1. Trang chủ
  2. » Lịch sử

Chuyên đề 9 - Phòng GD&ĐT Huyện Vĩnh Thuận

95 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của chuyên đề là: Đáp ứng thực tế tồn tại và sử dụng từ Hán Việt trong đời sống, trong giảng dạy và học tập; đáp ứng chương trình THCS: mỗi khối lớp phải cung cấp cho HS 50 – [r]

Trang 1

PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VÀ MỞ RỘNG VỐN TỪ NGỮ HÁN VIỆT

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

(Tài liệu bồi dưỡng Hè 2017)

*********

MỤC LỤC

1 Khát quát về yếu tố Hán Việt và từ Hán Việt tr 8

1.3 Sự hình thành từ ngữ Hán Việt trong tiếng Việt tr 23

2 Vai trò của từ ngữ Hán Việt trong vốn từ ngữ tiếng Việt tr 34

2.3 Giá trị phong cách của từ ngữ Hán Việt tr 37

3 Từ Hán Việt trong chương trình Trung học cơ sở hiện hành tr 42 3.1 Nguyên tắc biên soạn chương trình tr 42

5.4 Có thể thay thế từ ngữ Hán Việt theo hướng Âu hóa? tr 93

Trang 2

LỜI GIỚI THIỆU

Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên trong tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo Kiên Giang phối hợp với trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang tổ chức biên soạn các chuyên đề bồi dưỡng Hè 2017

Các chuyên đề này nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung, phương pháp và đánh giá kết quả giáo dục học sinh theo chương trình và sách giáo khoa hiện hành Chuyên đề "Phương pháp giảng dạy và mở rộng vốn từ Hán Việt cho học sinh Trung học cơ sở" nằm trong cái đích chung đó

Chuyên đề "Phương pháp giảng dạy và mở rộng vốn từ Hán Việt cho học sinh Trung học cơ sở" được biên soạn theo kiểu thiết kế các hoạt động, nhằm tích cực hóa hoạt động của người học, kích thích óc sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề, tự đánh giá kết quả của người học, chú trọng sử dụng nhiều phương tiện truyền đạt khác nhau giúp người học dễ theo dõi, dễ tiếp thu và gây được hứng thú trong học tập

Chuyên đề "Phương pháp giảng dạy và mở rộng vốn từ Hán Việt cho học sinh Trung học cơ sở" nằm trong hệ thống các chuyên đề thuộc chuyên ngành Ngữ văn hướng đến đối tượng tiếp cận là giáo viên Ngữ văn hiện đang công tác tại các trường trung học cơ sở trong tỉnh

Mục đích của chuyên đề là: Đáp ứng thực tế tồn tại và sử dụng từ Hán Việt trong đời sống, trong giảng dạy và học tập; đáp ứng chương trình THCS: mỗi khối lớp phải cung cấp cho HS 50 – 60 yếu tố Hán Việt; giúp GV Ngữ văn THCS cập nhật, bổ sung kiến thức, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, phát triển nghề nghiệp; đặc biệt là bù đắp cho sự thiếu hụt của chương trình đào tạo GV THCS trước đây không có học phần Từ Hán Việt (trong Chương trình đào tạo GV THCS trước đây, từ Hán Việt chỉ là một nội dung/bài trong học phần “Từ vựng tiếng Việt” - xét về mặt nguồn gốc, hoàn toàn không có nội dung PPGD và mở rộng vốn

từ Hán Việt); đồng thời bổ sung, củng cố, nâng cao những kiến thức và kỹ năng về dạy học đã được rèn luyện Bên cạnh đó, chuyên đề này còn giúp người học có ý thức đổi mới phương pháp học, nâng cao tính tích cực chủ động trong học tập và ứng dụng các vấn đề đã học vào việc dạy một cách hiệu quả, cụ thể là việc giảng dạy và mở rộng vốn từ Hán Việt cho các em học sinh bậc THCS

Chuyên đề được biên soạn thành các nội dung như sau:

1 Khát quát về yếu tố Hán Việt và từ Hán Việt

Trang 3

2 Vai trò của từ ngữ Hán Việt trong vốn từ ngữ tiếng Việt

3 Từ Hán Việt trong chương trình Trung học cơ sở hiện hành

4 Cung cấp và mở rộng vốn từ ngữ Hán Việt cho học sinh THCS

5 Từ Hán Việt và việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Các bài không hoàn toàn lặp lại những nội dung kiến thức đã được học trong chương trình đào tạo GV THCS trước đây mà xuất phát từ những yêu cầu thực tế của việc giảng dạy từ Hán Việt ở trường THCS để tìm ra nguyên nhân của những hạn chế trong việc hiểu nghĩa, dùng đúng từ Hán Việt của học sinh, từ đó mà tìm kiếm biện pháp khắc phục, rèn luyện kỹ năng cho các em

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tác giả của những tài liệu mà chúng tôi

đã sử dụng để biên soạn chuyên đề này, vì điều kiện thực tế chúng tôi không thể liên hệ để xin ý kiến được

Trong quá trình biên soạn, tuy đã hết sức cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế nhất định Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo gần xa để có điều kiện hoàn thiện, bổ khuyết cho những đợt bồi dưỡng sau

Địa chỉ liên hệ: Lâm Thành Tấn - Trường CĐSP Kiên Giang,

Điện thoại: 0919355657 – Mail: lamthanhtan65@gmail.com

Xin chân thành cám ơn

Kiên Giang, ngày 20 tháng 3 năm 2017

Trang 4

KẾ HOẠCH BỒI DƯỠNG CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY

VÀ MỞ RỘNG VỐN TỪ NGỮ HÁN VIỆT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

- Nắm được cấu trúc nội dung chương trình - sách giáo khoa, các nguyên tắc dạy học, các kiểu bài và phương pháp lên lớp dạy các nội dung có từ ngữ Hán Việt cho học sinh Trung học sơ sở

- Xác định nguyên nhân và đề xuất biện pháp rèn luyện kỹ năng nắm và sử dụng từ ngữ Hán Việt cho học sinh Trung học cơ sở

- Có ý thức tốt trong việc giảng dạy và bồi dưỡng học sinh, đồng nghiệp về

từ ngữ Hán Việt và việc mở rộng vốn từ ngữ Hán Việt trong nhà trường

II Tóm tắt chuyên đề:

- Xác định lại vị trí vốn từ ngữ Hán Việt trong nhà trường và trong đời sống

- Nhìn lại các nội dung về từ Hán Việt trong chương trình Trung học cơ sở

- Xác định nguyên nhân mắc lỗi dùng từ Hán Việt và đề xuất biện pháp khắc phục cho học sinh trên cơ sở giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

- Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng dùng nắm nghĩa của từ ngữ Hán Việt

và mở rộng vốn từ ngữ Hán Việt cho học sinh Trung học cơ sở

Trang 5

III Nội dung chính và phân bố thời gian

Thời gian Nội dung Hình thức tổ chức dạy học Chuẩn bị

của người học

Ghi chú

Lý thuyết

Bài tập

Thảo luận

Thực hành

Tự học Sáng: 4 tiết Khát quát về từ

Sáng: 4 tiết Từ Hán Việt

trong chương trình THCS

và SGK

Chiều: 4 tiết Từ Hán Việt

trong chương trình THCS

và SGK

Sáng: 4 tiết Cung cấp và mở

rộng vốn từ Hán Việt cho học sinh

và SGK

Chiều: 4 tiết Cung cấp và mở

rộng vốn từ Hán Việt cho học sinh

Sáng: 4 tiết Cung cấp và mở

rộng vốn từ Hán Việt cho học sinh

Chiều: 4 tiết Từ Hán Việt và

việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Sáng: 3 tiết Từ Hán Việt và

việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Chiều: 2 tiết Đánh giá kết quả 2

IV Đối tượng học tập chuyên đề

Giáo viên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trường THCS

Trang 6

V Phương pháp học tập

Số lượng học viên cho một lớp < 40

Vận dụng những ưu điểm của phương pháp dạy học truyền thống kết hợp với các phương pháp dạy học mới phù hợp với đối tượng người học, chú ý nhiều đến tự học và thảo luận, trao đổi nhóm Trường hợp cần thiết sẽ nhờ sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại

VI Thiết bị cần thiết

1 Phòng học đạt tiêu chuẩn với bàn ghế di động được

2 Giấy A0, A3, A4 (nhiều màu), bút dạ, băng dính, kéo

VII Tài liệu học tập và tham khảo

1 Bộ sách giáo khoa Ngữ văn Trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9) do nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành

2 Bộ sách giáo viên Ngữ văn Trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9) do nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành

4 Các tài liệu, bài viết về từ ngữ Hán Việt (nói chung)

VIII Đánh giá

- Sản phẩm làm việc của nhóm và cá nhân

- Các nội dung trình bày trước lớp của nhóm và cá nhân

X Kết quả mong đợi

- Học viên tin tưởng hơn vào vào kỹ năng và kiến thức của mình

- Cải thiện được tình trạng hạn chế về vốn từ ngữ Hán Việt và việc sử dụng

từ ngữ Hán Việt cho học sinh Trung học cơ sở (nếu có) ngay năm học 2015 - 2016

và những năm tiếp theo

XI Những điểm lưu ý

Do tính chất của chuyên đề, yêu cầu học viên kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết với thực hành Vì vậy, ở mọi hoạt động, học viên phải nắm vững, bám sát chương trình và sách giáo khoa ở những nội dung liên quan đến từ ngữ Hán Việt

Hoạt động chủ yếu của học viên trong chuyên đề là xây dựng phương pháp cung cấp và mở rộng vốn từ ngữ Hán Việt cho học sinh Vì vậy học viên phải đọc trước các tài liệu Nếu không thì trên lớp sẽ không đủ thời gian và dữ kiện để thực hiện

Chuyên đề coi trọng vai trò của hoạt động nhóm tại lớp, học viên phải biết phát huy vai trò hợp tác, cùng giải quyết các vấn đề về nội dung và phương pháp dạy học Đây cũng là điều kiện để học viên tiết kiệm thời gian, phát huy tính sáng tạo và biểu lộ tài năng của mình./

Trang 7

PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VÀ MỞ RỘNG VỐN TỪ NGỮ HÁN VIỆT

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

BÀI 1 KHÁI QUÁT VỀ TỪ NGỮ HÁN VIỆT

Mục tiêu cần đạt:

Về kiến thức: Khái niệm về từ Hán Việt, thành ngữ, tục ngữ Hán Việt

Về kỹ năng: Nhận diện từ Hán Việt trong tiếng Việt, vận dụng được những hiểu

biết về từ ngữ Hán Việt để nhận diện từ ngữ Hán Việt trong các văn bản của sách giáo khoa

Về thái độ: Có thái độ đúng đắn với từ ngữ Hán Việt và lớp từ vay mượn, nói

Ổn định trật tự

Tổ chức lớp học theo yêu cầu của đợt bồi dưỡng: nắm danh sách theo đơn vị phòng GD-ĐT huyện, thị, Tp

Thực hiện các yêu cầu của người hướng dẫn

Trang 8

nước, vệ quốc, mà không thể nói

vệ nước?

phát biểu

Phong (trong phong cảnh) với Phong (trong phong trần) có giống nhau không? Vì sao?

Thảo luận, phát biểu

Giữa Xa (khoảng cách) với Xa (cái xe) có quan hệ gì?

Thảo luận, phát biểu

Nguyên nhân của hai hiện tượng đồng âm trên?

Thảo luận, phát biểu

Giải lao

Hoạt động 3

40 phút

Trả lời các câu hỏi sau:

Vì sao ta có thể dịch: thiên là trời, địa là đất, quốc là nước, gia là nhà?

Thảo luận, phát biểu

Tại sao người ta có thể nói: bất bằng/bình, cang/cương thường, vũ /võ lực, đảm đương/đang, hành chánh/chính? Nhân nghĩa/ngãi?

Thảo luận, phát biểu

Hoạt động 4

60 phút

Các tổ nghiên cứu tài liệu, thảo luận, cử đại diện trình bày:

- Căn cứ vào nguồn gốc

- Căn cứ vào số lượng yếu tố câu tạo

- Căn cứ vào phương thức cấu tạo

Các nhóm thảo luận, trình bày bằng giấy A0

* Tài liệu phát tay

1 Khát quát về yếu tố Hán Việt và từ Hán Việt

Vay mượn từ ngữ là hiện tượng phổ biến giữa các ngôn ngữ Tiếng Việt hiện đại đang tồn tại các từ vay mượn từ tiếng Hán và ngôn ngữ Ấn - Âu (tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga) Trong đó, từ gốc Hán, mà ta quen gọi là từ Hán Việt, chiếm một số lượng rất lớn và có vai trò rất quan trọng trong vốn từ tiếng Việt

Trang 9

1.1.2 Phân loại yếu tố Hán Việt

1.1.2.1 Yếu tố Hán Việt được dùng độc lập với cương vị là một từ, mỗi yếu

tố là một từ của tiếng Việt, như: hoa 花, quả 果, nam 南, bắc 北, lợi 利, hại 害,

thắng 勝, bại 敗,xuân 春,hạ 夏, …

Trang 10

1.1.2.2 Yếu tố Hán Việt không được dùng độc lập với cương vị một từ mà chỉ là một thành tố cấu tạo từ, như: thiên 天, địa 地, sơn 山, hải 海, hoàng 黄, hắc

黑, tiếu 笑, khán 看, thính 聽, …

1.1.3 Yếu tố Hán Việt và hiện tượng đồng âm

Hiện tượng đồng âm trong nội bộ các yếu tố Hán Việt rất đậm nét Các yếu

tố đồng âm này vốn được viết bằng các chữ Hán khác nhau vì nghĩa của chúng vốn khác nhau, nhưng khi được viết bằng chữ Quốc ngữ của tiếng Việt thì như nhau, vì vậy khi sử dụng trong tiếng Việt rất dễ bị lẫn lộn Thí dụ:

Yếu tố Chữ viết Trong từ Quốc ngữ/nghĩa

Trang 11

筇 (12 nét) Tên một giống trúc thường dùng làm gậy

蛩 (12 nét) Tên một loài sâu lúa

跫 (13 net Tiếng chân dẫm xuống đất

躬 (10 nét) Cúc cung/ Thân mình

邛 (6 nét) Cung Đô quốc: tên nước

龔 (22 nét) Cung kính

姐 (8 nét) Tiếng gọi chị gái

寫 (15 nét) Tả chân: vẽ theo hình loài vật sống

沅 (7 nét) Tên một con sông ở TQ

源 (13 nét) Đào nguyên: nguồn đào

芫 (8 nét) Cây thuốc cá

Thiên

仟 (5 nét) Người đứng đầu nghìn người

偏 (11 nét) Lệch

千 (3 nét) Thiên nan: rất khó/ một nghìn: mười trăm

天 (4 nét) Thiên sinh: Trời sinh/ Trời/ Ngày

扁 (9 nét) Thiên chu: thuyền nhỏ

扡 (6 nét) Nha thiên: tăm xỉa răng

搧 (13 nét) Tát, vả

犏 (13 nét) Thiên ngưu: một giống bò lai

羴 (18 nét) Mùi tanh hôi của dê, cừu

羶 (19 nét Mùi tanh của giống dê

Trang 12

鞦 (18 nét) Thu thiên: cái đu

鶖 (19 nét) Một loài chim ở nước

Đường: một loại thực phẩm Đường: con đường

1.1.4 Yếu tố Hán Việt và hiện tượng đồng nghĩa

Trang 13

Giữa yếu tố Hán Việt với yếu tố phi Hán Việt có một sự đồng nghĩa rất lớn Theo Lê Xuân Thại: có người thống kê rằng trong các yếu tố Hán Việt có tới 75% đồng nghĩa với các yếu tố phi Hán Việt Thí dụ:

Yếu tố

Hán Việt

Yếu tố phi Hán Việt

Yếu tố Hán Việt

Yếu tố phi Hán Việt

Về hiện tượng này các nhà nghiên cứu cho rằng do hai nguyên nhân sau:

- Thứ nhất: Khi tiếp nhận từ Hán Việt, ta tiếp nhận cả chỉnh thể từ gốc Hán tức là tiếp nhận tất cả thành tố cấu tạo từ (các yếu tố Hán Việt) khi trong tiếng Việt

đã có sẳn yếu tố phi Hán Việt giữ cương vị là từ rồi thì yếu tố Hán Việt tương ứng này chỉ giữ vai trò cấu tạo từ mà thôi (không dùng độc lập như từ được)

- Thứ hai: Mặc dù trong tiếng Việt đã có sẳn yếu tố phi Hán Việt giữ cương

vị là từ rồi nhưng vẫn tiếp nhận yếu tố Hán Việt đồng nghĩa với cương vị từ do nhu cầu về phong cách

Trang 14

- Do kiêng húy tên của vua chúa hoặc họ hàng thân thích của vua chúa và người có thế lực Thí dụ:

Cang Cương Kiêng tên chúa Trịnh Cang Kỷ cương, cương nghị, cương

quyết Hoàng Huỳnh Kiêng tên chúa Nguyễn

Hoàng

Lưu huỳnh, Huỳnh Thúc Kháng

Nghĩa Ngãi Kiêng chức Hoằng Nghĩa

vương của Nguyễn Phúc Thái

Quảng Ngãi, nhơn ngãi, tình ngãi

Vũ Võ Kiêng tên thụy Hiếu Vũ

hoàng đế của chúa Nguyễn Phúc Khoát

Văn võ, võ công, Võ Nguyên Giáp

Nhậm Nhiệm Kiêng tên tự của vua Tự Đức

là Hồng Nhậm

Nhiệm vụ, trách nhiệm

Cảnh Kiểng Kiên tên hoảng tử Cảnh, con

vua Gia Long

Cây kiểng, kiểng vật, quê kiểng

Tục kiêng húy này có khi chỉ thực hiện ở một vùng lãnh thổ nhất định hoặc chỉ trong một thời kỳ lịch sử nhất định, do đó nảy sinh hiện tượng có hai cách đọc nhưng cùng một chữ viết (chữ Hán)

- Do sự phát triển của ngữ âm tiếng Việt Thí dụ:

Thu (thu phục) => Thâu (thâu phục) Chu (chu sa) => Châu (châu sa) Hiện tượng biến đổi phần vần này ở một số từ phi Hán Việt có thể tìm thấy trong một số phương ngữ hiện nay, như:

Sự biến đổi của vần Kéo theo sự biến đổi của tiếng

U => Âu

Tru (con tru) => Trâu (con trâu)

Su (con su) => Sâu (con sâu) Trù (lá trù) => Trầu (lá trầu) Ang => Ương Tràng (tràng giang) => Trường (trường giang

Trang 15

Đang (đảm đang) => Đương (đảm đương) Đàng (thiên đàng) => Đường (thiên đường) Lạng (lạng vàng) => Lượng (lượng vàng) Lang (lang y) => Lương (lương y)

1.1.5 Nghĩa của yếu tố Hán Việt

1.1.5.1 Có phải mọi yếu tố Hán Việt đều có nghĩa?

Tuyệt đại đa số yếu tố Hán Việt đều có nghĩa, chỉ một số ít yếu tố Hán Việt

tự thân nó không có nghĩa Thí dụ:

Yếu tố Hán việt tự thân không có nghĩa Trong từ

Nếu tra từ điển thì sẽ không thấy giải thích nghĩa của những yếu tố tỳ, bà,

bồ, đào, mã, não, lư, ly Bồ với tát cũng đều không có nghĩa, chỉ là những yếu tố

dùng để dịch từ bodhi-sattva trong tiếng Phạn mà thôi Các yếu tố câu, lạc, bộ

trong tiếng Hán đều có nghĩa, nhưng các yếu tố này dùng để phiên âm từ club trong tiếng Anh, còn nghĩa của chúng thì chẳng dính dáng gì mấy đến nghĩa của từ này

1.1.5.2 Có một số nghĩa của yếu tố Hán không được tiếp nhận trong yếu tố Hán Việt tương ứng Thí dụ:

Yếu tố Nghĩa trong yếu tố Hán Nghĩa trong yếu tố Hán Việt

Cổ “Đùi vế” Phần vốn: cổ đông, cổ phiếu

1.1.5.3 Có một số nghĩa của yếu tố Hán Việt không được tiếp nhận trong yếu tố Hán tương ứng Đó là sự phát triển nghĩa của yếu tố Hán Việt Thí dụ:

Yếu tố Nghĩa trong yếu tố Hán Nghĩa mới trong yếu tố Hán Việt

2 phóng dao: phi dao

Trang 16

Tống Đưa đi “đuổi đi”: tống quách nó đi

- Một số yếu tố Hán Việt vốn chỉ sự vật, có thêm nghĩa mới chỉ tính chất, như:

Yếu tố Nghĩa trong yếu tố Hán Nghĩa mới trong yếu tố Hán Việt

- Một số yếu tố Hán Việt vốn chỉ tính chất, có thêm nghĩa chuyên biệt hóa, như:

Yếu tố Nghĩa trong yếu tố Hán Nghĩa mới trong yếu tố Hán Việt

Bạc Mỏng Không có tình nghĩa trọn vẹn: bạc đãi

Khinh Nhẹ Xem thường, không coi trọng: khinh

thường

- Một số yếu tố Hán Việt vốn chỉ loại sự vật, có thêm nghĩa chỉ một tiểu loại của sự vật đó, như:

Yếu tố Nghĩa trong yếu tố Hán Nghĩa mới trong yếu tố Hán Việt

Thủ Cái đầu Cái đầu gia súc đã giết thịt: thủ lợn Đao Con dao Con dao ton dùng làm vũ khí: đao phủ Trà Chè Loại chè đã được chế biến: tiệc trà

Trang 17

- Một số yếu tố Hán Việt vốn chỉ hoạt động, có thêm nghĩa chỉ cái cụ thể của hoạt động đó, như:

Yếu tố Nghĩa trong yếu tố

Tác giả Nguyễn Thị Hai, trong bài “Cách nhận diện từ Hán Việt” đã giới thuyết: Từ Hán – Việt là các từ gốc Hán được đọc theo âm Hán – Việt Âm Hán – Việt là âm đọc của tất cả các từ Hán được Việt hóa theo một con đường như nhau, cho tất cả mọi chữ Hán, theo những quy luật chặt chẽ; lấy xuất phát điểm là âm Hán Trung cổ ở các thế kỷ VIII, IX (ứng với thời kỳ triều đại nhà Đường, Trung Quốc)

Từ vựng học của Nguyễn Thiện Giáp, nhà xuất bản Giáo Dục 1999 trang

242 viết: Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt gọi tắt là từ Hán Việt

Trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt hiện đại nhà xuất bản Giáo dục

2003, Đỗ Hữu Châu dẫn lời của giáo sư Phan Ngọc: Một từ Hán Việt là viết ra được bằng chữ khối vuông của Trung Quốc nhưng lại phát âm theo cách phát âm Hán Việt người vẫn dùng để đọc mọi văn bản viết bằng chữ Hán…

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Từ Hán-Việt là từ vựng sử dụng trong tiếng Việt có gốc từ tiếng Trung Quốc nhưng đọc theo âm Việt

1.2.2 Phân loại từ Hán Việt

Cấu tạo của từ Hán việt có nhiều điểm giống với cấu tạo của từ thuần Việt, nhưng cũng có những điểm khác với từ thuần Việt Để phân loại từ Hán Việt, có thể dựa vào các căn cứ sau:

Trang 18

1.2.2.1 Về nguồn gốc

1.2.2.1.1 Từ Hán Việt có nguồn gốc vốn là từ tiếng Hán

Đây là những từ Hán Việt được mượn nguyên khối Về nguồn gốc, đây là những từ do tiếng Hán cấu tạo nên Về hình thức và ngữ nghĩa, những từ này có thể đối chiếu qua các từ điển tiếng Hán Thí dụ:

- anh 英 là vua loài hoa, hùng là vua loài thú 雄; anh hùng 英雄 là người hào kiệt xuất chúng

- thiên 天 là trời, tự nhiên, lý 理 là lẽ; thiên lý 天 理 là lẽ trời

- thiên 天 là trời, tự nhiên, tai 災 là họa hai lớn; thiên tai 天 災 là tai họa do thiên nhiên gây ra

1.2.2.1.2 Từ Hán Việt bao gồm cả những từ do người Hán mượn của ngôn ngữ khác rồi người Việt mượn lại và đọc theo âm Hán Việt

- Những từ có gốc Nhật Bản: biện chứng, cộng hòa, đại bản doanh, điều chế, khái quát, kinh tế, mỹ thuật, nghĩa vụ, trường hợp, phục tùng, phục vụ, …

- Những từ có gốc Sanskrit (Phạn): Di lạc, niết bàn, Phật, Thích ca mâu ni,

tỳ kheo, A la hán…

- Những từ có gốc châu Âu: Mạc Tư Khoa, Á Căn Đình, Ba Tây, Ba Lê, Nã Phá Luân, Mạnh Đức Thư Cưu, …

1.2.2.1.3 Từ Hán Việt do người Việt tạo nên bằng các yếu tố Hán Việt

Những từ này được tạo ra ở Việt Nam nên không có trong tiếng Hán: bác sĩ,

y sĩ, bệnh viện, công an, đại đội, đại bác, đặc công, phi công, thiếu tá, …

1.2.2.2 Về số lượng yếu tố cấu tạo

1.2.2.2.1 Từ đơn tiết: Là từ cấu tạo chỉ có một yếu tố, như: đầu, thân, thận,

hoa, bút, hổ, tỉnh, huyện, học, tập, lợi, hại, vinh, nhục, phúc, đức, …

1.2.2.2.2 Từ đa tiết: Là từ do nhiều yếu tố cấu tạo thành, chủ yếu là từ song

tiết Trong đó có một số từ được cấu tạo bằng những yếu tố không có nghĩa, như: phảng phất, linh lợi, trịnh trọng, xán lạn, bàng hoàng, đường hoàng, hồ đồ, … Thuộc loại này còn có các từ tiếng Hán mượn theo cách phiên âm các ngôn ngữ khác, như: bồ đào, tỳ bà, thạch lựu; bồ tát, la hán, hòa thượng, …

1.2.2.3 Về phương thức cấu tạo

Phần lớn các từ Hán Việt được cấu tạo theo phương thức ghép Có ba loại từ ghép Hán Việt: từ ghép đẳng lập, từ ghép chính phụ và từ ghép chủ vị Từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ chiếm số lượng nhiều hơn

1.2.2.3.1 Từ ghép đẳng lập

Trang 19

Trong từ ghép đẳng lập, các yếu tố có vai trò ngữ pháp ngang nhau Các yếu

tố trong từ ghép đẳng lập hoặc là đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc là trái nghĩa, hoặc là

có liên quan với nhau trong một trường nghĩa nhất định Thí dụ:

(1) ngôn ngữ, khí huyết, thảo mộc, sự nghiệp, văn tự, tai nạn, …

(2) sinh trưởng, tồn tại, tiêu diệt, đình chỉ, bảo vệ, chế tạo, đấu tranh, … (3) vĩ đại, dũng mãnh, cùng khổ, kỳ quái, kiên cường, phong phú, độc ác, … (4) mâu thuẫn, lợi hại, lai vãng, hô hấp, thị phi, động tĩnh, bi hoan, sinh tử, Trật tự của các yếu tố trong từ ghép đẳng lập là cố định, chỉ có một số từ có thể đảo trật tự các yếu tố mà nghĩa không không thay đổi, như: bạo tàn = tàn bạo, giản đơn = đơn giản, tranh đấu = đấu tranh, ly biệt = biệt ly, tổn thương = thương tổn, tổn phí = phí tổn, …

Thí dụ: dân / chủ, nhân / tạo, pháp / định, niên / thiếu, dân / lập, nhật / thực,

* Ngoài các phương thức trên, có một số từ Hán Việt được cấu tạo theo

phương thức “phụ gia”, như:

- đệ: đệ nhất, đệ nhị

- khả: khả úy, khả ố, khả nghi

- trưởng: lý trưởng, hiệu trưởng, đại đội trưởng

- hóa: lý tưởng hóa, công hữu hóa, hợp tác hóa, hợp lý hóa, chuẩn hóa

- sở: sở trường, sở đoản, sở đắc, sở thích

Trang 20

- sĩ: thi sĩ, viện sĩ, họa sĩ

- Một số từ Hán Việt tuy có trong vốn từ tiếng Hán nhưng nghĩa khác xa tiếng Hán, như:

Từ Nghĩa trong tiếng Hán Nghĩa trong tiếng Việt

Tử tế Tỷ mỷ Không sơ sài/đối xử tốt: ăn mặc tử

tế, đối xử tử tế Đáo để Rốt cục, đến đáy, cuối cùng Có nghĩa chỉ tính cách

Khôi ngô (thân thể) cường tráng, to

lớn

(vẻ mặt) sáng sủa thông minh

Khốn nạn Khó khăn Chỉ sự hèn mạt không còn nhân

cách

- Một số từ Hán Việt ra đời do xu thế nói tắt, rút gọn:

Tuyên truyền huấn luyện Tuyên huấn

*******

Trang 21

*Thông tin phản hồi cho buổi 1

Hoạt động 1: Học viên thực hiện yêu cầu của người hướng dẫn về tổ chức

Hoạt động 2:

- Khi yếu tố đó hoàn toàn được chuyển thành yếu tố khác có nghĩa tương đương

- Vì “vệ” là yếu tố Hán Việt chưa được dùng độc lập hoàn toàn trong tiếng Việt

- Phong (trong phong cảnh) với Phong (trong phong trần) là hiện tượng đồng âm: Phong (trong phong cảnh) được viết: 丯 (4 nét) còn Phong (trong phong trần) được viết: 風 (9 nét)

- Giữa Xa (khoảng cách) với Xa (cái xe) có quan hệ đồng âm: đồng âm giữa yếu tố Hán Việt với yếu tố phi Hán Việt

- Nguyên nhân: Các yếu tố đồng âm này vốn được viết bằng các chữ Hán khác nhau vì nghĩa của chúng vốn khác nhau, nhưng khi được viết bằng chữ Quốc ngữ của tiếng Việt thì như nhau

Hoạt động 4: Các tổ nghiên cứu tài liệu, thảo luận, cử đại diện trình bày:

- Căn cứ vào nguồn gốc có:

+ Từ Hán Việt có nguồn gốc vốn là từ tiếng Hán

+ Từ Hán Việt bao gồm cả những từ do người Hán mượn của ngôn ngữ khác rồi người Việt mượn lại và đọc theo âm Hán Việt

+ Từ Hán Việt do người Việt tạo nên bằng các yếu tố Hán Việt

- Căn cứ vào số lượng yếu tố câu tạo

Trang 22

- Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa

Học viên đọc tài liệu

- Tữ Hán Việt là hệ quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ

Học viên đọc tài liệu

+ Cách đọc Hán Việt là gì? Học viên đọc tài liệu + Những từ tiếng Hán nào mới là

từ Hán Việt?

Học viên đọc tài liệu

+ Phân biệt từ Hán Việt với những từ gốc Hán không đọc theo

âm HV

Học viên đọc tài liệu

- Cách hiểu chung nhất về từ Hán Việt

Tổ trưởng điều hành thảo luận, thư ký ghi nhận các

ý kiến

Thống nhất các ý kiến quan trọng ghi vào giấy

A0 treo lên bảng và thuyết minh

Cả lớp theo dõi, trao đổi,

Làm việc theo nhóm

Nhận xét chung về thành ngữ, tục ngữ (Hán Việt và phi Hán Việt)

Làm việc theo nhóm

Giải lao

Trang 23

Hoạt động 4

30 phút

Tìm thành ngữ, tục ngữ Hán Việt

có thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt tương đương

Thảo luận chung

Tương đồng và dị biệt giữa thành ngữ, tục ngữ Hán Việt với thành ngữ, tục ngữ phi Hán Việt

Thảo luận chung

Tài liệu phát tay

1.3 Sự hình thành từ ngữ Hán Việt trong tiếng Việt

1.3.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa của sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt

Qua các nghiên cứu có thể kết luận: sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt bắt đầu từ thời thượng cổ Lúc đầu chỉ lẻ tẻ giữa các vùng cư dân gần gủi nhau Sự tiếp xúc đó trở thành quy mô, lưu lại ảnh hưởng sâu đậm kể từ khi Triệu Đà xâm lược

Âu Lạc (179 tr CN) và nhất là từ lúc nhà Hán đặt nền đô hộ trên đất Giao Chỉ và Cửu Chân (111 tr CN) cho đến năm 938, Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán, đem lại nền độc lập cho nước nhà Đây là thời kỳ thống trị của phong kiến phương Bắc đối với nước ta

Về mặt chính trị, đây là thời kỳ chính quyền phong kiến ngoại xâm thống trị nước ta Bộ máy thống trị đầu công nguyên mới chỉ hình thành ở một trung tâm được bọn chúng dùng làm trị sở, từ "cấp huyện" trở xuống thực quyền vẫn trong tay người Việt Bắt đầu từ thời Đông Hán, sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa của Hai

Bà Trưng, người Hán mở rộng các cứ điểm thống trị đến cấp huyện Đến thời nhà Đường thì bộ máy cai trị này đã đi sâu xuống tận cấp xã

Về mặt xã hội, theo chân chính quyền đương thời, người Hán đã sơm thâm nhập vào các hoạt động quan trọng của xã hội Việt Nam, sống chen lẫn với người Việt Nam Đó là những "kiều nhân" sang sinh cơ lập nghiệp ở Việt Nam: kẻ thì sang theo bà con, kẻ thì sang để lánh nạn khi ở ngay chính quốc bị loạn lạc, có kẻ sang vì phạm tội bị lưu đày, có kẻ sang chỉ vì nghe đồn ở Giao Châu dễ làm ăn

Trang 24

sinh sống, Đó còn là những kiều nhân vốn là quan chức, vốn là quan chức, sau khi thôi làm quan, ở lại sinh cơ lập nghiệp; tầng lớp này đông đảo và giàu có, là một giai tầng có uy thế, họ dựa vào bộ máy chính quyền và cũng được bộ máy chính quyền ủng hộ, kính nể Đó còn là những binh lính người Hoa sang Việt Nam đàn áp các cuộc khởi nghĩa yêu nước rồi ở lại Đó còn là hàng vạn dân thường được chính quyền phong kiến phương Bắc bắt ép phải di dân sang Việt Nam để thực hiện ý đồ bành trướng của giai cấp thống trị ở mỗi các triều đại Tất cả các tầng lớp cư dân người Hán này sinh sống và ở lẫn với người Việt, có quan hệ chặt chẽ với người Việt trong mọi hoạt động xã hội

Về mặt văn hóa, đây là thời kỳ văn hóa Hán được truyền bá thấm sâu vào xã hội Việt Nam Lực lượng góp phần đắc lực nhất trước hết là bộ máy quan lại thống trị người Hán và tầng lớp "kiều nhân" Hán có uy thế Thứ đến là tầng lớp "quyền quý" người Việt đã góp phần đáng kể vào công việc này Qua giáo dục và khoa cử, trong giai cấp phong kiến Việt Nam đã xuất hiện một tầng lớp trí thức am hiểu Hán học và thông quan Hán học nắm được cả Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo

Do những nhân tố về chính trị, xã hội, văn hóa như đã nói ở trên, vào thời kỳ Bắc thuộc, quan hệ giữa tiếng Hán và tiếng Việt là quan hệ bất bình đẳng Tiếng Hán được giữ địa vị chính thống trong công việc hành chánh, trong giáo dục và văn hóa, tiếng Việt không được coi trọng vì là ngôn ngữ của dân tộc bị trị

Thời kỳ độc lập tự chủ trải qua các triều đại phong kiến Việt Nam, trừ một

số giai đoạn ngắn nước ta bị phong kiến phương Bắc xâm chiếm và đô hộ, giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn có quan hệ bang giao về chính trị, sự trao đổi về kinh tế và sự giao lưu về văn hóa Đặc biệt là ở thời kỳ này, chữ Hán và tiếng Hán vẫn giữ vai trò chính thống trong giấy tờ hành chính, trong giáo dục, khoa cử và cả trong sáng tác văn chương Mặc dù đất nước độc lập đã có những vị minh quân, các bậc sĩ phu có ý thức đề cao vai trò của tiếng Việt nhưng cái chủ đạo trong các thế hệ trí thức của các thời kỳ này vẫn là Hán học

Địa vị chính thống của tiếng Hán bị lung lay khi thực dân Pháp đặt nền thống trị ở Việt Nam Cùng với việc củng cố bộ máy chính quyền thực dân và việc bãi bỏ chế độ thi cử truyền thống, tiếng Pháp bắt đầu giữ địa vị chính thống ở Việt Nam Tầng lớp trí thức Hán học tàn lụi dần Thời kỳ này, biết tiếng Hán là tầng lớp

sĩ phu của chế độ cũ còn lại và những học trò của các nho sĩ đã thất thế; tuy nhiên không phải vì thế mà sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt hoàn toàn bị cắt đứt Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các nhà yêu nước Việt Nam qua sách báo

Trang 25

chữ Hán đã tìm thấy những tư tưởng tiến bộ của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, của Tôn Trung Sơn và tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin

Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đem lại địa vị chính thống cho tiếng Việt trong mọi mặt của đời sống xã hội Mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Hoa gần gũi và chặt chẽ hơn, do đó, sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt cũng đậm nét hơn

Tóm lại, qua hàng ngàn năm lịch sử, trải qua các biến cố xã hội, tình hình có thay đổi nhưng sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt vẫn liên tục và đã để lại những dấu ấn, những hệ quả rõ nét trong tiếng Việt

1.3.2 Từ Hán Việt - một hệ quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt

Sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa Hán và Việt lâu dài và liên tục đã làm nảy sinh nhiều hiện tượng ngôn ngữ đáng chú ý, đặc biệt là sự hình thành và tồn tại lớp từ Hán Việt Nhưng có phải tất cả các từ Hán được đọc theo âm tiếng Việt đều là từ Hán Việt?

Cách đọc chữ Hán ở Trung Quốc qua các giai đoạn lịch sử cũng có sự thay đổi theo sự thay đổi của hệ thống ngữ âm tiếng Hán

Thời kỳ Bắc thuộc, tiếng Hán ở Giao Châu (bắc Việt Nam ngày nay) như là một phương ngữ của tiếng Hán ở Trung Quốc tồn tại bên cạnh tiếng Việt, chịu tác động bởi cách nói của người Việt, nhưng nó vẫn gắn bó mật thiết với tiếng Hán ở Trung Quốc: khi tiếng Hán ở Trung Quốc có diễn biến thì nó cũng diễn biến theo

Ở các thế kỷ VIII, IX, cách đọc chữ Hán ở Giao Châu là cách đọc theo hệ thống ngữ âm tiếng Hán giai đoạn sau của tiếng Hán trung cổ Sang thế kỷ X, khi Giao châu đã là một quốc gia độc lập tự chủ thì tiếng Hán ở Việt Nam đã cách ly khỏi tiếng Hán ở bên kia biên giới Sau thế kỷ X, trải qua các triều đại Nguyên, Minh, Thanh, tiếng Hán ở Trung Quốc vẫn tiếp tục diễn biến, nhưng những sự chuyển biến này không còn tác động đến tiếng Hán ở Việt Nam một cách trực tiếp với vai trò quyết định như trước nữa

Trang 26

Từ thế kỷ X trở về sau, tiếng Hán ở Việt Nam chịu sự chi phối của tiếng Việt, nếu có diễn biến là nó diễn biến trong phạm vi, quỹ đạo và ngữ âm lịch sử tiếng Việt Cách đọc chữ Hán dựa trên hệ thống ngữ âm tiếng Hán thời Đường dần dần biến dạng đi dưới tác động của ngữ âm và ngữ âm lịch sử của tiếng Việt, tách

xa hẳn cách đọc của người Hán và trở thành một cách đọc riêng của người Việt Cách đọc đó thường được gọi là cách đọc Hán Việt như trên đã định nghĩa Như vậy, cách đọc Hán Việt là sản phẩm lịch sử của sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt

ở thời kỳ nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập tự chủ Nói cách khác: vào thời

kỳ phong kiến đôc lập tự chủ ở Việt Nam cách đọc Hán Việt đã hình thành, phát triển và tồn tại đến ngày nay

1.3.2.2 Có phải tất cả các từ tiếng Hán được đọc theo âm Hán Việt đều là

từ Hán Việt?

Với cách đọc Hán Việt có thể đọc tất cả các từ tiếng Hán Nhưng không phải tất cả các từ tiếng Hán được đọc theo âm Hán Việt đều được mượn vào tiếng Việt Trên thực tế chỉ có một bộ phận từ tiếng Hán đọc theo âm Hán Việt được mượn vào tiếng Việt mà thôi Đọc bản phiên âm các bài thơ chữ Hán trong sách giáo khoa Ngữ văn 7 ta thấy rõ điều này Chẳng hạn, trong bài Nam quốc sơn hà, các từ

“tiệt nhiên”, “nhữ đẳng” không được mượn vào tiếng Việt, các từ như “sơn hà”,

“xâm phạm” thì được mượn vào tiếng Việt Chỉ những từ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt được mượn vào tiếng Việt mới gọi là từ Hán Việt

1.3.2.3 Phân biệt từ Hán Việt với những từ mượn gốc Hán nhưng không đọc theo cách đọc Hán Việt

Trong tiếng Việt hiện tồn tại một số từ gốc Hán không đọc theo cách đọc Hán Việt Đó là các từ gốc Hán được mượn vào tiếng Việt trong giai đoạn chưa có cách đọc Hán Việt Người ta gọi lớp từ này là từ tiền Hán Việt hoặc từ cổ Hán Việt

Từ tiền Hán Việt/

từ cổ Hán Việt

Cách đọc Hán Việt tương ứng

Từ tiền Hán Việt/

từ cổ Hán Việt

Cách đọc Hán Việt tương ứng

Trang 28

- Khu vực II gồm những yếu tố gốc Hán có cách đọc phi Hán Việt Chúng gồm ba trường hợp:

+ Trường hợp thứ nhất, mượn trước cách đọc Hán Việt (tiền Hán Việt), thí dụ: mùa務, mùi 味, buồng 房, buồm 帆,

+ Trường hợp thứ hai, mượn từ đời Đường cùng một lần với cách đọc Hán Việt nhưng về sau diễn biến theo một con đường khác với cách đọc Hán Việt, thí dụ: gan 肝, gân 筋, ván 板, vốn 本

+ Trường hợp thứ ba, mượn qua phương ngữ Hán, thí dụ: mì chính, mằn thắn, xủi cảo, há cảo…

- Khu vực III là những yếu tố Hán Việt, thông qua cách đọc Hán Việt Đây mới chính là từ Hán Việt mà chúng ta đang xét, gồm những từ đơn như: thiên 天, địa 地, giang 江, sơn 山, nhân 人, hà 河, thắng 勝, bại 敗, … và những từ ghép như: tổ quốc祖國, gia đình家庭, xã hội 社會, vận mệnh運命, thế giới世界, thời đại, 時代…Chính những yếu tố này tạo nên từ Hán Việt

1.4 Thành ngữ, tục ngữ Hán Việt

1.4.1 Cấu tạo của thành ngữ, tục ngữ Hán Việt

Trong vốn thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt có một số lượng khá lớn được cấu tạo bằng các từ Hán Việt, theo quy tắc ngữ pháp tiếng Hán Về cấu tạo, chúng rất

đa dạng nhưng thường gồm 4 chữ, 5 chữ hoặc 8 chữ, trong đó tỷ lệ các thành ngữ 4 chữ chiếm số lượng lớn (khoảng 70 – 80%) Về mặt nghĩa, cũng như tiếng Việt:

Trang 29

thành ngữ là cụm từ cố định tương đương với từ, tục ngữ thì đúc kết kinh nghiệm hoặc một bài học nào đó Đặc biệt có những thành ngữ, tục ngữ hình thành từ các điển tích, điển cố rất thú vị sẽ được đề cập tới ở phần sau

Trong thành ngữ, tục ngữ Hán Việt có nhiều thành ngữ, tục ngữ ta mượn toàn vẹn của tiếng Hán, nhưng cũng có mộ số thành ngữ, tục ngữ có sự khác biệt

bộ phận so với thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Hán hoặc do cộng đồng người Việt sáng tạo ra, không thấy có trong tiếng Hán

- Chiêu hiền đãi sĩ

- Vạn sự khởi đầu nan

- Trường sinh bất lão

- Vô danh tiểu tốt

- Tứ hải giai huynh đệ

- Tham quyền cố vị

- Đại sự hóa tiểu, tiểu sự hóa vô

- Nhất nghệ tinh nhất thân vinh

- Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại

- Nhất tự vi sư bán tự vi sư

- Phú quý sinh lễ nghĩa

- Phúc bất trùng lai họa vô đơn chí

- Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung

- Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách

- Giang san dị cải, bản tính nan di

1.4.1.2 Có sự khác biệt bộ phận so với thành ngữ Hán Thí dụ:

Nhất cử lưỡng tiện Nhất cử lưỡng đắc

An phận thủ thường An phận thủ kỷ

Danh lam thắng cảnh Danh thắng cổ tích

Bách niên giai lão Bạch đầu giai lão

Thượng lộ bình an Nhất lộ bình an

Trang 30

1.4.1.3 Do cộng đồng người Việt sáng tạo ra Thí dụ:

- Sinh cơ lập nghiệp

- Tài cao đức trọng

- Tôn sư trọng đạo

- Vô thưởng vô phạt

- Vinh thân phì gia

- Nam thanh nữ tú

- Lão nông tri điền

- Tràng giang đại hải

- Thăng quan tiến chức

- Hữu sắc vô hương …

1.4.2 Thành ngữ Hán Việt có thành ngữ Việt tương đương Thí dụ:

Bách chiến bách thắng Trăm trận trăm thắng

Bất cộng đái thiên Không đội trời chung

Kim chi ngọc diệp Lá ngọc cành vàng

Khẩu phật tâm xà Miệng nam mô bụng bồ dao găm

Giang san dị cải, bản tính nan di Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời

1.4.3 Nghĩa của thành ngữ, tục ngữ Hán Việt

1.4.3.1 Nghĩa của thành ngữ được suy trực tiếp từ nghĩa của các yếu tố tạo nên nó, nhưng cũng có nhiều thành ngữ có nghĩa bóng Thí dụ:

Hữu xạ tự nhiên hương Có chất thơm (xạ) tự

nhiên sẽ có mùi thơm

Có tài, có đức hoặc có phẩm chất tốt đẹp thì tự khắc mọi người đều biết đến

Bất cộng đái thiên Không đội trời chung Căm thù hết sức sâu sắc Đồng sàng dị mộng Cùng ngủ chung một

giường mà có mộng khác nhau

Gần gũi nhau nhưng suy nghĩ, chí hướng, mong muốn khác nhau

Trang 31

Thâm căn cố đế Rễ sâu, cuống hoa rất

bền vững

Ăn sâu, bền chắc khó lòng thay đổi, cải tạo

Khuynh quốc khuynh

thành

Nghiêng nước nghiêng thành

(có) vẻ đẹp tuyệt vời Kim chi ngọc diệp Cánh vàng lá ngọc Chỉ con cháu nhà quyền quý

1.4.3.2 Nghĩa của thành ngữ được hình thành trên những câu chuyện dân gian, câu chuyện lịch sử (gọi chung là điển tích) rất thú vị Hiểu được những câu

chuyện đó thì hiểu thành ngữ sâu sắc hơn Thí dụ:

- Thành ngữ “Dương dương tự đắc” dùng để chỉ thái độ vênh váo, kiêu kỳ,

tự cho mình là ghê gớm lắm; dựa trên câu chuyện: Thời Chiến quốc, Án Tử là Thừa tướng nước Tề, do đấy người đánh xe cho ông cũng rất kiêu ngạo Một lần

Án Tử cưỡi xe đi qua của nhà anh đánh xe, vợ người đánh xe thấy chồng mình ra

vẻ dương dương tự đắc Đợi khi chồng về, vợ đòi ly hôn Chị ta nói: “Án Tử là Thừa tướng của một nước mà ngồi xe khiêm tốn là thế, còn anh chỉ là người đánh

xe của ông ấy thôi mà lại dương dương tự đắc như vậy” Sau khi nghe vợ nói người đánh xe liền thay đổi thái độ (Sử ký – Tư Mã Thiên – Quản Án liệt truyện)

- Thành ngữ “ Kinh cung chi điểu” có nghĩa là bị nạn hụt một lần thì hay e ngại, sợ sệt, hoảng hốt; dựa trên câu chuyện: Canh Luy đứng trước Ngụy vương, giương cung không có tên, giả bắn một phát, một con nhạn liền rơi xuống Canh Luy giải thích với Ngụy vương rằng: “Sở dĩ như vậy là vì con chim này đã bị thương, vết thương chưa lành và lòng khiếp sợ chưa tan, cho nên thấy cung giương lên là hãi” (Chiến quốc sách)

- Thành ngữ “Khai thiên lập địa” chỉ thời quá khứ rất xa xăm; dựa trên câu chuyện truyền thuyết về Bàn Cổ: Thế giới lúc đầu hỗn độn như một quả trứng, trong đó có ông Bàn Cổ 18.000 năm trước, ông Bàn Cổ tách khối hỗn độn đó: phần trong sáng là trời, phần đục là đất

Về phần này, chúng ta có công cụ hỗ trợ là các quyển “Từ điển thành ngữ điển tích”./

*******

Trang 32

Thông tin phản hồi cho buổi 2

Hoạt động 1: Học viên thực hiện yêu cầu của người hướng dẫn về tổ chức

Hoạt động 2: Sự hình thành từ ngữ Hán Việt trong tiếng Việt là do:

- Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa của sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt (xem tài liệu)

- Từ Hán Việt - một hệ quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt (xem tài liệu)

+ Cách đọc Hán Việt: Cách đọc Hán Việt là cách đọc chữ Hán của người Việt bắt

nguồn từ ngữ âm tiếng Hán thời nhà Đường chịu sự chi phối của hệ thống ngữ âm tiếng Việt

+ Chỉ những từ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt được mượn vào tiếng Việt mới gọi

là từ Hán Việt

+ Đó là các từ gốc Hán được mượn vào tiếng Việt trong giai đoạn chưa có cách

đọc Hán Việt Người ta gọi lớp từ này là từ tiền Hán Việt hoặc từ cổ Hán Việt Ngoài ra, còn có một số ít từ gốc Hán được mượn theo con đường khẩu ngữ, như:

mì chính, vằn thắn, há cảo, xủi cảo, xập xám, loạn xị bát nháo, xập xí xập ngầu… cũng không phải là từ Hán Việt

Từ những điều trên rút ra nhận xét chung

Hoạt động 3: Tìm thành ngữ, tục ngữ Hán Việt có thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt

tương đương (về nghĩa):

Bách chiến bách thắng = Trăm trận trăm thắng

Bất cộng đái thiên = Không đội chung trời

Kính lão đắc thọ = kính người già thì mình được sống lâu

Lương y như từ mẫu = Thầy thuốc như mẹ hiền

Hoạt động 4: Chỉ ra sự giống nhau và khác nhau giữa thành ngữ, tục ngữ Hán Việt

với thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt

Hoạt động 5: Từ những điều trên rút ra nhận xét chung./

Trang 33

BÀI 2 VAI TRÒ CỦA TỪ NGỮ HÁN VIỆT TRONG VỐN TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT

Mục tiêu cần đạt:

Về kiến thức: Vai trỏ của từ Hán Việt trong tiếng Việt, nghĩa và đặc điểm sử dụng

của từ Hán Việt trong đời sống

Về kỹ năng: Hiểu đúng nghĩa và phong cách của từ Hán Việt trong các ngữ liệu,

văn bản của sách giáo khoa

Về thái độ: Có thái độ đúng đắn với từ ngữ Hán Việt và lớp từ vay mượn, nói

Từ Hán Việt trong tiếng Việt

Viết đoạn văn về sự học ngày nay:

1 Không sử dụng từ Hán Việt

2 Có sử dụng từ Hán Việt

Nhận xét chéo với nhau theo từng cặp, trả lời câu hỏi: 1 hay 2 dễ hơn?

Tìm nghĩa của các từ: Bì, Tâm, Phu nhân, Hủ hóa, Biệt, Mạt

Trang 34

Hán Việt có trong đoạn văn 2 thực hiện yêu cầu Chỉ ra sắc thái trang trọng của các

từ Hán Việt có trong đoạn văn 2

Sử dụng đoạn văn đã viết thực hiện yêu cầu

Chỉ ra sắc thái cổ của các từ Hán Việt có trong đoạn văn 2

Sử dụng đoạn văn đã viết thực hiện yêu cầu

Hoạt động 4

10 phút

Lý do tồn tại của từ ngữ Hán Việt Thảo luận

* Tài liệu phát tay

2 Vai trò của từ ngữ Hán Việt trong vốn từ ngữ tiếng Việt

2.1 Từ Hán Việt trong tiếng Việt

Tiếng Việt và tiếng Hán là hai ngôn ngữ cùng loại hình đơn lập Sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ này diễn ra rất sớm (TK II tr CN) và kéo dài đến tận ngày nay

Vì vậy, tiếng Việt đã vay mượn tiếng Hán nhiều lớp từ, vào các thời kỳ khác nhau nên có âm đọc khác nhau Đáng chú ý là lớp từ Hán cổ (mượn ở giai đoạn TK VII

về trước) và lớp từ Hán Việt (mượn ở giai đoạn từ TK VIII về sau) Nằm trong quy luật phát triển, biến đổi ngữ âm của từ tiếng Việt, trải qua thời gian, một số từ Hán Việt đã biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa để hòa vào kho từ vựng tiếng Việt nói chung

2.2 Nghĩa của từ Hán Việt

2.2.1 Một từ trong tiếng Hán có thể mang nhiều nghĩa, nhưng khi vào tiếng Việt chỉ giữ lại một, hai nghĩa mà thôi Thí dụ từ Nhất 一 theo Từ hải có đến 13

nghĩa: 1 Tên chữ số: một, 2 Tất cả, 3 Bao gồm một mối, thống nhất, 4 Đều, 4 Cùng, 6 Chuyên về, 7 Một khi, 8 Một mình, 9 Hoặc, 10 Lên, 11 Thật, 12 Tên một loại nhạc phổ biểu thị thanh điệu, 13 Một loại từ đệm; trong sách cổ Nhất còn

có nghĩa: cái bản thể uyên nguyên của vũ trụ vạn vật Sang tiếng Việt, Nhất chỉ số thứ tự đầu tiên và do đó có thêm nghĩa là “trên hết”, “đứng đầu” (Anh nhất thì tôi thứ nhì, ai mà nhất nữa tôi thì thứ ba – Ca dao) Các nghĩa “số một”, “bao gồm”,

“cùng” của Nhất chỉ xuất hiện trong từ ghép: duy nhất, độc nhất, nhất trí, nhất định, thống nhất,…

2.2.2 Một số từ vẫn giữ nguyên nghĩa cũ trong khi ở Trung Quốc không còn thông dụng nữa Thí dụ:

- từ Sinh 生 ở ta vẫn giữ nghĩa “sống” và “đẻ” trong khi Hán ngữ ngày nay không có hai nghĩa ấy, “sống” được thay bằng Hoạt 活 và “đẻ” được thay bằng

Trang 35

- từ Thiên 天 ở Việt Nam ta vẫn giữ nghĩa “trời”, nay trong Hán ngữ có nghĩa là “ngày”, thay cho từ Nhật日 cổ (chỉ “mặt trời” mà Việt Nam ta thì cũng hiểu là “ngày”)

- từ Công phu 工夫ở Việt Nam ta vẫn giữ nghĩa “sức lực đem ra để làm việc”, do đó cũng dùng để chỉ “làm cái gì một cách cẩn thận, tỉ mỉ, đầu tư nhiều sức lực, thời gian” trong khi Hán ngữ ngày nay từ Công phu có nghĩa “thì giờ”

2.2.3 Nhiều từ Hán Việt đi vào tiếng Việt đã trải qua quá trình biến đổi nghĩa, như các trường hợp sau:

2.2.3.1 Vẫn giữ phần nào nghĩa gốc, nhưng mở rộng khả năng kết hợp

2.2.3.2 Từ gốc có nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nhưng khi chuyển qua từ Hán Việt chỉ dùng nghĩa bóng, nghĩa phái sinh, vì nghĩa đen đã có từ thuần Việt đảm nhiệm Thí dụ:

- từ Tâm 心 chỉ “tấm lòng, tình cảm tốt”, chứ không dùng nghĩa “trái tim” (trừ thuật ngữ y học: tâm thất)

- từ Thâm 深 chỉ “người có mánh khóe hiểm ác để công kích, chơi khăm kẻ khác, chứ không dùng nghĩa “sâu” (trừ từ ghép: uyên thâm, thâm nhập)

2.2.3.3 Từ Hán Việt biểu đạt ý nghĩa trang trọng, thanh nhã hơn so với từ thuần Việt đồng nghĩa do văn cảnh hạn định Thí dụ:

- từ Tẩy uế 洗穢 là “rửa sạch đồ bẩn, dùng trong việc cúng tế”

- từ Phu nhân 夫人 là “vợ những người có địa vị, chức vụ xã hội”

2.2.3.4 Từ Hán Việt thu hẹp nghĩa, dùng trong một trường hợp cụ thể

Trang 36

- từ Đáo để 到 底 là “đến tận đáy” được dùng để chỉ “người có hành động quá quắt đáng sợ”

- từ Tâm địa 心 地 là “tấm lòng” được dùng để chỉ “bụng dạ thiên về cái gì không tốt, hại kẻ khác”

2.2.3.5 Từ Hán Việt đã chuyển biến hơi xa nghĩa gốc, nhưng qua suy luận còn thấy mối tương quan Thí dụ:

- từ Diện 面 là “cái mặt” được dùng với nghĩa “trau chuốt bề ngoài cho đẹp”: nó diện thật bảnh

- từ Biệt 別 là “chia lìa, riêng” được dùng với nghĩa “mất hẳn”: đi biệt, biệt tin

- từ Biến 變 là “thay đổi trạng thái” được dùng với nghĩa “mất hẳn, không còn chút gì”: tan biến, mất biến

2.2.3.6 Từ Hán Việt đã có nghĩa khác hẳn với nghĩa gốc, mối liên quan rất khó nhận thấy Thí dụ:

- từ Bạc 薄 nghĩa gốc là “mỏng”, nghĩa mới chỉ “tình trạng không gắn bó, thờ ơ, thay lòng đổi dạ”

- từ Đãi 待 nghĩa gốc là “đối xử”, nghĩa mới chỉ “việc cho người khác ăn uống dồi dào”

- từ Đoán 斷 nghĩa gốc là “xét rõ”, nghĩa mới là “nghĩ một cách phỏng chừng, mơ hồ”

- từ Hư 虛 nghĩa gốc là “trống rỗng”, nghĩa mới là “hỏng, xấu”

- từ Mạt 末 nghĩa gốc là “ngọn cây, cuối” nghĩa mới là “hèn kém”

- từ Thủ đoạn 手段 nghĩa gốc là “cách thức, cơ mưu”, nghĩa mới là “mánh khóe xấu xa, làm hại người khác để kiếm lợi”

- từ Tâm thuật 心術 nghĩa gốc là “cách dùng tình cảm, đạo đức để cảm hóa người khác”, nghĩa mới chỉ “ý đồ không tốt”

- từ Tử tế 子細 nghĩa gốc là “cẩn thận, tỉ mỉ”, nghĩa mới là “tốt bụng, ăn ở tốt với người khác”

- từ Lịch sự 歷事 nghĩa gốc là “trải qua sự việc, thạo việc”, nghĩa mới là

“giao thiệp khôn khéo hợp thời”

Tình trạng biến đổi nghĩa này đã làm cho từ Hán Việt trở thành từ thuần Việt

Trang 37

2.3 Giá trị phong cách của từ ngữ Hán Việt

Muốn sử dụng tốt từ ngữ Hán Việt, không những phải hiểu rõ ý nghĩa của từ ngữ mà còn phải thấu hiểu các giá trị phong cách của chúng Vấn đề giá trị phong cách được đặt ra khi một từ ngữ Hán Việt đồng nghĩa với một hoặc nhiều từ ngữ phi Hán Việt khiến trong khi sử dụng bắt buộc ta phải lựa chọn Về đại thể, từ Hán Việt có các giá trị phong cách sau:

2.3.1 Tạo sắc thái tao nhã, tránh gây ấn tượng ghê rợn

2.3.1.1 Tạo sắc thái tao nhã, như: hậu môn, tiểu tiện, đại tiện, hộ sinh, khỏa

thân, dương vật, âm hộ, phân…

2.3.1.2 Để giảm bớt ấn tượng ghê rợn, như: thổ huyết, xuất huyết, thi hài,

hài cốt, di hài, thương vong, hỏa táng …

2.3.2 Tạo sắc thái trang trọng

Từ Hán Việt tạo sắc thái trang trọng, đặc biệt phù hợp với các trường hợp giao tiếp lễ nghi So sánh các từ sau đây sẽ thấy rõ điều đó:

“Lệ” và “nước mắt” là hai từ đồng nghĩa Thông thường người ta chỉ nói

“nước mắt”, nhưng trong một số trường hợp dùng “lệ” thấy hay hơn, có giá trị nghệ thuật hơn là do tính trang trọng của từ Hán Việt, như:

- Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm (Nguyễn Du)

- Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều (Tố Hữu)

- Luận cương đến Bác Hồ, và Người đã khóc

Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lê-nin (Chế Lan Viên)

Do sắc thái trang trọng của từ ngữ Hán Việt mà người Việt Nam ta rất thích dùng từ ngữ Hán Việt để đặt tên người, tên đất Người ta thích đặt tên là Sơn, là Hải, là Thủy, là Thảo, là Diệp … chứ ít ai lấy tên là Núi, là Biển, là Nước, là Cỏ, là

Trang 38

Lá … mặc dù chúng có nghĩa như nhau Nhiều tên làng cổ của Việt Nam bên cạnh tên Việt còn có thêm tên Hán Việt, như:

2.3.3 Gợi hình ảnh của thế giới khái niệm, im lìm, bất động

Nếu như từ thuần Việt thường cung cấp cho ta hình ảnh sinh động thì từ Hán Việt, ngoài sắc thái trang trọng còn gợi cho ta hình ảnh của thế giới khái niệm, im lìm, bất động So sánh ba bài thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến với các bài “Cảnh chiều hôm”, “Thăng Long hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quan ta sẽ thấy rõ điều

đó

Thu điếu

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Thu ẩm

Năm gian nhà cỏ thấp le te,

Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt ?

Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe

Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy

Độ năm ba chén đã say nhè

Trang 39

Thu vịnh

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

Nước biếc trông như tầng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào

Cảnh chiều hôm

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,

Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn

Gác mái, ngư ông về viễn phố,

Gõ sừng, mục tử lại cô thôn

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,

Dặm liễu sương sa khách bước dồn

Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?

Thăng Long thành hoài cổ

Tạo hóa gây chi cuộc hý trường

Đến nay thấm thoát mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường

Thơ của Nguyễn Khuyến thì dùng nhiều từ phi Hán Việt còn trong thơ của

Bà Huyện Thanh Quan lại dùng nhiều từ Hán Việt Cảnh vật trong thơ Nguyễn Khuyến là cảnh thực, còn cảnh vật trong thơ Bà Huyện Thanh Quan là cảnh của muôn đời, cảnh của ý niệm

Trang 40

2.3.4 Tạo sắc thái cổ

Quả thật không thể phủ nhận giá trị của từ ngữ Hán Việt khi tái tạo hình ảnh các nhân vật và cuộc sống xã hội ngày xưa, đưa người đọc, người nghe trở về với không khí của quá khứ Các từ này ngày nay không được dùng nhưng nó đã gắn bó với lời ăn tiếng nói của một thời Đó là các từ như: hoàng thượng, hoàng hậu, trẫm, khanh, hoàng tử, công chúa, xa giá, ngự triều, hạ chỉ, bái yết, bình thân, vấn an, thuyền quyên, giai nhân, tiểu thư, vi hành, băng hà, … /

*******

* Thông tin phản hồi cho buổi 3

Hoạt động 1: Học viên thực hiện yêu cầu của người hướng dẫn về tổ chức

+ Phu nhân 夫人 là “vợ những người có địa vị, chức vụ xã hội”

+ Hủ hóa朽 化 là “hư hỏng, mục nát” được dùng để chỉ “quan hệ nam nữ không chính đáng”

+ Biệt別 là “chia lìa, riêng” được dùng với nghĩa “mất hẳn”: đi biệt, biệt tin

+ Mạt 末 nghĩa gốc là “ngọn cây, cuối” nghĩa mới là “hèn kém”

Hoạt động 3: Thực hiện yêu cầu của người hướng dẫn

Hoạt động 4: Thảo luận rút ra kết luận./

Ngày đăng: 27/01/2021, 21:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w