Đối với chóng mặt do tình trạng bệnh lý, nguyên nhân thường gặp nhất là do rối loạn tiền đình ngoại biên, viêm thần kinh tiền đình, đau đầu Migraine,… Các trường hợp chóng mặt do các bện[r]
Trang 1NGUYÊN NHÂN CHÓNG MẶT VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
CỦA BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI PHÒNG KHÁM THẦN KINH
Nguyễn Hoàng Lãm 1 , Lê Văn Tuấn**
TÓM TẮT
Mở đầu
Chóng mặt là một trong những triệu chứng thường gặp ở tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, và cũng là một trong những nguyên nhân khiến người bệnh tìm đến các cơ sở chăm sóc sức khỏe để thăm khám và theo dõi
Chẩn đoán nguyên nhân chóng mặt một cách chính xác, cụ thể là khó khăn, đòi hỏi người thầy thuốc phải nắm vững những đặc điểm của chóng mặt Việc đề ra những chiến lược điều trị, xác định nguyên nhân cho người bệnh nhập viện vì chóng mặt là cần thiết
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định các nguyên nhân gây chóng mặt và các yếu tố liên quan
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 385 người bệnh đến khám tại Phòng khám ngoại trú Thần kinh Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre trong thời gian từ tháng 11/2017 đến tháng 02/2018
Kết quả
Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính chiếm tỉ lệ 26%, kế đến là đau đầu migraine với 9,4% Các nguyên nhân gây chóng mặt do tình trạng bệnh lí như tăng huyết áp, đái tháo đường, lo âu, mất ngủ chiếm 61,0% Ghi nhận có mối liên quan giữa chóng mặt kịch phát lành tính với giới tính Đa số bệnh nhân chóng mặt tư thế kịch phát lành tính có chóng mặt kiểu xoay tròn (p < 0,001)
Kết luận
Chóng mặt là lý do thường gặp làm bệnh nhân đến khám bệnh tại phòng khám Nguyên nhân chóng mặt đa dạng bao gồm nguyên nhân tiền đình trung ương và ngoại biên, nguyên nhân không do tổn thương tiền đình Các nghiên cứu trong tương lai cần chú trọng các vấn đề này
Từ khóa: Chóng mặt, nguyên nhân chóng mặt.
VERTIGO AND DIZZINESS CAUSES AND RISK FACTORS
OF OUTPATIENTS IN A PUBLIC HOSPITAL
Nguyen Hoang Lam, Le Van Tuan
ABSTRACT
Introduction
Vertigo and dizziness are the main causes for patients to seek medical care for follow-up visits Diagnosing the cause of dizziness can be difficult because symptoms are often nonspecific and the differential diagnosis is broad
Objectives
To determine the causes of vertigo and dizziness and its related factors
Method
A cross-sectional study was conducted from November 2017 to February 2018 in 385 outpatients
Results
Benign paroxysmal positional vertigo (BPPV) is one of the most common causes of vertigo (26%), migraine was 9.4% Other causes of vertigo are hypertension, diabetes, anxiety and loss of sleep
Conclusion
Common causes of dizziness include a migraine, medications, and alcohol It can also be caused by
a problem in the inner ear, where balance is regulated Dizziness is often a result of vertigo as well The most common cause of vertigo and vertigo-related dizziness is benign positional vertigo (BPV) Close multidisciplinary cooperation is essential in dizziness, and further multicenter studies are needed
Key words: Dizziness, vertigo, dizziness’causes.
Tác giả liên lạc: Nguyễn Hoàng Lãm SĐT: 0903315001 Email: dr.hoanglam1976@gmail.com
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Chóng mặt là một trong những triệu chứng thường gặp ở tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, và cũng là một trong những nguyên nhân khiến người bệnh tìm đến các cơ sở chăm sóc sức khỏe để thăm khám và theo dõi
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng chóng mặt như tình trạng bệnh lý, các yếu tố môi trường, hành vi, thói quen của dân số Thông thường các yếu tố này không tác động đơn độc mà kết hợp với nhau dẫn đến tình trạng chóng mặt, xuất hiện đột ngột và có thể gây nguy hiểm Đối với chóng mặt do tình trạng bệnh lý, nguyên nhân thường gặp nhất là do rối loạn tiền đình ngoại biên, viêm thần kinh tiền đình, đau đầu Migraine,… Các trường hợp chóng mặt do các bệnh lý như tai biến mạch máu não, xơ cứng rải rác, u vùng hố sau và bệnh lý thoái hóa thần kinh thường là những nguyên nhân trầm trọng, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, cần can thiệp và xử trí cấp cứu
Chẩn đoán nguyên nhân chóng mặt một cách chính xác, cụ thể là khó khăn, đòi hỏi người thầy thuốc phải nắm vững những đặc điểm của chóng mặt Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân chóng mặt tại Việt Nam còn hạn chế, chưa được khảo sát một cách đầy
đủ và có hệ thống Việc đề ra những chiến lược điều trị, xác định nguyên nhân cho người bệnh nhập viện vì chóng mặt là cần thiết
Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định một số nguyên nhân của chóng mặt các yếu tố liên quan của bệnh nhân chóng mặt tại phòng khám ngoại trú thần kinh, nhằm đánh giá có hệ thống, tiến tới làm
cơ sở cho công tác chẩn đoán và điều trị chóng mặt
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dân số mục tiêu: Người bệnh đến khám tại Phòng khám ngoại trú Thần kinh Bệnh viện Nguyễn Đình
Chiểu, tỉnh Bến Tre
Dân số nghiên cứu: Người bệnh đến khám tại Phòng khám ngoại trú Thần kinh Bệnh viện Nguyễn
Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre trong thời gian từ tháng 11/2017 đến tháng 02/2018
Tiêu chí chọn vào: Người bệnh đến khám tại Phòng khám ngoại trú Thần kinh từ 18 tuổi trở lên đồng
ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại trừ
Người bệnh có suy giảm ý thức, sa sút trí tuệ, mất ngôn ngữ
Người bệnh có chấn thương cột sống cổ, phẫu thuật cột sống cổ, bệnh lý tủy cổ hay bệnh lý rễ cổ
Người bệnh có thai
Bệnh nhân viêm khớp dạng thấp nặng
Bệnh nhân hẹp động mạch cảnh nặng
Bệnh nhân có hội chứng bóc tách mạch máu
Bệnh nhân có cơn thiếu máu não thoáng qua hay thiếu máu não đang tiến triển
Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ
n= Z2 (1-) x Theo nghiên cứu của Teggi R và cộng sự thực hiện năm 2016, ghi nhận tỷ lệ chóng mặt là 40,3%
→ Cỡ mẫu nghiên cứu là n ≈ 370
Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện các bệnh nhân tới khám tại phòng khám ngoại trú Thần
kinh Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre trong thời gian từ tháng 11/2017 đến tháng 02/2018 thỏa tiêu chí chọn mẫu Mỗi ngày thực hiện thu thập 5 mẫu nghiên cứu Trung bình một ngày phòng khám có khoảng 60 bệnh nhân đến khám, do đó chọn người bệnh đầu tiên vào khám là đối tượng tham gia nghiên cứu sau đó cách 5 người sẽ lấy người kế tiếp (khoảng cách mẫu là k = 5) Nếu bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu thì chọn người kế tiếp vào sau đó
Phương pháp thu thập số liệu: Tất cả người bệnh được khám lâm sàng, ghi nhận bệnh sử, tiền căn,
sinh hiệu, dấu hiệu tổng quát, thần kinh và tiền đình Các test khám lâm sàng cơ bản được sử dụng để xác định nguyên nhân chóng mặt
Trang 3Phân tích số liệu: Phép kiểm 2 được sử dụng để xác định mối liên quan giữa nhân chóng mặt và các yếu tố liên quan Tỷ số số chênh (odds ratio) được sử dụng để đánh giá độ lớn mối liên quan, có ý nghĩa thống kê với giá trị p<0,05 và khoảng tin cậy 95% không chứa giá trị 1
KẾT QUẢ
Đặc tính mẫu nghiên cứu
Bảng 1: Thông tin nền của người bệnh đến khám bệnh (n=385)
Đặc điểm mẫu nghiên cứu Tần số Tỉ lệ % Tuổi trung bình (năm) 59,32 ± 15,17*
Nhóm tuổi
Giới tính
Nhóm tuổi từ 55 tuổi trở lên chiếm tỉ lệ 64,9% Giới tính nữ chiếm đa số với 74,3% Có 100% mẫu nghiên cứu là người Kinh
Bảng 2: Tình trạng bệnh lý đi kèm của bệnh nhân chóng mặt (n=385)
Tình trạng sức khỏe, bệnh lý đi kèm Tần số Tỉ lệ %
Số lượng bệnh lý đi kèm
Bệnh lý đi kèm chủ yếu là tăng lipid máu và bệnh lý về tim mạch với 31,7% và 29,6% tương ứng Các bệnh lý kèm theo khác chiếm tỷ lệ thấp Số lượng bệnh lý đi kèm ít nhất từ 1 bệnh chiếm 58,7%
Bảng 3: Chẩn đoán nguyên nhân gây chóng mặt (n=385)
Chẩn đoán nguyên nhân chóng mặt Tần số Tỉ lệ % Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính 100 26,0
Trang 4Tiền căn tăng huyết áp 165 70,2
Tỉ lệ chóng mặt tư thế kịch phát lành tính xảy ra ở 100 đối tượng (26,0%) Chóng mặt do đau đầu migraine chiếm 9,4% Các nguyên nhân khác như bệnh Ménière, viêm thần kinh tiền đình và đột quỵ chiếm tỉ lệ tương đương nhau
Nguyên nhân dẫn đến chóng mặt chủ yếu là khác (61,0%), trong đó có các nguyên nhân chính là lo
âu, mất ngủ, THA, đái tháo đường
Tỉ lệ chóng mặt kiểu xoay tròn và kiểu tiền ngất tương đương nhau với 35,1% và 36,0%, kế đến là chóng mặt kiểu không đặc hiệu với 26,3%, và thấp nhất là kiểu mất thăng bằng với 2,6%
Bảng 4: MLQ giữa nhóm tuổi và chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (n=385)
Nhóm tuổi Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính p
Có (%) Không (%)
0,720
Phép kiểm 2
Không có sự khác biệt về tỉ lệ chóng mặt tư thế kịch phát lành tính theo các nhóm tuổi
Bảng 5: MLQ giữa giới tính và chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (n=385)
Giới tính Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính p
Có (%) Không (%)
0,02
Phép kiểm 2
Nữ giới có tỉ lệ chóng mặt tư thế kịch phát lành tính cao hơn so với nam giới Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,02
BÀN LUẬN
Đặc tính mẫu nghiên cứu
Về giới tính của mẫu nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ nữ cao hơn nam (lần lượt là 74.3% và 25,7%) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự kết quả tác giả trong nước và nước ngoài Tác giả
Pháp trên 2987 người trưởng thành tuổi từ 18 – 86 cho thấy chóng mặt thường gặp ở nữ hơn nam ở hầu
đề cập ở trên được tiến hành ở nhiều nước khác nhau trên thế giới; dân số chọn mẫu từ cộng đồng, y tế
cơ sở và khoa cấp cứu bệnh viện Đặc biệt, nghiên cứu của Bunasuwan P (2011) ở Thái lan dù cỡ mẫu lớn hơn của chúng tôi nhưng có cùng dân số nghiên cứu đó là người bệnh đến khám tại các phòng
quan mạnh giữa chóng mặt và migraine vốn ở nữ hơn là nam, và ảnh hưởng của các yếu tố hormone ở
nữ có liên quan chóng mặt
Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 59,32 ± 15,17 tuổi Trong đó, những người trên 55 tuổi chiếm 64,9%, và tập trung ở độ tuổi trên 65 tuổi chiếm đến 38,7% Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu của chúng tôi tương đương với tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu của Bunasuwan P và cộng sự
Trang 5(2011) ở Thái lan là 55(4) Nghiên cứu của chúng tôi và của Bunasuwan P và cộng sự đều lấy dữ liệu từ bệnh viện Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của tác giả
của Liu B bao gồm những bệnh nhân có tuổi từ 4 đến 89, trong khi mẫu nghiên cứu của chúng tôi bao gồm người trưởng thành Các nghiên cứu tại Việt Nam tiến hành bằng cách đo lường trực tiếp đối
Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân ≤ 65 tuổi chiếm đa số 61,3% Nghiên cứu của Lam J.M.Y
và cộng sự năm 2006 trên bệnh nhân chóng mặt vào khoa cấp cứu tại một bệnh viện ở Hong kong cho
của Bittar R.S.M và cộng sự (2013) tại một cộng đồng dân cư ở Brazil cho thấy 49% trường hợp chóng
cộng đồng đều cho thấy đa số chóng mặt gặp ở độ tuổi trung niên trở xuống Tỷ lệ bệnh nhân ≤ 65 tuổi
bị chóng mặt theo nghiên cứu của chúng tôi dù chiếm đa số (61,3%) nhưng vẫn thấp hơn tỷ lệ này với
độ tuổi tương ứng ở nghiên cứu lấy dữ liệu cộng đồng ở Ba lan và Saudi Nguyên nhân có thể do mẫu của chúng tôi có tuổi trung bình cao hơn do mẫu gồm người trưởng thành trong khi mẫu của các nghiên cứu trên có khoảng tuổi rộng hơn bao gồm cả trẻ em Một tổng quan hệ thống các nghiên cứu từ năm
1998 – 2004 dựa vào dữ liệu tại phòng cấp cứu ở Hoa kỳ cho thấy chóng mặt đạt tỷ lệ cao nhất khoảng
Nguyên nhân của chóng mặt
Chóng mặt là một trong những lý do thường gặp làm bệnh nhân đến khám bệnh tại phòng khám đa khoa cũng như phòng khám chuyên khoa thần kinh Ở nước ta, hệ thống y tế hiện chưa có hệ thống bác
sĩ gia đình và chưa có sự phân cấp quản lý điều trị rõ rệt giữa phòng khám đa khoa và chuyên khoa, do
đó bệnh nhân bị chóng mặt có thể đến phòng khám chuyên khoa ngay từ đầu mà không qua phòng
khám đa khoa hay bác sĩ gia đình như ở các nước phát triển Một tổng quan hệ thống của Bösner S và
cộng sự (2018) lấy dữ liệu từ 31 nghiên cứu tại hệ thống y tế cơ sở về tần suất đến khám vì chóng mặt
đáng kể giữa các nghiên cứu vì cách chọn mẫu và đánh giá triệu chứng khác nhau
Chóng mặt là một triệu chứng do nhiều nguyên nhân khác nhau từ tiền đình trung ương, tiền đình ngoại biên đến các nguyên nhân ngoài hệ thần kinh như tim mạch, nội khoa, thuốc, tâm lý …
Chúng tôi nhận thấy các nguyên nhân khác không do nguyên nhân thần kinh chiếm tỷ lệ cao 61,0% (235 bệnh nhân) 39,0% bệnh nhân còn lại do nguyên nhân thần kinh, trong đó chóng mặt tư thế kịch phát lành tính chiếm tỷ lệ cao nhất 26,0%, kế đến là đau đầu migraine chiếm 9,4%, đột quỵ não 1,6%, bệnh Menière 1,0%, viêm thần kinh tiền đình 1,0%
Trong nhóm nguyên nhân khác không do nguyên nhân thần kinh (235 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 61,0%) thì tăng huyết áp gặp ở 70,2% bệnh nhân, kế đến là đái tháo đường (65,5%), mất ngủ (26,4%)
và lo âu (15,7%)
Phân tích gộp 31 nghiên cứu của Bösner S và cộng sự (2018) nhận thấy tỷ lệ các nguyên nhân gây chóng mặt rất thay đổi giữa các nghiên cứu Các nguyên nhân gây chóng mặt thường gặp nhất là bệnh
tiền đình ngoại biên, chóng mặt tư thế kịch phát lành tính thường gặp nhất (4,3 – 39,5%), viêm thần kinh tiền đình (0,6 – 24,0%) Bệnh lý thần kinh 1,4 – 11,4%, tâm thần 1,8 – 21,6%, chóng mặt không
này Tuy nhiên, chóng mặt không rõ nguyên nhân có tỷ lệ cao trong phân tích gộp này Có thể là do phân tích này thu nhận các nghiên cứu từ hệ thống y tế cơ sở nên việc chẩn đoán chính xác nguyên nhân chóng mặt là một thách thức lớn, trong khi vấn đề quan trọng hơn trong đánh giá bệnh nhân chóng mặt tại phòng khám đa khoa là loại trừ những nguyên nhân đe dọa tín mạng
Một nghiên cứu tiền cứu ở Hong kong của Lam J.M.Y và cộng sự (2006) tại khoa cấp cứu cũng nhận thấy nguyên nhân không do rối loạn chức năng tiền đình thường gặp hơn nguyên nhân do rối loạn
hệ thông tiền đình (63,5% so với 36,5%) Trong nhóm rối loạn hệ thống tiền đình thì đa số do nguyên nhân ngoại biên (31,7%), 4,8% do rối loạn tiền đình trung ương Nghiên cứu của chúng tôi và Lam
Trang 6J.M.Y đều dựa vào dữ liệu bệnh viện do đó có cùng đặc điểm về phân bố nguyên nhân Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy phần lớn nguyên nhân gây rối loạn tiền đình ngoại biên là chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (26,0%), trong khi Lam J.M.Y nhận thấy viêm thần kinh tiền đình (69%) là nguyên nhân chính của rối loạn tiền đình ngoại biên ở bệnh nhân vào khoa cấp cứu, kế đến mới là chóng mặt tư thế
có đặc điểm xảy ra từng cơn kéo dài ≤ 1 phút khi thay đổi tư thế đầu và hay tái phát nên triệu chứng không quá nặng nề và liên tục, bệnh nhân cũng đã quen với những đợt bệnh như thế do đó bệnh nhân thường đến khám ở phòng khám hơn là vào khoa cấp cứu; trong khi viêm thần kinh tiền đình biểu hiện bằng hội chứng chóng mặt cấp với chóng mặt có đặc điểm liên tục và mức độ nặng thường làm bệnh nhân nhập viện ngay
Trong nghiên cứu của chúng tôi nhóm nguyên nhân khác không do thần kinh chiếm tỷ lệ cao nhất 61,0%, trong đó chủ yếu là bệnh lý tim mạch (tăng huyết áp 70,2%) Điều này có thể do tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu của chúng tôi cao 59,3, nhóm bệnh nhân cao tuổi > 65 tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi khá cao 38,7% Nghiên của Lüscher M và cộng sự (2014) tại phòng khám cho kết quả chóng mặt do nguyên nhân rối loạn tiền đình ngoại biên chiếm đa số, trong đó thường gặp nhất là chóng mặt
người cao tuổi, bệnh lý tim mạch là nguyên nhân hàng đầu của chóng mặt tại y tế cơ sở Nghiên cứu cắt ngang của Maarsingh O.R và cộng sự (2010) trên 417 bệnh nhân cao tuổi 65 – 95 tuổi ở Hà lan đến bác
sĩ gia đình vì chóng mặt kéo dài Bệnh lý tim mạch là nguyên nhân thường gặp nhất góp phần gây
cộng sự (1999) cũng nhận thấy bệnh lý tim mạch là nguyên nhân hàng đầu của chóng mặt (48,0%), kế
tuổi so với người trẻ hơn Bệnh lý tim mạch gây chóng mặt thông qua nhiều cơ chế khác nhau, có thể tổn thương hệ thống tiền đình trung ương hay ngoại biên mà thường nhất là thông qua đột quỵ não Bệnh lý tim mạch có thể góp phần gây các kiểu chóng mặt khác nhau như tiền ngất, mất thăng bằng… Một nghiên cứu ở Thái lan của Bunasuwan P và cộng sự (2011) tại bệnh viện Thammasat cũng cho thấy các bệnh lý tim mạch thường đi kèm chóng mặt bao gồm tăng huyết áp 32,2%, và rối loạn lipid máu 34,2%(4)
Kết luận
Nguyên nhân chóng mặt chính trong nghiên cứu là các bệnh lí như tăng huyết áp, đái tháo đường,
lo âu và mất ngủ Cần đánh giá yếu tố về chóng mặt khi điều trị cho các bệnh nhân này Ngoài ra các nghiên cứu đánh giá tổn thương hệ thần kinh trung ương cần được tiến hành trong tương lai để lượng giá chính xác hơn nguyên nhân chóng mặt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Alexandre B (2013) "The epidemiology of vertigo, dizziness, and unsteadiness and its links to
co- morbidities Frontiers in Neurology" Original research article, 4 (29), pp 1-7
2 Bittar R.S.M (2013) "Population epidemiological study on the prevalence of dizziness in the
city of São Paulo, Brazil" J Otorhinolaryngol, 76 (6), pp 688-698
3 Bösner S (2018) "Prevalence, aetiologies and prognosis of the symptom dizziness in primary
care – a systematic review" BMC Family Practice, 19 : 33
4 Bunasuwan P., Bunbanjerdsuk S., Nilsuwan A (2011) "Etiology of vertigo in Thai patients at
Thammasat Hospital" J Med Assoc Thai, 94 (7), pp 102-108
5 Cao Phi Phong, Bùi Châu Tuệ (2010) "Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính: phân tích 30
trường hợp điều trị tái định vị sỏi ống bán khuyên sau bằng nghiệm pháp Epley" Tạp chí y học
TP Hồ Chí Minh, 14 (1), tr 304-309
6 Hồ Vĩnh Phước, Vũ Anh Nhị (2010) "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị chóng mặt tư
thế kịch phát lành tính" Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh, 14 (1), tr 341-346
7 Kerber K.A., Brown D.L., Lisabeth L.D., Smith M.A., Morgenstern L.B (2006) "Stroke among patients with dizziness, vertigo, and imbalance in the emergency department: a
population-based study" Stroke, 37 (10), pp 2484-2487
8 Lam J.M.Y (2006) "The epidemiology of patients with dizziness in an emergency
department" Hong Kong j.emerg.med, 13, pp 133-139
Trang 79 Lawson J (1999) "Diagnosis of geriatric patients with severe dizziness" J Am Geriatr Soc, 47
(1), pp 12-17
10 Liu B., Liu C., Chen X.W., Duan J.P., Zhao X.Y., Guan J.Z., Zuo L.J (2008) "Investigation
and analysis of the baseline data of 3432 patients with vertigo" Zhongguo Yi Xue Ke Xue Yuan Xue Bao, 30 (6), pp 647-650
11 Lüscher M (2014) "Prevalence and characteristics of diagnostic groups amongst 1034 patients
seen in ENT practices for dizziness" J Laryngol Otol, 128 (2), pp 128-133
12 Maarsingh O.R (2010) "Causes of Persistent Dizziness in Elderly Patients in Primary Care"
Ann Fam Med, 8, pp 196-205
13 Saif A.A, Senany S.A (2015) "The clinical and demographic features of dizziness related to
general health among the Saudi population" J Phys Ther Sci, 27, pp 195-198
14 Teggi R., Manfrin M., Balzanelli C., Gatti O., Mura F., Quaglieri S., Pilolli F., Redaelli de Zinis L.O., Benazzo M., Bussi M (2016) "Point prevalence of vertigo and dizziness in a
sample of 2672 subjects and correlation with headaches" Acta Otorhinolaryngol Ital, 36 (4),
pp 215-219
15 Wojtczak R (2017) "Epidemiology of dizziness in northern Poland – The frst Polish
neurootologic survey of the general population" Annals of Agricultural and Environmental Medicine, 24 (3), pp 502-506