Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất giải pháp thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu, cụm công nghiệp ở
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN MINH VƯƠNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Nghệ An, 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN MINH VƯƠNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH TRUNG THÀNH
Nghệ An, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Bằng tình cảm chân thành, tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Vinh, Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh tế - Công nghiệp Long An đã mở ra cơ hội cho tôi được tham gia học tập lớp Thạc sỹ chuyên ngành Chính trị học khóa 23 (2015 -2017) do Trường Đại học Vinh tổ chức tại tỉnh Long An Xin được cảm ơn quí Thầy, Cô Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Kinh tế - Công nghiệp Long
An đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập Đặc biệt xin được cảm ơn quí Thầy, Cô khoa Giáo dục chính trị Trường Đại học Vinh đã luôn quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành
chương trình khóa học, cũng như hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài “Nâng
cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp ở huyện Cần Đước, tỉnh Long An” Xin được
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đinh Trung Thành người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, chỉ bảo những kiến thức về chuyên môn và những chỉ dẫn khoa học quí báu giúp tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành cảm ơn các đơn
vị, các cá nhân đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu nghiên cứu liên quan cần thiết đến đề tài luận văn Trong quá trình hoàn thành luận văn mặc dù bản thân luôn có sự cố gắng nhưng với điều kiện thời gian, cũng như kiến thức, kinh nghiệm còn hạn chế của một học viên mới quen với công tác nghiên cứu khoa học nên luận văn này sẽ không thể tránh được những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thể thấy hết Vì vậy tác giả chân thành mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo, góp ý, hướng dẫn của quí Thầy, Cô để bổ sung làm cho luận văn được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
1
Lời cảm ơn 2
Mục lục 3
Danh mục các bảng 5
A MỞ ĐẦU 7
B NỘI DUNG
12
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
12
1.1 Tổng quan về an sinh xã hội 12
1.2 Tác động của phát triển các khu công nghiệp tới đất đai và người nông dân
16 1.3 Nội dung cơ bản, tiêu chí đánh giá chính sách an sinh xã hội đối với nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
20
1.4 Vai trò của thực thi chính sách sách an sinh xã hội đối với nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
26 Kết luận chương 1
36
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH
XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT
Trang 5TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH
LONG AN
38
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và tình hình phát triển các khu
công nghiệp ở huyện Cần Đước, tỉnh Long An
38
2.2 Thực trạng thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp và tác động
của nó đến đời sống, việc làm của người nông dân bị thu hồi đất ở Cần
Đước
44
2.3 Tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông dân Cần
Đước, tỉnh Long An sau khi thu hồi đất để phát triển các khu, cụm công
nghiệp
50
Kết luận chương 2
66
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG
DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
68
3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội đối
với nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
68
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội đối
với nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
77
Trang 6tính đến năm 2015………43 Bảng 2.3 Các khu đô thị và khu dân cư trên địa bàn huyện tính đến
năm 2015……… 101 Bảng 2.4 Các khu Tái định cư trên địa bàn huyện tính đến 2015………103 Bảng 2.5 Số hộ và diện tích đất nhà nước thu hồi đất để phát triển công
nghiệp từ năm 2004 đến 2015……… 44 Bảng 2.6 Việc làm lao động nông thôn sau khi thu hồi đất theo kết quả
điều tra cung cầu lao động năm 2016……… 47 Bảng 2.7 Diễn biến phát sinh hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2016……… 48 Bảng 2.8 Bảng giá nhóm đất nông nghiệp huyện Cần Đước năm 2007……… 51 Bảng 2.9 Bảng giá đất Nông nghiệp trên địa bàn huyện Cần Đước định
kỳ 5 năm 2015-2019……….52 Bảng 2.10 Bảng giá nhóm đất nông nghiệp vị trí tiếp giáp đường giao
thông, sông, kênh ở huyện Cần Đước định kỳ 5 năm
2015- 2019……… 104 Bảng 2.11 Đào tạo nghề lao động nông thôn theo Đề án 1956 giai đoạn
2010 – 2015……… 106
Trang 7Bảng 2.12 Hỗ trợ tạo việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn
huyện giai đoạn 2011 – 2016……… 56 Bảng 2.13 Hỗ trợ vốn vay từ nguồn Ngân hàng chính sách xã hội……….107 Bảng 2.14 Quỹ hỗ trợ nông dân huyện giai đoạn 2010 – 2015……….57 Bảng 2.15 Kết quả thực hiện trợ giúp xã hội thường xuyên tính đến
năm 2015……… 108
Bảng 2.16 Tỉ lệ Bảo hiểm y tế toàn dân trong 6 năm từ năm 2010 đến
năm 2015……… 110 Bảng 2.17 Mức hỗ trợ của Nhà nước trong xây dựng hệ thống kết cấu
hạ tầng nông thôn……… 62 Bảng 2.18 Trường đạt chuẩn quốc gia……….64
Trang 8A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Qua hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn,
từ một nước nghèo, kém phát triển vươn lên trở thành một nước đang phát triển
có thu nhập trung bình thấp Đời sống xã hội được nâng lên về mọi mặt, đó là kết quả của quá trình thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trước tiên là đường lối nhất quán về đổi mới kinh tế với mũi nhọn đột phá công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo bước chuyển mạnh mẽ từ một nền kinh tế thuần nông sang một nền kinh tế có tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ chiếm 82,6% trong cơ cấu kinh tế [33,tr.231]
Cùng với xu thế phát triển chung của đất nước, huyện Cần Đước, tỉnh Long An cũng đã có những bước chuyển mạnh mẽ về phát triển công nghiệp Tính đến tháng 9 năm 2016, toàn huyện đã được phê duyệt qui hoạch 3 khu công nghiệp và 8 cụm công nghiệp với tổng diện tích qui hoạch 1.758,45 ha Trong đó đã có 4 khu, cụm công nghiệp đi vào hoạt động thu hút 73 dự án đầu
tư trong và ngoài nước Để phát triển các khu, cụm công nghiệp trên đã có 1.399,7 ha đất nông nghiệp bị thu hồi, việc thu hồi đất đã làm cho 4.479 hộ nông dân với khoảng 12.093 người không còn đất canh tác, buộc họ phải chuyển đổi nghề nghiệp, làm những công việc mới mà đối với họ nó mới cả về tính chất tay nghề, kinh nghiệm và cả về tác phong lao động Mặt khác, việc nhận được một khoảng tiền đền bù đất tương đối lớn so với thói quen tích trữ tiền mặt của người nông dân đã đặt ra cho họ nhiều vấn đề trong quản lý và sử dụng Có thể nói họ sử dụng số tiền này cho nhiều mục đích khác nhau, nhưng trong đó phần nhiều là chi tiêu cho sinh hoạt Điều này dẫn đến thực trạng là chỉ sau một thời gian ngắn nguồn tiền của họ cạn kiệt, trong khi họ không còn tư liệu, phương tiện sản xuất cũng như kể cả tay nghề để chuyển đổi nghề nghiệp Đồng thời, với việc sử dụng tiền đền bù đất chi tiêu nhiều cho sinh hoạt đã hình thành trong người nông dân thói quen thụ hưởng, chính thói quen này càng
Trang 9khiến họ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc bắt đầu một công việc mới khi trong tay không còn tiền, không còn đất đai, không nghề nghiệp Trên thực tế,
đã có không ít người nông dân có đời sống kém hơn trước khi thu hồi đất, thậm chí một bộ phận đã rơi vào nghèo khó Đây cũng chính là vấn đề trăn trở của Đảng bộ, chính quyền huyện Cần Đước trong thực hiện mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, nâng cao đời sống người nông dân bị thu hồi đất để phát triển công nghiệp theo chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế huyện Cần Đước theo hướng công nghiệp – thương mại dịch vụ - nông nghiệp đồng bộ và bền vững
Với lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách an sinh xã hội đối với nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp ở huyện Cần Đước, tỉnh Long An” làm luận văn Thạc sỹ
chuyên ngành Chính trị học
An sinh xã hội nói chung và an sinh xã hội đối với nông dân là vấn đề hết sức quan trọng, là nhu cầu tất yếu của nền kinh tế thị trường, vấn đề này đã có rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm Có nhiều cuốn sách, công trình nghiên cứu, tạp chí nghiên cứu về ASXH như:
Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Luận cứ khoa học cho việc đổi mới
và hoàn thiện các chính sách bảo đảm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” do Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội thuộc Bộ Lao động thương binh và xã hội chủ trì, 1994
Nguyễn Hải Hữu (2007), “ Thực trạng trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội ở
nước ta năm 2001 – 2007 và khuyến nghị đến năm 2015”, Bộ Lao động –
Thương binh & Xã hội, Hà Nội tháng 11 năm 2007
Nguyễn Hữu Dũng (2008), “ Thực hiện chính sách ASXH với nông dân
nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (số 794 tháng 12/2008), tr50-54
Trang 10Nguyễn Thị Kim Ngân (2008), “Nỗ lực phấn đấu thực hiện có hiệu quả
chính sách an sinh xã hội”, Tạp chí Cộng sản, (số 789 tháng 7/2008), tr16-21
Mai Ngọc Cường (2009), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách
ASXH ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia
Đỗ Văn Quân (2009), “ Vấn đề ASXH ở Việt Nam trong giai đoạn hiện
Có thể nói các đề tài, các công trình nghiên cứu, bài viết trên đã làm rõ các vấn đề về an sinh xã hội, vị trí và vai trò cũng như sự cần thiết của an sinh
xã hội, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, thực trạng và đưa ra các phương hướng, giải pháp để phát triển và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta Tuy nhiên, phần lớn tác giả chỉ tập trung ở sự phản ánh và đề xuất xây dựng hoàn thiện chính sách, do phạm vi nghiên cứu của từng đề tài nên các tác giả cũng chưa đề cập cụ thể về chính sách an sinh xã hội đối với nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp và giải pháp để thực hiện có hiệu quả chính sách an sinh xã hội đối với nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
Mặc dù Đảng, Nhà nước đã quan tâm ban hành nhiều chủ trương, chính sách về an sinh xã hội và vấn đề này cũng được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau Nhưng nhìn từ tổng quan của các công trình nghiên cứu nêu trên thì đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
hệ thống về chính sách an sinh xã hội đối với nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp ở huyện Cần Đước, tỉnh Long An Vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu đánh giá thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông
Trang 11dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp ở huyện Cần Đước, tỉnh Long An sẽ giúp cho việc vận dụng chủ trương, đường lối, chính sách an sinh
xã hội của Đảng và Nhà nước một cách có hiệu quả và đề ra những quyết sách đúng, phù hợp với điều kiện cụ thể ở địa phương
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất giải pháp thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu, cụm công nghiệp ở huyện Cần Đước, tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về chính sách an sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
- Phân tích thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp ở huyện Cần Đước, tỉnh Long An, chỉ ra những mặt được, hạn chế, nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chính sách an sinh xã hội đối với nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chính sách an sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu, cụm công nghiệp ở huyện Cần Đước từ năm 2010 đến nay, chủ yếu tập trung ở các chính sách sau: Chính sách bồi thường đất bị thu hồi cho người nông dân; chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm; chính sách trợ giúp
xã hội; chính sách Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế tự nguyện; chính sách hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 12Đề tài thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước ta về vấn đề
an
sinh xã hội
Để triển khai thành công mục đích và nhiệm vụ đặt ra, đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử và lôgíc, các phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành như phương pháp phân tích, tổng hợp thu thập, xử lý thông tin và liên hệ thực tiễn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ và cung cấp luận cứ khoa học cho việc xác định các quan điểm và hoạch định chính sách an sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
- Cung cấp thêm tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu và những ai quan tâm về chính sách an sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
- Góp thêm kinh nghiệm cho các cấp ủy, chính quyền địa phương trong triển khai thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung luận văn gồm 3 chương, 9 tiết
Chương1: Một số vấn đề lý luận về chính sách an sinh xã hội đối với
nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông
dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp ở huyện Cần Đước, tỉnh Long An
Trang 13Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách an sinh xã hội đối với nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp ở huyện Cần Đước, tỉnh Long An
Trang 14B NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 Tổng quan về an sinh xã hội
1.1.1 An sinh xã hội theo quan điểm của các tổ chức quốc tế và các chuyên gia Việt Nam
Tổ chức Lao động quốc tế
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì an sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội thực hiện đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại sự cùng quẫn về kinh tế và xã hội dẫn đến sự chấm dứt hay giảm sút đáng kể về thu nhập do tai nạn lao động, ốm đau, tuổi già cùng những dịch vụ về y tế…Theo định nghĩa này thì an sinh xã hội bao quát một phạm vi rất rộng lớn và tác động đến rất nhiều người
Cơ quan phát triển Liên hợp quốc
Trong báo cáo “Khuôn khổ xây dựng hệ thống an sinh xã hội tổng thể ở Việt Nam” do các chuyên gia của Cơ quan phát triển Liên hợp quốc đưa ra tại hội thảo khoa học 2005 ở Việt Nam thì an sinh xã hội gồm các thành tố: một là Bảo hiểm xã hội để bảo đảm an toàn trước các rủi ro về thu nhập và mức sống khi về già hoặc bị các tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và thường các chương trình phải đóng góp về tài chính, người lao động phải đóng góp một phần thu nhập trong quá trình lao động vào quỹ Bảo hiểm xã hội và khi họ về hưu hoặc
bị tai nạn lao động họ được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội; hai
là trợ giúp xã hội, dựa vào việc xác định tiềm lực tài chính của người có thu nhập thấp hoặc không có thu nhập do tàn tật, mồ côi, già cả…gọi chung là đối tượng xã hội mà Nhà nước hoặc cộng đồng có chính sách hoặc biện pháp trợ giúp đảm bảo cuộc sống; ba là trợ cấp dưới hình thức chuyển khoản cho từng
Trang 15người, thông thường là hỗ trợ cho từng nhóm người như người tàn tật, người già sống độc thân, trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt, người nuôi con nhỏ…gọi chung là trợ cấp cho đối tượng bảo trợ xã hội
Ngân hàng Thế giới
Theo Ngân hàng thế giới, trong khuôn khổ phát triển mạng lưới an sinh
xã hội có 4 vấn đề quan tâm: một là chính sách trợ cấp người nghèo, người dễ bị tổn thương; hai là tạo điều kiện cho người nghèo tham gia thị trường nông sản, thị trường lao động; ba là bảo vệ trẻ em và vị thành niên; bốn là các giải pháp trợ giúp đột xuất
Hiệp hội An sinh thế giới
Hiệp hội An sinh thế giới thì cho rằng an sinh xã hội là sự kết hợp các thành tố của chính sách công, có thể điều chỉnh đáp ứng nhu cầu của những người công nhân, các công dân trong bối cảnh toàn cầu với sự thay đổi về kinh
tế, xã hội, nhân khẩu học chưa từng xảy ra An sinh xã hội là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ có công nhân An sinh xã hội mà Hiệp hội An sinh thế giới quan tâm nhiều là chăm sóc sức khỏe thông qua bảo hiểm y tế, hệ thống lương hưu và chăm sóc tuổi già, phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và trợ giúp xã hội
Quan điểm của các chuyên gia Việt Nam
Dựa vào quan niệm của tổ chức lao động quốc tế, các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đưa ra một số khái niệm về an sinh xã hội như có quan niệm cho rằng Hệ thống an sinh xã hội có ba hợp phần chính gồm: hệ thống chính sách
và các chương trình về thị trường lao động; hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội; hệ thống chính sách và các chương trình trợ giúp xã hội Nhưng cũng có quan niệm cho rằng Hệ thống an sinh xã hội có 6 hợp phần chính gồm: chính sách về thị trường lao động tích cực; chính sách bảo hiểm xã hội; chính sách
Trang 16bảo hiểm y tế; chính sách trợ giúp đặc biệt; chính sách trợ giúp xã hội cho các đối tượng yếu thế; chính sách và các chương trình trợ giúp cho người nghèo
Như vậy, theo các chuyên gia Việt Nam thì an sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước và cộng đồng về thị trường lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và trợ giúp đặc biệt nhằm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng và trợ giúp mọi thành viên trong xã hội chống lại sự cùng quẫn về kinh tế
và xã hội làm cho họ chấm dứt hay sụt giảm về thu nhập do tai nạn lao động, thất nghiệp, tuổi già, mất sức lao động, thai sản hoặc vì các nguyên nhân khác khiến họ rơi vào cảnh nghèo khó
1.1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về An sinh xã hội
An sinh xã hội là vấn đề được Đảng ta đặc biệt quan tâm, điều này được thể hiện rõ trong quan điểm của Đảng Qua mỗi kỳ Đại hội, quan điểm của Đảng ta về an sinh xã hội ngày càng toàn diện hơn, cụ thể như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta xác định: Bảo đảm lương thực đủ ăn cho toàn xã hội… Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa…Từng bước xây dựng chính sách bảo trợ xã hội xã hội chủ nghĩa toàn dân…Xây dựng một chính sách toàn diện
về vấn đề nhà ở…Đi đôi với công cuộc cải tạo và phát triển kinh tế, chúng ta phải triển khai tích cực, kiên quyết và bền bỉ các hoạt động về phát triển xã hội [30,tr.48-161] Có thể thấy Đảng ta khẳng định chính sách an sinh xã hội là phải đảm bảo sao cho người dân ăn đủ no, có thêm dinh dưỡng, mặc đủ ấm, đáp ứng tốt hơn nhu cầu về bảo vệ sức khoẻ và chữa bệnh, đi lại, học hành và hưởng thụ văn hoá, tăng thêm đồ dùng thiết yếu của các gia đình, khắc phục một bước khó khăn về nhà ở Hơn nữa, cần phải coi đây vừa là mục tiêu của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã khẳng định: Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển,
Trang 17càng đi vào phát triển kinh tế thị trường, càng phải chăm lo tốt hơn phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, phát triển giáo dục văn hoá, chăm sóc sức khoẻ nhân dân; xây dựng chính sách an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm toàn dân Đa dạng hoá các loại hình cứu trợ xã hội, tạo việc làm [31,tr.101-102] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta xác định: bảo đảm an sinh xã hội, từng bước nâng cao phúc lợi xã hội, chăm lo cải thiện đời sống mọi mặt của nhân dân, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo Tiếp tục hoàn thiện chính sách, nâng cao mức sống người có công; làm tốt công tác trợ giúp xã hội; phát triển hệ thống an sinh
xã hội hiệu quả, bền vững Đẩy mạnh giảm nghèo nhanh và bền vững theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều, chú trọng giảm nghèo nhanh trong đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn đặc biệt khó khăn Hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, học nghề và đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài Mở rộng đối tượng tham gia, phát triển bền vững quỹ bảo hiểm xã hội Nghiên cứu điều chỉnh tuổi nghỉ hưu phù hợp.Cải cách chính sách tiền lương, tiền công theo nguyên tắc thị trường, phù hợp với tăng năng suất lao động Nâng cao hiệu quả hoạt động của
tổ chức công đoàn, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, tiến bộ Thực hiện tốt các quy định về an toàn lao động và quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam Đẩy nhanh tiến độ thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân [33,tr.269-302]
Như vậy, Đảng ta xác định an sinh xã hội là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là đối với những người nghèo khó, những nhóm dân cư “yếu thế” trong xã hội An sinh xã hội thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội Hệ thống chính sách an sinh xã hội là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên xã hội trong trường hợp bị giảm, mất thu nhập hay gặp phải những rủi ro khác, nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống ổn định cho mỗi thành viên trong xã hội để đạt đến mục tiêu
là xây dựng một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
Trang 18minh…con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện [32,tr.5]
1.2 Tác động của phát triển các khu công nghiệp tới đất đai và người nông dân
1.2.1 Tác động của khu công nghiệp đến nguồn lực đất đai
Trong công cuộc đổi mới, việc hình thành, phát triển các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất, khu kinh tế đã tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì thế, phát triển bền vững các KCN sẽ góp phần quan trọng vào chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam Tuy nhiên, việc xây dựng các KCN đòi hỏi phải chuyển đổi một diện tích lớn đất sản xuất nông nghiệp sang đất công nghiệp Điều này đã tác động rất lớn đến nguồn lực đất đai, qua đó ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập và đời sống của người dân vùng ven các KCN
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến năm 2016, Việt Nam
đã có 294 KCN được thành lập, thu hút được 5.593 dự án đầu tư nước ngoài và 5.464 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư là hơn 110 tỷ USD, tạo việc làm cho khoảng 2,1 triệu lao động trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp Ngoài ra, các KCN phát triển đã kéo theo sự đầu tư về cơ sở hạ tầng (điện, đường, nước ); Thúc đẩy phát triển công nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy phát triển khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, tổ chức sản xuất; tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Tuy nhiên, sự phát triển của các KCN cũng kéo theo sự thu hồi và chuyển đổi một diện tích lớn đất nông nghiệp thành đất công nghiệp Đến hết năm
2016, diện tích đất dành cho các KCN là 84.000 ha trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp Đứng trên quan điểm phát triển, việc thu hồi đất để xây dựng các KCN chính là điều kiện, thời cơ tốt nhất để chúng ta chuyển một bộ phận quan trọng lực lượng lao động ở nông nghiệp, nông thôn sang lĩnh vực công nghiệp và dịch
vụ Bên cạnh đó, việc thu hồi đất đã làm cho một bộ phận dân cư bị thiếu, hoặc
Trang 19mất hoàn toàn đất ở và đất sản xuất nông nghiệp từ đó ảnh hưởng đến việc làm
và đời sống của người dân vùng ven các KCN
Để đánh giá tác động của việc phát triển KCN đến nguồn lực đất đai của
hộ gia đình nông dân, nhóm nghiên cứu của Viện Xã hội học tiến hành điều tra
466 hộ gia đình tại các thời điểm: Trước khi có KCN (2004), ngay sau khi có KCN (2006) và năm 2016 theo 3 nhóm:
- Nhóm hộ I: 116 hộ có trên 80% diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng KCN
- Nhóm hộ II: 180 hộ có dưới 80% diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng KCN
- Nhóm hộ III: 170 hộ không bị mất đất sản xuất nông nghiệp
Tính bình quân cho 466 hộ điều tra cho thấy, diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ sau khi có KCN đã giảm mạnh chỉ còn 46,96% so với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân hộ trước khi có KCN Trong đó nhóm
hộ I giảm nhiều nhất từ 2676,4m2/hộ xuống còn 340,67 m2/hộ tức là giảm 87% diện tích đất
Thực trạng này gây ra những khó khăn nhất định cho người dân Mất đất sản xuất đồng nghĩa với việc người dân bị mất việc làm và phải chuyển đổi chiến lược sinh kế bằng cách chuyển sang làm dịch vụ, lao động tại các KCN hoặc lên thành phố để kiếm kế sinh nhai
Để đánh giá mức độ tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đối với sinh kế của hộ, bài viết nghiên cứu về nhu cầu sử dụng đất của hộ tại 3 thời điểm: Trước khi có KCN, ngay sau khi có KCN và năm 2016, tức là thời điểm sau khi KCN đã đi vào hoạt động một cách ổn định
Có thể thấy, ở cả 3 nhóm hộ, trước khi có KCN tỷ lệ hộ bị thiếu đất sản xuất nông nghiệp thấp, ngay sau khi có KCN, với diện tích đất lớn bị thu hồi ở nhóm hộ I và II thì số hộ bị thiếu đất sản xuất nông nghiệp tăng lên đáng kể từ
Trang 205,56% lên 30,09% ở nhóm hộ I và từ 10% lên 42,22% ở nhóm hộ II, đồng thời,
số hộ thừa đất sản xuất nông nghiệp giảm mạnh (từ 11,11% xuống không còn
hộ thừa đất ở nhóm hộ I, và giảm từ 11,11% xuống còn 6,67% ở nhóm hộ II)
Đến năm 2016, sau khi các KCN đã đi vào hoạt động ổn định thì tình trạng số hộ thừa đất ở cả 3 nhóm hộ lại gia tăng và tình trạng thiếu đất sản xuất của cả 3 nhóm hộ đồng loạt giảm Khi được hỏi về nguyên nhân của tình trạng này, các hộ gia đình đều cho rằng trước khi có KCN, với diện tích đất canh tác khá cao, hầu hết các hộ đều thấy đủ đất để sản xuất Những hộ thừa đất sản xuất
là những hộ có sản xuất thêm tiểu thủ công nghiệp, làm dịch vụ hoặc con cái đã lớn, đi học và có việc làm phi nông nghiệp Còn một số hộ thiếu đất sản xuất là những hộ có nhu cầu sản xuất hàng hóa với quy mô lớn
Tuy nhiên, khi có KCN, diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm mạnh (bình quân giảm hơn 1 nửa diện tích) trong khi các hộ gia đình chưa kịp chuyển sang chiến lược sinh kế mới Trong thời gian ngắn, các hộ gia đình khá khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm nên chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp Vì vậy, đại đa số các hộ đều thấy gia đình mình bị thiếu đất sản xuất
Đó chính là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ hộ bị thiếu đất ngay sau khi KCN được xây dựng
Đến năm 2016, sau khi các KCN đã hoạt động một cách ổn định, các hộ gia đình đã có đủ thời gian để tìm kiếm cho mình một sinh kế mới Nhiều hộ gia đình thuộc nhóm hộ I đã chuyển hẳn sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp hoặc làm dịch vụ, với diện tích đất ít ỏi còn lại, họ không còn mặn mà với việc sản xuất nông nghiệp Vì vậy, số hộ thừa đất sản xuất lại tăng lên đáng kể so với thời điểm ngay sau khi có KCN
Nguồn lực đất đai thay đổi đã tác động đến vấn đề việc làm, thu nhập và đời sống của người dân bị mất đất dưới hai khía cạnh tích cực và tiêu cực
Trang 211.2.2 Tác động của việc thu hồi đất để phát triển khu công nghiệp đối với nông dân
Tác động tích cực
Thứ nhất, với những hộ gia đình có đất nằm trong vùng quy hoạch KCN
sẽ bị thu hồi đất và được đền bù một khoản tiền nhất định Đây là cơ hội và nguồn lực giúp hộ gia đình nông dân có thể chuyển đổi sinh kế và có thu nhập
ổn định Thực tế cho thấy, ở các vùng có KCN, nhiều hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất đã sử dụng số tiền được đền bù để đầu tư sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc xây nhà để cho công nhân các KCN thuê Nhờ đó, thu nhập của hộ gia đình tăng lên gấp nhiều lần so với khi còn sản xuất nông nghiệp
Thứ hai, với những hộ gia đình không bị mất đất sản xuất nông nghiệp
hoặc bị thu hồi với diện tích nhỏ vẫn tiếp tục sản xuất nông nghiệp nhưng có thể chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ trồng lúa sang trồng các loại cây công nghiệp cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp (DN) của KCN; hoặc chuyển sang trồng các loại rau, củ, quả nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm của công nhân các KCN Sự chuyển dịch này đã đem lại mức thu nhập cao hơn cho
hộ gia đình
Tác động tiêu cực
Mất đất sản xuất đồng nghĩa với mất việc làm, mất kế sinh nhai Khi bị mất đất người lao động đứng trước 4 lựa chọn: (i) Sử dụng khoản tiền đền bù để chuyển đổi sinh kế sang kinh doanh dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của công nhân các nhà máy, xí nghiệp đóng trên địa bàn hoặc chuyển sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp; (ii) Học nghề để xin vào làm việc tại các DN KCN; (iii) Rời quê lên các đô thị để tìm kiếm việc làm; (iv) Chấp nhận thất nghiệp Trong các lựa chọn này, hai lựa chọn đầu có thể giúp hộ gia đình có được mức thu nhập cao hơn và ổn định hơn so với sản xuất nông nghiệp Lựa chọn thứ ba khiến cho thu nhập của các hộ bấp bênh, đồng thời người lao động sẽ phải đối mặt với rủi ro của cuộc sống nơi đô thị và nguy cơ trở thành lao động bán thất nghiệp do công
Trang 22việc không ổn định Lựa chọn thứ tư sẽ khiến cho người lao động đối mặt với một cuộc sống khó khăn trong tương lai
Thực tế cho thấy, các địa phương dường như chỉ mới quan tâm chú trọng đến việc phát triển các KCN mà chưa có định hướng cụ thể tạo việc làm cho người dân bị mất đất do phát triển KCN Chính vì thiếu những định hướng về đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp và chuyển đổi sinh kế cho người dân nên không
ít hộ gia đình đã sử dụng khoản tiền được đền bù do thu hồi đất vào việc xây dựng nhà cửa, mua sắm đồ đạc trong gia đình hoặc dùng để chi tiêu hết mà không sử dụng để đầu tư sản xuất kinh doanh với mục đích sinh lời
1.3 Nội dung cơ bản, tiêu chí đánh giá Chính sách an sinh xã hội đối với nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
1.3.1 Bản chất của Chính sách an sinh xã hội đối với nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
Đảng và Nhà nước nhận thức rằng, hệ thống chính sách an sinh xã hội là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên xã hội trong trường hợp bị giảm, mất thu nhập hay gặp phải những rủi ro khác, nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống ổn định cho mỗi thành viên trong xã hội An sinh xã hội thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội Trên bình diện xã hội, an sinh
xã hội là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là đối với những người nghèo khó, những nhóm dân cư “yếu thế” trong
xã hội
Xét về bản chất kinh tế, thì an sinh xã hội là một bộ phận thu nhập quốc dân, thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập xã hội, điều hòa lợi ích, góp sức vào tiết kiệm để đầu tư và phát triển kinh tế đất nước An sinh xã hội dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau An sinh xã hội tạo cho những người bất hạnh, những người kém may mắn hơn những
Trang 23người bình thường khác có thêm những điều kiện, những động lực cần thiết để khắc phục những biến cố, những rủi ro xã hội, có cơ hội để phát triển, hoà nhập vào cộng đồng; kích thích tính tích cực xã hội trong mỗi con người, kể cả những người giàu và người nghèo; người may mắn và người kém may mắn; là yếu tố tạo nên sự hòa đồng mọi người không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc,
vị trí xã hội… đồng thời, giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công bằng, nhân văn
Có thể nói, hiện nay chưa có một khái niệm chính thức nào về chính sách
an sinh xã hội đối với nông dân sau khi thu đất để phát triển các khu công nghiệp Tuy nhiên, ở những mức độ tiếp cận khác nhau của một số tác giả khi
đề cập đến vấn đề an sinh xã hội đối với người nông dân bị thu hồi đất, cũng như khung lý thuyết chung về an sinh xã hội, cùng với các chính sách thu hồi
đất của Đảng, Nhà nước chúng ta có thể hiểu: chính sách an sinh xã hội đối với
người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp là các chủ trương, chính sách, chương trình của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng để đối phó với tình trạng giảm thu nhập, mức sống, mất hoặc thiếu việc làm của người nông dân sau khi cống hiến tư liệu sản xuất truyền thống cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa để giúp họ ổn định cuộc sống
Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: Trong xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội…Gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước Mọi người dân điều có cơ hội và điều kiện phát triển toàn diện [33,tr.135-136] Điều này cho thấy sự khẳng định vai trò quan trọng của chính sách an sinh xã hội, nó vừa là mục tiêu cũng vừa là động lực của sự phát triển bởi nó chính là những giải pháp đảm bảo sự cho công bằng xã hội, là sự trợ giúp để cải thiện và nâng cao đời sống của người dân Với vai trò
Trang 24quan trọng của mình, chính sách an sinh xã hội phải bao phủ được toàn bộ người dân, mà trong đó có người nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu
công nghiệp nhằm mục tiêu giúp người nông dân bị thu hồi đất có được sự ổn
định trong đời sống cũng như góp phần giúp họ tự nâng cao mức sống của mình
1.3.2 Nội dung cơ bản của Chính sách an sinh xã hội đối với nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
Với mục tiêu trên, có thể nói chính sách an sinh xã hội nói chung và chính sách an sinh xã hội đối với người nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp nói riêng chứa đựng rất nhiều nội dung, chính sách Tuy nhiên trong luận văn này chúng ta sẽ chỉ nghiên cứu một số chính sách chính yếu sau đây:
Chính sách bồi thường đất bị thu hồi cho nông dân
Chính sách bồi thường cho người nông dân khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đây là những qui định cụ thể của Nhà nước để bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi ở từng thời điểm, nhằm đảm bảo cho người bị thu hồi đất có điều kiện tiếp tục duy trì cuộc sống ổn định Việc bồi thường có thể tính bằng tiền theo giá đất hoặc bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng, đồng thời với việc bồi thường là các chế độ hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất,
hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm, hỗ trợ khác…
Chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm
Chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm đây là những qui định cụ thể của Nhà nước nhằm giúp cho người nông dân mất đất sản xuất có thể học được một nghề mới và tìm được việc làm, duy trì được mức thu nhập ổn định Những người nông dân bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp còn trong độ tuổi lao động hoặc hết tuổi lao động nhưng còn khả năng lao động là đối tượng áp dụng của chính sách này Bằng cách thiết lập các chương trình, kế hoạch chuyển đổi nghề, hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm, cũng như
Trang 25tạo ra các cơ hội để người nông dân tự tạo việc làm mới…qua đó giúp người nông dân có được việc làm mới, ổn định cuộc sống hiện tại và lâu dài
Chính sách trợ giúp xã hội
Chính sách trợ giúp xã hội đây là những qui định của Nhà nước nhằm giúp đỡ đối với các đối tượng lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói…hoặc những thiếu hụt trong cuộc sống khi họ không đủ khả năng tự lo cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Trong những hộ nông dân bị thu hồi đất thì đối tượng thụ hưởng chính sách này chủ yếu là nhóm đã hết tuổi lao động, chưa đến tuổi lao động, hoàn cảnh gia đình khó khăn và những người khuyết tật Tùy theo trường hợp cụ thể mà họ có thể được trợ giúp đột xuất hoặc trợ giúp thường xuyên
Chính sách Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế tự nguyện
Chính sách bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội gồm 2 hợp phần
là bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện Người nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp đa phần là những người không thuộc nhóm bảo hiểm bắt buộc, nên họ tham gia vào bảo hiểm xã hội với hình thức tự nguyện
Chính sách bảo hiểm y tế là một loại hình bảo hiểm xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng, chia sẻ nguy cơ bệnh tật và giảm bớt gánh nặng tài chính của mỗi người khi ốm đau, bệnh tật, tạo nguồn tài chính hỗ trợ cho hoạt động y tế thực hiện công bằng và nhân đạo trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho người dân Bảo hiểm y tế cũng có hai hợp phần là bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện Người nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp trừ những người đang hưởng chế
độ chính sách, chế độ trợ cấp thường xuyên, người già từ 80 tuổi trở lên, trẻ em
Trang 26dưới 6 tuổi được nhà nước hỗ trợ bảo hiểm y tế, còn lại là những người không thuộc nhóm bảo hiểm bắt buộc, nên họ tham gia vào bảo hiểm y tế với hình thức tự nguyện
Chính sách hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn
Chính sách hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn là những chủ trương, giải pháp về kinh tế của Nhà nước nhằm hỗ trợ địa phương một phần bằng tiền hoặc hiện vật trong việc đầu tư xây dựng các công trình thiết yếu phục
vụ cho sản xuất và đời sống như: đường giao thông nông thôn, trạm y tế, trường học, nhà văn hóa ấp, khu phố, nước sạch và vệ sinh môi trường, chợ nông thôn,… qua đó góp phần tạo điều kiện cho nhân dân địa phương sớm được thụ hưởng khi công trình hoàn thành
1.3.3 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách an sinh
xã hội đối nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
Mức độ bao phủ của chính sách
Mức độ bao phủ của chính sách là tiêu chí đầu tiên để đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với người nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp Mức độ bao phủ ở đây có hai khía cạnh: khía cạnh thứ nhất nói đến tính bao quát của chính sách, nghĩa là chính sách an sinh
xã hội đó có bao trùm được toàn bộ các đối tượng trong lực lượng người nông dân bị thu hồi đất hai không; khía cạnh thứ hai nói đến khả năng đưa chính sách đến được với người nông dân bị thu thu hồi đất, khả năng này được thể hiện bằng tỉ lệ giữa số lượng nông dân bị thu hồi đất được thụ hưởng chính sách an sinh xã hội với tổng số người nông dân bị thu hồi đất
Mức độ tác động của chính sách an sinh xã hội
Mức độ tác động của chính sách an sinh xã hội thể hiện cụ thể thông qua chỉ số hưởng lợi của người nông dân như là thu nhập, mức sống của hộ gia đình được cải thiện và nâng cao, số người thoát nghèo, số người được tiếp cận tới các dịch vụ xã hội,…sau một thời gian thực hiện chương trình, chính sách Mức độ
Trang 27tác động có ý nghĩa quan trọng vì nó là thước đo đánh giá hiệu quả của chính sách an sinh xã hội có đạt được mục tiêu mà nó đề ra là giúp cho người nông dân bị thu hồi đất có được mức sống ít nhất ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng đồng dân cư hay không
Mức độ bền vững về tài chính để thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
Mức độ bền vững về tài chính để thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với người nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp được xem xét trên hai phương diện: một là mức độ bền vững của Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế tự nguyện, là sự so sánh tổng thu và tổng chi trong từng năm hoặc trong kỳ kế hoạch về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế tự nguyện Nếu tổng thu lớn hơn tổng chi thì được coi là bền vững về tài chính và ngược lại tổng thunhỏ hơn tổng chi thì được coi là thiếu tính bền vững về tài chính; hai là trợ giúp xã hội, việc chi chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước và doanh nghiệp một phần huy động từ cộng đồng Do vậy, việc đánh giá chỉ số này được thực hiện bằng cách so sánh tổng chi cho trợ giúp xã hội với GDP hoặc chi tiêu của địa phương từng năm Cách tính tương tự cho việc cung ứng dịch vụ xã hội cơ bản khu vực nông thôn, dạy nghề và hỗ trợ việc làm
Mức độ kịp thời trong thực hiện chính sách an sinh xã hội
Mức độ kịp thời trong thực hiện chính sách an sinh xã hội cần phải được quan tâm Bởi vì, có thể chính sách an sinh xã hội hoàn toàn đảm bảo được mức
độ bao phủ đến tất cả người nông dân bị thu hồi đất, nhưng mức độ bao phủ đó nhanh hay chậm, lâu hay mau là còn tùy thuộc vào người thực hiện chính sách Một chính sách an sinh xã hội đến được với người nông dân bị thu hồi đất sớm bao nhiêu thì mức độ tác động của chính sách càng phát huy được sớm bấy nhiêu Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc trợ giúp sớm cho người nông dân bị thu hồi đất mà nó còn giúp cho người nông dân bị thu hồi đất có thể tránh
Trang 28được một số rủi ro có khả năng sẽ đến với họ nếu như họ không được tiếp cận với chính sách an sinh xã hội
1.4 Vai trò của thực thi chính sách an sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
1.4.1 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về chính sách
an sinh xã hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước
Bản chất của An sinh xã hội là góp phần duy trì sự phát triển ổn định bền vững cho xã hội và đảm bảo thu nhập ổn định cho cuộc sống của công dân trong
xã hội Đồng thời, chính sách an sinh xã hội còn để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay khi gặp những rủi ro xã hội khác Chính sách An sinh xã hội là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội do đó nó vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc
Đối với nước ta, bảo đảm ngày càng tốt hơn An sinh xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của đất nước Trong nhiều thập kỷ qua, trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội, cùng với việc không ngừng cải tiến chế độ tiền lương, tiền công
và nâng cao thu nhập cho người lao động, Đảng và Nhà nước rất quan tâm chăm
lo đến An sinh xã hội cho nhân dân Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Đảng ta đã xác định: Cải thiện thêm một bước đời sống vật chất
và văn hoá của nhân dân của nhân dân lao động, làm cho nhân dân ta được ăn
no mặc ấm, tăng thêm sức khoẻ, có thêm nhà ở và được học tập, mở mang sự nghiệp phúc lợi công cộng, xây dựng đời sống mới ở nông thôn và thành thị [29]
Trang 29Những năm sau đó, mặc dù trong điều kiện còn hết sức khó khăn, thiếu thốn, nhưng Đảng và Nhà nước vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội Tháng 12 năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra chủ trương đổi mới đất nước toàn diện - mở ra một thời kỳ mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Trong bối cảnh đất nước còn nhiều vấn đề cấp bách phải giải quyết, nhưng bảo đảm an sinh xã hội vẫn được Đảng ta xác định là nhiệm vụ thường xuyên và có tầm quan trọng hàng đầu vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển nhằm phát huy mọi khả năng của con người trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Quan điểm của Đảng ta về thực hiện tốt an sinh xã hội là để tạo ra tiền đề quan trọng cho sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, góp phần củng cố những thành quả trong đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, thường xuyên của nhân dân, tạo lòng tin cho nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới đất nước toàn diện do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo Đảm bảo tốt an sinh xã hội sẽ góp phần tạo ra sự thống nhất giữa đổi mới về kinh tế với đổi mới chính trị, xã hội, tạo sự cân đối giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ngay trong những bước đi đầu tiên của sự nghiệp đổi mới
Quan điểm trên của Đảng ta đã cho thấy sự chuyển hướng và đổi mới quan trọng về đường lối lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực An sinh xã hội Chính những thành công trong đảm bảo an sinh xã hội đã góp phần tạo ra sự ổn định trong xã hội, đưa sự nghiệp đổi mới vượt qua giai đoạn khó khăn nhất
Cùng với những thành tựu trong thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, nhận thức về An sinh xã hội cũng được tiến thêm một bước mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII và lần thứ VIII của Đảng đã xác định đảm bảo An sinh xã hội là vì con người và là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Mục tiêu đảm bảo An sinh xã hội thống nhất với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
và đều nhằm phát huy sức mạnh nhân tố con người, phục vụ con người Thực
Trang 30hiện An sinh xã hội góp phần " tạo ra những tiền đề đưa đất nước chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy tới một bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"[30,tr.401-402], tạo tiền đề vững chắc cho đất nước bước vào giai đoạn phát triển cao hơn ở đầu thế kỷ XXI
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chủ trương này đã trở thành một định hướng chiến lược để phát triển bền vững đất nước: Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường Giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản…Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động,…Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động thất nghiệp…Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế…tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân [30,tr.638-653]
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, vấn đề An sinh xã hội một lần tiếp tục được khẳng định: Bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống [32,tr.206] Đảng, Nhà nước đã ban hành và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, nhiều chương trình phát triển kinh tế -
xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân Các chương trình, chính sách an sinh xã hội
đã đạt được những thành tựu quan trọng cụ thể: về giải quyết việc làm, bảo đảm thu nhập và giảm nghèo đã thúc đẩy phát triển thị trường lao động, tạo cơ hội cho người lao động tìm việc hoặc tự tạo việc làm; các chương trình và chính sách giảm nghèo đã tập trung nguồn lực ưu tiên cho huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đông đồng bào dân tộc; bảo hiểm xã hội đã có bước phát triển
Trang 31đáng kể, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện đã thu hút được nhiều người tham gia; các chính sách trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng đối với các nhóm có hoàn cảnh khó khăn đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thu nhập tối thiểu cho người dân Nhà nước không ngừng tăng đầu tư cho phát triển các dịch vụ cơ bản bao gồm giáo dục, y
tế, nhà ở, nước sạch và thông tin truyền thông, đặc biệt ưu tiên cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn, lao động nông thôn, lao động khu vực phi chính thức và các đối tượng yếu thế khác Đồng thời nguồn lực cho an sinh xã hội được xã hội hóa cao cả về tài chính và tổ chức thực hiện Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa đã huy động sự tham gia đóng góp tích cực của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các doanh nghiệp và sự tham gia của người dân
Bước sang giai đoạn chiến lược mới, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục coi bảo đảm An sinh xã hội là một nhiệm vụ chủ yếu thường xuyên Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã xác định: tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hoà với tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả [32,tr.90-114] Tạo cơ hội bình đẳng hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội Đồng thời đề ra mục tiêu đến năm 2020, trong đó GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 - 3.200 USD; chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; thực hiện bảo hiểm
y tế toàn dân; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2% - 3%/năm; phúc lợi, an sinh xã hội và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được bảo đảm; thu nhập thực tế của dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010; thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và nhóm dân cư Xoá nhà tạm đơn sơ, tỷ lệ nhà kiên cố đạt 70%, bình quân 25m2 sàn xây dựng/người Cải thiện chất lượng môi trường, hạn chế tác hại của thiên tai, chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng
Trang 32Đại hội XII của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều thay đổi rõ nét Chính vì vậy, trong những năm tới, để thực hiện tốt an sinh xã hội, Đại hội XII của Đảng đã chỉ ra một trong những phương hướng, nhiệm vụ đó là: Giải quyết tốt lao động, việc làm và thu nhập cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội Cụ thể:
Tạo cơ hội để mọi người có việc làm và cải thiện thu nhập Bảo đảm tiền lương, thu nhập công bằng, đủ điều kiện sống và tái sản xuất sức lao động Huy động tốt nhất nguồn lực lao động để phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Chú trọng giải quyết việc làm cho lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do việc tích tụ, tập trung ruộng đất hoặc thu hồi đất phát triển công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng Khuyến khích đầu tư xã hội tạo ra nhiều việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về tiền lương, tiền công, khắc phục cơ bản những bất hợp lý Điều chỉnh chính sách dạy nghề, gắn đào tạo với sử dụng Điều chỉnh chính sáchxuất khẩu lao động hợp lý Hoàn thiện và thực hiện chính sách bảo
hộ lao động
Tiếptục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội đến mọi người dân; tạo điều kiện để trợ giúp có hiệu quả cho tầng lớp yếu thế, dễ tổn thương hoặc những người gặp rủi ro trong cuộc sống Phát triển và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, Chuyển từ hỗ trợ nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh
xã hội của công dân Đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội cơ bản và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Tổ chức tốt hơn việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản thiết yếu Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng chính sách, người nghèo, nhân dân sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân khu
Trang 33công nghiệp, khu chế xuất và sinh viên, Phát triển đa dạng các hình thức từ thiện, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia giúp đỡ những người yếu thế [33,tr.136-137]
Quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước cùng với tiềm lực kinh tế của đất nước được nâng lên là cơ sở quan trọng để bảo đảm tốt hơn An sinh xã hội Tuy nhiên, chúng ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức Chính vì vậy, cần có nhận thức mới, đầy đủ hơn về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, phát huy thành quả và những kinh nghiệm tốt đã đạt được, khắc phục những yếu kém bất cập để xây dựng một hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đồng
bộ, hiệu quả cao
Trong điều kiện là một đất nước mà về cơ bản mang đặc trưng nông thôn, nông nghiệp và nông dân cho nên khi bước vào quá trình hội nhập và phát triển, khu vực “tam nông” đang chịu nhiều thiệt thòi nhất và đồng thời có ảnh hưởng quyết định đến công cuộc hội nhập và phát triển của đất nước Vì lẽ đó thực hiện vấn đề an sinh xã hội của Việt Nam trước hết phải quan tâm đến đối tượng người nông dân
1.4.2 Thực thi chính sách an sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp là vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay
Đối với khu vực nông thôn nước ta hiện có hơn 90% nông dân sinh sống, đây là lực lượng cơ bản trực tiếp lao động tạo ra sản phẩm nông nghiệp nuôi sống xã hội, làm giàu cho đất nước Nhưng xét về mặt nào đó trong bối cảnh hội nhập và phát triển thì nông dân nước ta đang là tầng lớp chịu nhiều thiệt thòi nhất, so với công sức lao động bỏ ra của họ Thực tế cho thấy vì nhiều lý do chính sách xã hội nói chung và chính sách an sinh xã hội nói riêng cho người nông dân ở Việt Nam còn chưa được quan tâm đúng mức Do vậy, chưa thực sự tạo ra động lực to lớn và phát huy vai trò của họ đối với quá trình hội nhập và phát triển của đất nước Nhận thức tầm quan trọng cũng như sự khuyết thiếu của vấn đề này, gần đây Đảng, Chính phủ Việt Nam đã nhấn mạnh: Trong quá trình
Trang 34hội nhập và phát triển, nông dân là lực lượng xã hội cực kỳ nhạy cảm, dễ bị tổn thương, gánh nặng hệ luỵ trước những tác động của kinh tế thị trường Do đó chính sách nhất quán của Đảng và nhà nước ta là thực hiện chính sách xã hội hài hoà, các chính sách phúc lợi đối với nông dân, nhất là người nông dân ở miền núi vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Phải đảm bảo nâng cao đời sống về mọi mặt và thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho nông dân khi tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Đó chính là yếu tố quyết định để nông nghiệp, nông thôn, nông dân nước ta hội nhập và phát triển
An sinh xã hội cho nông dân – một vấn đề xã hội cần phải được quan tâm giải quyết trên cơ sở phân tích, tổng hợp một số công trình, bài viết có liên quan tác giả cho rằng cần thiết phải quan tâm giải quyết tốt vấn đề an sinh xã hội cho nông dân ở nước ta hiện nay, bởi những lý do sau đây:
Một là, mặc dù đã được cải thiện đáng kể tuy nhiên tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực nông thôn vẫn còn cao (gần 20%), một bộ phận có xu hướng nghèo hơn Khu vực nông thôn nước ta đang chiếm khoảng 90% người nghèo sống của cả nước (nghèo ở nông thôn được xác định là có mức chi tiêu thấp hơn 200.000/tháng/người) Do nghèo đói có tỷ lệ khá cao dẫn đến mức chi tiêu cho đời sống hàng ngày của hộ gia đình nông thôn thấp hơn nhiều so với mức chi tiêu bình quân cho tiêu dùng của hộ nghèo trong cả nước Việc này đồng nghĩa với thực tế người nghèo ở khu vực nông thôn, nông dân không có tích lũy cho tiết kiệm, dự phòng trong cuộc sống, nhất là ở những vùng đặc biệt khó khăn Đây thật sự là một mối đe doạ đầy bất trắc đối với tương lai của người nông dân, nhất là khi họ hết tuổi lao động Thực tế này đặt ra yêu cầu là phải có biện pháp đảm bảo cuộc sống cho người nông dân khi họ ở tuổi già, sức khoẻ giảm sút, không thể tự lao động kiếm sống Chính vì vậy, việc phát triển hệ thống an sinh xã hội thông qua thực hiện bảo hiểm hưu trí cho nông dân là một nhu cầu thực tế cần phải đáp ứng
Trang 35Hai là, thực tế cho thấy người nông dân, nhất là nông dân nghèo đang được hưởng rất ít các chương trình phúc lợi xã hội, nhất là về chăm sóc sức khoẻ Các chương trình chăm sóc sức khoẻ cho nông dân ở nước ta hiện nay thường mới dừng lại ở công tác phòng bệnh, các dịch vụ khám chữa bệnh cho nông dân, nhất là nông dân nghèo còn hạn chế Nhiều công trình nghiên cứu về
y tế dự phòng cho rằng, phần lớn tuyến y tế cơ sở nông thôn không đáp ứng được yêu cầu điều trị cho người nông dân khi ốm do đó phải chuyển lên tuyến trên điều trị Điều này đồng nghĩa với những khoản chi phí về thuốc men, vật tư
y tế, ăn ở, đi lại, bồi dưỡng thầy thuốc…thường quá tải so với mức thu nhập của
họ Để giải quyết tình trạng này chúng ta cần phải mở rộng độ bao phủ BHYT
tự nguyện ở khu vực nông thôn để người nông dân tham gia
Ba là, tình trạng phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội đang có xu hướng doãng ra mạnh mẽ ở nước ta hiện nay Chỉ số Gini phản ánh độ chênh lệch thu nhập và phân hóa giàu nghèo trong dân cư từ 0,57 vào năm 1993 tăng lên 0,423 năm 2004 Một nghiên cứu gần đây cho biết: tỷ lệ được hưởng an sinh xã hội
ở nhóm 20% dân số giàu nhất ở Việt Nam hiện nay đang cao gấp 6 lần nhóm người nghèo Trong khi nhóm giàu nhất nhận được 45% trợ giúp y tế, 35% trợ giúp giáo dục, còn nhóm nghèo chỉ nhận được tương ứng là 7% và 15% Thực
tế cho thấy an sinh xã hội cho người nghèo ở nông thôn đang rất thấp, có trường hợp là số 0 hoặc số âm Để góp phần giảm thiểu khoảng cách phân hoá giàu nghèo rất cần thực hiện chiến lược phát triển an sinh xã hội đáp ứng nhu cầu của người dân cả nước nói chung và khu vực nông thôn nói riêng(các chương trình trợ giúp xã hội; vay vốn xoá đói giảm nghèo; trợ giúp khẩn cấp…)
Bốn là, mặc dù đã có nhiều cải thiện đáng kể, tuy nhiên sức lao động ở nông thôn chưa được giải phóng triệt để, chưa phát huy và thực sự tạo ra động lực mới trong việc sử dụng có hiệu quả lao động ở khu vực này Chất lượng và giá trị việc làm của lao động nông thôn còn thấp Lao động gia tăng vào tăng trưởng chủ yếu vẫn là số lượng, chất lượng lao động chưa mang tính quyết định
Trang 36Lao động nông thôn đóng góp làm tăng giá trị sản xuất nông nghiệp nghiệp chiếm tới 50%, nhưng chủ yếu là lao động cơ bắp, hầu hết chưa qua đào tạo nghề Theo tính toán của Tổng Cục thống kê vào năm 2004 bình quân lao động nông nghiệp tạo ra giá trị chỉ bằng 22,7% so với khu vực dịch vụ và 16,3% so với khu vực công nghiệp Cơ hội tiếp cận các nguồn lực để sản xuất: vốn, khoa học công nghệ, thị trường… của người nông dân còn rất thấp cho nên hiệu quả sản xuất thường không cao, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm ở nông thôn vẫn còn xảy với tỷ lệ cao Bên cạnh đó, lao động trong khu vực nông thôn chủ yếu thuộc thành phần kinh tế hộ gia đình, chiếm khoảng 90% Khả năng tham gia thị trường lao động khu vực đô thị của họ chưa nhiều, thường ở bậc thấp, nhiều rủi ro và thu nhập thấp Bên cạnh đó, thị trường lao động ở nông thôn còn
sơ khai, đặc biệt là ở những khu vực khó khăn các quan hệ lao động hầu như chưa phát triển Giá tiền công lao động trong khu vực nông thôn thường thấp hơn khu vực thành thị từ 15 đến 20% Từ thực tế như vừa phân tích đặt ra yêu cầu phải đáp ứng vấn đề an sinh xã hội (BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp thất nghiệp…) cho nông dân, nhằm hỗ trợ cho những thiếu hụt của họ do đặc điểm lao động, việc làm ở khu vực nông thôn ảnh hưởng đến
Năm là, mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam trở thành đất nước công nghiệp tuy nhiên cho đến nay về cơ bản chúng ta vẫn là một đất nước nông nghiệp, nông thôn và nông dân Vào năm 2005 khu vực lao động nông nghiệp chiếm hơn 66,5% lao động cả nước Đặc thù của lao động nông nghiệp
là phụ thuộc hoặc thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với sự khắc nghiệt của thời tiết, vị trí địa lý, thiên tai, dịch bệnh, hoá chất bảo vệ động thực vật… Chính vì vậy, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng của người lao động( các hóa chất, lũ lụt; sấm sét; thời tiết quá lạnh, quá nóng; bệnh dịch từ gia súc, gia cầm…) Tính từ năm 1990-2000 khu vực nông thôn ở Việt Nam đã có 8000 người thiệt mạng do lũ lụt Trong năm 2004 cả nước có 4009 vụ nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật Hàng năm có khoảng 20.000 lượt người bị tai nạn trong
Trang 37lao động trong sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam đang phần lớn phụ thuộc vào sự may rủi của thiên tai thời tiết, dịch bệnh Đặc biệt trong thời gian gần đây chúng ta lại càng thấy rõ vấn đề: Hạn hán, rét đậm kéo dài, lũ lụt; dịch cúm gia cầm; dịch lợn tai xanh…đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động sản xuất của người nông dân Chỉ tính riêng ảnh hưởng của lũ lụt mỗi năm gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp từ 7-8 nghìn tỷ đồng Như vậy, đặc điểm của lao động, sản xuất nông nghiệp đang chịu ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng sức khoẻ và tính mạng; đến năng suất, chất lượng hiệu quả và mức thu nhập của người nông dân Đây thật sự là một gánh nặng quá lớn đối với phần lớn nông dân khi họ tự phải xoay sở chi phí chăm sóc
y tế, khắc phục và đầu tư tái sản xuất nông nghiệp của họ Để giảm thiểu gánh nặng liên quan đến bệnh tật, tai nạn và những rủi ro thất bát trong sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội (BHYT; bảo hiểm tai nạn lao động; bảo hiểm sản xuất; trợ giúp khẩn cấp…) cho người nông dân
Sáu là, cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là dịch vụ xã hội chất lượng cao đang có sự khác biệt rất lớn giữa nông thôn và thành thị Chẳng hạn về dịch vụ giáo dục, năm 2004 tỷ lệ người biết chữ từ 10 tuổi trở lên
ở nông thôn là 91,85%, thấp hơn so với thành thị (96,34%); mức chi tiêu cho giáo dục- đào tạo bình quân ở khu vực thành thị là 1.537 nghìn đồng, cao gấp 2,6 lần so với khu vực nông thôn Về sử dụng dịch vụ y tế cũng có sự khác biệt lớn giữa nông thôn và thành thị, trong khi 85,63% người ốm ở đô thị được điều trị nội trú tại các bệnh viện công lập, thì con số này ở nông thôn là 77,46% Sở hữu tiện nghi đắt tiền, lâu bền ở đô thị bình quân một hộ gia đình là 22,5 triệu đồng, trong khi tỷ lệ này ở khu vực nông thôn chỉ đạt 8,2 triệu đồng Cho đến nay về cơ bản dân cư thành thị đã tiếp cận với nước sạch sinh hoạt, trong khi ở nông thôn chỉ có 62% Để khắc phục tình trạng này một cách cơ bản và bền vững lâu dài rất cần phát triển hệ thống an sinh xã hội ở khu vực nông thôn (BHYT, bảo hiểm giáo dục…)
Trang 38Bảy là, nhu cầu tham gia các hình thức an sinh xã hội xuất phát từ nhu cầu nội lực và trong chính truyền thống văn hoá, lịch sử tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau của cư dân nông thôn, đặc biệt là nông dân Nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội của nông dân đã được chính bản thân họ khởi sướng Từ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX mặc dù chưa có chính sách BHXH của nhà nước, tuy nhiên xuất phát từ nhu cầu nguyện vọng thiết tha của người nông dân khi tuổi già có một nguồn tài chính thường xuyên để ổn định cuộc sống, Hội nông dân ở một số địa phương đã đề xuất với cấp uỷ Đảng, chính quyền xây dựng chế độ BHXH cho nông dân với các tên gọi khác nhau, như: Quỹ hưu nông dân; Quỹ bảo trợ nông dân; Quỹ hỗ trợ tuổi già; Quỹ BHXH nông dân…Trong đó, Nghệ An là nơi khởi xướng Tính đến cuối năm 2005, toàn tỉnh
đã có 305/326 xã phường và thị trấn thuộc 11 huyện, thị, thành phố tham gia với 84.156 lượt người, chiếm 16,06% số người có khả năng tham gia BHXH trong tỉnh Từ năm 2001 đến nay BHYT tự nguyện đã được triển khai trong cả nước Theo số liệu thống kê của cơ quan BHXH, số người tham gia BHYT tự nguyện nhân dân ngày càng tăng nhanh Chỉ trong 4 tháng đầu năm
2008, đối tượng nhân dân tham gia đạt 1,6 triệu người, cao hơn số lượng phát hành cho đối tượng này cả năm 2007 Theo kết quả điều tra về nhu cầu tham gia BHXH của Trung tâm nghiên cứu BHXH thuộc BHXH Việt Nam, năm 2003 cho thấy có 72,8% ý kiến người dân ở nông thôn được hỏi trả lời có nhu cầu tham gia BHXH Từ những phân tích như vậy cho thấy nhu cầu tham gia BHXH của người nông dân là rất lớn và chính đáng Do vậy, nhà nước phải có trách nhiệm thoả mãn tốt nhu cầu tham gia các loại hình BHXH, nhằm đảm bảo tốt vấn đề an sinh của người nông dân
Kết luận chương 1
Để đảm bảo công bằng xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức sôi động của cả nước như hiện nay thì việc hoàn thiện chính sách an sinh xã hội nói chung và chính sách an sinh xã hội đối
Trang 39với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển công nghiệp nói riêng là hết sức cần thiết và cấp bách Người nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp là đối tượng rất dễ bị tổn thương trước các nguy cơ dẫn đến
sự suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do các rủi ro, các cú sốc về kinh tế xã hội và chính sách an sinh xã hội là cứu cách giúp họ đối phó với các rủi ro có thể khiến họ rơi vào cảnh nghèo khó Do đó, việc sớm hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đối với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển công nghiệp
sẽ đảm cho chính sách này đáp ứng được các tiêu chí đánh giá nó như mức độ bao phủ, mức độ tác động, mức độ bền vững về tài chính và đặc biệt là tính kịp thời trong thực hiện chính sách Bên cạnh đó, trong thực hiện chính sách an sinh
xã hội đối với người nông dân sau khi thu đất để phát triển công nghiệp như chính sách bồi thường đất bị thu hồi cho nông dân, chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm, chính sách trợ giúp xã hội, chính sách Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế tự nguyện, chính sách hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn,…thì vấn đề quan tâm ưu tiên hàng đầu là chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm mới cho người nông dân, vấn đề ưu tiên thứ hai là tạo môi trường nông thôn mới ngay trên mảnh đất đã gắn bó bao đời với người nông dân Hai vấn đề cốt lõi này nếu đượcgiải quyết tốt, có hiệu quả thì các chính sách còn lại sẽ có điều kiện để phát huy tác dụng, hiệu quả của nó Tuy nhiên,
để các chính trên có tính khả thi cao thì đòi hỏi phải đảm bảo yêu cầu rất cao về điều kiện để thực hiện nó, do đó ngoài chính sách an sinh xã hội của Nhà nước, cũng cần phải khuyến khích, phát huy các hình thức an sinh xã hội cộng đồng, đây cũng chính là cơ sở lý luận quan trọng giúp cho việc đề xuất xây dựng hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả chính sách an sinh xã hội đối với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp của huyện Cần Đước nói riêng và người nông dân bị thu hồi đất của cả nước nói chung thông qua việc phân tích đánh giá thực trạng các chính sách an sinh xã hội đã và đang áp dụng tại huyện Cần Đước, tỉnh Long An trong những năm qua
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN 2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và tình hình phát triển các khu công nghiệp ở huyện Cần Đước, tỉnh Long An
2.1.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Huyện Cần Đước là một trong 15 huyện, thành phố, thị xã của tỉnh Long
An Huyện nằm ở phía Đông Nam vùng hạ của tỉnh Long An, có tọa độ địa lý
từ 10o12’ – 10o
46’ vĩ độ Bắc, 106o
35’- 106o37’ kinh độ Đông Ranh giới hành chính được xác định như sau: phía Đông giáp huyện Cần Giuộc, được bao bọc bởi sông Soài Rạp và sông Rạch Cát; phía Tây được bao bọc bởi sông Vàm Cỏ Đông và Sông Vàm Cỏ, tiếp giáp huyện Châu Thành, Tân Trụ; phía Nam được bao bọc bởi sông Vàm Cỏ, tiếp giáp huyện Gò Công Đông – tỉnh Tiền Giang; phía Bắc giáp huyện Cần Giuộc, Bến Lức Huyện Cần Đước có diện tích tự nhiên 218,103 km2 , được chia thành 17 xã, thị trấn và 118 ấp, khu phố được chia làm 2 tiểu vùng kinh tế là vùng Thượng và vùng Hạ Vùng Thượng bao gồm 9 xã: Mỹ Lệ, Long Định, Long Cang, Long Khê, Long Hòa, Long Sơn, Long Trạch, Tân Trạch và Phước Vân, chiếm 43,87% diện tích toàn huyện Đặc trưng địa hình của vùng là bằng phẳng và cao Vùng Hạ bao gồm 7 xã và thị trấn: Tân Lân, Tân Ân, Tân Chánh, Phước Đông, Long Hựu Đông, Long Hựu Tây, Phước Tuy và Thị trấn Cần Đước, chiếm 56,13% diện tích toàn huyện Đặc trưng địa hình của vùng là bằng phẳng và thấp
Huyện Cần Đước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đặc điểm chung của khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long với nền nhiệt cao, có hai mùa mưa và khô rõ rệt, chịu ảnh hưởng bởi thời tiết vùng cận biển Về thổ nhưỡng, Cần Đước có 5 nhóm đất gồm đất phù sa, đất phù sa nhiễm mặn, đất