Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài: NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM NÂNG CAO THỂ LỰC CHUNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT NGHỆ AN Mục đích n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THẠC HIẾU
LỰA CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO THỂ LỰC CHUNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
VĂN HÓA NGHỆ THUẬT NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Nghệ An, 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THẠC HIẾU
LỰA CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO THỂ LỰC CHUNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
VĂN HÓA NGHỆ THUẬT NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 441
Bảng 3.4
Kết quả so sánh tự đối chiếu các test đánh gái trình độ thể lực chung trước và sau thực nghiệm cả sinh viên trường Cao đảng Văn hóa Nghệ thuật
45
Trang 5MỤC LỤC
Trang
1.1 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về công tác giáo dục
1.2 Giáo dục thể chất trong các trường đại học ở Việt Nam 9
1.3 Các chỉ tiêu thể lực một nội dung cơ bản đánh giá chất lượng giáo dục
1.6 Quan điểm về bài tập thể chất trong giáo dục tố chất thể lực chung cho
1.7 Khái quát về Trường Cao đẳng Nghệ thuật Nghệ An 33
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 38
Trang 62.2.2 Phạm vi nghiên cứu 43
3.1 Đánh giá thực trạng trình độ thể lực chung của sinh viên Trường Cao
3.2 Đánh giá trình độ thể lực chung của sinh viên Trường Cao đẳng Văn
3.2.1 Lựa chọn các bài tập phát triển thể lực chung cho sinh viên trường
3.3 Kết quẩ phỏng vấn mức độ ưu tiên các bài tập được sử dụng trong giáo
dục tố chất thể lực chung cho đối tượng nghiên cứu 52 3.4 Kết quả so sánh tự đối chiếu các test đánh giá trình độ thể lực trước và
sau thực nghiệm của sinh viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận văn
Trang 8Lời cảm ơn Tôi xin chân thành cảm tới Trường Đại học Vinh, phòng Đào tạo sau đại học, Trường Cao Đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ an đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt qua trình hoc tập và nghiên cứu
Xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy cô giáo, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong qua trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn Ts nguyễn Ngọc Việt đã dành nhiều thời gian và tâm huyết chỉ bảo cho tác giả những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, giúp tôi tự tin trong qua trình nghiên cứu để hoàn thiên luận văn thạc sĩ này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban giam hiệu trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ an, các cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên đã giúp đỡ tôi trong qua trình điều tra, khảo sát, thu nhập các dữ liệu liên quan đến đề tài
Tôi củng xin chân thành cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã tân tình giúp đỡ trong qua trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học
Mặc dù trong qua trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, bản thân đã rất nỗ lực và cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vây, rất mong được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học và các nhà giáo, bạn bè và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiên hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ an, tháng 8 năm 2017 Tác giả
Nguyễn Thạc Hiếu
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ Tính cấp thiết: Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước,
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vị trí của công tác TDTT Vì đó là động lực quan trọng cần phải có chính sách chăm sóc giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển hài hoà về các mặt thể chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức Sức khỏe là một bộ phận cấu thành của nền văn hoá, là mặt quan trọng của chất lượng đời sống, là nguồn tài sản quý báu của mỗi quốc gia, là sản phẩm phản ánh một cách khách quan thành tựu của nhiều lĩnh vực khoa học, trong đó có sự đóng góp quan trọng của ngành TDTT nói chung và ngành khoa học TDTT nói riêng
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã chỉ rõ: “Giáo dục đại học, đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
đó là những con người có phẩm chất năng lực, sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước”
Luật Giáo dục đã được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 11/12/1998 đã ghi rõ: “ Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, trí tuệ, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và củ nghĩa xã hội (CNXH); hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ”
Giáo dục thể chất (GDTC) trong nhà trường là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa (XHCN) GDTC không chỉ tác động tích cực tới quá trình phát triển và hoàn thiện thể chất mà còn góp phần quan trọng phát triển các phẩm chất đạo đức, nhân cách nhân cách và những phẩm chất cần thiết cho cuộc sống, học tập và lao động của con người
Trong những năm qua công tác GDTC trong nhà trường các cấp đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, trình độ thể lực cũng như thành tích thể thao sinh viên được nâng cao, số lượng sinh viên tham gia thi đấu các giải thể thao quốc gia, khu vực ngày càng nhiều
Trang 10Tuy nhiên, bước vào thế kỷ 21, chúng ta đứng trước những thách thức to lớn về nguồn nhân lực : “ nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục và đào tạo ”, “ chất lượng giáo dục
và đào tạo là một thách thức, là đơn đặt hàng đối với cả người dạy, người học và người sử dụng loại hàng hoá đặc biệt này ” Thực tế này đặt ra những yêu cầu rất cao đối với công tác đào tạo cao đẳng, đòi hỏi mỗi sinh viên phải được rèn luyện và có sự chuẩn bị tốt về sức khoẻ và trình độ thể lực cao nhằm đáp ứng với những yêu cầu ngày càng cao của xã hội
Một trong những nguyên nhân của hiện trạng đó là việc dạy học môn thể dục ở nhiều trường chỉ coi trọng hình thức, giảng dạy hết chương trình mà chưa chú trọng thực chất, chưa thường xuyên quan tâm tới việc phát triển thể lực chung cho sinh viên Nội dung giờ học chính khoá ít, không được coi trọng, việc tập luyện ngoại khoá phần lớn lại mang tính tự phát
Trường Cao đẳng văn hóa nghệ thuật Nghệ an là một trường chuyên nghiệp lớn ở khu vực bắc miền Trung, với mục đích đào tạo ra đội ngũ cán bộ, giáo viên có trình độ cao đẳng Vì thế, yêu cầu về sức khoẻ và thể lực chung đối với sinh viên có đặc thù nghề nghiệp và cao hơn các khối trường khác
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác GDTC cho sinh viên, trường Trường Cao đẳng văn hóa nghệ thuật Nghệ an không chỉ thực hiện đầy đủ và nghiêm túc các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nội dung chương trình GDTC mà còn xây dựng, tổ chức các nội dung học tập mới phù hợp với điều kiện của nhà trường trong chương trình ngoại khoá Điều đó đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng công tác GDTC và trình độ thể lực chung cho sinh viên
Tuy nhiên, thực trạng thể lực chung của sinh viên trường Truờng Cao đẳng văn hóa nghệ thuật Nghệ an còn nhiều hạn chế, đặc biệt trước những yêu cầu ngày càng cao của xã hội thì việc nâng cao hơn nữa trình độ thể lực chung cho sinh viên là việc làm quan trọng
Trang 11Qua phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu về công tác GDTC nói chung về nâng cao thể chung chung cho sinh viên nói riêng cho thấy, mặc dù có khá nhiều công trình nghiên cứu như Nguyễn Văn Thế (1997), Phạm Thị Nghị (1999), Phạm Thu Thái (1999), Nguyễn Thị Bích Thuỷ (2001), Phan Thanh
Hiều (2007) Tuy nhiên, với đối tượng là trình độ thể lực chung của sinh viên
các trường nghệ thuật khu vực bắc miền Trung lại chưa được quan tâm nghiên cứu
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài:
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM NÂNG CAO THỂ LỰC CHUNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT NGHỆ AN
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng trình độ thể lực chung của đối tượng nghiên cứu, đề tài tiến hành lựa chọn và ứng dụng hệ thống các bài tập phát triển
tố chất thể lực chung cho sinh viên Trường Cao đẳng văn hóa nghệ thuật Nghệ
an phù hợp điều kiện thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDTC của nhà trường hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề đạt mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định giải quyết các nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng trình độ thể lực chung của sinh viên
Trường Cao đẳng văn hóa nghệ thuật Nghệ an
- Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, ứng dụng và xác định hiệu quả các bài tập phát
triển thể lực chung cho sinh viên Trường Cao đẳng văn hóa nghệ thuật Nghệ an
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Các quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác GDTC học đường
Nhiệm vụ cơ bản có tính chiến lược của TDTT là góp phần bảo vệ, tăng cường sức mạnh của nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu niên, đóng thời góp phần giáo dục đạo đức xây dựng nhân cách, nâng cao dân trí xã hội
Giáo dục thể chất trong nhà trường là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa GDTC có tác dụng tích cực đối với sự hoàn thiện cá tính, nhân cách, những phẩm chất cần thiết và hoàn thiện thể chất của học sinh nhằm đào tạo con người mới phát triển, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ vững an ninh quốc phòng Đó là lớp người “phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần trong sáng về đạo đức” [6]
Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu của GDTC trong nhà trường các cấp là góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo lớp trẻ theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ và năng động sáng tạo
Đã từ lâu, Đảng và Nhà nước, luôn coi trọng vị trí công tác giáo dục thể chất, là một mặt trong mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường xã hội chủ nghĩa GDTC trong nhà trường các cấp, còn giữ vị trí quan trọng và then chốt trong chiến lược phát triển sự nghiệp TDTT
Giáo dục thể chất là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo chung, đồng thời là một bộ phận quan trọng của nền TDTT Việt Nam GDTC trong trường học, đang cùng với thể thao thành tích cao, thể thao cho mọi người
và các bộ phận TDTT khác, đảm bảo cho nền TDTT phát triển cân đối và đồng
bộ, góp phần thực hiện kế hoạch củng cố, xây dựng và phát triển TDTT Việt Nam
Trang 13Từ khi cách mạng thành công 1945 Đảng và Nhà nước ta, đã quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ phát triển toàn diện Bác Hồ đã dạy: “Dân có cường thì nước mới thịnh”, “Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”
Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, đất nước ta bước vào giai đoạn cách mạng mới, Đảng và Nhà nước rất coi trọng và quan tâm xây dựng nền TDTT Việt Nam mang tính: Dân tộc, hiện đại, phục vụ đời sống và sức khoẻ nhân dân Sự hình thành và phát triển nền thể thao nước ta, cũng đã trải qua các thời kỳ gắn liền với tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá của đất nước
Tháng 03/ 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục khẳng định vị trí sức khoẻ dưới chế độ mới: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công Mỗi một người dân yếu ớt là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân khoẻ mạnh, tức là góp phần cho cả nước mạnh khoẻ” Vì thế, Người dạy:
“Luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước” [42]
Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng công tác GDTC trường học nhằm đào tạo những lớp người phát triển toàn diện, kế tục sự nghiệp cách mạng, xây dựng kinh tế xã hội theo định hướng XHCN và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo nói chung, về GDTC trong trường học nói riêng, xuất phát từ những cơ sở tư tưởng,
lý luận của học thuyết Mác – Lênin về con người và sự phát triển con người toàn diện về giáo dục thế hệ trẻ trong xã hội XHCN, về những nguyên lý GDTC Mác – xít, từ tư tưởng quan điểm Hồ Chí Minh về TDTT nói chung và GDTC cho thế
hệ trẻ cho nói riêng
Những tư tưởng lý luận cơ sở đó, đều được Đảng ta quán triệt trong suốt thời kỳ lãnh đạo Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và tiến lên xây dựng CNXH ngày nay, được cụ thể hoá qua các kỳ đại hội Đảng, các chỉ thị, các nghị
Trang 14quyết, nghị định, thông tư về TDTT, ở từng giai đoạn Cách mạng theo yêu cầu nhiệm vụ và tình hình cụ thể của đất nước
- Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III tháng 09/ 1960, xác định hướng công tác giáo dục và rèn luyện thể chất đối với tuổi trẻ học đường Chủ trương này đã được hội nghị trung ương lần thứ VIII tháng 04/ 1963 phát triển lên một bước mới phù hợp nguyên lý của chủ nghĩa Mác về phát triển con người toàn diện Nghị quyết Đại hội Đảng III viết: “ Công tác giáo dục phải được phát triển theo quy mô lớn, nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ nước nhà, có giác ngộ XHCN, có văn hoá và có khoa học kỹ thuật, có sức khoẻ nhằm phục vụ đắc lực cho việc đào tạo cán bộ và nâng cao trình độ văn hoá của nhận dân lao động ”[5],[54]
- Đặc biệt về nội dung giáo dục toàn diện, Nghị quyết Đại hội Đảng VII,
1992 nêu rõ: “ Cần nâng cao chất lượng toàn diện của nội dung giáo dục, hiện đại hoá chương trình khoa học kỹ thuật, mở rộng kiến thức quản lý kinh tế, tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối chính sách của Đảng và đạo đức Cách mạng, bồi dưỡng kỹ năng lao động và năng lực nghiên cứu khoa học
kỹ thuật, coi trọng đúng mức giáo dục thẩm mỹ, TDTT và tập luyện quân sự [8]
- Bước sang thời kỳ mới, khi đất nước hoàn toàn được giải phóng, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI, đã mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Về TDTT, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề cập đến các vấn đề mở rộng và nâng cao chất lượng trong các lĩnh vực: TDTT quần chúng, thể thao thành tích cao, GDTC trong trường học và phát triển lực lượng VĐV trẻ Nghị quyết ghi rõ: “ Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng, từng bước đưa việc rèn luyện thành thói quen hàng ngày của đông đảo nhân dân, trước hết là thế hệ trẻ, nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học [9]
- Nghị quyết VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, tháng 06/1991 đã khẳng định: “ Bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số môn thể thao
Trang 15cần thiết vào chương trình học tập của các trường học phổ thông, chuyên nghiệp
và các trường Đại học [11]
- Giáo dục thể chất còn là nội dung bắt buộc đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hiến pháp năm 1992 đã ghi rõ: “ Việc dạy và học TDTT trong trường học là bắt buộc ” [8]
Gần đây, Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII năm
1996 đã khẳng định: “ Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu ” [11]
Để khẳng định vai trò tất yếu của TDTT đối với toàn xã hội, cũng như nhằm thúc đẩy nhanh, mạnh hơn nữa phong trào TDTT quần chúng và phong trào GDTC học đường, Đảng ta luôn có những chỉ thị, nghị quyết kịp thời đề ra chủ trương đẩy mạnh tiến trình phát triển Qua những giai đoạn cách mạng tương ứng với những yêu cầu, tình hình và nhiệm vụ cụ thể, Đảng ta đã ban hành các chỉ thị như:
- Chỉ thị 106/ CT – TW ngày 02/ 10/ 1958 của Ban Bí thư Trung ượng Đảng về công tác TDTT và chỉ thị 180/ CT – TW ngày 26/ 08/ 1970 của Ban Bí thư Trung ương Đảng tăng cường công tác TDTT trong những năm tiếp theo là một bước phát triển mới, xác định vị trí quan trọng của TDTT, coi TDTT là một nhu cầu của quần chúng, là một mặt của xây dựng CNXH Chủ trương trên được
cụ thể hoá tới sự phát triển phong trào TDTT trong học sinh, sinh viên [3]
- Chỉ thị 112/ CT ngày 09/ 05/ 1989 của Hội đồng Bộ trưởng về công tác TDTT trong những năm trước mắt ghi: “ Đối với học sinh, sinh viên, trước hết nhà trường phải thực hiện nghiêm túc việc dạy và học môn TDTT theo chương trình quy định, có biện pháp tổ chức, hướng dẫn các hình thức tập luyện và hoạt động thể thao tự nguyện ngoài giờ học [28]
- Chỉ thị 36/ CT – TW ngày 24/ 03/ 1994 về công tác TDTT trong giai đoạn mới đã nêu rõ: “Cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần
Trang 16thiết về cơ sở vật chất, để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học [6]
- Tại Hội nghị GDTC trong nhà trường phổ thông toàn quốc tại Hải Phòng, tháng 8/1996, nguyên phó Thủ tướng Nguyễn Khánh đã nói: “Ước vọng của chúng ta là mỗi thanh niên Việt Nam cả nam lẫn nữ, đều có cơ thể cường tráng, cùng với tâm hồn trong sáng và trí tuệ phát triển”
- Cũng trong năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị 133/TTg ngày 07/3/1996, về việc xây dựng và quy hoạch phát triển ngành TDTT, về GDTC trường học ghi rõ: “ Bộ Giáo dục - Đào tạo cần đặc biệt coi trọng việc GDTC trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khoá, ngoại khoá, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh các cấp học, có quy chế bắt buộc đối với các trường [7]
Vì vậy, GDTC trường học là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục đào tạo và thể dục ngành nghề là một mặt quan trọng trong hệ thống GDTC học đường Cùng với thể thao thành tích cao, GDTC trường học đã góp phần đảm bảo cho nền TDTT nước nhà phát triển cân đối toàn diện, thực hiện mục tiêu chiến lược củng cố, xây dựng và phát triển, đưa nền TDTT nước nhà hoà nhập
và tranh đua với các nước trong khu vực và thế giới
Cùng với các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước, Bộ giáo dục và Đào tạo đã thực hiện chủ trương, đường lối về công tác giáo dục thể thao nói chung và GDTC học đường nói riêng, bằng rất nhiều các văn bản pháp quy, cụ thể như:
- Thông tư liên tịch số 08/ LB – DN – TDTT ngày 24/ 12/ 1986 về công tác TDTT trong các trường dạy nghề và sư phạm
- Thông tư liên tịch số 04-93/ GĐ-ĐT-TDTT ngày 14/ 07/ 1993 về việc xây dựng kế hoạch đồng bộ, xác định mục tiêu, nội dung, biện pháp nhằm cải tiến công tác tổ chức quản lý TDTT và GDTC trong trường học các cấp
- Thông tư số 11/ TT – GDTT ngày 01/ 08/ 1994 về việc hướng dẫn chỉ thị 36/ CT – TW
Trang 17- Thông tư số 2896/ GDTC ngày 04/05/1995 về việc hướng dẫn chỉ thị 133/ TTg của Thủ tương Chính phủ
- Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo về đánh giá trình độ thể lực chung của học sinh và sinh viên
- Chương trình mục tiêu “cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục thể chất, sức khoẻ, phát triển và bồi dưỡng tài năng trẻ thể thao học sinh và sinh viên trong nhà trường các cấp”
Giáo dục con người phát triển toàn diện phải “kết hợp hài hoà sự phong phú về tinh thần, sự trong sáng về đạo đức, sự toàn diện về chất” Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quý tạo ra sản phẩm trí tuệ và vật chất cho xã hội Vì vậy, chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội nói chung và ngành TDTT nói riêng Đó chính là mục tiêu cơ bản, quan trọng nhất của nền giáo dục TDTT nước ta mà Đảng, Nhà nước và Bác Hồ luôn coi trọng, quan tâm và nhắc nhở
Đến nay, hệ thống tổ chức quản lý GDTC đã được hình thành và phát triển trong nhà trường các cấp từ địa phương đến trung ương, khẳng định vị thế quan trọng của công tác GDTC trong sự nghiệp giáo dục đào tạo của nước ta
Có thể thấy rằng lĩnh vực GDTC trong trường học nói chung và GDTC trong các trường trung học cơ sở nói riêng, đã và đang thu hút sự chú ý quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, các nhà giáo dục và chuyên môn
Nền văn hoá truyền thống dân tộc, văn hoá gia đình và văn hoá nhà trường, đã tạo nên những bậc thang phát triển tri thức đa dạng Trong đó nền văn hoá nhà trường luôn giữ vai trò chủ đạo Đặc biệt, trong các sản phẩm, giá trị văn hoá đó, với học sinh trung học cơ ở, nhà trường cần phải đạt được mục đích giáo dục và bồi dưỡng cho trẻ vốn tri thức và các giá trị khách quan của nền văn hoá thể chất
Trang 181.2 GDTC trong các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam
GDTC trong các trường cao đẳng có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ trí thức mới đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà để thực hiện mục tiêu "dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh" Giai đoạn học tập trong các trường Cao đẳng của sinh viên là một giai đoạn quan trọng nhất trong việc chuyển biến từ những bậc học mầm non đến phổ thông trong giai đoạn phát triển ban đầu Sau khi tốt nghiệp ra trường các sinh viên trở thành người cán bộ khoa học có đầy đủ sức khoẻ, tri thức phẩm chất đạo đức và có thể hoạt động một cách độc lập và sáng tạo trong chuyên ngành của mình Trong toàn bộ hệ thống giáo dục toàn diện đó GDTC đóng một vai trò rất to lớn Thông qua các hoạt động TDTT sinh viên Cao đẳng có thể phát triển cơ thể một cách hài hoà, cân đối, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, nâng cao năng lực làm việc chung và chuyên môn, nhanh chóng thích nghi với những điều kiện học tập và sinh hoạt Bằng những hoạt động phong phú của mình, GDTC còn góp phần quan trọng trong việc rèn luyện và hình thành phát triển cho sinh viên những phẩm chất ý chí như lòng dũng cảm, quyết đoán, tính kiên trì, ý thức tổ chức kỷ luật cũng như việc giáo dục cho sinh viên lòng tự hào dân tộc, tinh thần tập thể, sự đoàn kết và thẳng thắn, trung thực Cùng với các hoạt động văn hoá, văn nghệ, đoàn thể, ngoại khoá khác thì công tác GDTC cũng góp một phần to lớn tạo nên nếp sống lành mạnh, tươi vui, đẩy lùi và xoá bỏ những hành vi xấu và các tệ nạn tiêu cực của xã hội
Như vậy, mục tiêu của hệ thống GDTC trong các trường Cao đẳng là đào tạo các cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá xã hội có trình độ cao, hoàn thiện về thể chất, phát triển hài hoà về mọi mặt, có năng lực hoạt động chuyên môn độc lập, có tư tưởng và đạo đức tác phong xã hội chủ nghĩa, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Để thực hiện tốt mục tiêu đó công tác GDTC trong các trường Cao đẳng phải giải quyết đồng thời 4 nhiệm vụ cơ bản là:
Trang 19- Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh, tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ Tổ quốc
- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp luyện tập TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện nói trên để tự rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT ở cơ sở
- Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của sinh viên, phát triển cơ thể một cách hài hoà, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói quen xấu (uống rượu, hút thuốc) trong cuộc sống nhằm sử dụng thời gian vào công việc
có ích đạt hiệu quả tốt trong quá trình học tập và đạt những chỉ tiêu thể lực qui định cho từng đối tượng và năm học trên cơ sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi
- Giáo dục óc thẩm mỹ cho sinh viên và tạo điều kiện để nâng cao trình độ thể thao của vận động viên sinh viên
Hoạt động TDTT trong các trường Cao đẳng là một thành phần quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho sinh viên Để giải quyết các nhiệm vụ giáo dục của hoạt động TDTT cần quán triệt sự thống nhất của hai mặt:
+ Thứ nhất: GDTC trong trường Cao đẳng là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, là phương tiện quan trọng và có hiệu quả
để phát triển hài hoà, cân đối cơ thể và các tố chất thể lực của sinh viên
+ Thứ hai: GDTC trong trường Cao đẳng là một quá trình sư phạm, nó có tác dụng tích cực đến phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, tác phong và thẩm
mỹ Nó đóng một vai trò quan trong trong việc hình thành nhân cách cho người cán bộ khoa học tương lai [7]
1.3 Các chỉ tiêu thể lực, một nội dung cơ bản đánh giá chất lượng GDTC
GDTC là một bộ phận quan trọng và cơ bản trong hệ thống giáo dục toàn
Trang 20diện của Đảng nhà Nhà nước ta Xuất phát từ mục tiêu và những hoạt động của mình, cùng với những khái niệm cơ bản của các mặt giáo dục chung thì việc đánh giá chất lượng GDTC cũng được xác định bởi khả năng thực hiện được mục đích và nhiệm vụ chương trình Ở Liên xô cũ việc kiểm tra đánh giá chất lượng GDTC được áp dụng theo các nội dung cơ bản sau:
- Thời gian tham gia học tập lý thuyết cũng như thực hành theo thời khoá biểu của chương trình
Kiểm tra trình độ thể lực, thực hiện được các yêu cầu tiêu chuẩn cấp 4 của
tổ hợp "Sẵn sàng và bảo vệ Tổ quốc" và nâng cao thành tích thể thao
- Thực hiện được các bài tập và yêu cầu kiểm tra, kiểm tra lý luận GDTC theo chương trình qui định
1.3.1 Lý thuyết (kiến thức về GDTC)
Kiến thức GDTC có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo vận động Theo tác giả Nôvicốp và Mátvêép thì: "Kiến thức làm tiền đề cho việc tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo vận động và sử dụng một cách có hiệu quả các năng lực thể chất trong cuộc sống Kiến thức chỉ rõ ý nghĩa cá nhân và xã hội của việc GDTC cũng như bản chất của việc giáo dục này, các kiến thức cho
phép sử dụng các giá trị của TDTT với mục đích tự giáo dục " [25]
Cũng theo 2 tác giả trên thì kiến thức về GDTC giúp cho việc lựa chọn và
sử dụng các bài thập thể chất "Cùng một loại bài tập, có thể mang lại hiệu quả hoàn toàn khác nhau căn cứ vào phương pháp sử dụng bài tập đó" [25]
Theo tiến sỹ khoa học giáo dục Liên Xô Pomomarev- 1983 nhận xét: Kiến thức GDTC được xác định bởi những tri thức chung, các hệ thống kỹ năng, kỹ xảo phong phú để điều khiển mọi hoạt động của cơ thể trong không gian và thời gian, biết sử dụng các kỹ năng, kỹ xảo vận động trong mọi điều kiện sống và các hoạt động khác nhau của con người Nhận thức bao hàm những kiến thức lý luận khoa học, nội dung phương pháp tập luyện TDTT theo chương trình qui định nhằm giáo dục cho sinh viên về đạo đức xã hội chủ nghĩa, tinh thần tập thể, tính
tự giác trong học tập, sử dụng các bài tập thể chất như là phương pháp GDTC
Trang 21nhằm mục đích rèn luyện thân thể cũng như nâng cao sức khoẻ sẵn sàng lao động và bảo vệ Tổ quốc
Trong công trình "nghiên cứu về khuynh hướng hiện đại của GDTC trong các trường Cao đẳng và cách tiếp cận" tác giả Lê Văn Xem đã đề cập tới các vấn
đề "tăng cường chất lượng GDTC về văn hoá thể chất trong khâu dạy và học TDTT bằng các giải pháp chú trọng hơn về khâu giáo dục nhận thức, hiểu biết
và năng lực vận dụng vào thực tiễn hoạt động tự chăm lo sức khoẻ, rèn luyện thể chất hàng ngày"
Trên cơ sở những nhận định khoa học lý luận GDTC, chỉ rõ tầm quan trọng của việc giáo dục Các tác giả Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Lưu Quang Hiệp, Nguyễn Xuân Sinh, Trương Anh Tuấn đã đề cập một cách có hệ thống những tri thức cơ bản trong cuốn "Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất" Sách dùng cho các trường Đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp năm
2006 [30] Dựa trên chương trình GDTC đã được cải tiến nhằm giúp cho các
giáo viên và sinh viên trong việc dạy và học cũng như kiểm tra đánh giá chất lượng GDTC
1.3.2 Kỹ năng thực hành
Trong quá trình học tập, tập luyện các kỹ năng vận động cũng như kỹ xảo vận động được hình thành, nó là kết quả của quá trình tiếp thu các động tác: kỹ năng vận động thể hiện tiêu biểu bằng sự tiếp thu kỹ thuật động tác ở mức độ phải tập trung chú ý cao độ vào các bộ phận tạo thành động tác và ở các cách thức chưa ổn định khi giải quyết nhiệm vụ vận động" [29]
Trong quá trình tập luyện việc lặp đi lặp lại nhiều lần động tác thì các bộ phận tạo thành động tác đó ngày càng trở nên quen thuộc, các cơ chế phối hợp vận động dần dần được tự động hoá và kỹ năng vận động chuyển thành kỹ xảo
Vì vậy có thể nói "kỹ xảo vận động thể hiện tiêu biểu bằng sự tiếp thu kỹ thuật động tác ở mức độ sự điều khiển động tác xảy ra một cách tự động và động tác tiến hành với độ vững chắc cao" [14] Như vậy khả năng thực hành được hiểu như ở mức độ đánh giá nhất định (kỹ năng hoặc kỹ xảo) Việc thực hiện các
Trang 22động tác kỹ thuật và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện học tập, trang thiết bị dụng cụ, sân bãi, trình độ của sinh viên, chế độ học tập, nhận thức của sinh viên trong việc chuyển hoá các bài tập thể chất là phương tiện để rèn luyện, củng cố và nâng cao sức khoẻ, phát triển các tố chất thể lực phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành nhiệm vụ học tập và công tác sau này
1.3.3 Các chỉ tiêu thể lực
Tại Liên Xô cũ ngay từ năm 1931 đã ban hành tiêu chuẩn tổ hợp các bài tập "Sẵn sàng lao động và bảo vệ Tổ quốc" Nội dung và các yêu cầu đã được điều chỉnh và thay đổi đã phản ánh sự thay đổi các điều kiện khách quan của cuộc sống, phản ánh tiến trình nhanh chóng hoàn thiện thể chất của các thế hệ công dân và sự phát triển logic của hệ thống GDTC chất Xô viết Các chỉ tiêu thể lực được xác định dựa trên các nguyên tắc và cơ sở khoa học GDTC và mức
độ đánh giá cho các thành viên trong xã hội thực hiện, các tiêu chuẩn này được xác định theo lứa tuổi, năm học và giới tính Nội dung và yêu cầu tiêu chuẩn phụ thuộc vào hệ thống GDTC của mỗi quốc gia
Trong tổ hợp: "Sẵn sàng lao động và bảo vệ Tổ quốc" đã thể hiện rõ các nguyên tắc cơ bản của hệ thống GDTC Xô Viết như nguyên tắc liên hệ với thực tiễn lao động và quốc phòng, nguyên tắc phát triển cân đối toàn diện, nguyên tắc nâng cao sức khoẻ Các tiêu chuẩn trong tổ hợp đã là cơ sở cho mọi -tiêu chuẩn thể hiện các chương trình GDTC ở Liên Xô cũ Trong tổ hợp "Sẵn sàng lao động
và bảo vệ Tổ quốc" có 5 cấp: cấp 1, 2, 3 là các cấp dành cho thanh thiếu niên, nhi đồng, cấp 4 là cấp "hoàn thiện thể chất dành cho các lứa tuổi 19 - 28 và 29 -
39 (nam) 19 - 28 tuổi và 29 - 34 tuổi (nữ)
Tổ hợp các bài tập này bao quát hầu hết các giai đoạn phát triển của con người qua các lứa tuổi và sự chuyển biến từ cấp này sang cấp khác chỉ rõ mức độ chuẩn bị thể lực theo lứa tuổi, sự tăng tiến theo yêu cầu và các tiêu chuẩn đó tăng từ cấp này sang cấp khác cho tới khi các yếu tố tự nhiên và thoái biến theo lứa tuổi bắt đầu tác động tới cơ thể Trong các tiêu chuẩn và yêu cầu của mỗi cấp còn xét đến các chỉ số phát triển và năng lực thể chất và các chỉ số
Trang 23về thành tích, về mức độ tiếp thu kiến thức kỹ năng, kỹ xảo quan trọng trong cuộc sống con người
Nhiều nước trên thế giới dã thực hiện tiêu chuẩn về các chỉ tiêu thể lực tại
Mỹ những thập niên 70 đã sử dụng test Cooper để kiểm tra đánh giá thể lực trong lực lượng Hải quân (chạy 12 phút tính quãng đường chạy) Tại Singapore năm 1992 đã hoàn chỉnh 6 nội dung kiểm tra thể chất học sinh, sinh viên từ 12 đến 24 tuổi và cho các đối tượng nhân dân từ 24 - 55 tuổi Tại Nhật Bản từ năm
1993 cũng đã xây dựng hoàn chỉnh các test kiểm tra thể chất cho mọi người với các nội dung cho học sinh từ tuổi "mẫu giáo" (4 tuổi) đến sinh viên (24 tuổi) và đối tượng nhân dân từ 24 - 65 tuổi Các nội dung đó bao gồm: Bật xa không đà (cm) ngồi gập thân (số lần trong 30s) nằm sấp co duỗi tay (số lần tối đa không hạn chế thời gian) và chạy 5 phút quãng đường đạt được
Nước ta trong thời kỳ 1955 -1965 đã ban hành Tiêu chuẩn rèn luyện thân thể tạm thời theo lứa tuổi trong sinh viên các trường Đại học và trung học chuyên nghiệp Ngày 24-6-1971 Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp ra chỉ thị số 14/TD-QS về việc thực hiện Tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi, giới tính và qui định sinh viên tốt nghiệp đại học phải đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cấp II
Để đáp ứng được yêu cầu phát triển thể lực sinh viên phù hợp với giai đoạn mới của đất nước Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và đào tạo) đã ra quyết định số 203/QĐ-TDTT ngày 23/l/1989 và các văn bản pháp qui khác ban hành về nội dung tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo năm học, giới tính cho sinh viên Nội dung của tiêu chuẩn đó bao gồm: Chạy 50m tốc
độ xuất phát cao, Chạy 1000m (nam) 500m (nữ), Bật xa không đà (cm), Nằm sấp chống đẩy trên bục (nữ tính số lần đạt được), Co tay trên xà đơn (nam tính
số lần đạt được) Treo co tay và giữ trên xà đơn (nữ - giây) yêu- cầu sinh viên phải đạt các nội dung tiêu chuẩn theo từng năm học
Tuy nhiên, không dừng lại ở đó, ngày 18/9/2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã ban hành Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT [24], quy định về việc đánh
Trang 24giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên (Thay thế Tiêu chuẩn rèn luyện thân thể) Văn bản này áp dụng đối với học sinh, sinh viên của các học viện, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học; Không áp dụng đối với học sinh, sinh viên khuyết tật, tàn tật; học sinh, sinh viên mắc các loại bệnh không thể vận động với cường độ và khối l-ượng cao, được cơ sở y tế có thẩm quyền từ cấp huyện trở lên xác nhận
Ở đây việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên được phân theo lứa tuổi từ 6 tuổi đến 20 tuổi Học sinh, sinh viên từ 21 tuổi trở lên sử dụng các chỉ số đánh giá của lứa tuổi 20
Khi đánh giá xếp loại thể lực học sinh, sinh viên cần dựa trên 6 nội dung,
cụ thể là: Gập dẻo thân (cm) Chạy 100m xuất phát cao (s) Chạy con thoi 4 10m (s) Bật xa tại chỗ (cm)5 Chạy cự ly trung bình 800m (s).6 Nằm sấp chống đẩy tay
Mỗi học sinh, sinh viên được đánh giá tối thiểu 4 trong 6 nội dung
Xếp loại thể lực theo 3 loại:
- Tốt: Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu theo lứa tuổi có 3 chỉ tiêu Tốt và một chỉ tiêu Đạt trở lên
- Đạt: Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu theo lứa tuổi từ mức Đạt trở lên
- Chưa đạt: Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu theo lứa tuổi có 1 chỉ tiêu dưới mức Đạt
Tóm lại, căn cứ vào mục đích, yêu cầu của chương trình GDTC theo quyết định 203/QĐ-TDTT và những cơ sở lý luận đánh giá chất lượng giáo dục chung trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Việc đánh giá chất lượng GDTC sinh viên được tiến hành với các nội dung sau:
- Kiến thức lý luận về GDTC được qui định theo chương trình
- Kỹ năng thực hiện kỹ thuật các môn thể thao
- Thực hiện các chỉ tiêu thể lực theo nội dung theo tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại thể lực của sinh viên theo năm học
Trang 25Trong đó nội dung thực hiện các chỉ tiêu thể lực là một yêu cầu bắt buộc
và rất quan trọng trong việc nâng cao thể lực và chất lượng GDTC trong các trường Đại học
1.4 Tổng quan các luận điểm cơ bản về giáo dục các tố chất thể lực chung trong TDTT
Quá trình phát triển thể lực cho người tập là một quá trình giáo dục chuyên môn, chủ yếu bằng hệ thống bài tập nhằm hoàn thiện các năng lực thể chất, đảm bảo đạt thành tích cao nhất Trong giáo dục thể lực gồm giáo dục thể lực chung và giáo dục thể lực chuyên môn
Giáo dục thể lực chung là một quá trình nhằm phát triển toàn diện các tố chất thể lực cũng như khả năng chức phận khác nhau không đặc trưng cho một hoạt động riêng biệt nào đó và tạo điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả của quá trình giáo dục thể lực chuyên môn nhằm phát triển toàn diện năng lực thể chất và làm phong phú vốn kỹ năng kỹ xảo của VĐV [26],[48],[50],[53]
Giáo dục thể lực chuyên môn là quá trình giáo dục nhằm phát triển và hoàn thiện những năng lực thể chất tương ứng với đặc điểm của môn thể thao chuyên sâu, có nhiệm vụ phát triển đến mức tối đa những năng lực đó của người tập Giáo dục thể lực chuyên môn hướng đến việc củng cố và nâng cao khả năng làm việc của các cơ quan chức phận, các tố chất thể lực phù hợp với đòi hỏi của môn thể thao chuyên sâu lựa chọn
Các môn thể thao đều đòi hỏi phát triển toàn diện các tố chất thể lực, cùng với những tố chất chuyên môn ưu thế phù hợp với đặc điểm từng môn thể thao, quan hệ giữa các thành tố cơ bản cấu thành năng lực thể lực trong từng môn thể thao có những nét riêng Khi đề cập đến giáo dục các tố chất vận động thấy rằng trong hoạt động chung của con người thì hoạt động cơ bắp là dạng đặc trưng và
có mối tương quan chặt chẽ với các tố chất thể lực cơ bản Các tố chất luôn hiện diện trong mối tương tác lẫn nhau (không có biểu thị riêng tuyệt đối) Việc nghiên cứu quan hệ mang tính đặc trưng đó của tố chất thể lực trong các môn thể thao được nhiều tác giả nghiên cứu như Pharphen.V.X; Daxiorxki.V.M;
Trang 26Novicôp và Matvêép, Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền; Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn Những năm gần đây khi nghiên cứu sâu hơn về tố chất thể lực theo 3 dạng cơ bản sức nhanh, sức mạnh, sức bền, phát hiện có những môn thể thao nằm giữa các loại trên, tức là những môn mang đặc trưng của 2 loại tố chất chủ đạo nhưng liên quan đến tố chất khác [26],[48],[50],[53]
Trong công tác giáo dục tố chất thể lực chung cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, đa số các nhà chuyên môn cho rằng tố chất thể lực chung phải được phát triển toàn diện và lâu dài trong suốt quá trình tập luyện Tuy nhiên với đặc thù của lứa tuổi sinh viên (18 – 22 tuổi), các tố chất thể lực phải phát triển theo đặc điểm riêng, từng tố chất thể lực đang phát triển dựa theo tuổi sinh học thời kỳ nhạy cảm, từng giai đoạn huấn luyện Nhiều môn thể thao tố chất đặc trưng được xác định dễ dàng như tố chất nhanh của VĐV chạy cự ly ngắn, tố chất mạnh của VĐV cử tạ
Để đạt được thành tích thể thao cao, người ta phải sử dụng các phương tiện khác nhau
Thông qua việc lựa chọn hợp lý từng bài tập thể chất và qua việc phân chia một cách tối ưu lượng vận động của từng bài tập và nhóm bài tập có thể bảo
Trang 27đảm cho người tập phát triển đầy đủ năng lực của họ trong lứa tuổi đạt thành tích thể thao cao nhất
Giáo dục tố chất thể lực là mặt cơ bản để phát triển thể chất và nâng cao thành tích thể thao Về bản chất mức độ phát triển các tố chất thể lực phụ thuộc vào các trạng thái chức năng, cấu tạo của nhiều cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể Quá trình tập luyện để phát triển các tố chất thể lực chính là quá trình hoàn thiện các hệ thống chức năng có vai trò chủ yếu trong mỗi hoạt động của cơ bắp
cụ thể
Theo quan điểm của Zusalovxki V.P, Philin: “Các tố chất thể lực phát triển có tính giai đoạn và không đồng đều, tuỳ thuộc vào từng thời kỳ của lứa tuổi” Vì vậy, người giáo viên, HLV không những phải nắm vững quy luật phát triển tự nhiên, đặc biệt là thời kỳ nhạy cảm (thời kỳ thuận lợi cho việc phát triển các tố chất) trong cơ thể, mà còn phải hiểu sâu sắc những đặc điểm phát triển tố chất thể lực theo độ tuổi của từng cá thể người tập [45]
Harre D 1996, Philin V.P 1996 cho rằng: “Dù bất kỳ giai đoạn nào của quá trình đào tạo VĐV, công tác huấn luyện thể lực chung được coi là then chốt, bởi thể lực chung cùng với thể lực chuyên môn được coi là nền tảng của việc đạt thành tích cao” [37],[45],[49]
Theo công trình nghiên cứu của tác giả: Ozolin 1980 thì: “Việc giáo dục
tố chất thể lực chung phải là một quá trình liên tục, nhiều năm trong suốt quá trình đào tạo VĐV Tuỳ thuộc vào mục đích của từng GĐHL mà tỷ trọng giữa giáo dục thể lực chung và thể lực chuyên môn được xác định cho phù hợp”[43]
Một vấn đề không kém phần quan trọng là: “Quá trình giáo dục thể lực là
sự phù hợp của các phương tiện (bài tập thể chất) cũng như các phương pháp sử dụng, trong quá trình giáo dục phải phù hợp với các quy luật phát triển của đối tượng (lứa tuổi, trình độ tập luyện )
Quá trình giáo dục các tố chất thể lực chung là một quá trình tác động liên tục, thường xuyên theo kế hoạch được sắp xếp hợp lý bằng những bài tập TDTT nhằm phát triển chất lượng và khả năng vận động Quá trình ấy tác động sâu sắc
Trang 28đối với hệ thần kinh, cơ bắp cũng như đối với các cơ quan nội tạng của con người Đương nhiên, muốn có thành tích xuất sắc, trước tiên cần có tố chất thể lực tốt phù hợp với yêu cầu chuyên môn, song, không có nghĩa là coi nhẹ các mặt khác như kỹ – chiến thuật Tố chất thể lực được chia thành 5 loại cơ bản: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng mềm dẻo, khả năng phối hợp vận động (khả năng linh hoạt)
Về vấn đề thể lực chung chúng ta hiểu rõ trong hoạt động chung của con người thì hoạt động cơ bắp là dạng đặc trưng và trọng tâm Hoạt động cơ bắp thể hiện ở 3 điểm:
- Sự co cơ (phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ cấu trúc sợi cơ, số lượng sợi cơ và thiết diện cơ)
- Sự trao đổi chất (tức là các quá trình sản sinh năng lượng)
- Sự dẫn truyền kích thích (hoạt động thần kinh cơ)
Theo tác giả Philin 1996 ba phương diện trên luôn có mối tương quan với khả năng hoạt động của tố chất thể lực Đặc biệt, chúng luôn có mối tương quan chặt chẽ với 3 tố chất thể lực cơ bản: Sức mạnh, sức nhanh, sức bền; Trong đó,
độ lớn của sức mạnh quan hệ chủ yếu tới khả năng co cơ, sự thay đổi giữa yếu tố thời gian duy trì và cường độ vận động của cơ bắp, nên có: Sức mạnh tối đa, sức mạnh nhanh và sức mạnh bền Độ lớn của sức nhanh quan hệ chủ yếu tới khả năng dẫn truyền của hệ thần kinh và liên quan đến thành phần của sợi cơ Do vậy có: Nhanh phản ứng, nhanh vận động và nhanh động tác Độ lớn của sức bền quan hệ chủ yếu tới hoạt động trao đổi chất Mối quan hệ này dựa trên cơ sở sinh năng lượng yếm khí và ưa khí Vì vậy, có sức bền cự ly ngắn, sức bền cự ly dài và sức bền cự ly trung bình (Dietrich Harre 1996) [44],[45]
Qua tham khảo các nguồn tư liệu, các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực lý luận và phương pháp GDTC và HLTT trong nước như: Lê Văn Lẫm, Lê Bửu, Dương Nghiệp Chí, Phạm Trọng Thanh, Nguyễn Toán, Nguyễn Thế Truyền, Phạm Danh Tốn có thể nhận thấy các nhà khoa học đều cho rằng: “Quá trình giáo dục thể lực cho người tập là
Trang 29hướng đến việc củng cố và nâng cao khả năng chức phận của hệ thống cơ quan trước lượng vận động thể lực (bài tập thể chất) và như vậy đồng thời đã tác động đến quá trình phát triển của các tố chất vận động” Đây là quan điểm có xu hướng sư phạm trong quá trình giáo dục các tố chất vận động [26],[48],[49], [50],[53]
Một quan điểm khác theo xu hướng y sinh học của các nhà khoa học Việt Nam như: Lê Bửu, Dương Nghiệp Chí, Lưu Quang Hiệp, Trịnh Hùng Thanh , cho rằng: “Nói đến giáo dục tố chất thế lực chung trong tập luyện TDTT là nói tới những biến đổi thích nghi và dự báo về mặt sinh học (cấu trúc và chức năng) diễn ra trong cơ thể người tập dưới tác động của tập luyện được biểu hiện ở năng lực hoạt động cao hay thấp” [26],[47],[48],[49],[50],[53]
Theo quan điểm tâm lý học của một số chuyên gia Việt Nam đề cập vấn
đề này như: Phạm Ngọc Viễn, Lê Văn Xem thì: “Quá trình chuẩn bị thể lực chung cho VĐV là quá trình giải quyết những khó khăn liên quan đến việc thực hiện các hành động kỹ thuật, là sự phù hợp những yếu tố tâm lý trong hoạt động tập luyện và thi đấu của VĐV” [57],[58]
Như vậy, từ các quan điểm trên cho thấy: Chuẩn bị thể lực chung cho đối tượng học sinh, sinh viên là sự tác động có hướng đích của lượng vận động (bài tập thể chất) đến người tập, nhằm hình thành và phát triển lên một mức độ mới của khả năng vận động, biểu hiện ở sự hoàn thiện các nặng lực thể chất, đồng thời còn nhằm nâng cao khả năng hoạt động của các cơ quan chức phận tương ứng với các năng lực vận động của người tập nâng cao các yếu tố tâm lý trước hoạt động đặc trưng của mỗi môn thể thao
1.5 Đặc điểm tâm – sinh lý lứa tuổi sinh viên trong tập luyện và thi đấu thể thao
1.5.1 Đặc điểm phát triển hình thể của sinh viên
Hình thể là nói về hình thái cơ thể Để đánh gia về hình thể của một cơ thể người, có thể đo rất nhiều kích thước, nhất là trong nghiên cứu nhân chủng học Trong giáo dục thể chất, cũng như trong tuyển chọn thể thao, thì chiều cao đứng,
Trang 30cân nặng, chỉ số Quetelet là những chỉ số mà người ta thường sử dụng để đánh giá sức khoẻ người Việt Nam
Đặc điểm phát triển các chỉ số cơ thể thể hiện diễn ra theo quy luật nhất định, theo từng thời kỳ khác nhau Sự phân chia các thời kỳ phát triển của một đời người được nhiều tác giả nêu ra Có tác giả phân chia theo sự phát triển toàn diện về hình thái, chức năng và tâm lý Có thể chia ra thành 3 thời kỳ lớn: Thời
kỳ phôi thai, thời kỳ cơ thể tăng trưởng và thời kỳ phát triển sau tăng trưởng, ở lứa tuổi 18 – 20 tuổi là giai đoạn gần cuối thời kỳ tăng trưởng
1.5.2 Cơ sở sinh lý của các tố chất thể lực chung trong hoạt dộng tập
luyện TDTT
Hoạt động thể lực, nhất là trong TDTT, rất đa dạng và phức tạp vì nó phụ thuộc vào công suất hoạt động, cơ cấu động tác và thời gian gắng sức Mỗi loại hoạt động đòi hòi cơ thể phải thể hiện khả năng hoạt động thể lực của mình về mặt nào đó như cử tạ, ném đẩy, chạy bền Hoạt động thể lực có thể phát triển các mặt khác nhau của năng lực hoạt động thể lực Các mặt khác nhau đó của khả năng hoạt động thể lực được gọi là tố chất thể lực hay tố chất vận động Có
5 tố chất vận động chủ yếu của con người là: Sức mạnh, sức nhanh, sức bền và khéo léo và độ mềm dẻo Trong bất kỳ hoạt động thể lực nào, các tố chất thể lực cũng không biểu hiện đơn độc mà luôn phối hợp hữu cơ với nhau Trong phần lớn các môn thể thao một vài tố chất được thể hiện rõ rệt nhất quyết định kết quả vận động chung
Các tố chât vận động liên quan chặt chẽ với kỹ năng vận động Sự hình thành kỹ năng vận động phụ thuộc vào mức độ phát triển các tố chất vận động Ngược lại, tố chất thể lực tốt sẽ tạo thuận lợi cho việc hoàn thiện kỹ năng vận động Sự phát triển tố chất thể lực và khả năng vận động của thanh thiếu niên có
sự khác biệt Năm 1979 Nhật Bản đã tiến hành kiểm tra tố chất và khả năng vận động của thanh thiếu niên toàn quốc Năm 1986, 2005 – 2006, ở Việt Nam đã tiến hành điều tra thể chất người Việt Nam [38]
Trang 31Kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học có những điểm chung như sau:
* Tố chất thể lực nam – nữ:
Tốc độ tăng trưởng trước 17 – 18 tuổi rất nhanh, sau đó có xu hướng giảm dần Tố chất thể lực đạt được lúc 12 tuổi so với mức đạt được tối đa Nam đạt 64%; Nữ đạt 80% [38]
ta thường sử dụng các chỉ số hình thái và các chỉ số về chức năng, cùng các chỉ
số đánh giá tố chất vận động: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo và độ dẻo ở con người
* Tố chất vận động:
- Sức nhanh: Là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian
ngắn nhất Sức nhanh một tố chất thể lực, thể hiện ở dạng đơn giản và ở dạng phức tạp Dạng đơn giản của sức nhanh bao gồm:
Trang 32Sức nhanh là tố chất tổng hợp của cả 3 yếu tố cấu thành, thời gian phản ứng, thời gian của động tác đơn lẻ và tần số hoạt động Yếu tố quyết định tốc độ của tất cả các dạng sức nhanh và độ linh hoạt của các quá trình thần kinh và tốc
độ co cơ
Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế trong các trung tâm thần kinh Tốc độ dẫn truyền xung động trong các dây thần kinh ở ngoại vi Tốc độ co cơ phụ thuộc vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong bó cơ Tốc độ co cơ chịu ảnh hưởng của hàm lượng ATP và CP Hoạt động tốc độ và thời gian sử dụng nguồn năng lượng phân giải yếm khi ATP và CP trong các sợi cơ tăng lên, cơ thể từ 10 đến 30% Tốc độ co cơ còn phụ thuộc vào tính linh hoạt của thần kinh và tốc độ co
cơ Chúng đều là những yếu tố được quyết định bởi các đặc điểm di truyền Do
đó, quá trình luyện tập, sức nhanh biến đôỉ chậm và ít hơn sức mạnh và sức bền Lứa tuổi tốt nhất để phát triển sức nhanh là tuổi thanh thiếu niên
- Sức mạnh: Là khả năng khắc phục trọng tải bên ngoài bằng sự căng cơ,
sức mạnh mà cơ phát ra phụ thuộc vào:
+ Số lượng đơn vị vận động tham gia vào quá trình căng cơ
+ Chế độ co của các đơn vị vận động đó
+ Chiều dài ban đầu của các sợi cơ trước lúc so
Sức mạnh, trong đó có sức mạnh tối đa (sức mạnh tuyệt đối) phụ thuộc vào yếu tố độ dày của cơ, hay là tiết diện ngang của toàn bộ cơ Sức mạnh tối đa tính trên tiết diện ngang của cơ, được gọi là sức mạnh tương đối của cơ Những đặc điểm về hóa học của cơ có ý nghĩa lớn với phát triển sức mạnh Những bài tập sức mạnh làm cho hàm lượng protit cấu tạo của cơ, khả năng dự trữ có thể phân giải không có ôxi tăng lên Tốc độ của quá trình hoạt động của các men cũng tăng khi sức mạnh được phát triển, chất miozin của cơ tăng lên, chất miozin không chỉ là protat có tính chất co rút của cơ, mà còn là men phân giải ATP, còn gọi là ATP laza [38]
Trang 33Cơ sở sinh lý của phát triển sức mạnh là tăng cường số đơn vị vận động tham gia vào hoạt động, đặc biệt là các đơn vị vận động nhanh, chứa các sợi cơ nhóm II có khả năng phì đại lớn Có nhiều cơ chế sinh lý trong đó có những cơ chế quan trọng nhất gồm có:
+ Tăng số lượng đơn vị vận động được động viên trong các cơ chủ vận + Ức chế hoạt động của các cơ đối kháng
+ Truyền đến cơ những xung động thông qua hệ thần kinh giao cảm + Lực tăng cơ tối đa phụ thuộc vào số lượng sợi cơ
Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co sơ và sự phối hợp hoạt động giữa các cơ trước tiên và khả năng chức năng của nơron vận động, tức là mức phát xung động với tần số cao
Trong quá trình tập luyện sức mạnh, các yếu tố thần kinh trung ương được điều chỉnh dần, nhất là khả năng phối hợp giữa các nhóm cơ của thần kinh trung ương, các yếu tố này làm tăng cường sức mạnh chủ động tối đa đáng kể
- Sức bền: Sức bền là năng lực chống lại mệt mỏi của cơ thể trong vận
động kéo dài Những tiền đề quan trọng nhất của sức bền là:
- Năng lực làm việc của hệ thống tim mạch, hô hấp
- Quá trình trao đổi chất (đủ ôxy và thiếu ô xy)
- Khả năng tiết kiệm năng lượng
- Các phẩm chất tâm lý chuyên môn
Sức bền có ý nghĩa đặc biệt với thành tích thi đấu của nhiều môn thể thao
và với khả năng chịu đựng LVĐ của người tập
Phát triển tốt sức bền là tiền đề cần thiết cho khả năng hồi phục nhanh chóng sau các lượng vận động lớn Căn cứ vào các yêu cầu thi đấu sức bền được phân thành: Sức bền cơ sở và sức bền chuyên môn
+ Sức bền cơ sở là năng lực của người tập nhằm chống lại mệt mỏi trong
các lượng vận động kéo dài, với tốc độ vận động trong giới hạn trao đổi năng lượng đủ ôxy Cơ sở sinh lý học của nó là tính tiết kiệm của các hệ thống cơ
Trang 34quan: tuần hoàn, hô hấp, các chức năng trao đổi chất và khả năng thực hiện động tác kinh tế nhất
Mục đích huấn luyện sức bền là cơ sở nâng cao khả năng hấp thụ ôxy, năng lực trao đổi năng lượng đủ ô xy và phát triển các phẩm chất tâm lý chuyên môn
Thông qua việc phát triển sức bền cơ sở, tạo nên được một nền tảng chức năng cho tất cả các môn thể thao sức bền và các môn thể thao khác
+ Sức bền chuyên môn là năng lực của người tập, chống lại sự mệt mỏi
trong hoạt động thi đấu chuyên môn
Phát triển sức bền với mục đích mở rộng và nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống tim mạch, các chức năng trao đổi chất trong điều kiện đủ ô xy và phát triển sức bền chung cho nhóm cơ lớn
Biện pháp chủ yếu để phát triển sức bền chung cho sinh viên là chạy gắng sức trong thời gian dài Bài tập này là tiền đề để nâng cao khả năng làm việc của các hệ thống cơ quan trong cơ thể, đảm bảo có sức chịu đựng cao trong học tập
và công tác Ví dụ: Trong một buổi tập sinh viên có thể chạy bền 10 – 12km
Các biện pháp khác sử dụng để nâng cao sức bền gồm có bơi, đi bộ, đua xe đạp ở các buổi tập đầu tiên, để phát triển sức nên dùng bài tập chạy nhịp độ đều, cường độ không lớn, tăng dần thời gian từ 5 – 8 giây đến 25 – 30 giây Sau đó
có thể chạy biến tốc cũng có thể sử dụng phương pháp trò chơi hay phương pháp tập luyện vòng tròn Tổ hợp bài tập theo phương pháp tập luyện vòng tròn gồm các kiểu chạy, tiến hành dưới dạng trò chơi hay thi đấu Giúp người tập dễ khắc phục LVĐ lớn Khi sử dụng phương pháp này chú ý đến đặc điểm sinh lý tuổi sinh viên, để xác định số lần lặp lại cho mỗi người Sau đó tăng dần LVĐ lên [38]
- Mềm dẻo: Mềm dẻo là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn, biên
độ tối đa của động tác là thước đo của năng lực mềm dẻo
Trang 35Trong thực tế độ dẻo là giá trị hoạt động của một hay nhiều khớp được thể hiện khả năng về sức mạnh ở cấu trúc động tác, tăng khả năng tiết kiệm năng lượng
Năng lực mềm dẻo được phân thành hai loại:
Phát triển tố chất mềm dẻo ở lứa tuổi sinh viên khó vì cơ bắp, dây chằng
độ linh hoạt kém so với tuổi nhỏ Độ dẻo các khớp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Cấu trúc hình dạng của khớp, cấu trúc độ dài và sự sắp xếp cơ bắp, dây chằng, phụ thuộc vào hoạt động của cơ bắp đối kháng Về điểm này sức mạnh và độ dẻo có liên quan tới nhau, sức mạnh cơ bắp lớn, độ dẻo càng tốt Độ dẻo của khớp còn phụ thuộc vào đàn tính của cơ bắp vào năng lực thả lỏng hợp lý của các nhóm cơ
Phương pháp chính để phát triển năng lực mềm dẻo là phương pháp kéo giãn cơ bắp và dây chằng Người ta thường sử dụng phương pháp này dưới các hình thức sau:
- Kéo giãn trong thời gian dài Duy trì sự kéo giãn các nhóm cơ và dây chằng trong nhiều gây tới khi có cảm giác đau gần tới hạn chịu đựng Thông thường mỗi bài tập kéo giãn cần duy trì từ 10 – 20 giây và lặp lại bài tập đó 3 –
4 lần
Trang 36- Tăng đàn hồi khi kéo giãn tới khi đạt được mức tối đa, bằng các động tác lăng đơn giản Ví dụ: Lăng chân phía trước, phía sau, phía bên, hoặc đè ép theo dạng đàn hồi cho tới khi các nhóm cơ bị kéo giãn được biên độ lớn nhất
- Kết hợp các động tác kéo giãn bằng đá lăng với việc dừng lại ở vị trí cao nhất của đá lăng Ví dụ: Lăng chân phía bên từ 6 – 8 lần sau dừng lại ở vị trí cao nhất từ 3 – 5 giây lặp lại bài tập đó từ 5 – 6 lần
Phát triển độ dẻo có thể bằng các bài tập tay không, bằng dụng cụ hoặc trên tác dụng cụ của thể dục Tăng biên độ động tác ngoài ngoại lực, còn vận dụng nội lực của chính cơ bắp người tập Phát triển tố chất này có hiệu quả nếu
sử dụng trò chơi vận động Các bài tập mềm dẻo cần được phối hợp với các bài tập nhằm củng cố khớp, dây chằng, cơ bắp Tập luyện mềm dẻo phải diễn ra liên tục có hệ thống, nên tập hàng ngày buổi sáng sau khi đã khởi động
- Khéo léo: Nếu như tăng lực sức mạnh, sức nhanh, sức bền dựa trên cơ
sở của sự thích nghi về mặt năng lượng, thì sự khéo léo lại phụ thuộc chủ yếu vào các quá trình điều khiển hành vi vận động Việc xác định năng lực phối hợp vận động về cơ bản được dựa trên cơ sở học thuyết vận động Theo các quan điểm này thì năng lực phối hợp vận động được hiểu là một phức hợp các tiền đề của người tập (cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thắng lợi một hoạt động thể thao nhất định Năng lực này được xác định trước hết thông qua các quá trình điều khiển (các quá trình thông tin) và được hình thành, phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm
lý và các năng lực khác nhau như sức mạnh, sức nhanh, sức bền
Năng lực phối hợp vận động thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng có chất lượng, cũng như hoàn thiện củng cố và vận dụng các kỹ xảo, kỹ thuật thể thao
Các bài tập để giáo dục năng lực khéo léo cho sinh viên có rất nhiều Đó
là các động tác nhảy, giữ thăng bằng, nắm bắt, các bài tập có sự phối hợp cao Ngoài ra còn có các bài tập thực hiện trong điều kiện phức tạp
Trang 37Phương pháp chính để phát triển khả năng phối hợp vận động là tập luyện, phương tiện chính là các bài tập thể chất
Năng lực này chỉ phát triển thông qua hoạt động, vì vậy muốn phát triển năng lực phối hợp vận động phải thông qua tập luyện một cách tích cực, học và hoàn thiện các bài tập được lựa chọn, làm phương tiện để phát triển năng lực này
Ngoài ra có thể sử dụng các bài tập tâm lý để phát triển năng lực xử lý thông tin, hình thành nhanh chóng các biểu tượng vận động do nhiệm vụ vận động đặt ra
Cần sử dụng các phương tiện tập luyện, nhằm phát triển chức năng các cơ quan phân tích, các cơ quan phân tích là một phần của hệ thống thần kinh cơ được gọi là một bộ phận của “thực thể sinh lý” của khả năng phối hợp vận động
Cần sử dụng các biện pháp nhằm, nâng cao yêu cầu về phối hợp vận động của các bài tập thể chất Sau đây là một số biện pháp chính:
- Đa dạng hoá việc thực hiện động tác Ví dụ: có thể thay đổi các giai đoạn của động tác;
- Thay đổi điều kiện bên ngoài Thực hiện động tác trong điều kiện nâng cao độ khó của môi trường;
- Phối hợp các kỹ thuật - kỹ xảo với nhau:
- Thực hiện động tác với yêu cầu thời gian Ví dụ phải thực hiện động tác trong một thời gian ngắn nhất (nhưng phải đảm bảo độ chính xác)
- Thay đổi việc thu thập thông tin Việc thu nhận và xử lý các thông tin về thị giác, thính giác, xúc giác, thăng bằng và cảm giác cơ bắp có ý nghĩa đặc biệt
do điều khiển vận động
Các phương pháp phát triển năng lực phối hợp vận động rất phong phú,
có thể phối hợp chúng với nhau hoặc thực hiện có trọng điểm từng phương pháp Việc lựa chọn và sử dụng từng phương pháp cần căn cứ vào đặc điểm của từng năng lực cần phát triển Cần thường xuyên nâng cao mức độ khó về phối
Trang 38hợp vận động của các bài tập vì chỉ có nâng cao kích thích đối với cơ thể mới tạo được trình độ thích ứng cao hơn
1.5.3 Đặc điểm tâm lý trong hoạt động học tập, tập luyện
Theo M.N Chachenhicop thì sự tăng trưởng mức tiêu hao năng lượng trong quá trình lao động trí óc với trạng thái yên tĩnh khi ngồi đọc tăng 16%, ngồi đọc thành tiếng 48%, ngồi nghe giảng bài 46%, làm thí nghiệm trong phòng tăng 86% [57],[58]
Khả năng lao động trí óc của sinh viên có thể biến đổi phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, sự hiểu biết về ý nghĩa của công việc, sự hứng thú của sinh viên đối với công việc Mặt khác, phụ thuộc vào mức độ xúc động và sự quyết tâm
Sự căng thẳng kéo dài có hệ thống của hệ thần kinh sẽ dẫn đến sự mệt mỏi quá
độ Vì vậy, lao động trí óc của sinh viên liên quan tới sự căng thẳng tâm lý, xuất hiện những điều kiện không thuận lợi là nguyên nhân bệnh lý của hệ tim mạch, tiêu hoá, thần kinh
Ngày làm việc của sinh viên không thể bắt đầu ngay với hiệu quả cao Giai đoạn thích ứng với nhịp độ mất từ 10 – 20 đến 40 phút; Tiếp đến là trạng
thái “sẵn sàng làm việc” và khả năng làm việc sẽ đạt tới mức độ tối đa Do ảnh
hưởng của sự xuất hiện mệt mỏi, khả năng làm việc được phục hồi ở mức độ nhất định Mức độ hồi phục phần lớn phụ thuộc vào việc tổ chức học tập, nghỉ ngơi hợp lý tiềm năng của từng cá thể Khả năng lao động vào đầu tuần thường
là thấp, vào giữa tuần khả năng làm việc cao nhất, vào cuối tuần bắt đầu thấp nhưng đôi khi lại có hiện tượng bùng nổ tăng khả năng làm việc vào cuối tuần
Phân tích biểu diễn khả năng làm việc của sinh viên trong học kỳ, có thể huy động toàn bộ khả năng lao động kéo dài từ 3 đến 3,5 tuần, sau đó là giai đoạn ổn định 2 đến 2,5 tuần Vào đầu mùa thi, sinh viên vừa học vừa kiểm tra, nên cường độ lao động căng thẳng và khả năng giảm Nếu biết sử dụng tích cực phương tiện TDTT để tập luyện kết hợp nghỉ ngơi tích cực thì khả năng làm việc, khả năng học tập có thể được nâng lên Tuy nhiên, nếu sự tập luyện quá
Trang 39sức, tập luyện kéo dài, không có tính khoa học thì sẽ có những tác động ngược lại, gây ảnh hưởng đến khả năng lao động trí óc
Như vậy, khả năng lao động của sinh viên phụ thuộc vào các thông số về thời gian (ngày, tuần, tháng, học kỳ, năm học) và biểu hiện theo sự thay đổi của các giai đoạn thích ứng, ổn định, tăng cao, suy giảm Đó là cơ sở khoa học trong việc áp dụng các biện pháp, trong đó các hoạt động TDTT góp phần tích cực trong quá trình hồi phục và nâng cao khả năng lao động, học tập của sinh viên 1.6 Quan điểm về bài tập thể chất trong giáo dục tố chất thể lực chung cho lứa tuổi học sinh, sinh viên
Để đạt được thành tích thể thao cao phải sử dụng các phương tiện khác nhau như: vệ sinh, điều kiện tự nhiên và nhất là các bài tập thể chất – phương tiện quan trọng nhất để nâng cao thành tích, phù hợp mục đích nhiệm vụ của quá trình huấn luyện Tính mục đích của một bài tập trong huấn luyện thể thao thành tích cao thể hiện ở chỗ được sử dụng để phát triển thành tích trong môn thi đấu lựa chọn
Theo Lưu Quang Hiệp, một tổ hợp các động tác có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định được gọi là bài tập Như vậy cơ chế chính để phân loại bài tập thể thao là những biến đổi xảy ra trong cơ thể do hoạt động cơ bắp gây nên, đồng thời tính đến cả công suất, thời gian, tính chất gắng sức, đặc điểm co cơ, đặc thù điều khiển và các yếu tố khác nữa Về sinh lý học nội dung bài tập TDTT là những biến đổi trong hoạt động chức năng của cơ thể khi thực hiện bài tập, cho cơ thể chuyển sang một mức hoạt động cao hơn so với lúc yên tĩnh Nhờ vậy, khả năng chức phận của cơ thể được hoàn thiện Ngoài ra, người ta còn tính tới cả những biến đổi trước và sau khi thực hiện bài tập, những biến đổi sinh lý có thể đạt mức khá lớn Những biến đổi sinh lý đó kích thích quá trình hồi phục và thích nghi của cơ thể trong và sau thực hiện bài tập, vì vậy được coi là nhân tố có tác dụng mạnh mẽ, làm tăng các khả năng chức phận và hoàn thiện những đặc điểm cấu trúc cơ thể [38]
Trang 40Harre.D cho rằng, việc phân loại không những phải chú ý đến sự khác nhau về hình thức quá trình vận động mà còn phải chú ý đến sự khác nhau các đặc điểm về LVĐ Bài tập thể chất có 3 loại chính: [37]
- Bài tập thi đấu: Là loại hình động tác có quá trình chuyển động và đặc điểm riêng biệt về lượng vận động phù hợp với yêu cầu thi đấu chuyên môn của môn thể thao mà VĐV đã chuyên môn hoá
- Bài tập chuyên môn được chia ra thành 2 nhóm:
+ Bài tập chuyên môn 1: Bao gồm các bài có quá trình chuyển động gần giống các bài thi đấu nhưng đặc điểm về lượng vận động lại khác bài tập thi đấu hoặc chỉ chứa các yếu tố riêng lẻ hay các nhóm thuộc tổ hợp các bài tập thi đấu Các hình thức về lượng vận động của bài tập chuyên môn I gồm các cuộc thi đấu thể thao và kiểm tra thành tích thể thao trong điều kiện thay đổi nhiệm vụ thi đấu so với yêu cầu của môn thể thao chuyên sâu
+ Bài tập chuyên môn 2: Bao gồm các bài tập chứa các chuyển động bộ phận của quá trình chuyển động riêng biệt của kỹ thuật thể thao và trong đó yêu cầu một hoặc nhiều nhóm cơ có phương thức hoạt động (phương thức hoạt động quá trình dùng sức, thời gian giống hoặc gần giống như khi thực hiện động tác thi đấu)
- Bài tập phát triển chung là các bài tập có cấu trúc rất đa dạng từ các môn thể thao khác nhau và các bài tập thuộc loại hình thể dục cơ bản có hoặc không
cố dụng cụ Các bài tập phát triển chung không chứa các yếu tố của động tác thi đấu
Với các bài tập phát triển chung, năng lực thể chất, sự phối hợp vận động
và chiến thuật của VĐV được phát triển toàn diện và khả năng chịu đựng lượng vận động nâng lên một cách có hệ thống Các bài tập phát triển chung được phát triển tạo nên cơ sở để xây dựng thành tích một cách chắn chắc và lâu dài Nhờ bài tập này đã tạo năng lực cho VĐV thực hiện tốt các yêu cầu cao và phức tạp ở bài tập chuyên môn trong bước quá độ chuyển lên giai đoạn huấn luyện VĐV cấp cao Do đó, bài tập phát triển chung có ý nghĩa to lớn nhất trong giai đoạn