Một số giải pháp giải quyết những vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An thời gian tới 85 BỘ GIÁO DỤC VÀ Đ
Trang 11.2 Các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn
13
1.3 Quan điểm, nội dung, mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
29
Chương 2 Thực trạng giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cần Giuộc,
tỉnh Long An
38
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Cần Giuộc tỉnh Long An 38 2.2 Thực trạng các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
2.3 Tình hình giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An thời gian qua
52
Chương 3 Quan điểm và giải pháp giải quyết các vấn đề xã hội trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
77
3.1 Quan điểm về giải quyết các vấn đề xã hội ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long
An trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
77
3.2 Một số giải pháp giải quyết những vấn đề xã hội trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cần Giuộc, tỉnh
Long An thời gian tới
85
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THANH PHONG
GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
Ở HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Trung Thành
Nghệ An, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Ban Giám hiệu trường Đại học Vinh, Ban Giám hiệu trường Đại học Sài Gòn, Phòng Đào tạo Sau đại học trường Đại học Vinh, trường Đại học Sài Gòn, Khoa Giáo dục Chính trị - trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi được học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu nâng cao trình độ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Xin chân thành cảm ơn các nhà giáo, các nhà khoa học đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt, xin
trân trọng cảm ơn TS Đinh Trung Thành - người hướng dẫn khoa học đã tận tình
chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học
Chân thành cảm ơn Lãnh đạo, chuyên viên của Huyện uỷ, Ủy ban nhân dân huyện, các phòng ban chức năng của Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long
An đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học tập cũng như nhiệt tình cung cấp số liệu và tư vấn khoa học cho tôi trong quá trình hoàn thiện đề tài
Mặc dù bản thân đã nỗ lực cố gắng, nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, giúp đỡ của các thầy, cô giáo và
bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp
Nghệ An, ngày 31 tháng 7 năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Thanh Phong
Trang 31.1 Quan niệm chung về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn và các vấn đề xã hội
13
1.2 Các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn
20
1.3 Quan điểm, nội dung, mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
33
Chương 2 Thực trạng giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cần
2.2 Thực trạng các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
2.3 Tình hình giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An thời gian qua 58
Chương 3 Quan điểm và giải pháp giải quyết các vấn đề xã hội
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Cần Giuộc,
tỉnh Long An
84
3.1 Quan điểm về giải quyết các vấn đề xã hội ở huyện Cần Giuộc, tỉnh
Long An trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay 84
Trang 43.2 Một số giải pháp giải quyết những vấn đề xã hội trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cần
Giuộc, tỉnh Long An thời gian tới
Trang 5KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DS-KHHGĐ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN Trang
Bảng 2.2 Tình hình chuyển mục đích sử dụng đất đai huyện Cần
Giuộc, tỉnh Long An
49
Bảng 2.3 Tổng hợp hộ nghèo huyện Cần Giuộc năm 2016 theo chuẩn
nghèo đa chiều 2016 -2020
51
Bảng 2.4 Tình trạng quản lý chất thải rắn trên địa bàn huyện 66
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để đi đến phát triển, hiện đại, văn minh, nông thôn Việt Nam nói chung và huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An nói riêng đã thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hoá (CNH, HĐH) Trong quá trình đó, bên cạnh bức tranh khởi sắc về kinh tế, nhiều vấn đề xã hội bức xúc nảy sinh như: sự phân công lại lao động xã hội, sự phân hoá giàu nghèo, đó như là hệ quả không thể tránh khỏi Sự hình thành nếp sống trong một nền kinh tế đang biến đổi mạnh và sâu do thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ở đó vừa là nơi phát triển của kinh tế, của văn minh, của cái mới, vừa là nơi có nhiều điều kiện để nảy sinh mặt trái như thất nghiệp, thiếu việc làm, TNXH, cái xấu, cái ác, cái phản văn hoá, ; nơi các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc bị xâm phạm Chính vì vậy, việc giải quyết các vấn đề xã hội và phát triển kinh
tế nông thôn bền vững là vấn đề có ý nghĩa quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Điều đó không chỉ đòi hỏi
sự lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết của các cấp, các ngành trong phạm vi cả nước, mà còn cần đến sự quyết tâm, phấn đấu nỗ lực của các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể xã hội và mọi người dân ở các địa phương
Huyện Cần Giuộc nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Long An với tổng diện tích tự nhiên là 210,198 km2, chiếm 4,7% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Đất sản xuất nông nghiệp chiếm 9.800ha, trong đó, đất trồng lúa 7.105ha, còn lại là đất nuôi trồng thủy sản, trồng hoa màu và cây lâu năm khác Toàn huyện có 17 đơn vị hành chính trực thuộc, chia thành 2 vùng, vùng thượng gồm 9 xã, 1 thị trấn với các thế mạnh là nông nghiệp, thương mại và dịch vụ và công nghiệp Phần lớn, địa bàn vùng thượng đã được xây dựng các tuyến đê bao ngăn mặn, thích hợp trồng lúa 2
vụ, trồng rau màu và chăn nuôi gia súc, gia cầm Vùng hạ gồm 7 xã nằm ở phía đông của huyện, là vùng nuôi trồng thủy sản và công nghiệp của huyện Trước đây,
Trang 8hiện nay và trong tương lai, nông nghiệp và nông thôn vẫn giữ vai trò quan trọng không chỉ đối với huyện Cần Giuộc mà còn là của cả nước Vì thế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, đẩy lùi TNXH, giữ gìn giá trị văn hoá truyền thống, bảo vệ môi trường luôn là vấn đề được các cấp uỷ đảng, chính quyền và các tổ chức xã hội của huyện Cần Giuộc quan tâm hàng đầu trong thực hiện đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
Việc nghiên cứu những vấn đề xã hội (VĐXH) trong tiến trình CNH, HĐH nhằm làm rõ những mặt hạn chế, tồn tại của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Cần Giuộc từ đó góp phần đề xuất những giải pháp giải quyết những VĐXH trên trở nên hết sức cấp bách không chỉ riêng cho Cần Giuộc, mà còn là vấn
đề quan tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân ở nước ta hiện nay Đây cũng chính là lý
do tác giả lựa chọn vấn đề: “Giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình
Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã từng bước cụ thể hoá nội dung CNH, HĐH, xác định nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy nông nghiệp và kinh tế nông thôn (KTNT) phát triển, tạo bước chuyển biến căn bản trong khu vực này, đem lại cho nông thôn một diện mạo mới Tuy nhiên trong quá trình đó đã làm nảy sinh nhiều VĐXH bức xúc đặt ra cho nông nghiệp và KTNT hiện nay Trong những năm qua, vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học cũng như nhiều nhà lãnh đạo thực tiễn quan tâm nghiên cứu, có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như:
1 “Việc làm ở nông thôn - Thực trạng và giải pháp ”, Nxb, Nông nghiệp, H.,
2001, tác giả Chu Tiến Quang (chủ biên) đã làm rõ thực trạng lao động, việc làm ở nông thôn nước ta và đề xuất những giải pháp tạo cơ hội cho lao động nông thôn có thể tiếp cận đến việc làm
Trang 92 Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nxb,
CTQG, H 2004, PGS.TS Chu Hữu Quý và PGS.TS Nguyễn Kế Tuấn (đồng chủ biên) Trong đó, các tác giả quan tâm nhiều đến lý luận và quan điểm CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và con đường của nó Bên cạnh đó, các tác giả đã đánh giá khái quát thực trạng nông nghiệp, nông thôn nước ta khi bước vào thời kỳ CNH, HĐH, những nhân tố tác động và nội dung của con đường CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Không chỉ dừng lại ở đây, các tác giả còn đề xuất một số định hướng, mục tiêu, giải pháp, chính sách cụ thể
3 Cuốn sách “Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh
niên”, Nxb, Lao động Xã hội, H., 2005, TS Nguyễn Hữu Dũng Trong đó, các tác
giả đã khẳng định vai trò của lực lượng lao động trẻ nông thôn và làm rõ thực trạng trình độ, việc làm của họ, từ đó tác giả đề xuất những kiến nghị nhằm phát triển lực lượng lao động trẻ ở nông thôn nước ta
4 “Đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với việc bảo đảm điều kiện
sống và làm việc của người lao động” của TS Nguyễn Hữu Dũng, Tạp chí Lý luận
chính trị, năm 2005 Tác giả đã làm rõ thực trạng thất nghiệp, thiếu việc làm của người lao động do quá trình thu hồi đất nông nghiệp dành cho đô thị hóa (ĐTH), phát triển các khu công nghiệp (KCN) và đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo điều kiện sống và làm việc của lao động nông thôn
5 Cuốn sách “Một số vấn đề kinh tế - xã hội trong tiến trình CNH, HĐH
vùng Đồng bằng Sông Hồng” Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2006, do
PGS.TS Phan Thanh Khôi và PGS.TS Lương Xuân Hiến (đồng chủ biên) Các tác giả đã đề cập tới nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội khác nhau nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH ở ĐBSH và đưa ra những phương hướng, giải pháp cơ bản giải quyết những VĐXH đó
Trang 107 "Giải quyết những vấn đề kinh tế và xã hội cấp bách ở Việt Nam hiện nay"
của Nguyễn Thọ Khang - Bùi Thị Kim Hậu, NXB CTQG, Hà Nội 2016 Nội dung cuốn sách cung cấp cho bạn đọc cơ sở lý luận chung về giải quyết những vấn đề kinh tế và xã hội cấp bách trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin; nhận thức của đảng ta về giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội cấp bách từ Đại hội VI đến nay, thực trạng giải quyết qua các thời kỳ; những giải pháp để giải quyết những vấn đề kinh tế và xã hội cấp bách ở nước
ta trong thời gian tới
8 Vũ Thị Vinh (2016), Tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo ở Việt Nam hiện
nay, NXB CTQG Cuốn sách tập trung trình bày thực trạng tăng trưởng kinh tế với
giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, sự tác động của các chính sách vĩ
mô của Nhà nước đến giải quyết mối quan hệ đó Từ đó, nêu ra một số giải pháp
nhằm tăng tính đồng thuận trong giải quyết mối quan hệ này
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả đề cập về vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn dưới nhiều góc độ khác nhau, đồng thời chỉ ra những thách thức, khó khăn, những VĐXH trong quá trình đó và nêu ra những giải pháp, những kiến nghị nhằm giải quyết những vấn đề trên; tuy vậy, các công trình trên mới chỉ đề cập đến những vấn đề kinh tế - xã hội trên phạm vi rộng
cả nước hoặc vùng Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
cụ thể sự tác động của quá trình CNH, HĐH đến mọi mặt đời sống xã hội ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, đặc biệt là các VĐXH khi thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An dưới góc độ Chính trị học Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề này là nhiệm vụ cần thiết
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Làm rõ tác động của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tới các mặt đời sống xã hội, nhất là làm rõ thực trạng những VĐXH ở huyện Cần Giuộc,
Trang 11tỉnh Long An khi thực hiện CNH, HĐH Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực và giảm thiểu những mặt hạn chế, tồn tại của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Một là, phân tích cơ sở lý luận của việc giải quyết các vấn đề xã hội trong
quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Hai là, làm rõ thực trạng những VĐXH và giải quyết các VĐXH trong quá
trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
Ba là, đề xuất một số giải pháp giải quyết các VĐXH trong quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng giải quyết các VĐXH trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
có liên quan của các tác giả trong và ngoài nước
Trang 125.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong quá trình nghiên cứu
Để làm rõ cơ sở lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết các vấn đề
xã hội trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: phân tích và tổng hợp; thống kê và so sánh; hệ thống hóa, khái quát hóa; điều tra xã hội học
6 Những đóng góp khoa học của luận văn
- Góp phần làm rõ các VĐXH ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết các VĐXH trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
- Kết quả nghiên cứu của luận văn là luận cứ giúp cấp ủy, chính quyền địa phương tham khảo và vận dụng trong việc nghiên cứu và xây dựng những giải pháp
để giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn; là tài liệu cho những ai quan tâm tới vấn đề này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết
Trang 13B NỘI DUNG Chương 1 CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN VÀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1.1 Một số vấn đề lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và các vấn đề xã hội
1.1.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Công cuộc cải cách kinh tế nước ta được bắt đầu từ nông nghiệp với khoán
10 năm 1988; công cuộc CNH, HĐH đất nước cũng được bắt đầu từ nông thôn, lấy nông nghiệp làm trọng điểm Đó là hai trong số các đặc điểm lớn nhất và rất đúng đắn của đường lối đổi mới và xây dựng đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo Bởi lẽ, tình hình đời sống cơ bản của nông dân nước ta có ảnh hưởng quyết định đến tiến trình CNH, HĐH, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước Muốn ổn định phải giải quyết vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn, muốn HĐH đất nước, phải giải quyết trước hết vấn đề HĐH nông nghiệp Vì vậy, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng, đồng thời là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của CNH, HĐH đất nước nhằm đưa nông nghiệp và nông thôn nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, phát triển lên một trình độ mới Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành TW khoá VIII đã khẳng định: mục tiêu của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là tạo dựng một nền nông nghiệp và KTNT phát triển, tăng trưởng bền vững với nhịp độ cao, trên cơ sở công nghệ, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp nhằm giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân cư nông thôn, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, xây dựng nông thôn mới
Trang 14Nghiên cứu về công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, một số tác giả của Việt Nam đã làm rõ nội hàm của công nghiệp hóa nông nghiệp và công nghiệp hóa
nông thôn Theo PGS.TS Chu Hữu Quý: “công nghiệp hóa nông nghiệp là quá
trình chuyển biến từ nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán sang nền nông nghiệp sản xuất lớn với trình độ chuyên canh và thâm canh cao, tiến hành sản xuất và quản lý sản xuất, kinh doanh với trình độ trang thiết bị công nghiệp và công nghệ tiên tiến, áp dụng rộng rãi thuỷ lợi hoá, cơ khí hoá, hoá học hoá, điện khí hoá, sinh học hoá cao hơn và bước đầu áp dụng cả tự động hoá, tin học hoá ” [Chu Hữu Quý và Nguyễn Kế Tuấn (2004) (đồng chủ biên), Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tr26]
Về công nghiệp hóa nông thôn: PGS.TS Chu Hữu Quý nhấn mạnh: đó là quá
trình biến đổi không phải trong từng ngành sản xuất hay lĩnh vực xã hội đơn lẻ, mà
là một quá trình biến đổi toàn diện trong một khu vực xã hội rộng lớn là nông thôn, bao quát mọi hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá chính trị tại đó; là quá trình chuyển dịch cơ cấu KTNT theo hướng tiến bộ, trong đó phát triển một nền nông nghiệp dồi dào làm nền tảng, một nền sản xuất công nghiệp ngày càng tiên tiến, một hệ thống dịch vụ đầy đủ và hữu hiệu Theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ 7 (khoá VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, công nghiệp hóa nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với việc đổi mới căn bản về công nghệ và kỹ thuật ở nông thôn, tạo nền tảng cho việc phát triển nhanh bền vững theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế ở nông thôn, góp phần phát triển bền vững nền kinh tế quốc doanh với tốc độ cao
Với một số quan niệm nêu trên, quá trình công nghiệp hóa nông thôn gồm
các đặc điểm sau: (1) đưa phương pháp sản xuất nông nghiệp máy móc thiết bị vào
sử dụng trong nông nghiệp và sản xuất ở nông thôn để thay thế lao động thủ công; (2) áp dụng phương pháp quản lý hiện đại tương ứng với công nghệ và thiết bị vào
Trang 15nông nghiệp và nông thôn; (3) tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng thích hợp với việc đưa máy móc, thiết bị và công nghệ mới vào nông thôn; (4) công nghiệp hóa nông thôn không có nghĩa là chỉ phát triển công nghiệp ở nông thôn, mà bao gồm cả việc phát triển toàn bộ các hoạt động, các lĩnh vực sản xuất - dịch vụ và đời sống văn hoá tinh thần ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp ở nông thôn và cả
nước nói chung Còn công nghiệp hóa nông nghiệp là một bộ phận của công nghiệp
hóa nông thôn với nội dung chủ yếu là đưa máy móc thiết bị, ứng dụng các phương pháp và các hình thức tổ chức kiểu công nghiệp vào các lĩnh vực của sản xuất nông nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp còn bao hàm cả việc tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa sản xuất công nghiệp với sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác triệt để lợi thế của nông nghiệp để tăng giá trị của chúng, mở rộng thị trường cho chúng
Về HĐH nông nghiệp, nông thôn: Theo cách lý giải của nhiều tác giả, HĐH
bao gồm tất cả những hoạt động có liên quan đến việc ứng dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp nhằm góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của chúng, đồng thời thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội, của thị trường về các sản phẩm nông nghiệp [Chu Hữu Quý và Nguyễn Kế Tuấn (2004) (đồng chủ biên), Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tr17]
HĐH nông thôn không chỉ bao gồm CNH, nâng cao trình độ kỹ thuật - công
nghệ và tổ chức trong các lĩnh vực khác của sản xuất vật chất ở nông thôn, mà còn bao gồm cả việc không ngừng nâng cao đời sống văn hóa - tinh thần, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội, hệ thống giáo dục, đào tạo, y tế và các dịch vụ phục vụ đời sống khác ở nông thôn
Còn HĐH nông nghiệp cũng được một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh đó là
quá trình không ngừng nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật - công nghệ, trình độ
tổ chức và quản lý sản xuất nông nghiệp Đây cũng là quá trình cần thực hiện một
Trang 16cách liên tục vì luôn có những tiến bộ kỹ thuật mới xuất hiện và được ứng dụng trong sản xuất
Từ những sự phân tích trên, chúng tôi nhất trí với quan niệm cho rằng: CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ cấu kinh tế hợp lý để phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội nông thôn theo hướng gắn nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ nhằm phát huy có hiệu quả mọi lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới trong mở rộng giao lưu hội nhập quốc tế [Hồ Chí Minh, Tập 9, tr234-235]
Thực chất của xu hướng này là quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ thuần nông là chủ yếu sang cơ cấu kinh tế đa ngành với nông nghiệp, công nghiệp và dịch
vụ để tạo thêm việc làm, tăng năng suất lao động và thu nhập cho người lao động
Đó là quá trình giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm của nền kinh tế, gắn với chuyển đổi
cơ cấu lao động theo hướng giảm số lượng tuyệt đối và tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng số lượng và tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ, nhằm mục đích giải phóng lao động ở ngành có năng suất thấp sang ngành có năng suất cao hơn Từ đó, tạo ra nhiều của cải vật chất và sản phẩm dịch vụ cho xã hội
1.1.2 Các vấn đề xã hội
Vấn đề xã hội (VĐXH) là vấn đề nhạy cảm, rất quan trọng của mỗi địa phương và quốc gia Xã hội yên ổn, bình yên thì đất nước mới ổn định và có điều kiện để phát triển; xã hội lũng đoạn, mất ổn định thì đất nước không thể phát triển,
ở đó sẽ diễn ra những khủng hoảng về kinh tế, chính trị, văn hoá và những vấn đề khác
Theo từ điển Tiếng Việt, vấn đề là điều cần xem xét, giải quyết Còn VĐXH, theo C.Mác, nghĩa rộng của khái niệm xã hội là: “Xã hội cho dù có hình thức gì đi
Trang 17nữa - là cái gì? Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người” [C Mác và Ph Ăng-ghen, Toàn tập, tr657]
Đó là khái niệm xã hội theo nghĩa rộng, tuy nhiên trên thực tế, còn có khái niệm “xã hội ” theo nghĩa hẹp, ngang cấp với khái niệm “chính trị”, “kinh tế”, “văn hoá” Đó là khái niệm “xã hội ” phản ánh những quan hệ, những hoạt động, những mặt cụ thể hơn của xã hội đã, đang và sẽ nảy sinh một cách khách quan tương đối độc lập cùng với các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá nó chứa đựng và phản ánh những VĐXH của con người, là đối tượng nghiên cứu trực tiếp của chính sách
xã hội và thực hiện chính sách xã hội của quản lý nhà nước
Ở đây, không thể tách biệt một cách rành rọt VĐXH với các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá… Chẳng hạn: vấn đề việc làm, nghèo đói, công bằng… trong nó
đã bao hàm cả VĐXH, kinh tế, chính trị, văn hoá Hay nói cách khác, VĐXH luôn
có liên quan chặt chẽ với kinh tế, chính trị, văn hoá Đồng thời, nếu xét trên bình diện rộng thì mọi vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá… đều mang tính xã hội (vì đều
là những vấn đề nảy sinh từ các quan hệ giữa người với người)
VĐXH nảy sinh từ khi loài người bắt đầu sinh sống thành cộng đồng Lịch
sử nhân loại đã chứng minh rằng sự phát triển của phân công lao động xã hội đã thúc đẩy sản xuất phát triển từ nền kinh tế tự nhiên tự cấp, tự túc sang kinh tế hàng hoá Trong nền kinh tế hàng hoá giản đơn ấy, sự tác động của quy luật giá trị đã làm phân hoá những người sản xuất nhỏ thành kẻ giàu người nghèo Như vậy, xét
về mặt xã hội, VĐXH đã xuất hiện trong quá trình ấy Từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ tư bản về kinh tế đã diễn ra quá trình tích luỹ nguyên thuỷ, dẫn tới sự xác lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Theo các nhà nghiên cứu phương Tây “vấn đề xã hội” lần đầu tiên được đặt ra vào những năm 30 của thế kỷ
19, như là một khó khăn căn bản, nan giải của một xã hội, trong đó sự bền vững bị
đe doạ và xã hội lâm vào nguy cơ bị tan rã do những điều kiện sinh sống của những
Trang 18tác nhân, đồng thời là những nạn nhân của cuộc cách mạng công nghiệp Dưới chủ nghĩa tư bản, máy móc và đại công nghiệp đã tạo ra khả năng to lớn cho việc rút ngắn thời gian lao động và giảm nhẹ sức lao động, tăng thêm của cải cho người sản xuất, cho thắng lợi của con người đối với lực lượng tự nhiên Đồng thời với quá trình đó làm hàng loạt các vấn đề bức xúc nảy sinh, đó là: máy móc và tư liệu sản xuất nằm trong tay giai cấp tư sản được sử dụng làm phương tiện để tăng cường bóc lột giá trị thặng dư, biến người sản xuất thành vật phụ thuộc vào máy móc, làm cho con người bị các lực lượng tự nhiên nô dịch; đó là tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng, phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt Trên cơ sở nghiên cứu tình cảnh giai cấp lao động ở Anh cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, Ph Ăngghen đã làm rõ một bức tranh trung thực sự nảy sinh các VĐXH gay gắt ở nước Anh lúc bấy giờ,
đó là sự nghèo khổ, bệnh tật, sự ô nhiễm môi trường sống mà những người lao động phải chịu [C Mác và Ph Ăng-ghen, Toàn tập, tr419]
Hiện nay, người ta thường tiếp cận khái niệm “vấn đề xã hội” theo nghĩa hẹp, tương đối độc lập với các vấn đề kinh tế, chính trị Đối với các nhà nghiên cứu
xã hội học: “Có VĐXH khi những thành viên của một cộng đồng (lớn hay nhỏ) nhận thấy những dấu hiệu hoặc điều kiện có ảnh hưởng tác động hoặc đe doạ đến chất lượng cuộc sống của họ (chất lượng cuộc sống ở đây hiểu theo nghĩa rộng) và đòi hỏi phải có những biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn hoặc giải quyết tình trạng đó theo hướng có lợi cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng lớn hoặc nhỏ”[Văn kiện Đảng về an sinh xã hội, tr18-19]
Tác giả Đinh Thế Định trong luận án “Mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế
và việc giải quyết các vấn đề xã hội ở vùng nông thôn các tỉnh Bắc Trung Bộ trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay” đã phân tích có “vấn đề xã hội” khi: vấn đề
đó có liên quan đến lợi ích của một cộng đồng người (lớn hay nhỏ); nó phản ánh một khuynh hướng cản trở sự phát triển của một cộng đồng; nó tồn tại, đặt ra một
Trang 19cách khách quan trong các mối quan hệ giữa những con người; nó đòi hỏi phải được ngăn chặn, giải quyết, nếu không sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của cả cộng đồng [Đinh Thế Định (2000), Mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế và việc giải quyết các vấn đề xã hội ở vùng nông thôn các tỉnh Bắc Trung Bộ trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, tr25]
Tuỳ theo tính chất và mức độ của các VĐXH, mà có những vấn đề nảy sinh
và ảnh hưởng trực tiếp trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng
có những VĐXH có ảnh hưởng lâu dài, trong nhiều thời kỳ Trong giai đoạn hiện nay, cùng với toàn cầu hoá về kinh tế, các VĐXH có loại mang tính chất toàn cầu như: bùng nổ dân số, các bệnh truyền nhiễm, đói nghèo… có loại VĐXH “gay cấn” hay những “điểm nóng” Về thực chất, những VĐXH “gay cấn” hay những “điểm nóng” thường là những VĐXH bức xúc, có quy mô và cường độ đạt tới hoặc vượt qua điểm “giới hạn”, gây ra những phản ứng hoặc hiệu ứng tiêu cực trong xã hội,
mà nếu không giải quyết kịp thời thì sẽ gây nguy hiểm hoặc nguy hại cho xã hội, gây mất an toàn và ổn định xã hội
Tác giả Đinh Thế Định cũng cho biết, ở mỗi nước, trong những giai đoạn phát triển đều có những VĐXH cần thiết phải giải quyết Ở nước ta, khi bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, có hàng loạt VĐXH đặt ra, mà vấn đề nào cũng cấp bách Đại hội VII của Đảng đã vạch ra ba loại VĐXH ở Việt Nam trong thời kì quá
độ lên chủ nghĩa xã hội:
Trước hết, đó là loại vấn đề do lịch sử và do hậu quả chiến tranh để lại như
việc chăm sóc, đền ơn, đáp nghĩa đối với những người có công với nước, với cách mạng; việc cứu trợ những nạn nhân chiến tranh, những trẻ mồ côi, những bệnh tật
và TNXH, hai là, đó là loại vấn đề nảy sinh từ nền kinh tế - xã hội lạc hậu, kém
phát triển như thất nghiệp, mức sống thấp, tỷ lệ phát triển dân số cao, mê tín dị
đoan,… ba là, đó là loại vấn đề mới phát sinh như những VĐXH liên quan đến việc
Trang 20phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chuyển sang cơ chế thị trường, giải quyết vấn đề ruộng đất ở nông thôn, chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội, việc phân bố dân cư, xây dựng các vùng kinh tế mới, việc giảm biên chế các cơ quan và việc giảm quân số…[Văn kiện Đảng về an sinh xã hội, tr143]
Đại hội VIII của Đảng đã xác định, trong những năm trước mắt, phải giải quyết tốt một số VĐXH: tạo việc làm, thực hiện xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo hiểm xã hội và các hoạt động từ thiện, đẩy mạnh công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, đẩy lùi các TNXH [Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, tr114-118]
1.2 Các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
1.2.1 Vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Việt Nam
Thứ nhất, tình trạng mất đất, thiếu việc làm ở nông thôn ngày càng nghiêm trọng, hiện tượng ly nông ra các đô thị kiếm sống rất lớn
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp, nông thôn, nhiều khu công nghiệp, khu đô thị, các công trình công cộng được hình thành và đi vào hoạt động Tuy nhiên, quá trình đó dẫn đến tình trạng thiếu việc làm trầm trọng, nhất là các vùng nông thôn đã và đang có những dự án chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phát triển các khu đô thị mới, khu công nghiệp tập trung
Tình hình thu hồi đất nông nghiệp ảnh hưởng đến việc làm của người dân nông thôn rất lớn Đất đai các hộ nông dân Việt Nam rất manh mún, diện tích rất nhỏ Kết quả điều tra của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn tại 16 tỉnh, thành phố trọng điểm cho thấy, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm 89% và diện
Trang 21tích đất thổ cư chiếm 11% trong tổng số đất bị thu hồi, đất nông nghiệp bị thu hồi hầu hết làđất lúa cho 2 vụ Các vùng kinh tế trọng điểm Đông Bắc bộ, miền Trung, Đông Nam Bộ có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi lớn, chiếm 50% diện tích đất
bị thu hồi trên toàn quốc Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi phần lớn là đất tốt, kết cấu hạ tầng thuận lợi cho việc canh tác, lại tập trung vào những xã có dân số đông Kết quả tổng hợp từ các địa phương cho thấy, có khoảng 10 – 20% số hộ bị thu hồi 100% đất sản xuất, còn lại 20% số hộ bị thu hồi 2/3 đất sản xuất, còn lại 60% số hộ bị thu hồi 1/2 diện tích (tính trong tổng số hộ bị thu hồi đất) Chỉ các tỉnh nằm ngoài những vùng trọng điểm phát triển kinh tế thì diện tích đất sản xuất
và đất ở bị thu hồi còn tương đối nhỏ Điều đáng lo ngại là diện tích đất lúa bị giảm chủ yếu ở châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long, ở Bắc Trung Bộ chỉ bị giảm 800
ha Chỉ tính riêng khu công nghiệp Bình Minh ở Vĩnh Long đã làm xóa sổ 130 ha đất trồng bưởi năm roi vốn có giá trị kinh tế rất cao
Điều đáng bàn là diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi không phải ở đâu cũng được sử dụng hiệu quả Có quá nhiều diện tích đất ở trong tình trạng thu hồi rồi lại
để hoang Trong khi người nông dân không có đất để sản xuất nông nghiệp, thì đất thu hồi do doanh nghiệp, chủ đầu tư chưa đủ năng lực để san lấp mặt bằng, xây dựng hạ tầng lại để hoang Những dự án dang dở, bỏ hoang lại thường dựng rào bao xung quanh, rồi đổ mấy xe đất như xí phần, giữ chỗ Người nông dân chỉ còn biết đứng nhìn ruộng đất bỏ hoang, thậm chí có nơi bỏ hoang đến gần chục năm
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhiều khu công nghiệp được xây dựng nhưng tỷ lệ lấp đầy rất thấp Chẳng hạn khu công nghiệp Tân Hương (Tiền Giang) rộng 197 ha, từ năm 2004 đến 2010 mới cho thuê được 1 ha, khu công nghiệp Nam Đông Hà (Quảng trị) rộng 99 ha từ năm 2004-2010 mới cho thuê được
3 ha
Trang 22Việc sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng sân golf cho mục đích giải trí của một thiểu số người cũng gây nên tình trang mất đất sản xuất nông nghiệp Điều chúng ta cần quan tâm là trong khi nhiều khu công nghiệp bị bỏ hoang hoặc làm sân golf thì người nông dân lại thiếu việc làm trầm trọng Tình trạng này sẽ gây tâm
lý ức chế, bất bình trong nông dân, cơ sở nảy sinh vấn đề chính trị khi có sự tác
động khách quan hoặc chủ quan
Hiện đại hóa nông thôn để đưa nước ta vượt qua đói nghèo, lạc hậu, nâng cao đời sống của người nông dân là điều cần thiết mà toàn Đảng, toàn dân phải làm Tuy nhiên, nếu không có lộ trình, bước đi phù hợp sẽ tạo ra những mặt trái với mức độ nghiêm trọng Để chiều lòng các nhà đầu tư, thay vì dành những nơi đất bạc màu, không thuận lợi cho canh tác để quy hoạch các khu công nghiệp, nhằm tránh phải đi xa hơn một chút, người ta chào mời ngay những thửa ruộng trồng lúa bên vệ đường Đối với nhà đầu tư là tốt quá vì họ đỡ nhiều chi phí cho đầu tư cơ sở
hạ tầng Thế nhưng, ưu đãi nhà đầu tư như vậy cũng chính là bạc đãi người nông dân Được một khoản đền bù, nhưng không phải người nông dân nào cũng biết cách làm cho số tiền ấy sinh sôi nảy nở Không ít người sau một thời gian tiền đền
bù cạn dần do tiêu dùng không hợp lý, đất đã mất, không ít gia đình nông dân điêu đứng, thất cơ lỡ vận Những người thiếu việc làm ở nông thôn sẽ đến kiếm việc làm
ở đô thị nảy sinh ra sự dịch chuyển cái nghèo từ nông thôn ra đô thị
Ở những vùng nông thôn bị thu hồi đất làm khu công nghiệp, trong trường hợp có nhiều dự án đầu tư thì số lao động bị thất nghiệp do mất đất được nhận vào làm ở khu công nghiệp cũng rất ít Lý do là trình độ lao động không đáp ứng được yêu cầu về tay nghề, thời gian đào tạo ngắn, năng lực lao động không cao nên một
bộ phận lao động sau một thời gian được nhận vào khu công nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp lại xin thôi việc, rơi vào tình trạng thất nghiệp từng phần hoặc toàn
Trang 23phần Nhận thức của người lao động còn ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của nhà nước, vào tiền đền bù mà chưa tự mình tìm kiếm việc làm Sự quản lý nhà nước về chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân mất đất còn nhiều vấn đề bất cập
Thứ hai, phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội ngày càng gia tăng
Quá trình phân hóa giàu nghèo trong xã hội nước ta đã và đang diễn ra với tốc độ rất nhanh Dân số ở nông thôn chiếm gần 70% dân số cả nước, nhưng thu nhập chỉ bằng một nửa tổng thu nhập quốc dân của 20% dân số thành thị, thu nhập thấp làm cho một bộ phận nông dân không đủ tiền chi trả những dịch vụ y tế, giáo dục, không có điều kiện nâng cao trình độ nhận thức về chính trị, xã hội, về đời sống văn hóa, tinh thần Nếu như năm 1994, mức độ bất bình đẳng thu nhập trong khu vực nông thôn giữa nhóm dân cư có thu nhập cao nhất và nhóm dân cư có thu nhập thấp nhất là 5,4 lần, tăng lên 7,7 lần năm 2008, thì đến năm 2015 là 7,9 lần
Bất bình đẳng giữa các vùng trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng ngày càng gia tăng Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long gấp 5,86 lần so với mức trung bình cả nước
Sau khi gia nhập WTO, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hơn Sự gia tăng bất bình đẳng xã hội lại càng tăng lên vì sự chênh lệch trong đầu tư FDI giữa các vùng, bởi cơ hội việc làm và thu nhập là khác nhau giữa các vùng và các nhóm xã hội Các nhóm nông dân thiếu đất hay bị mất đất canh tác, bị tổn thương bởi thiên tai, dịch bệnh hay rủi ro cá nhân, đồng bào tộc người thiểu số các vùng sâu, vùng xa, người di dân tự do vào các đô thị, người nghèo và cận nghèo là nhóm người dễ rơi xuống đáy xã hội Đây là hệ quả không tích cực nảy sinh do thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 24Sự phân hóa giàu nghèo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường là điều không thể tránh khỏi Sự phân hóa này có ý nghĩa tích cực nhất định đối với phát triển kinh tế Bởi vì, nó kích thích các cá nhân phải phát huy tính chủ động, sáng tạo, làm việc chăm chỉ, cần mẫn và tìm cách vươn lên nhằm tăng thu nhập, nâng cao mức sống của mình để tránh rơi vào tình trạng nghèo khó Do đó, trên một ý nghĩa nhất định, sự phân hóa giàu nghèo hợp lý là một biểu hiện của sự công bằng
xã hội được thiết lập, là một động lực thúc đẩy xã hội phát triển Nó kích thích người lao động tự nâng cao địa vị xã hội, mức sống… bằng chính năng lực của bản thân họ Điều này khác hẳn với sự cào bằng thu nhập trong thời kỳ bao cấp, dẫn đến triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, vì kẻ lười nhác và người chăm chỉ, kẻ bất tài và người có năng lực đều được hưởng kết quả gần như ngang nhau
Tuy nhiên, sự phân hóa giàu nghèo quá lớn ở các vùng dân cư quá lớn đang tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến những phân hóa xã hội sâu sắc hơn về lối sống và vị thế
xã hội, về đẳng cấp và giai tầng, gia tăng các mâu thuẫn xã hội, làm xói mòn và suy giảm quan hệ gắn kết cộng đồng làng xã vốn rất bền vững; tiềm ẩn nguy cơ làm nảy sinh vấn đề chính trị - xã hội
Thứ ba, môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn không bền vững gây ô nhiễm và suy thoái môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư nông thôn Những năm qua, hoạt động của nhiều doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, các làng nghề, khu đô thị đã gây ra ô nhiễm môi trường rất lớn Hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường đang diễn biến hết sức phức tạp, thậm chí có người bị ung thư do tình trạng này gây ra Mức độ ô nhiễm nước thải, khí thải, chất thải rắn và tiếng ồn ngày càng gia tăng
Trang 25Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt Ở thành phố Thái Nguyên, các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than thải nước bẩn rất lớn Ước tính về mùa cạn, tổng lượng nước bẩn thải ở khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt, nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm môi trường trong khu vực nghiêm trọng
Ở khu vực nông thôn, tình trạng ô nhiễm nước cũng đang tăng lên Gần 70% dân số đang sinh sống ở nông thôn nhưng phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rữa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Trong sản xuất nông nghiệp, do lam dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương
bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường và sức khỏe nhân dân Nhiều xí nghiệp chăn nuôi, lò mổ, xí nghiệp chế biến thực phẩm nằm lẫn trong khu dân cư, sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún thiếu các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường Tình trạng phát triển nuôi trồng thủy sản tự phát, thức ăn thừa không được xử lý, việc sử dụng kháng sinh tùy tiện cũng dẫn tới ô nhiễm môi trường xảy ra nghiêm trọng ở một số nơi
Các làng nghề cũng đang báo động về ô nhiễm môi trường Theo số liệu gần đây, cả nước có khoảng 1450 làng nghề phân bố ở 58 tỉnh, thành phố cả nước, riêng vùng đồng bằng sông Hồng có khoảng 800 làng Trong đó, làng nghề chế biến nông sản có nhu cầu nước rất lớn và do đó, lượng nước thải hữu cơ gây ô
Trang 26nhiễm môi trường cũng rất lớn Kết quả khảo sát một số làng nghề cho thấy mức độ BOD vượt chỉ tiêu cho phép từ 12,8 đến 140 lần Trong quá trình sản xuất, chế biến các doanh nghiệp có sử dụng nhiều nguyên liệu thủy sản, nước, hóa chất tẩy rửa, khử trùng… dẫn đến lượng chất thải rắn, nước thải, khí thải sinh ra nhiều Điều này làm cho cộng đồng dân cư nơi có khu công nghiệp, làng nghề và vùng lân cận đối mặt với ô nhiễm môi trường Từ đó, dẫn đến những phản ứng và đấu tranh quyết liệt của nông dân Có nơi, mâu thuẫn này bùng phát gay gắt, trở thành điểm nóng
về an ninh trật tự Nếu hoạt động gây ô nhiễm môi trường không được ngăn chặn, khắc phục kịp thời thì sẽ tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ thành các xung đột chính trị gay gắt giữa cộng đồng dân cư ở nông thôn với doanh nghiệp, cản trở sự phát triển kinh
tế, xã hội
Thứ tư, đời sống văn hóa xã hội nông thôn có biểu hiện xuống cấp Quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn không bền vững đang tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng dân cư ở nông thôn Trước đây, nếp sống trong sạch được nông dân coi trọng, thì bây giờ lại xem nhẹ Trước, những kẻ giàu bất chính còn giấu giếm và bị cả làng khinh ghét Giờ người ta không cần giấu mà còn phô trương Nhiều giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp ở nông thôn đã và đang bị xâm hại, làm biến dạng, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng dân cư ở nông thôn Một bộ phận nông dân bị tha hóa về đạo đức, bắt đầu có dấu hiệu của lối sống thực dụng, coi trọng vật chất hơn tình nghĩa, chạy theo lợi nhuận đơn thuần mà không tính đến lợi ích của người khác hoặc của cộng đồng Quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng làng xã vốn hồn nhiên, chân chất dần bị chi phối bởi tính toán hơn thiệt Thậm chí, đã xảy ra nhiều mâu thuẫn xã hội, tranh chấp, xung đột nghiêm trọng giữa anh em, bà con ruột thịt chỉ vì những lợi ích vật chất thuần túy Ngoài ra, những rủi ro trong làm ăn kinh tế, những bất hạnh trong cuộc sống của người nông
Trang 27dân cũng là một trong những lý do khiến các hoạt động mê tín dị đoan có chiều hướng gia tăng, nhiều hủ tục lạc hậu được khôi phục, phát triển ở nông thôn Những hiện tượng này không những làm giảm tính thiêng liêng, sự trong sáng của các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng cộng đồng mà còn tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn
Tóm lại, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn ở nước ta đang
đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm Nếu không giải quyết kịp thời, kiên quyết thì không thể đạt được sự phát triển bền vững Việc giải quyết các vấn đề này cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, sự tham gia của doanh nghiệp, người dân
1.2.2 Vai trò của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trong giải quyết các vấn đề xã hội
1.2.2.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần tạo việc làm, thay đổi cơ cấu xã hội theo hướng tích cực
Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn gắn với quá trình chuyển dịch
cơ cấu KTNT theo hướng phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở khu vực nông thôn Đó cũng là quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, tạo điều kiện cho lao động nông thôn tiếp cận với máy móc, thiết bị
và quy trình sản xuất công nghiệp ngay trên địa bàn nông thôn Lực lượng lao động
đó đã và đang bổ sung cho các ngành công nghiệp và dịch vụ ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn, cung cấp cho các KCN làm giảm căng thẳng trong quan hệ cung cầu lao động chất lượng cao theo yêu cầu của CNH, HĐH Cuộc sống của nhiều người dân từ chỗ sống và làm việc ở nông thôn, nay có bước chuyển sang sống và làm việc tại các KCN, người lao động được nâng cao về trình độ, kỹ năng
Trang 28nghề nghiệp theo hướng công nghiệp và hiện đại Quá trình “công nhân hoá nông dân” đang là xu hướng diễn ra hiện nay
Hơn nữa, thực hiện CNH, HĐH đã hình thành các KCN lớn, các KCN này
đã có tác động lớn tới các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm tăng trưởng kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu, đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp
Mở rộng các KCN cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động Người lao động làm việc tại đây là một bộ phận đã qua tuyển chọn, đào tạo có trình độ cao, lành nghề có khả năng tiếp thu và sử dụng công nghệ tiên tiến, chứ không phải lao động phổ thông nên giá trị lao động tạo ra vượt trội so với lao động nông nghiệp, có thu nhập khá ổn định Mặt khác, KCN phát triển thu hút người nông dân vào làm việc, chuyển một bộ phận không nhỏ nông dân thành công nhân có trình độ chuyên môn, kỹ năng lao động công nghiệp Đây là lực lượng quan trọng bổ sung vào giai cấp công nhân Việt Nam
CNH, HĐH không những tạo mở việc làm cho người lao động mà còn tạo cơ hội cho người lao động tiếp thu và sử dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao giá trị lao động Từ đó, mức sống và điều kiện sống của nhiều người dân đã tăng lên, nhu cầu vật chất và tinh thần có sự thay đổi rõ rệt Một bộ phận đáng kể người dân ở đây bây giờ không chỉ dừng lại ở ăn no mặc ấm mà đã hướng tới nhu cầu ăn ngon mặc đẹp, họ không chỉ biết làm đẹp nhà mình mà đã biết làm đẹp cả xóm làng; nhu cầu nâng cao văn hoá, giáo dục có sự phát triển đột biến; nhu cầu nghe nhìn, hưởng thụ văn hoá ngày càng phong phú; nhu cầu thẩm mỹ cũng không ngừng được nâng cao Điện thắp sáng, ti vi màu, xe máy, điện thoại, quạt máy, bếp điện, bếp ga không
Trang 29còn là những thứ quá xa lạ mà nó đã trở thành khá phổ biến trong sinh hoạt thường ngày của nhiều người dân
1.2.2.2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập
CNH, HĐH nông nghiệp đi cùng với quá trình thâm canh cây trồng, vật nuôi, chuyên môn hoá kết hợp với đa dạng hoá, vừa làm tăng khối lượng, vừa tăng chất lượng nông sản hàng hoá trong tỉnh, vừa đáp ứng tốt hơn yêu cầu làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu Nhiều vùng cây lương thực chuyên canh cho năng suất cao được hình thành Các vùng lúa đặc sản xuất khẩu đã được mở rộng và cho năng suất cao Cho đến nay, nông dân đã tích cực chuyển diện tích vùng đất ngập mặn, nhiễm phèn nặng, chiêm trũng độc canh, hoang hoá sang nuôi trồng thuỷ sản, mang lại giá trị kinh tế cao gấp nhiều lần so với trồng lúa Ngoài ra nhiều hộ cũng đã chuyển một phần đất màu sang trồng rau sạch, chuyên canh rau quả tươi, trồng hoa tạo tiền đề phát triển công nghiệp chế biến sau thu hoạch Không chỉ vậy, ngành nông nghiệp hiện đang chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng chăn nuôi, nhiều hộ đã giàu lên nhờ cách thức sản xuất này với thu nhập vài trăm triệu/năm, như là mô hình chăn nuôi bò, heo, gà, nuôi trồng thuỷ sản như tôm
sú, tôm thẻ chân trắng, cua lột, Trong một thời gian ngắn, nhiều mô hình kinh tế trang trại đã ra đời, góp phần thay đổi đáng kể diện mạo nông nghiệp, nông thôn Sản phẩm của nông dân nay đã trở thành hàng hoá được tiêu thụ ở nhiều vùng, miền trên cả nước Công nghiệp hóa nông thôn đã tạo thêm hàng loạt sản phẩm cao cấp phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu như dệt may, đồ gốm, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ cao cấp… Từ đó, thu nhập của người dân ngày càng ổn định và nâng cao, tỷ lệ đói nghèo giảm xuống đáng kể, nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân
Trang 301.2.2.3 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn góp phần nâng cao hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, cải thiện đời sống tinh thần, giá trị văn hoá cho người dân
Hệ thống kết cấu hạ tầng được cải thiện không chỉ phục vụ yêu cầu CNH, HĐH, mà còn là điều kiện để mở rộng giao lưu hàng hoá công nghiệp và dịch vụ giữa các địa phương cả nước, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, thành thị Ngoài các tuyến quốc lộ 1A còn có các tuyến giao thông đường thuỷ thuận lợi cho giao thông nội địa và giao lưu hàng hoá với các tỉnh, thành phố trong cả nước Điều này, góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ngành nghề và dịch vụ phát triển, thu nhập và đời sống nông dân được cải thiện… tạo ra cơ sở kinh tế để làm thay đổi một cách cơ bản đời sống văn hoá, xã hội và nâng cao nếp sống văn minh không chỉ ở thành thị mà cả ở nông thôn Quá trình đó cũng tác động rất lớn đối với đời sống văn hoá của nhiều người dân Nông dân trong điều kiện KTTT (nhất là thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn), đã có bước chuyển mạnh mẽ về tâm lý và lối sống, điển hình hình nhất là từ tư duy hiện vật sang tư duy giá trị Động lực sâu xa nhất của bước chuyển này bắt nguồn từ lợi ích kinh tế và cạnh tranh trong nền KTTT Nếu như trước đây trong nền kinh tế hiện vật, người nông dân “một sương hai nắng” quen với nếp tư duy cũ, quan tâm sẽ thu được bao nhiêu thóc trên ha diện tích gieo trồng; người nông dân xã viên đi làm cho hợp tác xã, chỉ tính xem một vụ được bao nhiêu ngày công, bao nhiêu điểm và quy ra thành bao nhiêu thóc, lúa, hoa màu, cuộc sống rất thuần nông với cách nghĩ của một “lão nông tri điền”, thì nay trong thời kỳ đổi mới với cơ chế thị trường, quy luật giá trị, quan hệ hàng hoá - tiền tệ… đã làm thay đổi cơ bản cách nghĩ, cách làm, lối sống của một bộ phận lớn người nông dân Một cách tính toán mới đang hình thành - sản xuất/1 ha, trong 1 vụ trừ chi phí đi còn lãi được bao nhiêu, rồi làm gì để đồng tiền quay vòng nhanh và sinh lời cao Đây là nét mới trong tư duy kinh tế nông dân - khởi đầu sự hình thành năng lực kinh tế của họ
Trang 31Những biến đổi trong tư duy (cách nghĩ) dẫn tới những biến đổi trong hành động (cách làm) của nông dân Điều đó đã đem lại cho khu vực nông thôn một bộ mặt mới, nhiều hộ gia đình đã giàu lên nhờ cách thức sản xuất đó
Thực tế cho thấy, ở đâu KTNT phát triển thì ở đó người dân có điều kiện tiếp thu được nếp sống văn minh, giúp cho họ có được những tri thức tiến bộ, đặc biệt
họ dần vứt bỏ được những tập tục lạc hậu Khi kinh tế phát triển - nhờ đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, người nông dân có điều kiện tiếp cận với tri thức mới, biết sàng lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá thế giới và lưu giữ những giá trị văn hoá truyền thống; đồng thời đạo đức và lối sống văn minh cũng được hình thành, phát triển và duy trì với những giá trị chân thực của nó Giờ đây cùng với sự tăng trưởng kinh tế (GDP), các nhu cầu, sở thích và thị hiếu… ở mỗi con người cũng gia tăng, làm cho xã hội ổn định, khởi sắc Đây là tiền đề, cơ hội cho nhiều người dân có khả năng lựa chọn mức sống khác nhau, có lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị phù hợp với thu nhập, với điều kiện cá nhân và cộng đồng xã hội
1.2.2.4 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn với việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, hình thành các làng nghề mới, tạo việc làm cho người lao động
Trong điều kiện kinh tế còn lạc hậu, năng suất lao động rất thấp, nếu chỉ trông chờ vào nông nghiệp thì không thể có đời sống khá Thêm vào đó tình trạng thiếu việc làm ngày càng trở nên trầm trọng khi đất canh tác đang có xu hướng giảm do mở rộng và phát triển KCN và cụm công nghiệp, thì phát triển làng nghề là một giải pháp rất quan trọng Các cơ sở làng nghề, cụm làng nghề ngày càng phát triển đã thu hút một lực lượng lao động đáng kể, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong nông nghiệp và phân công lao động hợp lý hơn Lao động tham gia vào các làng nghề không chỉ là những người từ nông thôn không có việc làm, mà kể cả lao động theo thời vụ Rõ ràng, làng nghề phát triển có một ý nghĩa quan trọng phát
Trang 32triển kinh tế - xã hội, bởi lẽ, một mặt, nó góp phần làm quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn nhanh hơn; mặt khác, nó thu hút và giải quyết việc làm
cho số lao động dôi dư ngay tại chỗ Nhiều làng nghề thủ công truyền thống có quy
mô khá lớn và trình độ chuyên môn hoá cao, thu hút và giải quyết việc làm cho rất nhiều lao động, giảm bớt gánh nặng thất nghiệp
Cũng cần phải thấy rằng, trong điều kiện hiện nay, khi thu nhập từ sản xuất nông nghiệp ở nước ta còn rất thấp, phát triển làng nghề góp phần tích cực làm tăng thu nhập cho người lao động Ở những nơi nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển, thu nhập của người dân nông thôn đã tăng mạnh, mức sống của nhiều người dân đã có
sự thay đổi đáng kể Thu nhập của người lao động trong các làng nghề thường cao hơn 3-4 lần, thậm chí có nơi gấp 7-8 lần so với lao động nông nghiệp
Ngoài ra, làng nghề cũng giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp lúc nông nhàn của nhiều xã, nhiều địa phương không có làng nghề Những lúc nông nhàn lao động ở các xã này đã làm thêm thêu ren, mây tre đan, tại nhà, tạo thêm thu nhập cho gia đình Điều đó cho thấy, phát triển làng nghề không chỉ là bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc, mà còn mang lại giá trị kinh tế cao, góp phần giải quyết gánh nặng thất nghiệp và tăng thu nhập cho người lao động
Nhiều sản phẩm của làng nghề mang tính nghệ thuật cao, vượt qua giá trị hàng hoá đơn thuần, trở thành sản phẩm văn hoá, được coi là biểu trưng cho cộng đồng làng xã Việt Nam Những làng nghề truyền thống này chính là di sản quý báu
mà cha ông đã tạo lập và để lại cho đời sau Phát triển làng nghề, nhất là làng nghề truyền thống chính là giữ gìn tài sản quý báu, là giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Các làng nghề này có ảnh hưởng trực tiếp đến văn hoá tinh thần, tác động đến tâm
lý, tình cảm, phong tục tập quán, lề lối làm việc của làng Phát triển làng nghề không chỉ là tạo việc làm, tăng thu nhập mà còn góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và nâng cao đời sống tinh thần của nông dân
Trang 33Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn bao hàm cả việc ứng dụng những thành tựu tiến bộ và hiện đại của khoa học - công nghệ vào quá trình sản xuất kinh doanh cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn nhằm xây dựng một nền nông nghiệp và KTNT phát triển, tăng trưởng bền vững
Việc đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất kinh doanh và dịch vụ ở nông thôn không chỉ đơn thuần chỉ là việc đem lại
sự phát triển KTNT, mà còn là sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sống Nhất là việc ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường, việc ứng dụng công nghệ thuỷ phân vi sinh, chế phẩm sinh học để xử lý phân huỷ chất thải, nước thải trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, trong các làng nghề, bệnh viện, KCN, cụm công nghiệp
Ngoài những tác động tích cực nêu trên, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn cũng tạo ra nguồn tích luỹ của nhà nước và nhân dân, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Những năm đổi mới vừa qua, nơi nào công nghiệp nông thôn và dịch vụ phát triển mạnh, nông nghiệp chuyển nhanh sang sản xuất hàng hoá thì ở
đó không chỉ thu nhập mà cả tích luỹ của dân cư tăng nhanh, các khoản đóng góp cho nhà nước của người dân cũng tăng theo, mục tiêu dân giàu nước mạnh được thể hiện rõ nét Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn có thể khẳng định không những tạo ra những tiền đề cần thiết cho thực hiện thắng lợi CNH, HĐH đất nước, mà còn góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của dân cư nông thôn, giải quyết được những vấn đề bức xúc của xã hội
1.3 Quan điểm, nội dung, mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.3.1 Quan điểm giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Trang 34Giải quyết tốt các vấn đề xã hội là một trong những chủ trương, giải pháp lớn nhằm phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới Những vấn đề
xã hội Đảng ta quan tâm bao gồm các lĩnh vực liên quan đến sự phát triển của con người và xã hội như: dân số và nguồn nhân lực, lao động và việc làm, giáo dục và y
tế, đạo đức và văn hoá, những đảm bảo về an ninh và an toàn xã hội của đời sống
cá nhân và cộng đồng
Các vấn đề xã hội có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, do vị trí của con người trong xã hội quy định Song, do địa vị của con người ở mỗi chế độ xã hội khác nhau là không giống nhau, cho nên vai trò, bản chất của các vấn đề xã hội cũng khác nhau Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội vì con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
và lấy việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người làm mục tiêu phục vụ Đảng
ta luôn nhấn mạnh phát triển kinh tế phải đi liền với việc giải quyết tốt các vấn đề
xã hội Phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa lại càng đòi hỏi phải giải quyết tốt những vấn đề xã hội, bởi lẽ phát triển kinh tế phải là sự phát triển bền vững dựa trên những yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường vững chắc, Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm vừa đạt được tăng trưởng kinh tế, vừa giữ được ổn định xã hội, không có những xáo trộn xung đột, nổi loạn làm ảnh hưởng đến việc huy động các nguồn lực cho sự phát triển Trong phát triển bền vững, yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội quyện vào nhau, hoà nhập vào nhau Mục tiêu phát triển kinh tế phải bao gồm cả mục tiêu giải quyết những vấn đề xã hội như vấn
đề việc làm, xoá đói giảm nghèo… thoả mãn nhu cầu cơ bản của nhân dân, công bằng xã hội Ngược lại, mục tiêu phát triển xã hội cũng nhằm tạo động lực phát triển kinh tế Đó chính là sự khác nhau căn bản về mục tiêu phát triển giữa con đường chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn… Trên cơ sở nhận thức mới về vai trò của các vấn đề xã hội, mở đầu công cuộc đổi
Trang 35mới toàn diện đất nước, Đại hội VII (1991), sau khi xác định được những đặc trưng
cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, Đảng ta đã nêu lên định hướng lớn chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát triển mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong xây dựng xã hội chủ nghĩa” Trên cơ sở định hướng ấy, Đảng ta đã chính thức khẳng định một số quan điểm chỉ đạo việc kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề
xã hội Cụ thể là: Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh của yếu tố con người và vì con người Kết hợp hài hoà giữa kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất với đời sống tinh thần của nhân dân Coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong công cuộc đổi mới, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra những quan điểm chỉ đạo giải quyết các vấn đề
xã hội, đó là:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng bước và suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở
cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình
Thứ hai, thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo lao động và
hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội,
đi đôi với chính sách điều tiết hợp lý, bảo vệ quyền lợi của người lao động
Trang 36Thứ ba, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói, giảm
nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, các dân tộc, các tầng lớp dân cư
Thứ tư, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”,
“đền ơn đáp nghĩa”, “nhân hậu, thủy chung”
Thứ năm, các vấn đề chính sách xã hội đều được giải quyết theo tinh thần xã
hội Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh “Thực hiện các chính sách xã hội, hướng vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động
xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp” Đồng thời Đại hội IX cũng chỉ ra những nhiệm vụ, mục tiêu của
từng lĩnh vực cụ thể cần tập trung giải quyết trong những năm tới là: giải quyết việc
làm là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của chính sách xã hội; tiền lương và thu
nhập; xoá đói, giảm nghèo; đền ơn đáp nghĩa; uống nước nhớ nguồn; xây dựng cơ
sở hạ tầng xã hội; chính sách dân số; chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân; chính sách chăm sóc và bảo vệ trẻ em; phong trào toàn dân tập luyện thể dục, thể thao; phong trào toàn dân đấu tranh phòng chống tội phạm
Trên cơ sở khái quát những thành tựu và hạn chế của 20 năm đổi mới, trong
đó có thành tựu và hạn chế của việc xây dựng và phát triển các vấn đề xã hội, Đại hội X của Đảng khẳng định quan điểm: “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ,
Trang 37cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế xã hội… Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc”
Đại hội XI của Đảng đã đề ra những định hướng quan trọng về quản lý phát triển xã hội Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 định hướng: Xây dựng một cộng đồng xã hội văn minh, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đoàn kết, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-
2020 nhấn mạnh: Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hoá giàu - nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị Báo cáo chính trị trình Đại hội XI xác định: phát triển kinh tế - xã hội hài hoà giữa các vùng,
đô thị và nông thôn; đấu tranh phòng, chống có hiệu quả TNXH, tai nạn giao thông
Phát triển tư tưởng Đại hội XI, Văn kiện Đại hội XII nêu rõ: (1) Nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của phát triển xã hội bền vững và quản lý phát triển
xã hội đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; (2) Xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội; (3) Có các giải pháp quản lý hiệu quả
để giải quyết hài hoà các quan hệ xã hội, ngăn chặn, giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc, những mâu thuẫn có thể dẫn đến xung đột xã hội
1.3.2 Nội dung, mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Trước hết, giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp
luật, thực hiện có hiệu quả các chính sách xoá đói giảm nghèo.Với nội dung này,
trong những năm tới cần thực hiện các yêu cầu là tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận bình đẳng nguồn lực phát triển, hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lên xoá đói giảm nghèo bền vững ở các vùng, khắc phục tình trạng bao cấp dàn đều, tư
Trang 38tưởng ỷ lại, phấn đấu không còn hộ đói, giảm mạnh hộ nghèo, tăng nhanh hộ giàu,
từng bước xây dựng gia đình cộng đồng và xã hội phồn vinh
Giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tạo động lực làm giàu trong đông đảo các tầng lớp dân cư, khuyến khích những người đã thoát nghèo mạnh dạn vươn lên làm giàu và giúp những người khác sớm thoát khỏi hộ nghèo Xây dựng chương trình xoá đói giảm nghèo sát với điều kiện cụ thể của từng địa phương, dành nguồn ưu tiên hỗ trợ các vùng xa, khó khăn, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số Giảm dần chênh lệch về phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân giữa các vùng, miền và các tầng lớp dân
cư Phấn đấu đến năm 2020 giảm 1/2 tỷ lệ nghèo theo Chuẩn quốc tế so với năm
2010 Giảm 3/4 tỷ lệ nghèo về lương thực, thực phẩm so với năm 2010 Giảm 3/5
tỷ lệ hộ nghèo so với năm 2010 theo chuẩn của Chương trình mục tiêu quốc gia
Thứ hai, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch
vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân về giáo dục và đào tạo, tạo
việc làm, chăm sóc sức khoẻ, văn hoá - thông tin, thể dục thể thao Xây dựng hệ
thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân Đa dạng hoá các loại hình cứu trợ xã hội, tạo việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, hướng tới xuất khẩu lao động trình độ cao; Tiếp tục đổi mới chính sách tiền lương; Phân phối thu nhập xã hội công bằng, hợp
lý để tạo được động lực phát triển mạnh, góp phần phòng chống tiêu cực, TNXH; Tăng nguồn lực đầu tư của nhà nước để phát triển các lĩnh vực xã hội và thực hiện các mục tiêu xã hội, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá, coi đây là một chính sách có tính chiến lược, nhằm huy động mọi nguồn lực, trí tuệ của các thành phần kinh tế,
của các tổ chức xã hội, của mọi người
Thứ ba, phát triển hệ thống y tế công bằng và hiệu quả, bảo đảm mọi người
dân được chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ
Trang 39sở, hệ thống các chính sách bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân Đổi mới cơ chế khám, chữa bệnh Nhà nước tăng đầu tư, nâng cao mức và chất lượng chăm sóc sức khoẻ cơ bản cho toàn dân, quan tâm nhiều hơn nữa cho các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và vùng sâu, vùng xa, hộ nghèo Chú trọng phát triển các dịch vụ y tế công nghệ cao, khuyến khích phát triển đa dạng, các dịch
vụ y tế ngoài công lập Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế Có chiến lược, quy hoạch phát triển và cơ chế chính sách hợp lý để phát triển hệ thống sản xuất, lưu thông, phân phối thuốc chữa bệnh, từng bước xây dựng ngành công nghiệp dược, ngành công nghiệp thiết bị y tế trở thành ngành kinh tế -
kỹ thuật đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Thứ tư, xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ, tầm vóc con
người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi Cụ thể, phát triển
mạnh thể dục thể thao với phương châm kết hợp tốt thể thao phong trào và thể thao thành tích cao, dân tộc và hiện đại, chú trọng phát triển thể thao học đường, nâng cao chất lượng phong trào thể dục thể thao quần chúng Có chính sách và cơ chế cần thiết để phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng thể thao phù hợp với điều kiện và tố chất người Việt Nam, đưa nền thể thao nước ta tới vị trí cao của khu vực, từng bước tiếp cận với châu lục và quốc tế ở những bộ môn thể thao mà Việt Nam
có ưu thế Nghiên cứu xây dựng và tuyên truyền hướng dẫn chế độ dinh dưỡng trong cơ cấu bữa ăn phù hợp với lứa tuổi Quan tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản Đẩy mạnh phong trào xã hội chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, phát triển hài hoà về trí tuệ, đạo đức, giảm nhanh tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng Đẩy mạnh công tác bảo vệ giống nòi, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, thực hiện các giải pháp mạnh mẽ, kiên trì và có hiệu
quả để phòng chống HIV/AIDS và các TNXH
Trang 40Thứ năm, thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình Cụ
thể là giảm tốc độ dân số Tiếp tục duy trì kế hoạch giảm sinh, phấn đấu sớm đạt mục tiêu mức sinh quy định, đảm bảo quy mô và cơ cấu dân số hợp lý Nâng cao chất lượng dân số Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người,
là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách của con người, bảo tồn nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục
vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thứ sáu, chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội Cụ thể là thực hiện tốt chính
sách xã hội đối với người có công, gia đình thương binh liệt sỹ như vấn đề nhà ở, khám chữa bệnh và điều dưỡng phục vụ sức khoẻ, các chính sách ưu tiên trong giáo dục, vấn đề trợ cấp cho những người có công với cách mạng Vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, người có công với nước, người được hưởng chính sách xã hội Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già Giúp đỡ nạn nhân chất độc
da cam, người tàn tật, trẻ mồ côi
Thứ bảy, đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công
cộng cụ thể là phát triển về quy mô gắn với chất lượng và hiệu quả các dịch vụ công cộng, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước, đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị công lập và huy động mạnh mọi nguồn lực của xã hội Nhà nước tiếp tục tăng nguồn lực, đầu tư tập trung cơ sở vật chất - kỹ thuật để nâng cao phúc lợi chung cho toàn xã hội Quan tâm vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo, vùng đồng bảo dân tộc thiểu số Từng bước chuyển các cơ sở công lập dịch vụ công cộng đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp mang nặng tính hành chính bao cấp sang cơ chế tự