Trong tập luyện và thi đấu Quần vợt, khả năng phối hợp vận động đặc biệt quan trọng, nó thể hiện ở khả năng giữ thăng bằng trong di chuyển; khả năng định hướng trong việc đỡ và đánh trả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VŨ ANH TÀI
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG PHỐI HỢP VẬN ĐỘNG CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN QUẦN VỢT LỨA TUỒI 13-14 CÂU LẠC
BỘ QUẦN VỢT AN CỰU CITY, TP-HUẾ
Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Mã số: 60.14.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN MẠNH HÙNG
NGHỆ AN – 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào
Tác giả luận văn
Vũ Anh Tài
Trang 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CLB : Câu Lạc Bộ
Cm : Centimet (s) : Giây HLV : Huấn luyện viên LVĐ : Lượng vận động
m : Mét TDTT : Thể dục thể thao
TP : Thành Phố VĐV : Vận động viên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU i
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Đặc điểm môn Quần vợt 5
1.1.1 Đặc điểm kỹ Chiến thuật Quần vợt 5
1.1.1.1 Đặc điểm kỹ thuật 5
1.1.1.2 Đặc điểm chiến thuật 7
1.1.1.3 Các yếu tốcấu thành thành tích thể thao trong Quần vợt 8
1.2.Vai trò của các tố chất thể lực đối với thành tích môn Quần vợt 9
1.2 Khái quát về khả năng phối hợp vận động trong môn Quần vợt 11
1.2.1.Khái quát về khá năng phối hợp vận động 11
1.2.2 Đặc điểm phối hợp vận động trong môn Quần vợt 14
1.3 Phương pháp phát triển khả năng phối hợp vận động 15
1.4 Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi 13-14 17
1.4.1Đặc điểm sinh lý lửa tuổi 13-14 17
1.4.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 13-14 19
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 22
2.1 Phương pháp nghiên cứu: 22
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu tham khảo: 22
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn 23
2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm 23
2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 23
2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 26
2.1.6 Phương pháp toán học thống kê 26
2.2 Tổ chức nghiên cứu 27
2.2.1 Thời gian nghiên cứu: 27
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 28
Trang 5CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 29
3.1 Đánh giá thực trạng công tác huấn luyện khả năng phối hợp vận động nam vận động viên lứa tuổi 13 – 14, CLB Quần vợt An cựu City, TP- Huế 29 3.1.1 Thực trạng chương trình huấn luyện chon am vận động viên lứa tuổi 13 –
14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế 29 3.1.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác huấn luyện cho nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 13–14, CLB Quần vợt An Cựu City,TP- Huế 31 3.1.3 Thực trạng sử dụng các bài tập phát triển khả năng phối hợpvận độngcho nam vận động viên Quần vợt lứa tuồi 13-14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế 32 3.1.4 Lựa chọn test đánh giá khả năng phối hợp vận động cho namVĐVQuần vợt lứa tuổi 13- 14, CLB Quần Vợt An Cựu City, TP- Huế 34 3.1.4.1 Cơ sở lý luận lựa chọn test đánh giá khả năng phối hợp vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế 34 3.1.4.2 Xác minh tính thông báo củacác test đánh giákhả năng phối hợp vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi13-14, CLB Quầnvợt An Cựu City, TP- Huế 37 3.1.4.3 Xác định độ tin cậy của các test đánh giá khả năng phối hợp vận động cho nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 13-14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế 38 3.2 Lựa chọn và ứng dụng bài tập nâng cao khả năng vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, CLB An Cựu City, TP- Huế 40 3.2.1 Nguyên tắc lựa chọn bài tập nâng cao khả năng vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, CLB An Cựu City, TP- Huế 40 3.2.2 Lựa chọn bài tập nâng cao khả năng vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, Câu Lạc Bộ An Cựu City, TP- Huế 41
Trang 63.2.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập năng cao khả năngphối hợp vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, Câu Lạc Bộ Quần vợt An
Cựu City, TP- Huế 48
3.2.3.1 Tồ chửc thực nghiệm 48
3.2.3.2 Đánh giá hiệu quả các bài tập nâng cao khả năng phối hợp vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế 49
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
1 Kết luận 54
2 Kiến nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 1 57
PHỤ LỤC 2 59
PHỤ LỤC 3 62
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phân bổ thời gian tập luyện của nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế trong 1 năm 29 Bảng 3.2 Thực trạng phân phối thời gian huấn luyện các tố chất thể lực cho nam vận động viên lứa tuổi 13 -14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế 30 Bảng 3.3 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập 31 Bảng 3.4 Kết quả phỏng vấn lựa chọn tiêu chí đánh giá khả năng phối hợp vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế (n=31)……… 36 Bảng 3.5 Mối tương quan giữa các test đánh giá khả năng phối hợp vận động với thành tích thi đấu của nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, CLB An Cựu City, TP- Huế 38 Bảng 3.6 Mối tương quan giữa hai lần lập test của các test đánh giá khả năng phối hợp vận động cho nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 13-14, CLB An Cựu City, TP- Huế 39 Bảng 3.7 Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập nâng cao khả năng vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, CLB An Cựu City, TP- Huế 44 Bảng 3.8 So sánh kết quả kiểm tra khả năng phối hợp vận động của hai nhóm trước thực nghiệm (n = 20) 50 Bảng 3.9 So sánh kết quả kiểm tra khả năng phối hợp vận động của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng sau 06 tháng thực nghiệm 51 Bảng 3.10 So sánh nhịp độ tăng trưởng khả năng phối hợp vận động của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm sau 06 thứng thực nghiệm 52
Trang 8MỞ ĐẦU
Quần vợt là môn thể thao được phát triển từ rất sớm ở các nước châu Âu, châu Mỹ Do đặc điểm phong phú, đa dạng và hấp dẫn Quần vợt nhanh chóng được phát triển một cách mạnh mẽ ở hầu hết các nước trên thế giới và trở thành một trong những môn nằm trong chương trình thi đấu ở Đại hội Olympic
Ở Việt Nam, môn Quần vợt đã được du nhập vào từ đầu thế kỷ XX, nhưng chỉ được phát triển mạnh từ sau ngày đất nước thống nhất Đầu thế kỷ XX, cùng với sự xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp, Quần vợt được dư nhập vào Việt Nam và phát triển ờ một số thành phố lớn như: Hà Nội - Hải Phòng - Huế - Sài Gòn Đặc biệt, ở Nam Bộ, vào những năm 1920 - 1930, môn Quần vợt rất được
ưa chuộng và phát triển không kém gì môn bóng đá và đua xe đạp.Tuy vậy, do điều kiện kinh tế khó khăn lúc bấy giờ nên thành tích còn hạn chế
Trong quá trình phát triển của mình Quần vợt Việt Nam đã giành được những tiến bộ nhất định Chỉ sau thời gian ngắn Quần vợt Việt Nam đã có vị thế đáng kể trong khu vực, mang lại nhiều vinh quang cho Tổ quốc từ các giải trên đấu trường khu vực và thế giới VĐV Việt Nam bước đầu giành được những thành tích nhất định Đó là Huy chương Đồng đôi nam - nữ của Ôn Tấn Lực và Nguyễn Thị Kim Trang tại SEA Games 18 ở Chiang Mai (Thái Lan) và Huy chương Bạc đôi nam - nữ và Huy chương Đồng đồng đội nam tại SEA Games
19 Jakarta (Indonesia) Huy chương vàng đôi nam của Huỳnh Chí Khương và
Đỗ Minh Quân tại giải Quần vợtU18 khu vực Những năm gần đây Quần vợt Việt Nam đã có bước tiến đáng kể giành nhiều thứ hạng cao ở các giải trẻ, đặc biệt đội tuyển Quần vợt Việt Nam giành suất lên hạng nhóm II DAVIS CUP khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 2016
Quần vợt là môn thể thao phù hợp với vóc dáng, tố chất thể lực, khả năng tiếp thu kỹ chiến thuật, tâm lý con người Việt Nam Nó là môn thể thao đòi hòi
Trang 9người chơi phải di chuyển liên tục, vừa di chuyển vừa kết hợp với các kỹ thuật khác để khéo léo đưa bóng sang sân đối phương Ngày nay, Quần vợt hiện đại phát triển vô cùng đa dạng và phong phú, ở mỗi khu vực mỗi quốc gia đều có phong cách lối đánh riêng nhưng nhìn chung tất cả đều thiên về lối đánh tấn công Đặc biệt là kỹ thuật đánh bóng xoáy lên bên phải luôn là kỹ thuật chủ yếu
để uy hiếp đối phương, có khả năng dứt điểm hoặc tạo cơ hội dứt điểm
Hiện nay, Quần vợt nước ta đang đứng trước vấn đề thiếu hụt tài năng trẻ
Vì vậy để có được lực lượng kế cận cho lớp vận động viên đàn anh, chúng ta đã
và đang đào tạo các tài năng trẻ Trong đó CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế
là một trong những nơi đang thực hiện định hướng này của ngành TDTT Để Quần vợt nước ta có thểphát triển mạnh mẽ trong tương lai thì cần có sự quan tâm hơn nữa của Đảng và Nhà nước, sự làm việc nghiêm túc của ngành TDTT, đặc biệt là công tác giảng dạy, huấn luyện thế hệ vận động viên trẻ Ngoài việc giáo dục và nâng cao các tố chất nhanh, mạnh, bền thì khả năng phối hợp vận động là một năng lực không thể thiếu trong tập luyện và thi đấu ở các môn thể thao nói chung và Quần vợt nói riêng Khả năng phối hợp vận động giúp VĐV phối hợp các hoạt động như phán đoán đường bóng tới, di chuyển tới vị trí thích hợp, thực hiện kỹ thuật đánh bóng với lực, tốc độ, độ xoáy cho phù hợp Trong tập luyện và thi đấu Quần vợt, khả năng phối hợp vận động đặc biệt quan trọng, nó thể hiện ở khả năng giữ thăng bằng trong di chuyển; khả năng định hướng trong việc đỡ và đánh trả bóng của đối phương; khả năng phản ứng nhanh với những cú đánh nhanh của đối phương; khả năng phân biệt dùng lực- khả năng thích ứng với các tình huống thi đấu phát sinh Tuy nhiên, trên thực tế, việc huấn luyện khả năng phối hợp vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế lại chưa được quan tâm nghiên cứu Chính vì vậy, nâng cao khả năng phối hợp vận động cho đối tượng trên là vấn đề cần thiết và cấp thiết.Có nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu môn Quần vợt như: Phan Đình Huy (2010), Lê Thị Mây (2011), Nguyễn
Trang 10Hoàng Tuấn Cương (2011), Đỗ Thị Kim Thoa (2012), Nguyễn Hoàng Giang (2012) Tuy nhiên, các tác giả trên mới chủ yếu quan tâm tới phát triển các tố chất thể lực như sức nhanh, sức mạnh, sức bền và phát triển các kỹ thuật, còn việc nghiên cứu phát triển khả năng phối hợp vận động nói chung và khả năng phối hợp vận động của nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14 Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế nói riêng chưa được các tác giả quan tâm nghiên cứu.Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng và tính cấp thiết của đề
tài Từ đó, chúng tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu với tên đề tài là: “Nghiên
cứu lựa chọn bài tập phát triển khả năng phối hợp vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuồi 13-14 Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế”
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài lựa chọn các bài tập hợp lý, khoa học ứng dụng vào quá trình huấn luyện nhằm phát triển khả năng phối hợp vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ
sở góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13- 14, Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế
*Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đặt ra, đề tài tiến hành giải quyết hai nhiệm vụ cụ thể sau:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác huấn luyện khả năng phối hợp
vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, Câu Lạc Bộ Quần vợt
An Cựu City, TP- Huế
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và ứng dụng bài tập phát triển khả năng phối hợp
vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, Câu Lạc Bộ Quần vợt
An Cựu City, TP- Huế
* Đối tượng nghiên cứu:
Trang 11- Chủ thể nghiên cứu: Gồm các bài tập phát triển khả năng phối hợp vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế
- Khách thể nghiên cứu: Bao gồm 20 Nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế
* Phạm vi nghiên cứu:
- Quy mô nghiên cứu:
+ Số lượng mẫu nghiên cứu: 20 nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 13-14 thuộc Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế
+ Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế và Trường Đại Học Vinh
+ Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3/2016 đến tháng 5/2017
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm môn Quần vợt
Quần vợt là môn thê thao được phát triển rất sớm ở các nước châu Âu châu
Mỹ Do đặc điêm phong phú, đa dạng, hấp dẫn, Quần vợt nhanh chóng phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nước trên thế giới và trở thành một trong những môn nằm trong chương trình thi đấu ở Đại hội Olympic
Ở Việt Nam, môn Quần vợt đã được du nhập vào từ đầu thế kỷ XX, nhưng chỉ được phát triển mạnh từ sau ngày đất nước thống nhất Trong những năm gần đây, ngoài những giải thi đấu trong nước và quốc tế tại Việt Nam, các vận động viên Việt Nam đã có mặt trên các đấu trường của khu vực và thế giới Khi xem xét đặc điếm cơ bản của môn Quần vợt, cần quan tâm tới các đặc điểm sau:
1.1.1 Đặc điểm kỹ Chiến thuật Quần vợt
1.1.1.1 Đặc điểm kỹ thuật
Kỹ thuật Quần vợt là tổng hợp những hoạt động vận động phối hợp, mỗi hoạt động bao gồm hệ thống hợp lý các động tác Kỹ thuật là phương tiện chủ yếu để thi đấu trực tiếp với đối phương [9], [20],
Trong đánh giá đặc điểm kỹ thuật Quần vợt cần chú ý đặc biệt tới đặc điểm
kỹ thuật đánh bóng và đặc điểm kỹ thuật di chuyển [9], [20],
a.Đặc điểm kỹ thuật đánh bóng
Trong Quần vợt, hiệu quả của bất kỳ kỹ thuật nào cũng được xác định bằng tốc độ bay của bóng, sự chuẩn xác và ổn định của bóng khi rơi vào các vị trí đã chọn trên sân Nói cách khác, nó được xác định bằng các quá trình điều khiển các hoạt động đánh bóng và truyền lực bay cho bóng Các quá trình này diễn ra trong khoảng thời gian của tất cả 5 giai đoạn của hoạt động đánh bóng Mỗi giai đoạn đều phải giải quyết những nhiệm vụ riêng, đảm bảo một mục đích
Trang 13Giai đoạn 1: Giai đoạn tạo đà (Chuyển động vợt về phía sau đế vung đà)
Từ vị trí ban đầu, đấu thủ đưa tay cầm vợt về phía sau, co tay ở khớp khuỷu Giai đoạn này kết thúc ở thời điểm khi góc ở khớp nhỏ nhất và vợt ở vị trí xa hơn so với lưới
Giai đoạn 2: Giai đoạn tăng tốc độ vợt (Chuyển động vợt về trước cùng với
sự tăng tốc độ): Giai đoạn này bắt đầu trước thời điểm bóng chạm mặt vợt Phần
thứ nhất của giai đoạn này bắt đầu từ thời điểm duỗi thẳng tay ở khớp khuỷu và kết thúc khi góc đó đạt tới tối đa
Giai đoạn 3: Giai đoạn tiếp xúc bóng (Sự tác động của vợt với bóng): Giai đoạn này bắt đầu thời điểm bóng chạm mặt vợt Trong quá trình giai đoạn này, năng lượng do vợt thu nhận được truyền vào bóng Giai đoạn này được kết thúc khi bóng rời mặt vợt
Giai đoạn 4: Giai đoạn giảm tốc (Chuyển động chậm vợt về phía trước) Trong thời gian giai đoạn này, góc khớp khuỷu vẫn không đổi hoặc có giảm chút
ít Giai đoạn này được kết thúc khi đấu thủ bắt đầu co tay ở khớp khuỷu Tốc độ chuyển động của vợt về hướng đánh giảm dần tới số không
Giai đoạn 5: Đưa vợt trở về vị trí ban đầu Giai đoạn này tiếp tục cho tới khi góc ở khớp khuỷu sẽ không còn nhỏ nhất Thời điểm đó là kết thúc hoạt động đánh bóng của đấu thủ [9], [22]
Tuy nhiên, việc xác định hướng đi của vợt phụ thuộc chủ yếu vào mục đích đánh bóng và các điều kiện để thực hiện quả đánh đó Nói cách khác, trong mỗi
kỹ thuật khác nhau thì việc điều chỉnh bóng phụ thuộc vào khả năng điều khiển vợt của tay (cẳng tay và cổ tay) khi tiếp xúc bóng
b Đặc điểm kỹ thuật di chuyển
Di chuyển trong Quần vợt rất đa dạng và bao gồm nhiều kỹ thuật di chuyển khác nhau Nếu căn cứ vào phương hướng di chuyển có thể chia ra là: Di chuyển ngang, di chuyển chéo và di chuyển lên xuống; còn nếu căn cứ vào phương pháp
Trang 14bước chân lại có thể phân biệt là di chuyển bước đôi hoặc bước chéo, trong đó di chuyến bước chéo là kỹ thuật được sử dụng thường xuyên hơn ca Tuy nhiên ở bất cứ loại hình di chuyển nào trong quá trình thực hiện đều phải trải qua các giai đoạn sau:
Tư thế chuẩn bị ban đầu -» Xuất phát Các bước di chuyên đến vị trí đánh bóng -> Bước cuối cùng trước khi thực hiện động tác đánh bóng -> Trở về vị trí chuẩn bị Tóm lại, kỹ thuật di chuyển trong Quần vợt rất đa dạng và phong phú Vận động viên phải năm vững tất cả các kỹ thuật di chuyển để ứng dụng trong từng trường hợp cụ thể trong trận đấu [9], [20]
1.1.1.2 Đặc điểm chiến thuật
Chiến thuật là nghệ thuật tiến hành thi đấu nhằm giải quyết các nhiệm vụ hiện tại của cuộc thi trong quá trình giành điểm trực tiếp
Chiến thuật trong Quần vợt là những phương án chơi và sự sắp xếp vị trí trong trận đấu mà đấu thủ sử dụng nhằm đảm bảo đạt được một mục tiêu, một phần của kế hoạch chiến lược đã định sẵn
Chiến thuật trong thi đấu Quần vợt rất đa dạng và linh hoạt Trong thực tế, chiến thuật có tầm quan trọng không kém gì kỹ thuật, là bộ phận không thể thiếu
để nâng cao trình độ toàn diện của Quần vợt Những loại hình chiến thuật Quần vợt đã được hình thành cho đến nay gồm:
- Chiến thuật đánh bóng ở cuối sân (Tấn công và phòng thủ chủ yếu ở đường cuối sân)
- Chiến thuật giao bóng lên lưới và đánh vôlê (tấn công chủ yếu ở lưới)
- Chiến thuật phối hợp trên toàn sân (phối hợp tấn công ở lưới và phàn công ở đường cuối sân) [9]
Chiến thuật trong Quần vợt thường được chia ra: Chiến thuật đánh đơn và chiến thuật đánh đôi, trong đó, mỗi chiến thuật lại được chia nhỏ theo đặc điểm
kỹ thuật của VĐV
Trang 15Tóm lại để nắm vững chiến thuật Quần vợt sẽ tạo điều kiện cho người chơi nắm vững các hoạt động để sử dụng tối đa trình độ phát triển đồng thời kiểm định lại kỹ thuật của vận động viên, những phẩm chất về năng lực riêng biệt, khả năng về tâm lý và kiến thức lý luận của VĐV trong thi đấu Nắm vững chiến thuật Quần vợt cũng giúp cho vận động viên lựa chọn được những quyết định có hiệu quả trong các tình huống thi đấu hoặc duy trì thế chủ động, giành thắng lợi những pha bóng quan trọng có ý nghĩa quyết định ảnh hưởng tới kết quả trận đấu
1.1.1.3 Các yếu tố cấu thành thành tích thể thao trong Quần vợt
Thành tích thể thao nói chung và thành tích Quần vợt nói riêng chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau Để đào tạo được vận động viên có thành tích thể thao cao, đáp ứng được xu thế phát triển của Quần vợt hiện đại thì công tác huấn luyện phải quán triệt tốt về lý luận cũng như thực tiễn các mặt cấu thành thành tích thể thao [9], [20] Cụ thể gồm:
- Các yếu tố mang tính di truyền (hình thái cơ thể, chức năng )
- Các yếu tố do quá trình huấn luyện tạo thành (được kết hợp chặt chẽ với các yếu tố di truyền của từng cá thể để hình thành các năng lực về kỹ chiến thuật, thể lực, tâm lý, trí lực )
- Động cơ tư tưởng và các yếu tố do môi trường xã hội tạo nên
Các mặt trên phải được huấn luyện một cách hệ thống, khoa học, có chủ đích và có mối quan hệ hữu cơ giữa chúng
Cần chú ý: Nếu các yếu tố hình thái, chức năng cơ thể mang tính tĩnh thì các yêu tố kỹ, chiến thuật, thể lực, tâm lý, trí tuệ, động cơ tư tưởng lại mang tính động, biến đổi dưới tác động của huấn luyện và đời sống
Trong huấn luyện Quần vợt hiện đại, tất cả các yếu tố cấu thành thành tích thể thao trong Quần vợt đều được quan tâm, tuy nhiên, mức độ của từng thành
Trang 16phần còn phụ thuộc vào tầm quan trọng của bản thân và thành phần đó tới thành tích thực tế môn Quần vợt [9], [20]
1.2.Vai trò của các tố chất thể lực đối với thành tích môn Quần vợt
Quá trình huấn luyện thể lực cho vận động viên là một quá trình đào tạo chuyên môn, chủ yếu bằng hệ thống bài tập nhằm hoàn thiện các năng lực thể chất, đảm bảo vận động viên đạt thành tích cao nhất
Việc nghiên cứu quan hệ mang tính đặc trưng của tố chất thể lực trong các môn thể thao được nhiều tác giả nghiên cứu mang tính đặc trưng cho từng môn thể thao đã được Pharaphen biểu diễn bằng hình vẽ vào năm 1962 và gần đây được một nhóm tác giả của Trung Quốc biểu diễn bằng hình không gian Những năm gần đây, khi nghiên cứu sâu hơn về tố chất thể lực theo ba dạng cơ bản sức nhanh, sức mạnh và sức bền, phát hiện có những môn thể thao nằm giữa ba loại trên tức là những môn mang đặc trưng của một loại tố chất chủ đạo nhưng liên quan đến tố chất khác
Trong công tác huấn luyện Quần vợt, các nhà chuyên môn cho rằng: Tố chất thể lực của vận động viên Quần vợt phải được phát triển một cách toàn diện
và lâu dài trong suốt quá trình tập luyện Tuy nhiên với đặc thù của Quần vợt, các tố chất thể lực phải phát triển theo đặc điểm rêng, từng tố chất thể lực phát triển dựa theo từng thời kỳ sinh học, thời kỳ nhạy cảm, từng giai đoạn huấn luyện Nếu những môn thể thao có tố chất đặc trưng được xác dịnh dễ dàng như tố chất sức nhanh của VĐV chạy cự ly ngắn, tố chất sức mạnh của vận động viên Cử tạ Nhưng với môn thể thao đối kháng gián tiếp như Quần vợt, việc xác định tố chất đặc trưng là rất khó đo: Động tác kỹ thuật phức tạp; Chiến thuật biến hoá; Tính đối kháng cao và Thành tích phụ thuộc nhiều yếu tố
Cũng như các môn thể thao khác, trình độ thể lực rất quan trọng để vận động viên Quần vợt có thể thi đấu đạt thành tích cao nhất Trình độ thể lực của vận động viên Quần vợt được xác định chủ yếu ở các tố chất như sức mạnh để
Trang 17tăng lực của các quả đánh, sức nhanh để tăng tốc độ bóng, sức bền để duy trì thể lực và tốc độ trong suốt thời gian thi đấu, khả năng phối hợp động tác để có thể đánh trúng bóng, di chuyển hợp lý tới điểm tiếp xúc bóng, mềm dẻo để tăng biên
độ động tác dánh bóng tức là tăng khoảng tạo đà trước khi tiếp xúc bóng ở bất
kỳ quả đánh nào [9], [20], [24], [25]
Tóm lại, khi phát triển thể lực cho vận động viên Quần vợt cần phát triển đồng thời tất cả các tố chất thể lực Tuy nhiên, ưu tiên phát triển sức mạnh để tăng lực đánh bóng và sức nhanh để tăng tốc độ đánh bóng cũng như khả năng
di chuyển tới điểm đón bóng
Xu hướng huấn luyện vận động viên Quần vợt hiện đại: Xu hướng phát
triển Quần vợt hiện đại thiên về lối đánh nhanh, mạnh, chính xác và biến hóa điểm rơi Quần vợt hiện đại đòi hỏi VĐV phải có kỹ thuật toàn diện kết hợp giữa tốc độ, sức mạnh và điểm rơi một cách hợp lý cùng với tư tưởng chỉ đạo của chiến thuật là tích cực chủ động, tấn công toàn diện và nhanh chóng dứt điểm Trong các kỹ thuật phòng thủ của môn Quần vợt, sức mạnh tốc độ cũng là
tố chất chủ đạo cần thiết để có thể phản công lại các đường bóng có uy lực và có tốc độ cao Vận động viên không chỉ cần có sức nhanh để phán đoán đường bóng tới và di chuyển tới vị trí đón bóng mà còn cần có sức mạnh để đánh trả các đường bóng có tốc độ cao và lực mạnh Nếu không đủ sức mạnh, với những pha bóng có lực lớn, VĐV thường bị “bung vợt” hoặc đánh trả không chính xác đường bóng đến [9], [20]
Vấn đề huấn luyện các tố chất thể lực cho VĐV Quần vợt là vô cùng quan trọng, nhất là cho các VĐV trẻ, ngoài phát triển một cách toàn diện thì “quỹ thời gian huấn luyện thể lực chung và thể lực chuyên môn trong chu kỳ huấn luyện năm là 50% tổng sổ giờ huấn luyện” (S.Piacentini - p Missaglia (2002) [45], Theo Chanes Applewhaite (2005) [9], khi huấn luyện thể lực cho vận động viên
Trang 18Quần vợt, cần phát triển toàn diện các tố chất thể lực thành phần, ưu tiên phát triển sức mạnh tốc độ, sức bền tốc độ, sức mạnh bền )
Các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu về môn Quần vợt đã nêu ra những yếu tố quan trọng về huấn luyện tố chất thể lực trong Quần vợt như: Trần Văn Vinh, Đào Chí Thành, Lê Thanh Sang (2002) [20] cho rằng: Sức mạnh tốc độ, sức bền tốc độ, mềm dẻo, khéo léo là cơ sở vận động của môn thể thao Nguyễn Ngọc Cừ (1997) cho rằng: Phát triển sức nhanh, mềm dẻo khéo léo và khả năng vận động là cơ bản, sức mạnh tốc độ, sức bền tốc độ được nâng dần theo lứa tuồi Chỉ khi nào xác định rõ các tố chất thể lực cần thiết cho VĐV theo từng lứa tuổi, giới tính, giai đoạn huấn luyện thì việc lựa chọn nội dung huấn luyện phương pháp huấn luyện và biện pháp huấn luyện mới đạt được hiệu quả tối đa
Ngày nay Quần vợt thế giới đang phát triển rất đa dạng và phong phú Mỗi khu vực mỗi nước đều có lối đánh khác nhau Hầu hết các VĐV trên thế giới đều đã có những tiến bộ lớn về kỹ, chiến thuật cũng như phong cách lối đánh điều này càng đặt ra những đòi hỏi cao hơn đối với VĐV và huấn luyện viên môn Quần vợt ở Việt Nam
1.2 Khái quát về khả năng phối hợp vận động trong môn Quần vợt
1.2.1.Khái quát về khá năng phối hợp vận động
Không giống các tố chất thể lực khác như sức nhanh, sức mạnh, sức bền dựa trên cơ sở của hệ thống thích ứng về mặt năng lượng, khả năng phối hợp vận động phụ thuộc chủ yếu vào các quá trình điều khiển hành động vận động Việc xác định khả năng phối hợp vận động về cơ bản được dựa trên cơ sở
lý luận của tâm lý học hiện đại về khái niệm khả năng và dựa trên cơ sở của học thuyết vận động Theo các quan điểm này, khả năng phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của VĐV để thực hiện thắng lợi một hoạt động thể thao nhất định Khả năng này được xác định trước hết thông qua các quá trình điều khiển (các quá trình thông tin) và được VĐV hình thành và phát triển trong tập
Trang 19luyện Khả năng phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm
lý và năng lực khác như sức mạnh, sức nhanh và sức bền [12], [16]
Căn cứ vào các đặc điểm các loại hình hoạt động thể thao và yêu cầu riêng của chúng về phối hợp vận động, người ta chia thành bảy loại năng lực phối hợp vận động như sau:
+ Khả năng liên kết vận động: Là khả năng nhằm liên kết các hoạt động
vận động của từng bộ phận cơ thể, các phần của động tác trong mối quan hệ với hoạt động chung của cơ thể theo mục đích hành động nhất định Nó thể hiện sự kết hợp các yếu tố về không gian, thời gian và dùng sức trong quá trình vận
động
Khả năng liên kết vận động có ý nghĩa đối với tất cả các môn thể thao, đặc biệt là các môn thể thao mang tính chất kỹ thuật như thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, nhảy cầu, các môn bóng, các môn đối kháng cá nhân
Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin chính là cơ sở cho năng lực này là: Phân tích thị giác và phân tích cảm giác cơ bắp [12], [16]
+Khả năng định hướng: Là khả năng xác định, thay đổi tư thế và hoạt động
của cơ thể trong không gian và thời gian Khả năng định hướng có ý nghĩa đặc biệt đối với các môn thể thao mang tính chất kỹ thuật, các môn bóng và các môn thể thao đối kháng 2 người vì trong các môn này, VĐV luôn phải thay đổi tư thế
và vị trí của mình trong không gian
Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin chính làm cơ sở cho năng lực này là phân tích thị giác [12], [16],
+Khả năng thăng bằng: Là khả năng ổn định trạng thái thăng bằng của cơ
thể (thăng bằng tĩnh) hoặc duy trì và khôi phục nó trong và sau khi thực hiện động tác (thăng bằng động) Khả năng thăng bằng có ý nghĩa đặc biệt đối với các môn thê thao như: thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, trượt băng nghệ thuật, bơi thuyền, Judo, võ, vật
Trang 20Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin chính làm cơ sở cho năng lực này là:
Cơ quan phân tích thị giác, phân tích tiền đình, phân tích cảm giác cơ bắp [11]
+Khả năng nhịp điệu: Là khả năng phân biệt được sự luân chuyển các đặc
tính chuyển động trong quá trình một động tác hoặc thể hiện nó trong khi thực hiện động tác Khả năng này chủ yếu thể hiện ở sự tiếp thu một nhịp điệu từ bên ngoài như âm nhạc, những âm thanh đơn giản, hay sự tri giác bằng mắt và sau
đó có thể tái hiện chính xác nhịp điệu đó trong quá trình thực hiện động tác Khả năng nhịp điệu có ý nghĩa đặc biệt đối với các môn thể thao như thể dục dụng
cụ, thể dục nghệ thuật, trượt băng nghệ thuật, biểu diễn quyền trong các môn võ thuật đồng thời, đây là cơ sở quan trọng để tiếp thu kỹ thuật trong các môn thể thao khác.Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin chính làm cơ sở cho năng lực này là: Phân tích tiền đình, phân tích xúc giác và phân tích cảm giác cơ bắp [12], [16]
+Khả năng phản ứng: Là khả năng dẫn truyền nhanh chóng và thực hiện
các phản ứng vận động một cách hợp lý và nhanh chóng đối với một tín hiệu (đơn giản hoặc phức tạp) Khả năng phản ứng có ý nghĩa đặc biệt với các môn bóng, các môn thể thao đối kháng 2 người, các môn chạy tốc độ, bơi
Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin chính làm cơ sở cho năng lực này là phân tích thị giác và phân tích thính giác [12], [16]
+Khả năng phân biệt vận động: Là khả năng thực hiện động tác chính xác
cao và tinh tế từng hoạt động riêng lẻ, từng giai đoạn của quá trình đó Khả năng này thể hiện qua sự phân biệt có ý thức và chính xác các thông số về thời gian, không gian và dùng sức trong biểu tượng vận động của VĐV Khả năng phản ứng có ý nghĩa đặc biệt với các môn thể thao mang tính kỹ thuật, các môn thể thao đối kháng 2 người, bơi lội
Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin chính làm cơ sở cho năng lực này là phân tích cảm giác cơ bắp [12], [16],
Trang 21+Khả năng thích ứng: Là năng lực chuyển chương trình hành động phù
hợp với hoàn cảnh mới hoặc tiếp tục thực hiện hành động đó theo phương thức khác dựa trên các cơ sở tri giác những thay đổi của hoàn cảnh hoặc dự đoán các thay đổi đó
Sự thay đổi quá trình thực hiện động tác do tình huống thay đổi có thể được VĐV đoán trước, có thể bất ngờ hoặc hoàn toàn không đoán được Trong tình huống thay đổi không lớn thì năng lực này thể hiện ở việc thay đổi các thông sổ vận động riêng lẻ trên cơ sở giữ nguyên nhiệm vụ vận động Còn khi có những thay đổi lớn thì năng lực đó biểu hiện ở sự chuyển đổi chương trình hành động một cách nhanh chóng và hợp lý Khả năng thích ứng có ý nghĩa đặc biệt đối với môn thể thao mang tính chất đối kháng và các môn bóng [12]
Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin làm cơ sở cho năng lực này là: Phân tích thị giác, phân tích xúc giác và phân tích cảm giác cơ bắp
Việc phân chia khả năng phối hợp vận động thành bảy năng lực riêng có tính đặc thù khác nhau không có nghĩa là chúng tách rời nhau mà ngược lại, các năng lực này luôn có mối quan hệ khăng khít, thống nhất, là một tập hợp các tiền đề cho các hoạt động thể thao khác nhau Từng năng lực thể hiện rõ yêu cầu nổi trội của nó trong các hoạt động cụ thể [12], [16]
1.2.2 Đặc điểm phối hợp vận động trong môn Quần vợt
Năng lực phối họp vận động là cơ sở cho việc tiếp thu nhanh chóng và thực hiện một cách hiệu quả các hành động vận động phức tạp Do vậy, phát triển tốt các năng lực này sẽ giúp cho con người có thể thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác, hợp lý và đẹp các hoạt động vận động trong nhiều hoạt động
Trong tập luyện và thi đấu Quần vợt, khả năng phối hợp vận động đặc biệt quan trọng, nó thể hiện ở khả năng giữ thăng bằng trong di chuyển; khả năng định hướng trong việc đỡ và đánh trả bóng của đối phương; khả năng phản ứng
Trang 22nhanh với những cú đánh nhanh của đối phương; khả năng phân biệt dùng lực; khả năng thích ứng với các tình huống thi đấu phát sinh Cụ thể:
+Khả năng liên kết vận động: Là khả năng cần thiết để thực hiện liên tục
phối hợp di chuyển, phán đoán đường bóng của đối phương và tiến hành đánh trả lại đường bóng, VĐV luôn phải phòng thủ trước mọi đường bóng tấn công đối phương, đồng thời tấn công đối phương để giành điểm
Là khả năng nhằm liên kết các hoạt động vận động của từng bộ phận cơ thể, các phần của động tác trong mối quan hệ với hoạt động chung của cơ thể theo mục đích hành động nhất định Nó thể hiện sự kết hợp các yếu tố về không gian, thời gian và dùng sức trong quá trình vận động
+Khả năng định hướng: Rất quan trọng trong quá trình định hướng di
chuyển hay định hướng đường bóng tấn công của đối phương để phòng thủ
+Khả năng thăng bằng: Quan trọng trong toàn bộ quá trình thi đấu môn
Quần vợt
+Khả năng phản ứng: Đặc biệt cần thiết trong việc phản ứng lại các đường
bóng tấn công nhanh của đối phương
+ Khả năng thích ứng: Các đường bóng tấn công, các bước di chuyển hay
phòng thủ của đối phương là không đoán trước được Chính vì vậy, VĐV luôn phải chuyển chương trình hành động phù hợp với hoàn cành mới hoặc tiếp tục thực hiện hành động đó theo phương thức khác dựa trên các cơ sở tri giác những thay đổi của hoàn cảnh hoặc dự đoán các thay đổi đó
1.3 Phương pháp phát triển khả năng phối hợp vận động
Việc lựa chọn các phương tiện tập luyện nhằm phát triển khả năng hợp vận động cần phải tuân theo một số nguyên tắc sau:
- Phương pháp chính là tập luyện, phương tiện chính là các bài tập thể lực
Khả năng chỉ phát triển thông qua hoạt động Do vậy, muốn phát triển năng
Trang 23lực phối hợp vận động phải thông qua sự tập luyện một cách tích cực, thông qua việc học và hoàn thiện các bài tập được chọn lựa làm phương tiện đề phát triển năng lực này Việc học tập các kỹ xảo vận động cũng là điều kiện thuận lợi để phát triển các năng lực phối hợp vận động.Ngoài ra có thể sử dụng các bài tập tâm lý để phát triển năng lực xử lý thông tin và nhanh chóng hình thành các biểu tượng vận động theo nhiệm vụ vận động đặt ra
Các bài tập được sử dụng làm phương tiện phát triển khả năng phối hợp vận động cần yêu cầu VĐV thực hiện chính xác và thường xuyên phải kiềm tra tính chính xác của bài tập một cách có ý thức
Khả năng tri giác và điều khiển các hành động vận động được phản ánh và giữ lại trong ý thức của VĐV Lặp lại nhiều lần sai lầm về kỹ thuật sẽ dẫn tới củng cố các biểu tượng sai về kỹ thuật động tác và làm hạn chế sự phát triển kỹ xảo Cần sử dụng các phương tiện tập luyện nhằm phát triển chức năng của các
cơ quan phân tích Các cơ quan phân tích là một phần của hệ thống thần kinh -
cơ được coi là một bộ phận của “thực thể sinh lý” của khả năng phối hợp vận động Phương thức hoạt động của nó ảnh hưởng đến trình độ của khả năng phối hợp vận động Do vậy cần sử dụng các phương tiện phụ nhằm phát triển chúng Việc phát triển có mục đích một cơ quan phân tích cũng có tác dụng phát triển nhiều năng lực phối hợp vận động riêng lẻ Ví dụ: sử dụng ghế quay để phát triển chức năng tiền đình, góp phần nâng cao năng lực thăng bằng đồng thời nâng cao năng lực định hướng
Cần sử dụng các biện pháp nhằm nâng cao yêu cầu về phối hợp vận động của các bài tập thể lực Sau đây là một số biện pháp chính:
- Đa dạng hóa việc thực hiện động tác Là việc thay đổi các giai đoạn của động tác hoặc thay đổivận động của các bộ phận cở thể như: Đi, chạy, nhảy với các động tác khác nhau hoặc thay đổi nhịp điệu động tác
Trang 24-Thay đổi điều kiện bên ngoài: Thực hiện động tác trong điều kiện phức tạp; tăng độ khó của môi trường như: Thực hiện với các dụng cụ có độ khó khác nhau, các trọng lượng khác nhau, với các đối thủ khác nhau trong các phạm vi hoạt động khác nhau như trong sân thi đấu hẹp
- Phối hợp các kỹ xảo kỹ thuật với nhau Ví dụ: Liên kết các động tác trong thể dục dụng cụ, thể dụng nghệ thuật, hoặc trong các môn bóng, các môn đối kháng cá nhân
-Thực hiện động tác với yêu cầu cụ thể về thời gian: Ví dụ:Phối hợp thực hiện động tác trong một thời gian ngắn nhất (tuy nhiên phải dảm bảo độ chính xác) Phương pháp này có tác dụng phát triển năng lực phản ứng, năng lực định hướng và năng lực liên kết vận động
-Thay đổi việc thu nhận thông tin Việc thu nhận và xử lý các thông tin về thị giác, thính giác, xúc giác, thăng bằng và cảm giác cơ bắp có ý nghĩa đột biến nhằm điều khiển vận động Do vậy, cần phải yêu cầu VĐV kiểm tra một cách có
ý thức việc điều khiển các động tác trong quá trình vậnđộng
- Các phương pháp phát triển năng lực phối hợp vận động rất phong phú,
có thể phối hợp chúng với nhau hoặc thực hiện một cách có trọng điểm từng phương pháp Việc lựa chọn và sử dụng từng phương pháp cần căn cứ vào đặc điểm của từng năng lực cần phát triển, cần thường xuyên nâng cao mức độ khó khăn về phối hợp vận động của các bài tập, và chỉ nâng cao kích thích đối với cơ thể mới tạo được một trình độ thích ứng cao hơn [12], [16]
1.4 Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi 13-14
1.4.1 Đặc điểm sinh lý lửa tuổi 13-14
+ Hệ thần kinh
Não bộ đang trong thời kỳ hoàn chỉnh, hoạt động của hệ thần kinh chưa ổn định, quá trình hưng phấn chiếm ưu thế so với quá trình ức chế Khả năng, phân tích tổng hợp của các em còn thấp nhưng sâu sắc hơn ở tuổi nhi đồng, dễ thiết
Trang 25lập phản xạ mới nhưng cung dễ bị phai mờ vì thế các em dễ tiếp thu nhưng lại chóng quên Hệ thần kinh thực vật còn yếu, các dấu hiệu về kích thích cảm giác tăng lên, các biểu hiện chủ quan, lo lắng rất hay gặp
Trong các hoạt động định lượng, các em tham gia tập luyện thường xuyên thì khả năng tập trung chú ý nhanh chóng thích nghi và kéo dài hơn so với các
em không tập luyện Còn trong các hoạt động tối đa, khả năng tập trung chú ý của VĐV Quần vợt cao hơn hẳn các em không tham gia tập luyện trong cùng lứa tuồi [8]
+Hệ tuần hoàn
Tim phát triển chậm hơn so với sự phát triển của mạch máu, sức co bóp còn yếu khả năng điều hoà hoạt động của tim chưa ổn định nên hoạt động quá nhiều và quá căng thẳng, sẽ làm tim chóng mệt mỏi Nhịp tim ở lứa tuổi 13-14 thiếu ổn định và thay đổi nhiều hơn so với người lớn
Sự hồi phục ở lứa tuổi 13-14 với các lượng vận động nhỏ diễn ra nhanh hơn so với người lớn nhưng ở những lượng vận động lớn, cơ thể các em hồi phục chậm hơn người lớn Huyết áp của các em tăng dần theo lứa tuổi, tới 15
Trang 26tuổi đạt 100-110mmHg và huyết áp tối thiểu cũng đạt 70-80 mmHg Trong các hoạt động thể lực huyết áp của các em cũng tăng nhưng tăng ít hơn so với người lớn [8]
+ Hệ hô hấp
Phổi của các em phát triển chưa hoàn chỉnh, các ngăn buồng túi phổi còn nhỏ cơ hô hấp còn yếu, dung lượng khí mỗi lần thở ít, sự điều tiết của hệ thầnkinh trung ương với việc thở chưa bền vững và nhịp nhàng Vì vậy, khi hoạt động khẩn trương, nhịp thở nhanh, không giữ được nhịp thở tự nhiên, không két hợp được với động tác làm cho cơ thể chóng một mỏi [8]
+ Hệ trao đổi chất và năng lưựng
Đặc điểm chính của lứa tuổi 13-14 là quá trình đồng hoá chiếm ưu thế so với quá trình dị hoá do nhu cầu phát triển và hình thành cơ thể Cơ thể các em đang phát triển cần nhiều đạm, càng nhỏ quá trình phát triển càng nhanh, nhu cầu đạm càng cao cả về số lượng và chất lượng Ngược lại, nhu cầu về đường và
mỡ giảm dần theo lứa tuổi Sự điều hoà trao đổi đường ở cơ thể các em kém hoàn thiện hơn so với người lớn Cơ thể các em huy động nguồn dự trữ đường chậm hơn và duy trì cường độ trao đổi chất cao trong hoạt dộng không được lâu Nước và chất khoáng có ý nghĩa quan trọng với cơ thể các em
Trong cùng một hoạt động thể lực, sự tiêu hao năng lượng cùa các em lứa tuổi 13-14 cao hơn người lớn.Trong cơ thể VĐV lứa tuổi 13-14, lượng đường dự trữ tăng lên, đặc biệt là khả năng tĩch luỹ glycogen ở gan góp phần quan trọng làm tăng khả năng hoạt động thể lực, ngược lại, lượng mỡ dự trữ giảm đi Trong tập luyện thi đấu thể thao cường độ lớn, căng thẳng, hàm lượng đường huyết của các em giảm nhanh hơn người trưởng thành [8],
1.4.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 13-14
Ở lứa tuổi 13-14, cơ thể các em có sự phát triển nhảy vọt cả về thể chất và tinh thần
Trang 27Sự phát triển thể chất có những biến đổi căn bản trong đó đáng chú ý nhất
là sự phát dục nên tuổi thiếu niên còn được gọi là tuổi dậy thì Sự phát dục ảnh hưởng đến cá tính, tạo cho các em nhiều cảm xúc, suy nghĩ, hứng thú, tính cách mới mẻ mà thường bản thân các em không ý thức được Ta phân tích một
số đặc điểm sau:
+ Quan hệ với người xung quanh:
- Quan hệ với người lớn: trong gia đình, cha mẹ không còn coi các em hoàn
toàn bé bỏng mà bắt đầu dành cho các em nhiều quyền sống độc lập hơn
Nhiều em đã xứng đáng với sự tin cậy của cha mẹ Với cha mẹ, các em muốn được tôn trọng hơn là chiều chuộng, coi mình như trẻ con
- Quan hệ ở trường: Đối với thầy cô giáo các em vẫn kính trọng nhưng không sùng bái như tuổi nhi đồng Do tiếp xúc với nhiều thầy cô giáo có trình độ
và phong cách khác nhau nên những gương tốt trong giáo viên được các em ngưỡng mộ và noi theo
+ Quan hệ tập thể, bạn bè: Các em rất thích hoạt động trong tập thể, sống với tập thể Ở lứa tuổi này tinh thần tập thể, tinh thần đồng đội được phát triền mạnh Các em biết qúy trọng danh dự của nhau và bắt đầu đánh giá phẩm chất của bạn bè Quan hệ bạn bè ở lứa tuổi này có tính chọn lọc Các em đòi hỏi bạn
bè của mình phải trung thành, thẳng thắn, gắn bó và tin cậy nhau, các em coi hành vi phản bạn là thấp hèn nên thường che dấu khuyết điểm cho nhau
Tuổi thiếu niên thường có quan hệ cách biệt do nhận thấy khác nhau về giới tính, các em nam và nữ có hứng thú hoạt động riêng biệt [19], [22]
Một số đặc điểm nhân cách của thiếu niên: Ý thức về bản thân được coi
là một bước chuyển biến căn bản quan trọng, là trung tâm của hình thành và phát triển nhân cách thiếu niên Mối quan tâm xã hội ngày càng phong phú và phức tạp đã thúc đẩy nhanh quá trình hình thành ý thức các em Khi nhìn nhận người khác, các em có thái độ đánh giá cứng ngắc, thường gắn một phẩm chất
Trang 28cho toàn bộ nhân cách của một người Vì vậy, người lớn rất dễ và cũng rất khó gây uy tín với các em [19], [22]
Tính độc lập: Ở tuổi này, do nhận biết rõ về biến đổi thể chất và tâm lý của
mình nên các em có khuynh hướng đánh giá quá cao những biến đổi đó và tự coi mình là người lớn, có thể sống độc lập, đòi hỏi mọi người xung quanh công nhận quyền làm người lớn của mình Tính độc lập thể hiện toàn vẹn, nhiều thuộc tính nhân cách phát triển, nhờ đó các em chuyển nhanh sang thế giới của người lớn [19], [22]
Sự phát triển tình cảm: Tình cảm của thiếu niên sâu sắc và phức tạp hơn
hẳn nhi đồng, nổi bật là tính dễ xúc động Khi tham gia bất kỳ hoạt động lao dộng, học tập hay vui chơi giải trí, thiếu niên đều thể hiện tình cảm rõ rệt và mạnh mẽ Tính dễ kính động của các em đôi khi dẫn đến kích động quá mạnh
Trang 29CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng các các phương pháp nghiên cứu sau:
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu tham khảo:
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu mang tính chất lý luận sư phạm Sử dụng trong quá trình tổng hợp và thu thập thông tin cần thiết cho việc tiếp cận các vấn đề liên quan đến đề tài Đây là phương pháp giúp cho việc hệ thống hóa các kiến thức đã có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, hình thành cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, đến các bài tập nâng cao khả năng phối hợp vận động của đối tượng nghiên cứu, đề xuất giả thiết khoa học, xác định mục tiêu, nhiệm vụ nhiên cứu cũng như phục vụ cho việc phân tích kết quả nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu, sưu tầm, tổng hợp và phân tích nghiên cứu các loại sách, tư liệu có liên quan như:
- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các văn bản pháp quy của ngành thể dục thể thao về công tác phát triển thể dục thể thao quần chúng
- Các sách, tạp chí, tài liệu khoa học về vấn đề đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên nói chung và môn Quần vợt nói riêng, y sinh học, lý luận và phương pháp TDTT, các tài liệu chuyên môn Quần vợt
- Các kết quả nghiên cứu của tác giả, các nhà khoa học trong và ngoài nước liên quan đến công tác phát triển thể lực của vận động viên thể thao, các môn thể thao nói chung và môn Quần vợt nói riêng
Trang 302.1.2 Phương pháp phỏng vấn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng cả phương pháp phỏng vấn trực tiếp và phương pháp phỏng vấn gián tiếp
Phỏng vấn trực tiếp: Sử dụng trong trao đổi với các chuyên gia, huấn
luyện viên (HLV) Quần vợt để tìm hiểu về thực trạng sử dụng bài tập phát triển khả năng phối hợp vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14,Câu Lạc Bộ An Cựu City, TP- Huế Tìm hiểu về việc đánh giá khả năng phối hợp vận độngcho đối tượng nghiên cứu cũng như tìm hiểu sâu các vấn đề mà phiếu hỏi chưa đáp ứng được
Phỏng vấn gián tiếp: Sử dụng phiếu hỏi đối với các chuyên gia, HLV,
giảng viên làm công tác huấn luyện và giảng dạy môn Quần vợt để tìm hiểu các thông tin trên phiếu hỏi Cụ thể, để lựa chọn và ứng dụng khả năng phối hợp vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế; Lựa chọn bài tập nâng cao khả năng phối hợp vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế
2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Đề tài tiến hành quan sát các buổi tập luyện, thi đấu của nam vận động viên Quần vợt lứa tuồi 13-14, Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế để tìm ra vấn đề nghiên cứu, thống kê các test thường được sử dụng trong đánh giá khả năng phối hợp vận động của nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 13-14, Thống kê các bài tập thường được sử dụng trong phát triển khả năng phối hợp vận động cho lứa tuổi này, đồng thời thu thập thông tin để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài
2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Phương pháp này nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá khả năng phối hợp vận động của vận động viên Quần vợt một cách chính xác và khách quan thông qua những test đã lựa chọn trên cơ sở đó có những nhận xét về việc phân nhóm trong
Trang 31quá trình thực nghiệm cũng như nhận xét kết luận về hiệu quả các bài tập đã được xây dựng trong việc nâng cao khả năng phối hợp vận động cho đối tượng nghiên cứu
Để xác định được khả năng phối hợp vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế Chúng tôi tiến hành kiểm tra thông qua các test đánh giá khả năng phối hợp vận động như sau:
Test 1 Phối hợp di chuyển ngang sân đơn thực hiện kỹ thuật đánh bóng xoáy lên thuận tay và trái tay 5 lần (s)
Mục đích: Nâng cao khả năng phối hợp di chuyền ngang sân và thực hiện
kỹ thuật đánh bóng xoáy lên thuận tay và trái tay
Cách thực hiện: Đứng chân phải chạm vạch giới hạn sân đơn (vạch dọc sân ) Khi có tín hiệu bắt đầu thực hiện di chuyển ngang sao cho chân trái chạm vạch giơi hạn sân bên trái, thực hiện kỹ thuật đánh bóng xoáy lên trái tay, sau đó lại di chuyển tới khi chân phải chạm vạch giới hạn sân bên phải, thực hiện kỹ thuật đánh bóng xoáy lên thuận tay Thực hiện liên tục hết 5 lần
Yêu cầu: Di chuyên ngang với tốc độ nhanh nhất, thực hiện đánh bóng xoáy lên thuận tay và trái tay đúng kỹ thuật
Thanh tích được tính là khoảng thời gian từ khi có tín hiệu bắt đầu tới khi hoàn thành 5 lần thực hiện
Test 2 Phối hợp phát bóng và di chuyển lên vạch giới hạn phát bóng thực hiện kỹ thuật đánh bóng xoáy lên thuận tay 5 lần (s)
Mục đích: Đánh giá khả năng phổi hợp phát bóng, di chuyển lên, đánh bóng xoáy lên thuận tay và di chuyển lùi về vạch xuất phát
Cách thực hiện: Đứng ở vị trí phát bóng Khi có tín hiệu bắt đầu, thực hiện phát bóng, sau đó di chuyển tới vạch giới hạn phát bóng thực hiện kỹ thuật đánh
Trang 32bóng xoáy lên thuận tay, di chuyển về vị trí chuẩn bị và tiếp tục thực hiệnlần tiếp theo Thực hiện liên tục hết 5 lần
Yêu cầu: Di chuyển tiến trước và lùi sau với tốc độ nhanh nhất, thực hiện phát bóng và đánh bóng xoáy lên thuận tay đúng kỹ thuật
Thành tích được tính là khoảng thời gian từ khi có tín hiệu bắt đầu tới khi hoàn thành 5 lần thực hiện
Test 3 Phối hợp tiến trước và lùi sau 2m làm động tác bật nhảy đập bóng 5 lần (s)
Mục đích: Đánh giá khả năng phối hợp di chuyển tiến trước, lùi sau và bật nhảy đập bóng
Cách thực hiện: Đứng ở tư thế chuẩn bị Khi có tín hiệu bắt đầu, di chuyển tiến trước 2m (có vạch giới hạn), sau đó lùi sau về vị trí ban đầu thực hiện bật nhảy đập bóng, thực hiện liên tục 5 lần
Yêu cầu: Di chuvển tiến về trước và lùi sau với tốc độ nhanh nhất, thực hiện đập bóng đúng kỹ thuật Thành tích được tính là khoảng thời gian từ khi có tín hiệu bắt đầu tới khi hoàn thành 5 lần thực hiện
Test 4: Phối hợp di chuyển chéo sân và lùi 2m làm động tác đập bóng
Thành tích được tính là khoảng thời gian từ khi có tín hiệu bắt đầu tới khi hoàn thành 5 lần thực hiện
Trang 332.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Đề tài sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm trong quá trình ứng dụng các bài tập phát triển khả năng phối hợp vận động đã lựa chọn cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế trong thực tế và đánh giá hiệu quả, khẳng định sự lựa chọn, sắp xếp các bài tập trong tiến trình huấn luyện là chính xác, khoa học và có hiệu quả cao Thực nghiệm được tiến hành theo hình thức thực nghiệm so sánh song song được chia thành hai nhóm như sau:
+ Nhóm A: Là nhóm thực nghiệm gồm 10 VĐV: Tập luyện chung chương trình với nhóm đối chứng, theo chương trình huấn luyện thường được sử dụng tại CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế Riêng phần phát triển khả năng phổi hợp vận động thực hiện các bài tập đã lựa chọn của đề tài và theo tiến trình đã xây dựng
+ Nhóm B: Là nhóm đối chiếu gồm 10 VĐV: Tập luyện theo chương trình huấn luyện thường được sử dụng tại CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế Thực nghiệm được tiến hành trong 06 tháng
2.1.6 Phương pháp toán học thống kê
Chúng tôi sử dụng phương pháp Toán học thống kê trong việc phân tích và
sử lý các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu như: thống kê kết quả nghiên cứu thực trạng; thống kê kết quả phỏng vấn; xác định độ tin cậy và tính thông báo của các test; đánh giá hiệu quả quá trình thực nghiệm…Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng các công thức tính các tham số đặc trưngnhư:
- Tính giá trị trung bình:
Trong đó: :Số trung bình cộng
Trang 34- Trong đó: W: Nhịp độ phát triển (phần trăm)
V1: Giá trị ban đầu của các chỉ tiêu
V2: Giá trị sau khi áp dụng các bài thử
100 và 0,5: là hằng số
2.2 Tổ chức nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu:
Đề tài tiến hành từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 08 năm 2017 và được chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 10 năm 2016
+ Là giai đoạn xác định hướng nghiên cứu, các vấn đề nghiên cứu, xây dựng đề cương và kế hoạch nghiên cứu
Trang 35+ Bảo vệ đề cương nghiên cứu trước hội đồng khoa học
Giai đoạn 2: Từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 05 năm 2017
+ Là giai đoạn tổng hợp và tham khảo các tài liệu có liên quan, quan sát,điều tra, sử lý số liệu
+ Giải quyết nhiệm vụ 1
+ Giải quyết nhiệm vụ 2
Giai đoạn 3:Từ tháng 06 năm 2016 đến tháng 08năm 2017
+ Viết hoàn chỉnh luận văn
+ Bảo vệ trước hội đồng khoa học
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
+Trường Đại học Vinh và CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế
Trang 36CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Đánh giá thực trạng công tác huấn luyện khả năng phối hợp vận động nam vận động viên lứa tuổi 13 – 14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế
3.1.1 Thực trạng chương trình huấn luyện cho nam vận động viên lứa tuổi 13 – 14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế
Để đánh giá thực trạng chương trình huấn luyện cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế Trước hết, đề tài tiến hành phân tích nội dung chương trình huấn luyện đánh giá cho đối tượng nghiên cứu
Trên thực tế, đề tài tiến hành điều tra thực trạng công việc phân phối thời gian huấn luyện cho các phần tập luyện qua 1 năm Kết quả được trình bày ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Phân bổ thời gian tập luyện của nam vận động viên Quần vợt lứa
tuổi 13-14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế trong 1 năm
Qua bảng 3.1 cho thấy: Số buổi tập luyện (lành cho thể lực là còn ít so với
số buổi tập dành cho học kỹ- chiến thuật (số buổi tập luyện thể lực chỉ chiếm 21, 53%) Song đấy mới là số buổi tập dành riêng cho tập luyện thể lực nói chung
Trang 37Ngoài ra trong mỗi giáo án, các huấn luyện viên còn dùng một khoảng thời gian nhất định dành cho việc huấn luyện tố chất thể lực Tuy nhiên, việc dành khoảng thời gian là bao nhiêu và dung để huấn luyện tố chất thể lực nào thì còn phu thuôc vào từng huấn luyện viên cụ thể
Để đánhgiá thực trạng phân phối thời gian huấn luyện khả năng phối vận động của nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế, trên cơ sở phân tích chương trình huấn luyện và phỏng vấn trực tiếp các huấn luyện viên làm công tác huấn luyện tại CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế Kết quả được trình bày ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Thực trạng phân phối thời gian huấn luyện các tố chất thể lực cho nam vận động viên lứa tuổi 13 -14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế
- Thời gian huấn luyện sức nhanh là: 22.58%
- Thời gian huấn luyện sức mạnh là: 25.81%
- Thời gian huấn luyện sức bền là: 25.81%
- Thời gian huấn luyện khả năng phối hợp vận động là: 19.35%
- Thời gian huấn luyện mềm dẻo là: 6.45%
Như vậy, theo ý kiến đánh giá của các chuyên gia, tỷ lệ thời gian huấn luyện khả năng phối hợp vận động như vậy là hợp lý Tuy nhiên, qua quan sát
Trang 38thực tế thi đấu của nam VĐV Quần vợt lứa tuồi 13 -14,CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế cho thấy khả năng phối hợp vận động của các em chưa thực sự tốt Các em thường sử dụng lúng túng trong quá trình phối hợp phán đoán đường bóng, di chuyển và thực hiện kỹ thuật đánh trả đường bóng đến Vậy nguyên nhân ở đây là gì?
3.1.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác huấn luyện cho nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 13–14 , CLB Quần vợt An Cựu City,TP- Huế
Dụng cụ, trang thiết bị phục vụ công tác giảng dạy và học tập là một yếu tố quan trọng, có tác dụng không nhỏ tới việc nâng cao chất lượng huấn luyện cho VĐV thể thao nói chung và VĐV Quần vợt nói riêng
Chúng tôi tiến hành đánh giá thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác huấn luyện cho nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 13 - 14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế thông qua điều tra, trao đổi, phỏng vấn cán bộ, giáo viên, huấn luyện viên vàquan sát thực tế điều kiện sân bãi, dụng cụ của CLB Quần Vợt An Cựu City, TP- Huế Kết quả được trình bày ở bảng 3.3
Bảng 3.3 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập môn Quần vợt lứa tuổi 13 - 14 tại CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế
Trang 39Qua bàng 3.3 cho thấy: Cho đến thời điểm hiện tại thì CLB đã xây dựng được 04 sân Quần vợt phục vụ cho công tác huấn luyện Các sân đều đảm bảo tiêu chuẩn tập luyện cho CLB Về bóng tập cho VĐV được CLB trang bị và bổ sung thường xuyên nên cũng tạm đầy đủ, tuy nhiên về chất lượng của bóng vẫn chưa được cho là tốt và việcsử dụng các bài tập với nhiêu bóng thì vẫn còn ở mức hạn chế Hiện nay tại CLB đã có khoảng200 quả bóng dành cho VĐV tập luyện và thi đấu Ngoài ra còn có các dụng cụ tập luyện thể lực như tạ đòn, tạ ante, xà đơn, xà kép với chất lượng trung bình phục vụ quá trình tập luyện của VĐV
Như vậy, trang thiết bị phục vụ công tác huấn luyện tuy chưa thực sự đầy
đủ nhưng về cơ bản đã đảm bảo cho việc huấn luyện vận động viên Quần vợt lứa tuổi 13-14, Câu Lạc Bộ Quần vợt An Cựu City, TP- Huế
3.1.3 Thực trạng sử dụng các bài tập phát triển khả năng phối hợp vận động cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuồi 13-14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế
Để nghiên cứu thực trạng việc sử dụng bài tập và khả năng phối hợp vận động cho nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 13 - 14, CLB An Cựu City, TP- Huế Chúng tôi tiến hành quan sát thực trạng và phỏng vấn trực tiếp các giáo viên, HLV giảng dạy môn Quần vợt ở CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế và một
số CLB khác trên địa bàn TP- Huế để so sánh và đánh giá về thực trạng sử dụng các bài tập huấn luyện phát triển khả năng phối hợp vận động cho đối tượng nghiên cứu Kết quả cho thấy, trong phát triển khả năng phối hợp vận động cho nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 13 - 14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế thường sử dụng các bài tập sau:
1 Hai người đánh bóng trong khu vực ô giao bóng
2 Hai người từ cuối sân đánh bóng xoáy lên thuận tay theo đường chéo
3 Hai người từ cuối sân đánh bóng xoáy lên thuận tay theo đường thẳng
Trang 404 Phối hợp di chuyển đánh bóng xoáy lên thuận tay theo đường thẳng, đường chéo (có người phục vụ)
5 Từ vị trí trung tâm cuối sân di chuyển sang trái đánh bóng xoáy lên thuận tay theo đường chéo (có người phục vụ)
6 Di chuyển tiến lùi đánh bóng xoáy lên thuận tay vào khu vực quy định (có người phục vụ)
7 Di chuyển ngang đánh bóng xoáy lên thuận tay vào nhiều điểm khác nhau (có người phục vụ)
8 Phối hợp đỡ giao bóng với đánh bóng vào các điểm khác nhau
9 Phối hợp di chuyển đánh bóng xoáy lên trái tuy theo đường thẳng, đường chéo (có người phục vụ)
10.Từ vị trí cuối sân di chuyển lên đánh bóng xoáy lên trái tay theo đường thẳng và đường chéo (có người phục vụ)
11 Di chuyển tiến lùi đánh bóng xoáy lên trái tay vào khu vực quy định (có người phục vụ)
12 Phối hợp đỡ giao bóng với đánh bóng vào các điểm khác nhau
13 Phối hợp đánh bóng xoáy lên trái tay với di chuyển lên lưới bắt vôlê
Phân tích thực trạng cho thấy:
- Đa số các bài tập được sử dụng thường xuyên trong huấn luyện khả năng phối hợp vận động cho nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 13 - 14, CLB Quần vợt An Cựu City, TP- Huế thuộc nhóm bài tập căn bản và chủ yếu áp dụng phối hợp di chuyển và đánh bóng thuận tay, trái tay Theo các nhà chuyên môn thì nhóm bài tập này có tác dụng gây hưng phấn cho người tập, đồng thời, giúp người tập phán đoán tốt hành động của đối phương và phối hợp tấn công, phòng thủ hợp
lý, đồng thời cần kết hợp nhiều kỹ thuật trong quá trình tập luyện để tạo khả năng phối hợp sử dụng nhiều kỹ thuật trong thi đấu Đồng thời, nhóm bài tập trò chơi và thi đấu cũng chưa được sử dụng trong phát triển khả năng phối hợp vận