Với niềm tin vào sự đổi mới và lãnh đạo sáng suốt của Đảng, vào tương lai tươi sáng của đất nước, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Long An phát huy truyền thống của quê hương Lo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
BÙI QUỐC BẢO
PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG THANH NIÊN
TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Nghệ An - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
BÙI QUỐC BẢO
PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG THANH NIÊN
TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS-TS Nguyễn Lương Bằng
Nghệ An - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, Quý thầy, cô giáo Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An, Khoa giáo dục chính trị, Phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học Vinh Xin chân thành cám ơn Quý thầy, cô giáo Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An đã giảng dạy và truyền đạt những kiến thức khoa học, đặc biệt là PGS-TS Nguyễn Lương Bằng đã trực tiếp hướng dẫn và giúp
đỡ tôi với những định hướng nghiên cứu, quý giá trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cám ơn các đồng chí lãnh đạo, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể tỉnh Long An, các bạn đồng nghiệp đã quan tâm cổ vũ, khuyến khích, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi nghiên cứu, thu thập số liệu hoàn chỉnh luận văn trong những năm, tháng vừa qua
Trong thời gian tới rất mong sẽ tiếp tục nhận được sự đóng góp quý báu của Quý thầy, cô, các nhà khoa học, đọc giả và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn
Long An, tháng 7 năm 2017
Tác giả
Bùi Quốc Bảo
Trang 4
BẢNG KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Nội dung
2 ANCT-TTATXH An ninh chính trị-Trật tự an toàn xã hội
9 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 5
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 11
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4.1 Đối tượng nghiên cứu 11
4.2 Phạm vi nghiên cứu .11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Những đóng góp mới của đề tài 12
7 Bố cục luận văn 12
B NỘI DUNG 13
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CHO THANH NIÊN 13
1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 13
1.1.1 Khái niệm giá trị 13
1.1.2 Khái niệm truyền thống 14
1.1.3 Khái niệm về thanh niên 16
1.1.4 Khái niệm Dân tộc 17
1.1.5 Khái niệm truyền thống dân tộc 18
1.1.6 Khái niệm giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc 20
1.1.7 Tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước ta về phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên .25
1.2 Phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên là yếu tố khách quan 31
1.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của tuổi thanh niên 31
Trang 61.2.2 Vai trò, vị trí và sự cần thiết thiết phải phát huy giá trị truyền thống
đoàn kết dân tộc cho thanh niên 37
1.2.3 Nội dung, hình thức, phương pháp phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên 40
Kết luận chương I 46
Chương 2 47
THỰC TRẠNG PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CHO THANH NIÊN TỈNH LONG AN 47
2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An .47
2.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Long An 47
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Long An 48
2.1.3 Môi trường giáo dục tỉnh Long An 49
2.1.4 Khái quát về tình hình thanh niên trên địa bàn tỉnh Long An 53
2.2 Phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An thời gian qua 53
2.2.1 Những ưu điểm trong phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An 53
2.2.2 Những tồn tại, hạn chế trong phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An và nguyên nhân của nó 62
Kết luận Chương 2 69
CHƯƠNG 3 70
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CHO THANH NIÊN TỈNH LONG AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 70
3.1 Quan điểm phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay 70
3.1.1 Nâng cao hiệu quả công tác phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An phải gắn với việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc 70
Trang 73.1.2 Nâng cao hiệu quả phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An phải gắn với việc xây dựng môi trường kinh tế- xã
hội và Pháp luật 71
3.1.3 Nâng cao hiệu quả phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An phải dựa trên tổng hòa mọi yếu tố, mọi nguồn lực 72
3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay 75
3.2.1 Phát huy vai trò của Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam trong phát huy giá trị truyền thống đoàn kết toàn dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay 75
3.2.2 Đổi mới các phương pháp, hình thức, nội dung giáo dục giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An 77
3.2.3 Phát huy vai trò các thiết chế văn hóa trong phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên Long An giai đoạn hiện nay 79
3.2.4 Xây dựng môi trường đoàn kết từ trong gia đình, dòng họ đến cộng đồng dân cư; Kết hợp đồng bộ giữa giáo dục trong gia đình, nhà trường và xã hội trong quá trình phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An 82
3.2.5 Nâng cao trình độ về mọi mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên được rèn luyện, cống hiến và trưởng thành 86
3.2.6 Phát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, đẩy mạnh các phong trào văn hóa truyền thống cho thanh niên, học sinh, sinh viên .88
Kết luận Chương 3 91
C KẾT LUẬN 92
D.MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ .94
E DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
F PHỤ LỤC 99
Trang 8A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước Nhờ sức mạnh đại đoàn kết, nhân dân ta đã đánh bại những kẻ xâm lược tàn bạo và lập nên những chiến thắng lừng lẫy trong lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại Nhờ sức mạnh đại đoàn kết mà nhân dân ta đã chế ngự thiên nhiên, phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng các công trình văn hóa có giá trị lịch sử, mang ý nghĩa dân tộc và thời đại sâu sắc
Kể từ khi có Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến nay, sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc ta được phát huy ngày càng cao hơn bởi có sự kết hợp nhuần nhuyễn những truyền thống quý báu của dân tộc và sự định hướng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin về quy luật phát triển của loài người và tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Mác - Lênin, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tầng lớp nhân dân không phân biệt thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, tập hợp đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, tạo nên sức mạnh của toàn dân tộc giành thắng lợi lịch sử trong cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Dân tộc Việt Nam đã ghi dấu ấn trong lịch sử nhân loại, Việt Nam là nước đầu tiên trong các nước thuộc địa của thực dân Pháp trên thế giới tự mình giành lại được độc lập dân tộc Cũng nhờ sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng mà nhân dân ta đã giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, đóng góp tích cực vào phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội Củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
là một nội dung quan trọng trong đường lối cách mạng của Đảng hơn 85 năm qua Hiện nay, trong bối cảnh kinh tế thị trường ngày càng phát triển, hội nhập và cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá cách mạng Việt Nam Thì yêu cầu, nhiệm vụ phát huy sức mạnh khối đại
Trang 9đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân, trong đó có một bộ phận to lớn của thanh niên luôn cần thiết hơn bao giờ hết, để góp phần tích cực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay
Với niềm tin vào sự đổi mới và lãnh đạo sáng suốt của Đảng, vào tương lai tươi sáng của đất nước, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Long An
phát huy truyền thống của quê hương Long An “Trung dũng, kiên cường toàn dân đánh giặc” ra sức vận động các tầng lớp thanh niên tăng cường và phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, chung sức, chung lòng cùng Đảng và Nhà nước phát huy tối đa nội lực, tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh, đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Long An lần thứ X đi vào cuộc sống
Chủ Tịch Hồ Chí Minh Viết:“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần
có con người xã hội chủ nghĩa” Đó là con người: “Phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực, sáng tạo, có ý thức cộng đồng, có lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, có mối quan
hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội” Đảng và Nhà nước ta khẳng định:
“Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, phải thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng, đào
tạo thế hệ trẻ, coi đó là những nhiệm vụ chiến lược quyết định sự thành bại của cách mạng Việt Nam Trong điều kiện hiện nay, giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu của
sự nghiệp trồng người
Đã có nhiều công trình nghiên cứu pháy huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thế hệ trẻ Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau, là một trong những nội dung nghiên cứu của hệ thống chính trị, triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học,
xã hội học, các văn kiện đại hội Đảng, đại hội Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, đại hội Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam, nhất là trong những năm gần đây Chúng ta có thể chia ra thành nhóm các vấn đề:
Nhóm thứ nhất: Các tác phẩm viết lý luận chung về Đại đoàn kết dân tộc tiêu biểu như: Hồ Chí Minh (1972), Bàn về công tác giáo dục, NXB Sự thật, Hà Nội; Hồ Chí Minh (1980), Về giáo dục thanh niên, NXB Thanh niên, Hà Nội; Hồ
Trang 10Chí Minh với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ (2014), NXB Thanh niên, TP Hồ Chí Minh
Đảng cộng sản Việt nam (2008), Tăng cường sự lãnh dạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Văn kiện hội nghị Trung ương 7(Khóa X), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Ban Bí thư Trung ương Đảng (1996), Chỉ thị số 66/CT-TW ngày 20 tháng 3 năm 1966 Về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 BCH
TW Khóa VII về công tác thanh niên trong thời kỳ mới; Ban dân vận Trung ương (2005) Cẩm nang công tác dân vận, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" (1980) của GS Trần Văn Giàu Chính phủ (2007), Nghị định số 120/2007/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2007, về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên Chính phủ (2009), Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 11 tháng 9 năm 2009, Ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2007), Điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đoàn thông qua ngày 19 tháng 12 năm 2007, NXB Thanh niên, Hà Nội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2008), Hướng dẫn số 07 của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn về thực hiện Điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Nhóm thứ hai: Các bài viết trên các tạp chí về văn hóa, triết học, xã hội học “Đạo đức mới”- GS Vũ Khiêu, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội (1974) với vấn
đề giáo dục con người mới, truyền thống và hiện đại trong lĩnh vực đạo đức Nguyễn Văn Hùng (chủ biên) (1997), Đảng Cộng sản Việt Nam với công tác vận động thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Thanh niên, Hà Nội Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà nội Trương Tấn Sang (2008), “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Thanh niên thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH”, Tạp chí Cộng Sản, (790)
Trang 11Thủ tướng Chính Phủ (2011), Quyết định phê duyệt Chiến lược phát triển Thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Tỉnh ủy Long An (2008) Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 25 NQ/TW của BCH TW Đảng (Khóa X) Về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời
kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH” Tỉnh ủy Long An (2013) Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 25- NQ/TW của BCH TW Đảng( Khóa X) về” Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH”
Nhóm thứ ba: Các Luận án, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về Đại đoàn kết dân tộc “Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục đào tạo ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Lương Bằng, luận án tiến sĩ Triết học, Hà Nội,
2001 đã phân tích mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại và sự vận dụng mối quan hệ này trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể là giáo dục - đào tạo ở nước ta hiện nay
Một số bài viết liên quan đến nội dung của luận văn của TS.Nguyễn Lương
Bằng như: Phát huy chủ nghĩa yêu nước trong tầng lớp sinh viên Việt Nam hiện nay, (Viết cùng Lê Thị Thanh Hà), thông báo khoa học, Đại học Vinh, số 31
Tuy nhiên, chưa có công trình nào tập trung vào đối tượng mang tính cụ thể đó là đưa ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tốt các những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc trong thanh niên Xuất phát từ
những nội dung trên, luận văn nghiên cứu dưới góc độ Chính trị học vấn đề: “Phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc trong thanh niên tỉnh Long An” Vì vậy,
những luận văn và bài báo nghiên cứu trước đây là nguồn tài liệu quan trọng để tôi tiếp tục nghiên cứu kế thừa và phát triển
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ vấn đề lý luận về giá trị tinh thần đoàn kết dân tộc, tầm quan trọng và thực trạng vấn đề giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An; luận văn đề xuất một số giải pháp cụ thể, khã thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An trong thời gian tới
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay
- Đánh giá thực trạng công tác giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An giai đoạn hiện nay
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về công tác giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay
Trang 13Đảng bộ tỉnh Long An (nhiệm kỳ 2010-2015) và nhiệm kỳ Đại hội Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Long An, nhiệm kỳ 2012-2017
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng một số phương pháp như: Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp như lôgic-lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và điều tra xã hội học,…Phương pháp quan sát, thu thập, xử lý thông tin
6 Những đóng góp mới của đề tài
Luận văn góp phần xác định một cách có hệ thống về tình hình thanh niên
tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay; nhất là những truyền thống về “tương thân, tương ái”,“yêu nước, thương nòi”, tinh thần Đại đoàn kết toàn dân tộc Góp phần
giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho bộ môn Chính trị học, làm tài liệu nghiên cứu trong công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống, giáo dục lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc cho các đối tượng thanh thiếu niên tỉnh Long An nói riêng, tuổi trẻ cả nước nói chung
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào công tác giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên tỉnh Long An, nhất là các tổ chức Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Uỷ Ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo, Đoàn thanh niên, Hội Liên Hiệp thanh niên Việt Nam tỉnh…
Trang 14B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN
THỐNG ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CHO THANH NIÊN 1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm giá trị
Thuật ngữ “giá trị” ra đời cùng với sự ra đời của Triết học Nói cách khác,
ngay từ đầu gắn với triết học đã có những hiểu biết về giá trị và giá trị học Trước thế kỷ XIX, những kiến thức về giá trị học đã gắn liền với với những tri thức triết học Sau này, khi khoa học có sự phân ngành, thì giá trị học tách ra thành một môn khoa học độc lập và thuật ngữ giá trị được dùng để chỉ một khái niệm khoa học
Khái niệm “giá trị” trở thành trung tâm của giá trị học, nó được sử dụng
trong các lĩnh vực như: Triết học, Xã hội học, Tâm lý học, Đạo đức học,… chủ nghĩa Mác- Lênin nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch sử của giá trị, đồng thời khẳng định giá trị có thể nhận thức được và giá trị có tính thực tiễn Tất cả mọi cái gọi là giá trị đều có nguồn gốc xuất phát từ chính cuộc sống thực tiễn của con người Do vậy, có thể nói, chỉ trong xã hội loài người mới có cái gọi là giá trị Và chính “con người là giá trị cao nhất của mọi giá trị Đầu tư vào con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển kinh tế-xã hội” [38, tr.11]
Trong hoạt động thực tiễn, giá trị của một sự vật hiện tượng đều được xác định bởi sự đánh giá của con người Sự đánh giá đó nằm trong quy luật của sự vận động và phát triển tiến lên của thế giới, nó phục vụ ngày càng tốt hơn cho cuộc
sống con người, cho lợi ích và tiến bộ xã hội Có thể nói, “ mọi giá trị đều thể
hiện mối quan hệ giữa người với vật; chỉ khi nào sự vật khách quan có ích với con người mới là giá trị ” [30, tr 32] và “ nói đến giá trị là nói đến cái có ích có lợi cho nhân dân, cho dân tộc, cho sự phát triển của xã hội, nói đến những gì có thể thỏa
mãn được nhu cầu và lợi ích của con người trong lịch sử ”[21, tr 136]
Qua các khái niệm, các quan điểm trên có thể khái quát như sau:
- Giá trị là tất cả những cái gì mang ý nghĩa tích cực, gắn với cái đúng, cái tốt, cái đẹp, được con người thừa nhận và xem nó là nhu cầu hoặc có vị trí quan
Trang 15trọng trong đời sống của mình, là những thành tựu góp phần cho sự phát triển của
- Giá trị đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, giá trị giúp con người điều chỉnh hành vi của mình trong cuộc sống, giá trị giúp con người định hướng mục tiêu, mục đích của mình, là động cơ thúc đẩy hoạt động của con người
1.1.2 Khái niệm truyền thống
Khi nghiên cứu về “truyền thống dân dân tộc”, Trần quốc Vượng viết:
“truyền thống như là một hệ thống các tính cách, các thế ứng xữ của một tập thể được hình thành trong lịch sử, trong một môi trường tự nhiên và nhân văn nhất định, trở nên ổn định, có thể được định chế hóa bằng luật hay bằng lệ và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, để đảm bảo tính đồng nhất của một cộng đồng
Khi bàn về văn hóa Việt Nam, Giáo sư Vũ Khiêu định nghĩa:“truyền thống
là những thói quen lâu đời đả được hình thành trong nếp sống, nếp suy nghĩ và hành động của một dân tộc, một gia đình, một dòng họ, một làng xã, một tập đoàn lịch sử” kế thừa có chọn lọc những tư tưởng trên, khi nghiên cứu về truyền thống trong giáo dục, tiến sĩ Nguyễn Lương Bằng nêu định nghĩa "truyền thống là một khái niệm, dùng để chỉ những hiện tượng như tính cách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, thói quen trong tư duy, tâm lý, lối ứng xử được hình thành trên cơ sở những điều kiện tự nhiên - địa lý, kinh tế - xã hội cũng như hoạt động của con người trong quá trình lịch sử và được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác trong một cộng đồng người nhất định"[9, tr 28]
1.1.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của
truyền thống
Trang 16Truyền thống biểu hiện bản sắc của mỗi dân tộc như truyền thống tín ngưỡng tôn giáo ở Ấn Độ, truyền thống nghệ thuật kiến trúc ở Ý, truyền thống trồng lúa nước ở Việt Nam, truyền thống du canh du cư của đồng bào dân tộc thiểu
số v.v Cũng có truyền thống tốt như yêu nước, hiếu học cũng có truyền thống xấu như mê tín dị đoan, học để làm quan
Truyền thống được biểu hiện rất phong phú và đa dạng do truyền thống bao giờ cũng gắn liền với cộng đồng người, truyền thống là truyền thống của cộng đồng như cộng đồng quốc gia, dân tộc, cộng đồng nhân loại, cộng đồng huyết Từ khi xã hội phân chia giai cấp thì sự biểu hiện của truyền thống ngày càng đa dạng hơn Truyền thống chịu sự tác động của các nhân tố sau đây:
a) Sự tác động của điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh địa lý
Con người và xã hội là một bộ phận đặc thù của giới tự nhiên Con người là sản phẩm cao nhất của quá trình tiến hóa của thế giới vật chất C.Mác khẳng định:
"Về mặt thể xác, con người chỉ sống bằng những sản phẩm tự nhiên ấy, dù là dưới hình thức thực phẩm, nhiên liệu, quần áo, nhà ở v.v Về mặt thực tiễn, tính phổ biến của con người được biểu hiện ra chính ở cái tính phổ biến toàn bộ giới tự nhiên thành thân thể vô cơ của con người" [31, tr 135] Tự nhiên là môi trường sống, là kho tài nguyên cung cấp những thứ cần thiết cho cuộc sống của con người Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của tự nhiên đến đời sống con người có tính lịch sử, phụ thuộc vào trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong từng thời đại, từng quốc gia, từng vùng, từng địa phương nhất định
b) Sự tác động của điều kiện kinh tế - xã hội
Dân tộc Việt Nam hình thành sớm, quá trình phát triển dẫn đến thống nhất quốc gia lại diễn ra trong những giai đoạn lịch sử phức tạp, qua nhiều bước thăng trầm, hình thành nên nhiều truyền thống quý báu, "in dấu ấn sâu sắc vào tâm tư tình cảm của mỗi người dân như truyền thống yêu nước, ý chí quật cường bất khuất, tinh thần đoàn kết, niềm tự hào dân tộc, truyền thống tôn thờ tổ tiên, truyền thống thượng võ, mưu trí, thông minh, sáng tạo" [9, tr 30] Truyền thống thường gắn với lợi ích của những giai cấp, những nhóm người trong xã hội nên những truyền thống tốt thường được giai cấp tiến bộ lưu giữ, phát huy, còn những truyền thống xấu bị các lực lượng phản động khuếch trương, truyền bá, cản trở sự phát triển của lịch sử
Trang 17Ngoài ra truyền thống còn chịu những tác động của môi trường bên ngoài,C.Mác
và Ăngghen viết: "Chính con người, khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình, không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức" [30, tr 65]
1.1.2.2 Vai trò của truyền thống đối với việc hình thành bản chất con người
Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, truyền thống là một trong những yếu tố cấu thành quan hệ xã hội và nó góp phần vào việc hình thành bản chất con người ở các khía cạnh sau: Truyền thống là nền tảng vững chắc để hình thành các giá trị mới ở con người; Các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
là cơ sở tinh thần để ngăn chặn, hạn chế những hiện tượng tiêu cực trong đời sống
xã hội, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người và người; Giữ sự phát triển đúng hướng, đóng vai trò điều tiết trong quan hệ giao lưu văn hóa với thế giới bên ngoài, không bị nước khác đồng hóa, giữ vững và phát huy được bản sắc văn hóa của dân tộc; Tạo ra và tăng cường năng lực nội sinh, sức đề kháng của mỗi người, mỗi gia đình, cộng đồng dân cư, là điểm tựa và là yếu tố nội lực của cá tính sáng tạo của mỗi cá nhân Hạt nhân hợp lý của truyền thống dân tộc có thể thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa Do truyền thống có vai trò quan trọng trong việc hình thành bản chất con người, nên đa số quốc gia đều có ý thức bảo vệ, nuôi dưỡng và phát huy truyền thống của dân tộc mình trong quá trình phát triển
1.1.3 Khái niệm về thanh niên
Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà có nhiều định nghĩa khác nhau về thanh niên
Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn xác định trong quá trình tiến hóa của cơ thể Các nhà tâm lí học thường nhìn nhận, thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực
Trang 18Trên thế giới tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, tuổi thọ trung bình , mà mỗi quốc gia có quy định về độ tuổi của thanh niên khác nhau Nhưng hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 hoặc 16 tuổi, còn thanh niên kết thúc ở độ tuổi nào thì có sự khác biệt, có nước quy định là tuổi 25, có nước quy định là tuổi 30 Nhìn chung, thời điểm kết thúc của tuổi thanh niên chưa thống nhất
Liên hợp Quốc đã định nghĩa thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi, chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt đặc điểm tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội với nhóm lứa tuổi khác
Ở Việt Nam, trong các văn bản pháp lý hiện hành thuật ngữ “Thanh niên”
cũng có phạm vi điều chỉnh không thống nhất Theo“Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam đến năm 2010” do Thủ tướng chính phủ kí phê duyệt kèm theo quyết định số 70/2003/QĐTTg ngày 29/4/2003 thì thanh niên Việt Nam được cho
là những người Việt Nam trong độ tuổi từ 15 đến 34 Tuy nhiên hai năm sau, Luật Thanh niên (Luật số 53/2005/QH 11) được Quốc hội khóa XI thông qua đã quy định tại điều 1: “Thanh niên quy định trong luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi” Đây cũng là điều được quy định tại điều 1, mục 2 của “Điều lệ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh” (2007)
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này thì thanh niên được hiểu là những công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi theo Luật thanh niên quy định
1.1.4 Khái niệm Dân tộc
Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người được hình thành và phát triển trong lịch
sử sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện Nhà nước
Trong xã hội nguyên thủy đã có thị tộc rồi bộ lạc Những thành viên trong thị tộc gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống Bộ lạc bao gồm những người cùng
họ và những người khác họ, cùng sinh sống trên một địa bàn Sản xuất phát triển thì bản thân con người cũng phát triển theo cùng với những đặc trưng và ngôn ngữ, văn hóa vật chất (thể hiện trong phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt) và văn hóa tinh thần (thể hiện thành ý thức và các hình thái ý thức) Hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hóa: từ phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên những tộc người và những dân tộc khác nhau Có thể
Trang 19quan niệm dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử (lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc), nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một lãnh thổ, có chung một nền văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra) tiêu biểu cho trình độ văn minh đã đạt được
Về mặt xã hội, khái niệm dân tộc không phải bao giờ cũng trùng hợp với khái niệm quốc gia Quốc gia theo nghĩa là một cộng đồng chính trị - xã hội được quản lí bằng bộ máy Nhà nước, có quốc gia chỉ gồm một dân tộc (hiếm có, như trường hợp Triều Tiên trước khi bị chia cắt) song phần lớn là những quốc gia nhiều dân tộc Cũng có tình hình là những người cùng một dân tộc nhưng phân tán ở nhiều quốc gia khác nhau Trong lịch sử các dân tộc hình thành và phát triển rất không đồng đều cả về thời gian, quy mô, sức sống lẫn trình độ phát triển, vì vậy mà mỗi một dân tộc cũng có những sắc thái văn hóa khác nhau Trong cuốn giáo trình
“Chủ nghĩa xã hội khoa học” đã định nghĩa dân tộc với 2 nghĩa được dùng phổ
biến nhất:
Thứ nhất, dân tộc chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững,
có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hóa có những nét đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở
bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó Theo nghĩa này thì dân tộc là một bộ phận của quốc gia, ví dụ như 54 dân tộc anh
đó, ví dụ dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Quốc, dân tộc Ấn Độ
1.1.5 Khái niệm truyền thống dân tộc
Khái niệm“truyền thống”, trong lịch sử đã từng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Theo Từ điển bách khoa Triết học của Liên Xô “truyền thống ” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là Traditio - sự chuyển giao, lưu truyền
Trang 20lại, đó là các giá trị tinh hoa văn hóa được lưu truyền từ những thế hệ trước và nó được gìn giữ ở các xã hội, giai cấp hay nhóm xã hội nhất định
Truyền thống là tập họp những tư tưởng tình cảm, thói quen trong tư duy và lối ứng xử của một cộng đồng người nhất định được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Bởi vậy truyền thống bao giờ cũng mang ba đặc trưng cơ bản: tính ổn định, tính cộng đồng và tính lưu truyền Tuy nhiên, những đặc trưng đó cũng chỉ mang tính tương đối vì bản thân truyền thống cũng có quá trình hình thành, biến đổi và phát triển Việc nhận thức và đánh giá truyền thống phải luôn luôn đứng trên quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử và biện chứng
Tính cộng đồng của truyền thống được thể hiện ở chỗ: Truyền thống bao giờ cũng là truyền thống của một cộng đồng nhất định nào đó chứ không phải là của cá nhân riêng lẻ Ở nước ta, tính cộng đồng biểu thị tập trung ở ba kết cấu xã hội chủ yếu là nhà, làng, nước
Tính ổn định tương đối của truyền thống biểu hiện ở chỗ khi nói đến truyền thống là ta nói đến một cái gì đó lâu dài, ít thay đổi Tuy nhiên, chính bản thân truyền thống cũng có quá trình hình thành, phát triển và biến đổi theo thời gian trong điều kiện lịch sử xã hội cụ thể Khi những điều kiện đó thay đổi thì truyền thống cũng có những mặt phải thay đổi phù họp, có mặt bị đào thải và có thể có truyền thống mới được hình thành
Tính lưu truyền của truyền thống là đặc điểm nổi bật Truyền thống bắt nguồn từ lịch sử nhưng không phải mọi thứ thuộc về lịch sử đều là truyền thống, mà chỉ những gì được sao phỏng, được lưu truyền từ đời này sang đời khác mới được gọi là truyền thống
Dấu hiệu đặc trưng của truyền thống đó là những yếu tố, những giá trị của cộng đồng người được hình thành tương đối ổn định trong lịch sử, được lưu truyền, cải biến trong hiện tại và tương lai
Khi nói đến“giá trị truyền thống” là nói đến mặt tích cực của truyền thống
bao gồm những yếu tố ưu việt, tiến bộ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của xã hội, góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc Giá trị truyền thống là sự phản ánh điều kiện tồn tại của dân tộc trong ý thức của con người trải qua lịch sử dựng nước và
Trang 21giữ nước Nó không chỉ là kết quả của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người trong quá trình cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân mà nó còn là động lực của quá trình đó Giá trị truyền thống là những đặc trưng cho bản sắc dân tộc mà chúng ta cần duy trì và phát triển Giá trị truyền thống dân tộc được
cô đúc lên trong suốt quá trình hình thành tồn tại và phát triển của dân tộc Cho nên
có thể nói giá trị truyền thống là cái thể hiện bản chất nhất, đặc trưng nhất cốt lõi văn hóa dân tộc
Truyền thống dân tộc có nhiều cấp độ rộng hẹp khác nhau như: Truyền thống gia đình, truyền thống dân tộc, truyền thống phương Đông, Truyền thống dân tộc không phải tự nhiên đã có sẵn, cũng không phải do sự ngẫu nhiên nào
đó tạo thành cốt cách tâm hồn, bản sắc riêng của một dân tộc Mỗi quốc gia dân tộc đều có truyền thống riêng của mình, tùy theo điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà nó có quá trình hình thành, phát triển sớm muộn khác nhau Quá trình hình thành phát triển truyền thống dân tộc Việt Nam do sự tác động tổng hợp thường xuyên của nhiều yếu tố mang tính tất yếu đó là hoàn cảnh tự nhiên, lịch sử, môi trường văn hóa khu vực, ., chính sự tác động của những yếu tố đó buộc con người lúc đó phải tìm cách ứng phó liên tục nên nhiều phẩm chất được toi luyện, nhiều thói quen dần dần trở thành tập quán và đồng thời tính cách con người cũng được hình thành theo một xu hướng nhất định Trải qua biết bao thế hệ con người nối tiếp, truyền thống dân tộc Việt Nam được lưu truyền vun đắp và phát triển ngày càng phong phú, nó như động lực nội sinh tạo thành sức mạnh của cộng đồng người Việt không chỉ ở quá khứ mà còn cả trong hiện tại và tương lai Trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, nhiều truyền thống quý báu thể hiện tính bền vững và trường tồn cùng đồng hành với dân tộc Việt Nam như: Truyền thống yêu nước, bất khuất, truyền thống đoàn kết dân tộc, nhân
ái, lao động cần cù, Trong đó, truyền thống đoàn kết dân tộc là truyền thống cực
kỳ quý báu, được xem là một trong những giá trị tinh thần đặc sắc nhất của dân tộc Việt Nam
1.1.6 Khái niệm giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc
Thuật ngữ “giáo dục” được sử dụng nhiều trong ngôn ngữ hàng ngày để
biểu đạt khái niệm thông thường lẫn khái niệm khoa học Mặc dù được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau nhưng “giáo dục” được hiểu theo hai nghĩa cơ bản sau:
Trang 22Thứ nhất, giáo dục là hiện tượng khách quan diễn ra trong đời sống xã hội
mà mỗi con người, mỗi thế hệ ít hoặc nhiều đều chịu sự tác động mang tính tự phát của nó
Chủ thể giáo dục với định hướng mục tiêu đã rõ ràng Chủ thể giáo dục đề cập ở đây bao gồm các cá nhân và những thiết chế, tổ chức có chức năng giáo dục như: cha mẹ, gia đình, nhà trường, các tổ chức chính trị-xã hội,
Trong cuốn“Từ điển Giáo dục học” đã định nghĩa giáo dục là “hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kĩ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội”
Ở nước ta truyền thống đoàn kết dân tộc là một giá trị tinh thần cao quý và đặc sắc được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm chú trọng trong việc giáo dục truyền thống này Đoàn kết là kết thành một khối, thống nhất ý chí, không mâu thuẫn chống đối nhau Đại đoàn kết là đoàn kết rộng rãi Đoàn kết dân tộc là sự tập hợp rộng rãi tất cả các giai cấp, tầng lớp, các dân tộc trong một quốc gia Từ việc tìm hiểu các khái niệm về “dân tộc”, “truyền thống”, “giáo dục”, “đoàn kết”, “đoàn kết dân tộc” chúng ta có thể hiểu khái quát “giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc” là hệ thống hoạt động của các chủ thể giáo dục tác động thường xuyên đến đối tượng giáo dục nhằm truyền thụ tri thức và tình cảm, kinh nghiệm và kĩ năng sống gắn bó với cộng đồng, kết thành một khối thống nhất ý chí và hành động vì mục đích chung nhằm giúp đối tượng giáo dục hình thành, phát triển năng lực phẩm chất nhân cách phù hợp với truyền thống đoàn kết dân tộc cao đẹp ngàn đời của cha ông
Từ việc hiểu khái quát về giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thấy, vai trò của các chủ thể giáo dục hết sức quan trọng phải có sự phối họp chặt chẽ trong hoạt động, có nội dung, phương pháp giáo dục rõ ràng phù họp với từng đối tượng cụ thể Việc tiếp thu của đối tượng giáo dục không phải là thụ động mà là tích cực chủ động và sáng tạo, có như thế thì giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc mới đạt hiệu quả cao nhất, đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu phát triển xã hội
Trang 23hiện tại Sự mạnh hay yếu, thịnh hay suy của mỗi quốc gia dân tộc tùy thuộc vào kết quả của quá trình giáo dục và đào tạo những lớp người kế nghiệp
1.1.6.1 Sự hình thành và phát triển giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc và những giá trị cốt lõi
Truyền thống đoàn kết dân tộc là một truyền thống quý báu của dân tộc
Việt Nam, nó được hình thành và phát triển do sự tác động của nhiều yếu tố: Thứ nhất, do đặc điểm về điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam Việt
Nam là một quốc gia có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, đặc điểm về địa hình, tài nguyên, sinh thái và khí hậu nhiệt đới gió mùa phong phú, đa dạng chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn nhưng bên cạnh đó nó cũng đặt ra những khó khăn và thách thức không nhỏ đối với con người Trong quá trình xây dựng đất nước, con người vừa thích nghi vừa khai phá những tài nguyên và mặt thuận lợi của thiên nhiên để mở mang đồng ruộng, xóm làng, phát triển kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước kết hợp với các nghề thủ công, chăn nuôi, đánh bắt, buôn bán,
Xuất phát từ vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, người Việt Nam cũng phải liên kết lại trong cuộc đấu tranh khắc phục những trở ngại của thiên nhiên chống thiên tai, nhất là chống ngập lụt, hạn hán, Từ xa xưa nhân dân ta đã biết đắp đê sông, đê biển để chống lũ lụt, bão tố, biết đào kênh, khơi mương làm thủy lợi để chống hạn hán, tưới tiêu cho đồng ruộng Công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, xã hội trong điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên Việt Nam đã sớm tạo nên sự gắn bó cộng đồng, sự gắn bó với quê hương đất nước Mặt khác, Việt Nam
là một dân tộc được hình thành sớm Quá trình hình thành dân tộc ở Việt Nam là
sự cố kết cộng đồng diễn ra trên cơ sở liên kết cộng đồng trong những điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử và kết cấu kinh tế - xã hội của Việt Nam Quá trình thống nhất quốc gia và thống nhất dân tộc sớm tác động sâu sắc đến sự phát triển của tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc tạo nên tinh thần đoàn kết dân tộc và sự cố kết cộng đồng mang tính dân tộc
Thứ hai, do lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập dân tộc
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tiềm năng và lợi thế to lớn về tài nguyên thiên nhiên, đồng thời còn ở vào một vị trí địa lý có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng nên nước ta đã trở thành đối tượng nhòm ngó của nhiều nước trên thế giới Nhìn lại chặng đường lịch sử đã qua, trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc
Trang 24ta đã phải đấu tranh chống ngoại xâm gần như thường xuyên và đã chiến thắng ngoại xâm một cách oanh liệt Đó là nét nổi bật của lịch sử Việt Nam, là thử thách gay go nhất nhưng cũng là niềm tự hào lớn nhất của dân tộc ta Trong lịch sử nhiều đế chế cường thịnh thời cổ - trung - đại và nhiều cường quốc đế quốc thời cận đại đã âm mưu xâm chiếm nước ta, kẻ thù muốn đánh chiếm nước ta không những để bóc lột nhân dân, vơ vét của cải, khai thác nguồn tài nguyên phong phú
mà còn biến nước ta thành một đầu cầu chiến lược để bành trướng khắp vùng Đông
Á, để từ biển cả tiến sâu vào đại lục bao la, cũng như từ đất liền tỏa ra các vùng hải đảo Chính vì vậy từ khi dựng nước đến nay trong suốt tiến trình lịch sử lâu dài, dân tộc ta luôn ở trong tư thế sẵn sàng chống ngoại xâm và liên tiếp đương đàu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, phàn lớn là những quốc gia lớn mạnh, những đế quốc nhất nhì thế giới, và chính trong cuộc đấu tranh để khẳng định nền độc lập tự chủ đó đã hình thành nên truyền thống đoàn kết dân tộc, đó là kết quả của con đường tập hợp sức mạnh tổng hợp của toàn dân Trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam là động lực thôi thúc
cả dân tộc vùng dậy chống kẻ thù Truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam là những trang sử hùng tráng thể hiện ý chí quật cường, tinh thần dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong đấu tranh vì nền độc lập của dân tộc Kể từ cuộc kháng chiến chống Tần thế kỉ III (TCN) đến kháng chiến chống Mỹ, chống Pháp vừa kết thúc, trong hơn 22 thế kỉ tính ra thời gian kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống đô hộ ngoại bang với những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc đã lên đến trên 12 thế kỉ, chiếm quá nửa thời gian lịch sử Điều đáng lưu ý
ở đây là độ dài thời gian, tần số xuất hiện, số lượng các cuộc kháng chiến và khởi nghĩa, chiến tranh giải phóng quá lớn so với các nước khác trên thế giới
Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc ta đã phải đương đầu với nhiều đế chế lớn mạnh ở phương Đông Các cuộc kháng chiến diễn ra trong so sánh lực lượng rất chênh lệch, trong điều kiện chiến đấu hết sức ác liệt như vậy con đường sống và tồn tại duy nhất của dân tộc ta là phải biết huy động sức mạnh của toàn dân, của
cả đất nước, sức mạnh vật chất và cả tinh thần của toàn thể dân tộc Như vậy, lịch
sử đấu tranh chống ngoại xâm đã tác động sâu sắc đến sự phát triển của tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc, ý chí quật cường, bất khuất, niềm tự tôn dân tộc Và chính truyền thống yêu nước của dân tộc đã cổ vũ thúc giục dân tộc
Trang 25Việt Nam đoàn kết đứng lên đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, từ đó đã hình thành nên truyền thống đoàn kết của dân tộc
Thứ ba, Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa đa dạng nhưng thống
nhấtV iệt Nam là một nước có nền văn hóa lâu đời, mỗi dân tộc lại có vốn văn hóa riêng, tạo nên sự phong phú đa dạng nhưng do sự gắn bó lâu đời trong một quốc gia thống nhất, do yêu cầu chống thiên tai, chống ngoại xâm và do sự giao lưu hội nhập văn hóa, cả cộng đồng dân tộc Việt Nam vẫn có những đặc điểm chung của một nền văn hóa thống nhất trong tính đa dạng
Việt Nam bao gồm nhiều vùng địa lý với những đặc điểm khác nhau về địa hình, khí hậu, môi trường, sinh thái Những điều kiện tự nhiên ấy kết hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể tạo nên những vùng địa - văn hóa khác nhau Đặc điểm này cũng góp phần tăng thêm tính đa dạng của văn hóa Việt Nam
Ở vào vị trí đầu mối giao thông tự nhiên của Đông Nam Á, Việt Nam vừa nối liền với đại lục vừa nhìn ra đại dương và hải đảo, một khu vực giao tiếp của nhiều nền văn minh trên thế giới Văn hóa Việt Nam qua giao lưu và tiếp biến văn hóa đã tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa bên ngoài làm phong phú văn hóa dân tộc, nhưng vẫn giữ bản sắc văn hóa dân tộc mình Đó là tính thích nghi, hội nhập
và bản lĩnh của văn hóa Việt Nam Tinh thần yêu nước là một bộ phận tạo thành của văn hóa Việt Nam vừa kết tinh những giá trị tiêu biểu, vừa chi phối sự phát triển của nền văn hóa dân tộc
Qua giao lưu văn hóa và cả qua cưỡng bức, áp đặt văn hóa của kẻ xâm lược, Việt Nam tiếp nhận nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc nhưng vẫn giữ được vốn văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc Qua hơn một nghìn năm mất nước và trước nguy cơ đồng hóa của phong kiến phương bắc: Hán, Đường, Việt Nam không
bị Hán hóa mà tự mình đấu tranh giành lại độc lập dân tộc Đây là thắng lợi hiếm
có trong lịch sử thế giới và Việt Nam là đất nước duy nhất vượt qua được nguy
cơ đồng hóa và diệt vong Trong cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc, sự cố kết dân tộc
và tinh thần yêu nước càng được phát huy rèn luyện và nâng cao
Như vậy một quốc gia bao gồm 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc lại có một nền văn hóa riêng của mình nhưng văn hóa Việt Nam không hề hỗn độn mà có sự thống nhất trong tính đa dạng, đồng thời trong quá trình đô hộ của phong kiến, thực
Trang 26dân nhưng văn hóa Việt Nam không hề bị lai căng hay mất gốc mà nó vẫn giữ được bản sắc của dân tộc, có được điều này chính là do ý thức đoàn kết cộng đồng, các dân tộc đều có chung ý thức bảo tồn nền văn hóa của dân tộc
1.1.7 Tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước ta về phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên
1.1.7.1 Tư tưởng của Mác – Ph.Ăngghen và V.I.Lênin
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đều coi thanh niên là một lực lượng cách mạng hùng hậu, có vai trò quan trọng trong cách mạng và xem xét vấn đề thanh niên luôn gắn bó với giai cấp công nhân và đảng tiên phong C.Mác khẳng định: “Do những quy luật phát triển khách quan của xã hội, thanh niên bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng trong việc kế thừa và phát huy những thành tựu của người đi trước”[30, tr.301] Theo Ph.Ăngghen, muốn cho cách mạng thắng lợi, Đảng cách mạng phải tạo ra lực lượng tổng hợp, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là để tạo ra lực lượng tổng hợp đó
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện được vai trò lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc; liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng Chính Mác đã gọi thanh niên là cội nguồn sự sống dân tộc và giai cấp công nhân là bộ xương của mỗi cơ thể dân tộc
Ph.Ăngghen đã đề xuất tư tưởng: Thanh niên không đứng ngoài chính trị, chính hiện thực cuộc sống đã đang và sẽ cuốn hút tuổi trẻ vào đời sống chính trị Ngay khi mới 19, 20 tuổi trong các thư gửi bạn bè, Ăngghen đã chế nhạo các nguyện vọng của những chàng trai, cô gái muốn sống bình lặng, hay nói cách khác
là muốn giam cầm mình trong vương quốc của điền viên với thái độ “mũ ni che tai”, bàng quan trước thời cuộc với lòng hứng khởi Ông nhấn mạnh rằng: Thanh niên không bao giờ thoả mãn lý tưởng trước đây, họ muốn tự do hơn trong hành động, họ khao khát lập công vì sự đổi mới, họ sẵn sàng hiến dâng cả máu cả cuộc đời mình Thanh niên sẽ có đủ sức lực và tài năng để giải quyết những mâu thuẫn đang nảy sinh trong đời sống của đất nước
Trang 27V.Lênin chỉ cho chúng ta thấy rõ vai trò cách mạng to lớn của thanh niên
và để tập hợp, đoàn kết thanh niên cần phải xây dựng những tổ chức tâp hợp rộng rãi thanh niên Khi nói đến vai trò, vị trí của Thanh niên, Lênin đã nêu ra luận điểm sau: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng được tổ chức lại” Luận điểm cách mạng là luận điểm của quần chúng Là một trong những luận điểm cơ bản của học thuyết Mác – Lênin về vai trò quần chúng trong lịch sử Điều đáng lưu ý là sức mạnh của quần chúng với tư cách là người sáng tạo ra lịch sử, không thể là sức mạnh tự phát hay mù quáng mà là sức mạnh tự giác có tổ chức Chính vì thế V.I.Lênin đã nêu rất sớm khẩu hiệu: “Hãy tổ chức lại!” Người cho rằng khẩu hiệu
đó phải được thực hiện lập tức bởi vì: “Nếu chúng ta không tỏ ra mạnh dạn, có sáng kiến thành lập những tổ chức mới thì chúng ta phải tự loại bỏ những tham vọng rỗng tuếch của thanh niên”
Phải “tổ chức và đoàn kết” toàn thể thế hệ thanh niên Khi bàn về nhiệm vụ của Đoàn thanh niên, V.I Lênin đã nêu luận điểm rằng: “Là người cộng sản tức là phải tổ chức và đoàn kết thế hệ thanh niên” Bởi vì “Phải có ý chí của hàng chục triệu người công dân lẻ loi, rời rạc, phân tán mà xây dựng nên một ý chí thống nhất…” Đồng thời Người khẳng định: “Không có sự đoàn kết đó, không có kỷ kuật tự giác đó thì sự nghiệp của chúng ta sẽ không hi vọng gì cả”
1.1.7.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước ta về phát huy giá trị đoàn kết dân tộc
Hồ Chí Minh đả sớm tiếp thu truyền thống yêu nước nhân nghĩa- đoàn kết quí báu, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt, truyền thống đó được thể hiện sinh động qua các thời kỳ lịch sử như: Hai bà Trưng, Ngô Quyền, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung,… Đoàn kết cộng đồng, dân tộc đả trở thành một tình cảm tự nhiên:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Người khẳng định:“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quí báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự hiểm nguy, khó khăn, nó nhấn chìm cả lũ bán nước và cướp nước”
Trang 28Trong Lịch sử nước ta-Hồ Chí Minh toàn tập(1930-1945) Bác Hồ khi viết
về người anh hùng áo vải Quang Trung, ngoài đề cao khí chất anh hùng, mưu lược của vua Quang Trung trong điều binh, khiển tướng, làm nên những chiến công lừng lẩy, thì có một yếu tố quan trọng đó là biết huy động sức mạnh quần chúng nhân dân:
“Nguyễn Huệ là kẻ phi thường Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu
Ông đà chí cả mưu cao Dân ta lại biết cùng nhau một lòng Cho nên Tàu vẫn làm hung, Dân ta vẫn giữ non song nước nhà”
Trong những giai đoạn lịch sử dựng nước và giữ nước, đất nước ta trãi qua những hoàn cảnh vô cùng hiểm nghèo, được ví như “ngàn cân treo sợi tóc” Chính trong hoàn cảnh này, Hồ Chí Minh đã thể hiện tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc, giúp đất nước vượt qua cơn hiểm nghèo, giữ vững được nền độc lập Hồ Chí Minh nhận thức được rằng: chủ nghĩa đế quốc là một lực lượng phản động quốc tế,
là kẻ thù chung của nhân dân lao động ở cả chính quốc và thuộc địa Muốn đánh thắng chúng, phải thực hiện khối liên minh chiến đấu giữa lao động ở các thuộc địa với nhau và giữa lao động ở thuộc địa với vô sản ở chính quốc; nếu tách riêng mỗi lực lượng thì không thể nào thắng lợi được Điểm vượt lên của Hồ Chí Minh so với các lãnh tụ yêu nước và chí sĩ cách mạng đầu thế kỷ XX chính là ở đó, nó nâng cao nhận thức của Hồ Chí Minh về sức mạnh thời đại [23, tr 52, 53] Hồ Chí Minh đã gạt bỏ các bất đồng chính trị giữa các phe phái sang một bên, tập hợp các đảng phái chính trị để thành lập Chính phủ với mục tiêu phụng sự quốc gia, dân tộc Trong đó mục tiêu độc lập dân tộc được đặt lên hàng đầu
Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền nam, họp tại Pleiku ngày 19/4/1946, Bác Hồ có đoạn viết: “…Hôm nay đồng bào khai hội, sum họp một nhà thật là vui vẻ…Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Giarai hay Ê đê, XơĐăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, no đói giúp nhau Trước kia chúng ta
Trang 29xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xúi giục để chia rẻ chúng ta,…Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẻ để giữ gìn nước non ta,
để ủng hộ Chính phủ ta Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu cầu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại giữ vững quyền tự do, tự chủ của chúng ta”
Tại hội nghị đại biểu mặt trận Liên việt toàn quốc, ngày 10/01/1955, Người nói: “ Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó giống như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác Phải có lòng khoan dung độ lượng với con người, trân trọng “phần thiện”, dù nhỏ nhất ở mỗi con người để lôi kéo, tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng… Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”
Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta Đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao phó Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”
Trong tác phẩm “Nên học sử ta”, Hồ Chí Minh đã viết: “Sử ta đả dạy cho ta
bày học này: Lúc nào nhân dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập tự do Trái lại, lúc nào nhân dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi…” [6,tr.2]
Quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm: Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định thành công của cách mạng; Đại đoàn kết là mục tiêu, là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng; Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân; Đại đoàn kết phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc là mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Quan điểm của Hồ Chí Minh về sự liên kết giữa phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng tại các
Trang 30nước khác cũng là phương châm cơ bản của phong trào cộng sản quốc tế thể hiện qua khẫu hiệu “vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” Theo Hồ Chí Minh, "phải làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn
và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản"[36, tr.124] Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một cách diễn đạt sự liên kết đó Nội dung của việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại bao gồm:
Đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với cách mạng vô sản thế giới; Kết hợp chặt chẻ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; Giữ vững độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đở của các nước
xã hội chủ nghĩa, sự ũng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình; Mỡ rộng tối đa quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẳn sàng là bạn với tất cả mọi nước dân chủ; Theo Bác, để xây được khối đoàn kết thống nhất vững mạnh nhằm mang lại thắng lợi cho cách mạng thì phải thực hiện tốt phương châm của đoàn kết dân tộc đó là:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”
Với tấm lòng yêu nước nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin rồi truyền bá vào Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin được coi là
cơ sở lí luận của Đảng cộng sản Việt Nam, là vũ khí lí luận của giai cấp công nhân Từ khi có chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng phong trào đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ Đầu tiên, sau gần 100 năm bị đô
hộ bởi thực dân Pháp và đế quốc Nhật Bản, sau năm 1945 dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, Việt Nam đã giành được chính quyền từ tay của đế quốc Nhật Bản và tuyên bố thành lập nước Việt Nam độc lập vào ngày 2/9/1945 Trước sự quay trở lại xâm lược của đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đứng lên làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu(1954) và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975) đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Có được những thắng lợi đó, chính là sự đồng tâm hiệp lực, keo sơn gắn bó cộng đồng của hàng triệu triệu con người Việt Nam và chính điều này đã củng cố thêm truyền thống đoàn kết dân tộc Theo Hồ Chí Minh, cách mạng muốn
Trang 31thành công “trước hết phải có Đảng cách mệnh”, “cách mạng là việc chung của cả
dân chúng chứ không phải của riêng một hai người”[38, tr.261-262]
Quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng ta rất chú trọng lãnh đạo đến vấn đề truyền thống đoàn kết dân tộc Thấy được ý nghĩa to lớn của đoàn kết dân tộc, ngay từ khi chưa giành được chính quyền Đảng ta đã rất chú trọng đến vấn đề này, trong các Văn kiện của Đảng đã khẳng định vai trò của đoàn kết toàn dân, trong Cương lĩnh chính trị năm 1930, Hồ Chí Minh đã đề ra chiến lược đoàn kết dân tộc với đường lối thu phục cho được đông đảo công nhân, lôi kéo cho được tiểu tư sản, trí thức trung nông về phía giai cấp vô sản, tập hợp hoặc trung lập phú nông, trung tiểu địa chủ và tư sản Việt Nam Cương lĩnh đó là nền tảng và mục tiêu để thực hiện chiến lược đoàn kết rộng rãi bao gồm mọi giai cấp, tầng lớp và cá nhân yêu nước, hình thành một mặt trận dân tộc thống nhất rộng
rãi dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đấu tranh nhằm thực hiện khẩu hiệu “Việt Nam độc lập” Cho nên “Chính vì đã biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta
với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức, mà Đảng ta đã vượt qua được mọi khó khăn, đưa giai cấp công nhân và nhân
dân ta đến những thắng lợi vẻ vang ngày nay”[40, tr.19]
Từ sau khi Đảng ra đời thực hiện chiến lược đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng phong trào cách mạng nước ta đã giành được nhiều thành tựu
to lớn, đánh thắng được những kẻ thù hùng mạnh trên thế giới, đồng thời mặt trận đoàn kết dân tộc ngày càng được củng cố và tăng cường Việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh “về đại đoàn kết toàn dân tộc” không chỉ dừng lại ở thời chiến mà trong giai đoạn hiện nay khi nước ta lựa chọn con đường phát triển chủ nghĩa xã hội thì nó ngày càng phát huy vai trò không thể thiếu trong lĩnh vực lý luận Hiện nay, việc phát huy khối đoàn kết toàn dân tộc có một ý nghĩa to lớn đặc biệt là trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước việc phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối liên minh công - nông - trí thức có vai trò rất to lớn, đây là một sức mạnh nội lực lớn lao góp phần vào thắng lợi của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 87 năm qua đả chứng tỏ sức sống kỳ diệu và sức mạnh vĩ đại của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh Từ chổ là tư tưởng của lãnh tụ, cách mạng Việt nam được thổi một luồng sinh khí mới, tiếp nhận tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh như món chiến lược cơ bản trong cách
Trang 32mạng dân tộc dân chủ cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa Tư tưởng
đó được thể hiện qua đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, để rồi biến thành hành động của hàng triệu quần chúng, tạo nên sức mạnh chiến thắng trong khởi nghĩa Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ giành lại độc lập, thống nhất toàn vẹn cho tổ quốc Bước vào công cuộc đổi mới, Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày càng nhận thức đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh thể hiện ở “Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam
là Đại hội của Trí tuệ, Dân chủ, Đoàn kết, Đổi mới”[15, tr.146]
Thực tế những năm đổi mới đã chỉ ra rằng, nơi nào và khi nào đại đoàn kết được quán triệt, thực hiện đúng, thì nơi đó, khi đó cách mạng phát triển ổn định, còn nơi nào xa rời tư tưởng đại đoàn kết thì nơi đó cách mạng gặp khó khăn và tổn thất Bài học kinh nghiệm đó được Đảng ta đúc kết để kịp thời bổ sung vào đường lối đổi mới, những luận điểm chiến lược theo tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh
Trong giai đoạn hiện nay để đưa nước ta đi lên theo kịp với sự phát triển của thế giới thì tất yếu phải lấy thanh niên làm đối tượng trung tâm vì thanh niên là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai vận mệnh dân tộc, là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh gian khổ, sức khỏe và sức sáng tạo, đồng thời nước nhà mạnh hay yếu, thịnh hay suy tùy thuộc vào thế hệ kế nghiệp, để đào tạo được một lớp người có ích cho dân tộc, đáp ứng yêu cầu hiện tại thì trồng người và chăm sóc con người là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và các thế hệ đi trước, những thế hệ đi trước phải giáo dục bồi dưỡng thanh niên những phẩm chất và năng lực cần thiết để đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội hiện tại Song, vấn đề là giáo dục, bồi dưỡng thanh niên những
gì để họ có đủ điều kiện, đủ sức hoàn thành trọng trách trước dân tộc là vấn đề khó Việc giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên chính là sự chắt lọc những tinh hoa của con người Việt Nam về đoàn kết thương yêu đùm bọc lẫn nhau
đã được hình thành từ lâu đời và trở thành đạo lí cao cả của dân tộc
1.2 Phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên là yếu
tố khách quan
1.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của tuổi thanh niên
1.2.1.1 Sự phát triển về thể chất
Trang 33Giai đoạn này sự phát triển sinh lý đạt đến mức độ hoàn thiện: Hệ xương cốt hoá hoàn toàn, cứng cáp; Hệ cơ hoàn thiện, có sự phối hợp nhịp nhàng; Hệ thần kinh cân bằng, ổn định; Hệ sinh dục phát triển hoàn hảo Sự phát triển ổn định, cân đối, đồng đều tạo ra nét đẹp thẩm mỹ ở tuổi thanh niên Nhờ sự phát triển ổn định của các tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởng của các hoóc môn mà cả nam và nữ đều có các tố chất về thể lực; sức mạnh, sức bền bỉ, dẻo dai, linh hoạt đều phát triển mạnh
xã hội, thanh niên nhận thức được giá trị cuộc sống, hình thành quan điểm về văn hoá đạo đức, lối sống , thanh niên đóng góp sức lực cho sự phát triển đất nước, thanh niên có cơ hội cống hiến và trưởng thành
1.2.1.3 Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ
Khả năng nhận thức của thanh niên có những nét mới về chất là do sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh trung ơng và các giác quan; Sự tích luỹ phong phú kinh nghiệm sống và tri thức; Yêu cầu ngày càng cao của hoạt động học tập, lao động, hoạt động chính trị xã hội
Cảm giác, tri giác: Đạt tới mức độ tinh nhạy của người lớn Ngưỡng tuyệt
đối và ngưỡng sai biệt của những cảm giác nghe, nhìn, vận động phát triển cao
Trang 34Tính có ý thức, có mục đích, có hệ thống biểu hiện rõ rệt trong cảm giác và tri giác Quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn
Trí nhớ: Trí nhớ có chủ định, có ý nghĩa chiếm u thế Thanh niên đã có
phương pháp, kỹ thuật để ghi nhớ Thanh niên có khả năng ghi nhớ tốt từ ngữ lôgíc, trừu tượng
Chú ý: Năng lực chú ý có chủ định phát triển mạnh mẽ Năng lực di chuyển
và phân phối chú ý ngày càng phát triển và hoàn thiện Tính lựa chọn và tính ổn định chú ý ở thanh niên phát triển hơn hẳn các lứa tuổi trước
Tư duy: Đây là giai đoạn hoàn thiện năng lực trí tuệ, đã đạt được các thao tác
trí tuệ bậc cao, thanh niên có khả năng suy nghĩ độc lập, hình thành khả năng tự học, tự nghiên cứu Tư duy của thanh niên được thực hiện chủ yếu trên đối tượng
từ ngữ, khái niệm Tư duy lý luận phát triển mạnh và có tính nhất quán, chặt chẽ,
có căn cứ hơn Các thao tác trí tuệ: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá và khái quát hoá phát triển mạnh giúp thanh niên lĩnh hội được những khái niệm phức tạp và trừu tượng - cơ sở để hình thành thế giới quan ở thanh niên Tính phê phán của tư duy cũng phát triển mạnh do đó thanh niên rất nhanh nhạy với cái mới và có nhiều sáng kiến, sáng tạo Cuối tuổi thanh niên năng lực trí tuệ càng phát triển: khả năng tư duy độc lập, tư duy khái quát hoá, tư duy sáng tạo phát triển cao
Tưởng tượng: Tưởng tượng của thanh niên phong phú và có tính hiện thực
hơn Tưởng tượng tái tạo tốt do kinh nghiệm sống phong phú, trình độ học vấn tương đối cao Tưởng tượng sáng tạo là nhân tố quan trọng trong hoạt động sáng tạo của thanh niên Thanh niên rất giàu ước mơ của lý tưởng
Hoạt động nhận thức của thanh niên thực sự là loại hoạt động trí tuệ đích thực, căng thẳng, cường độ cao và có tính lựa chọn rõ rệt Các thao tác trí tuệ của thanh niên đã phát triển ở trình độ cao và đặc biệt có sự phối hợp nhịp nhàng, tinh
tế, uyển chuyển, linh động Đa số thanh niên có khả năng lĩnh hội nhanh nhạy, sắc bén các vấn đề trong học tập,khoa học và trong cuộc sống
1.2.1.4 Sự phát triển động cơ học tập ở thanh niên
Ở giai đoạn này phần lớn thanh niên đang tham gia học tập ở các trường cao đẳng, đại học hoặc trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề Hoạt động học
Trang 35tập của thanh niên giai đoạn này khác với các giai đoạn trước về cường độ, phương pháp, động cơ học tập…Hoạt động nhận thức của giai đoạn này là căng thẳng nhiều
về trí tuệ, có sự phối hợp của nhiều thao tác tư duy Hoạt động nhận thức gắn chặt chẽ với học tập, nghiên cứu và hoạt động nghề nghiệp Hoạt động nhận thức diễn ra một cách có tổ chức để phát huy tối đa năng lực nhận thức của thanh niên Phương tiện hoạt động nhận thức được mở rộng và phong phú, do vậy phạm vi hoạt động nhận thức của thanh niên đa dạng Ở thanh niên hoạt động nhận thức đã có phương pháp
Động cơ học tập của thanh niên bị chi phối bởi nhiều nguyên nhân: Yếu tố tâm lý chủ quan (hứng thú, tâm thế, niềm tin, thế giới quan, lý tưởng…); Yếu tố khách quan (yêu cầu của gia đình, xã hội); Do chính bản thân hoạt động học tập (nội dung, phương pháp dạy học, phẩm chất và năng lực của thầy cô, điều kiện, thiết bị dạy học…)
Hoạt động học tập của thanh niên bị chi phối bởi một số động cơ: Những động cơ có tính chất nhận thức đối với chính quá trình nghiên cứu học tập; Những động cơ liên quan đến sự tự khẳng định, tự ý thức; Những động cơ có tính chất xã hội; Những động cơ liên quan đến chính tương lai, đường đời của cá nhân
1.2.1.5 Đời sống xúc cảm – tình cảm
Tuổi thanh niên là thời kỳ phát triển tích cực nhất của những loại tình cảm cấp cao như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ Những tình cảm này biểu hiện rất phong phú trong hoạt động và trong đời sống của thanh niên Đặc điểm của nó là tính có hệ thống và bền vững so với thời kỳ trước đó
Phần lớn thanh niên biểu lộ sự chăm chỉ, say mê đối với chuyên ngành và nghề nghiệp đã chọn Do tình cảm trí tuệ mà lượng tri thức thanh niên tích lũy được thường rất lớn, vượt xa những thanh niên không có loại tình cảm này về mọi mặt Hầu hết thanh niên đều yêu vẻ đẹp hành vi, phong thái đạo đức, cũng như vẻ đẹp thẩm mỹ của thiên nhiên hoặc con người tạo ra Tình bạn cùng giới, khác giới cũng được phát triển theo chiều sâu Tình bạn đã làm phong phú thêm tâm hồn, nhân cách của thanh niên rất nhiều
Bên cạnh tình bạn, tình yêu nam nữ ở tuổi thanh niên cũng là một lĩnh vực rất đặc trưng Tình cảm này có mầm mống từ những giai đoạn trước nhưng đến thời
Trang 36kỳ này phát triển với một sắc thái mới Do vị thế xã hội, trình độ học lực và tuổi đời
mà thanh niên bước vào lĩnh vực tình yêu nam nữ với một “tư thế” hoàn toàn khác
so với lứa tuổi trước Tình yêu đạt tới hình thái chuẩn mực cùng với biểu hiện phong phú, đặc sắc Nhìn chung, tình yêu nam nữ ở giai đoạn này rất đẹp, lãng mạn, đầy thi vị… Song, trong lĩnh vực này sinh viên gặp phải những mâu thuẫn nội tại, và khi giải quyết những mâu thuẫn này, sinh viên gặp không ít khó khăn và cũng không ít tình yêu dẫn tới bế tắc, bi kịch
1.2.1.6 Sự phát triển nhân cách
Đặc điểm về tự đánh giá, tự ý thức, tự giáo dục ở thanh niên
Tự đánh giá ở thanh niên phát triển mạnh với những biểu hiện phong phú và sâu sắc Tự đánh giá là một hoạt động nhận thức, trong đó đối tượng nhận thức chính là bản thân chủ thể Tự đánh giá mang tính chất toàn diện sâu sắc: không chỉ đánh giá bề ngoài mà đi sâu vào phẩm chất, các gia trị nhân cách Tự đánh giá mang yếu tố phê phán, phân tích rõ rệt, vì vậy có ý nghĩa tự ý thức, tự giáo dục
Tự ý thức giúp thanh niên hiểu biết về mình để chủ động hướng hoạt động theo yêu cầu của xã hội Tự đánh giá có liên quan tới trình độ học tập, kế hoạch cuộc sống tương lai của thanh niên Tự đánh giá có liên quan đến sự phát triển lòng tự tin, tính tự trọng ở thanh niên
Tự đánh giá, tự trọng, lòng tự tin, sự tự ý thức là những phẩm chất nhân cách bậc cao phát triển mạnh mẽ và có ý nghĩa rất lớn đối với việc tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân ở thanh niên
Định hướng giá trị cuộc sống:
Định hướng giá trị là một lĩnh vực rất cơ bản, quan trọng đối với đời sống tâm lý thanh niên sinh viên Định hướng giá trị là những giá trị được chủ thể nhận thức, ý thức và đánh giá cao, có ý nghĩa định hướng điều chỉnh thái độ, hành vi, lối sống của chủ thể nhằm vươn tới những giá trị đó Định hướng giá trị phát triển mạnh vào cuối tuổi thiếu niên, đầu tuổi thanh niên khi họ phải đứng trước việc lựa chọn nghề nghiệp và có liên quan mật thiết với xu hướng nhân cách và kế hoạch cuộc đời
Trang 37Thanh niên đánh giá cao các giá trị: hoà bình, tự do, tình yêu, công lý, việc làm, niềm tin, gia đình, nghề nghiệp, tình nghĩa, sống có mục đích, tự trọng Ở thanh niên những ước mơ, hoài bão, lý tưởng dần dần được thực hiện và được điều chỉnh trong quá trình học tập Những viển vông, trừu tượng xa vời nhường chỗ cho những điều cụ thể, xác định trong kế hoạch đường đời Thanh niên không chỉ đặt ra
kế hoạch đường đời cho mình mà còn tìm cách để thực thi kế hoạch đó
Thanh niên là lứa tuổi đạt đến sự sung mãn nhất của đời người Họ là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão Tuy nhiên, do quy luật phát triển không đồng đều về tâm lý, do điều kiện và hoàn cảnh sống và giáo dục khác nhau, không phải bất cứ thanh niên nào cũng phát triển ở mức độ tối ưu Điều này phụ thuộc rất nhiều vào định hướng đúng đắn cũng như tính tích cực hoạt động của bản thân thanh niên Ở giai đoạn này sự chi phối của thế giới quan và nhân sinh quan đối với hoạt động của thanh niên thể hiện rất rõ Những thanh niên có sự nhìn nhận đúng đắn, khoa học về sự phát triển của thế giới tự nhiên, xã hội và con người sẽ có những kế hoạch đường đời phù hợp, có mục tiêu phấn đấu rõ ràng và trở thành những chuyên gia, những con người hữu ích cho bản thân, gia đình và xã hội Thanh niên là giai đoạn mà trong đó con người có sự trưởng thành về cả mặt sinh
học cũng như mặt xã hội, về mặt sinh học, giai đoạn này bộ não con người phát
triển khá hoàn thiện, các nhà chuyên môn cho rằng trọng lượng của bộ não người lúc này đã đạt tới mức tối đa trọng lượng não của người bình thường (khoảng 1400g và chứa 14 - 16 tỉ nơron thần kinh So với lứa tuổi thiếu niên, lúc này nơron thần kinh của thanh niên có khả năng dẫn truyền luồng thông tin tốt hơn nhanh hơn, chính xác hơn và sức chịu đựng cao hơn)
Về mặt xã hội, ở giai đoạn này thanh niên đã biết suy nghĩ đến tương lai của mình, của dân tộc và họ đã có ý thức về trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân Họ
đã có những trăn trở trước những khó khăn của đất nước, họ đã có những hoài bão
và ước mơ làm một việc gì đó có thể góp phần làm thay đổi vận mệnh của Tổ quốc, với ý chí “dời non lấp biển” và tinh thần xả thân vì nghĩa
Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội hiện tại và là người chủ tương lai của đất nước Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII
về công tác thanh niên trong thời kì mới đã khẳng định: “Thanh niên là lực lượng
Trang 38xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỉ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”[17,tr.24]
Nói đến thanh niên là nói đến lực lượng trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước, là đội ngủ có trình độ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, là những người có lòng nhiệt tình và cũng rất nhạy cảm trong cuộc sống Đây là nét nổi bật
có ở tầng lớp thanh niên Với lòng nhiệt tình, hăng say của tuổi trẻ không chịu khuất phục trước những khó khăn thử thách của cuộc đời, đại bộ phận thanh niên
có chí tiến thủ, vươn lên trong cuộc sống Bên cạnh những ưu điểm đó, trong đội ngủ thanh niên hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: tính bồng bột, muốn khẳng định mình trong khi bản thân chưa có đủ điều kiện và khi thất bại thì dễ nản chí và trượt dài Vì vậy hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi thanh niên là một trong những vấn đề hết sức quan trọng để có phương pháp giáo dục, vận động thanh niên một cách khoa học, thiết thực, phù hợp và
1.2.2 Vai trò, vị trí và sự cần thiết thiết phải phát huy giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên
Thanh niên là rường cột của nước nhà, là chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh
tế quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh đã khái quát: “Trong thế
giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”
“Gốc có vững cây mới bền,
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” [38, tr.410]
Trong giai đoạn hiện nay, thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người, chăm lo bồi dưỡng, giáo dục và phát triển thanh niên vừa là mục tiêu vừa là cái gốc, là động lực bảo đảm cho sự ổn định và sự phát triển bền vững của đất nước
Trang 39Theo số liệu của Tổng điều tra dân số đến năm 2012, thanh niên Việt Nam từ
16 - 30 tuổi là 25.328.073 người chiếm 28,9% dân số cả nước, trong đó nam chiếm 50,6% và nữ chiếm 49,4%
Chăm lo giáo dục cho thanh niên những truyền thống quý báu của dân tộc đặc biệt là truyền thống đoàn kết dân tộc là một việc làm có ý nghĩa to lớn, góp phần xây dựng nên những con người có đủ đức đủ tài, có sức mạnh to lớn để gánh vác công việc của đất nước trong tương lai
Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã thấy rõ khả năng đóng góp to lớn của tuổi trẻ Việt Nam trên bước đường giải phóng dân tộc và đưa đất nước đến phồn vinh, điều này được rút ra qua những năm tháng của quãng đời tuổi trẻ, cùng sống hòa mình, lao động đấu tranh với nhân dân nhiều nước trên thế giới Ở thời điểm của Người ra đi tìm đường cứu nước cũng chính là thời điểm thanh niên nước
ta đang lâm vào tình cảnh bế tắc về tư tưởng sau những thất bại liên tiếp, và kéo dài của nhiều phong trào yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, từ lúc trở thành người chiến sĩ cộng sản đấu tranh trong phong trào giải phóng các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh đã nhận ra âm mưu chia cắt đất nước, gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc của thực dân Pháp đối với đất nước ta nên
Người đã đưa ra luận điểm: “Thức tỉnh thanh niên trước khi đi đến thức tỉnh dân tộc” Người đã cảm nhận được vai trò to lớn của việc giáo dục truyền thống đoàn
kết dân tộc cho thanh niên Hiểu biết sâu sắc về truyền thống đoàn kết dân tộc không chỉ tiếp thêm niềm tin sức mạnh cho thanh niên mà còn phát triển nó lên tầm cao mới, phù hợp với thời đại, đồng thời sáng tạo ra những giá trị truyền thống mới phục vụ cho cuộc đấu tranh hiện tại
Bên cạnh đó, chúng ta thấy rằng nước ta là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên lãnh thổ vì thế việc giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc sẽ giúp hình thành và xây dựng ở thanh niên tình cảm yêu thương gắn bó keo sơn giữa các dân tộc mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vun đắp Đồng thời việc giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc còn giúp thanh niên hiểu biết sâu sắc về quá khứ gian khổ đau thương nhưng anh dũng và vinh quang của dân tộc của Đảng để thanh niên tự hào, tin tưởng nhận rõ giá trị của cuộc sống hiện tại, nâng cao tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong thời đại mới, có ý thức tự lực tự cường, có trách nhiệm với xã hội với tương lai của
Trang 40dân tộc, tiếp tục sự nghiệp của các thế hệ cha anh đi trước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong giai đoạn hiện nay cùng với sự tác động của nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa bên cạnh những mặt tích cực của nó thì nó cũng tạo ra nhiều thách thức đối với thanh niên như: Sự chống phá của các thế lực bên ngoài, các âm mưu xóa bỏ những thành quả của chế độ xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc đã đặt ra thách thức lớn cho thanh niên, mục tiêu của các thế lực là luôn nhằm vào thanh niên, coi đây là đối tượng dễ lung lay để dùng các thủ đoạn kinh tế, chính trị và văn hóa tác động làm biến chất tạo mầm mống chống đối chế độ, ra sức lôi kéo, tha hóa thanh niên, kích động thanh niên tham gia các hoạt động gây mất ổn định tình hình an ninh chính trị đất nước Dưới sự tác động của toàn cầu hóa, những sản phẩm độc hại phi văn hóa bằng nhiều con đường nhất là qua Internet, các phương tiện truyền thông sẽ tác động trực tiếp liên tục với cường độ cao đến lối sống, nếp sống của thanh niên, tạo sức ép gây nhiều khó khăn phức tạp cho việc bảo vệ và phát huy văn hóa dân tộc trong giới trẻ Sự gia tăng của các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, tội phạm nguy hiểm, côn đồ, chưa được ngăn chặn hiệu quả, môi trường xã hội chưa lành mạnh, sức khỏe sinh sản, tỉ lệ nhiễm HIV/AIDS trong thanh niên sẽ còn diễn biến phức tạp ở mức báo động, đã, đang và sẽ tác động xấu đến thanh niên
Trước những tác động tiêu cực đó chúng ta cần phải tăng cường công tác giáo dục cho thanh niên về truyền thống đoàn kết dân tộc để mỗi thanh niên có đủ bản lĩnh, ý chí, có đủ sức đề kháng để chống lại mọi âm mưu xuyên tạc gây mất đoàn kết dân tộc, đồng thời khắc phục những quan điểm tự ti, mặc cảm dân tộc để cùng hợp sức xây dựng và phát triển đất nước
Đi cùng với đó là tình hình rất căng thẳng ở Biển Đông hiện nay Biển Đông đóng vai trò rất quan trọng đối với Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai, bờ biển nước ta vừa là cửa ngõ bang giao kinh tế vừa là tuyến phòng thủ hướng đông chủ yếu của đất nước, hầu hết các ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta đều gắn kết với biển như: Khai thác hải sản, du lịch, dầu khí, tàu thủy, giao thông vận tải, lợi nhuận thu được từ biển là rất lớn Tuy nhiên, từ nhiều năm nay nhất là những năm đầu của thập kỉ 70 của thế kỉ XX đến nay, trên Biển Đông đang tồn tại những tranh chấp biển, đảo rất quyết liệt và