nhìn nhớ, khả năng nghe nhớ, bảng tiêuchuẩn chẩn đoán TNTHN
- Máy đo lưu huyết não
2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Phục hồi chức năng - Bệnh viện Y dược cổtruyền Quảng Ninh
2.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Gồm 30 bệnh nhân được chẩn đoán TNTHN được điều trị nội trú tại Khoa Phụchồi chức năng – Bệnh viện Y dược cổ truyền Quảng Ninh
2.3.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
Trang 26+ Tiêu chuẩn lâm sàng: Chọn bệnh nhân có triệu chứng theo bảng tiêuchuẩn chẩn đoán TNTHN của Khajiev (1979) Chọn những bệnh nhân có tổng sốđiểm từ 23,9 điểm trở lên.
+ Tiêu chuẩn cận lâm sàng:
REG: Có biểu hiện TNTHN trên REG dựa vào tiêu chuẩn lưu huyết não
ở người Việt Nam theo lứa tuổi của Đào Phong Tần (1992) và Vũ Đăng Nguyên(1998)
2.3.2. Tiêu chuẩn loại trừ:
Không lựa chọn và đưa vào diện nghiên cứu những bệnh nhân có 1trong các tiêu chuẩn sau:
+ Tiền sử đột quị não
+ U não, dị dạng mạch não
+ Suy tim, rối loạn nhịp tim
+ Bệnh nhân mang máy tạo nhịp
+ Bệnh nhân có kim loại trong vùng điều trị
+ Đang mắc các bệnh truyền nhiễm
+ Phụ nữ có thai, cho con bú
+ Bênh nhân không hợp tác điều trị
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu.
- Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp thử nghiệm lâm sàng, so sánh trước
Trang 27- Các triệu chứng thực thể: Được khám nội khoa toàn diện và khám thần kinhtheo phương pháp khám lâm sàng thần kinh.
+ Các chỉ số mạch, nhiệt độ và huyết áp động mạch:
- Tần số mạch: Được xác định bằng cách bắt mạch động mạchquay ở cổ tay, thời gian một phút, đo bằng đồng hồ bấm giây (đơn vị đo: chukỳ/phút)
- Huyết áp động mạch: Được đo ở tư thế nằm (trước khi đo bệnhnhân được nghỉ 30 phút), đo ở tay trái bằng huyêt áp thủy ngân trung quốc (đơn vịđo: mi li mét thủy ngân (mmHg) Đo huyết áp theo phương pháp của Korotkoff
- Nhiệt độ cơ thể được đo ở nách bằng nhiệt kế y học
- Các xét nghiệm và thăm dò chức năng được làm bao gồm:
a Xét nghiệm máu: (làm tại khoa xét nghiệm - Bệnh viện Y dược cổ truyền Quảng
Ninh)
+ Công thức máu: Tổng phân tích tế bào máu bằng máy đếm tự động
+ Máu lắng bằng máy tự động: Bình thường máu lắng sau 1 giờ ≤ 10 mm, sau 2giờ ≤ 20 mm
+ Xét nghiệm sinh hóa máu: urê, creatinin, ALT, AST, Glucose, tryglyceril,cholesterol, LDL – C, HDL-C
+ Tổng phân tích nước tiểu bằng máy tự động
b Đo lưu huyết não: tại hai thời điểm trước và sau điều trị, ghi ở hai đạo trình:
+ Đạo trình trán - chũm (F - M): Đánh giá hệ động mạch cảnh trong
+ Đạo trình chẩm - chũm (O - M): Đánh giá hệ động mạch đốt sống thânnền
Ghi đối xứng hai bán cầu, khi phân tích chọn 3 - 5 sóng liền nhau trênmột đường ghi và đánh giá theo các chỉ tiêu sau:
- Biên độ sóng REG: tính từ chân sóng đến điểm cực đại của sóng được tính
ra Ohm Đánh giá cường độ máu lên não
Biên độ được tính dựa vào tỷ lệ của chiều cao sóng lưu huyết so vớichiều cao của tín hiệu chuẩn, do đó đơn vị của biên độ REG trong phép đo này làp.m Bình thường trên 0,7 p.m