NGÔ VĂN ĐOÀN LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP THỂ LỰC NÂNG CAO THÀNH TÍCH BƠI 200M HỖN HỢP CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN BƠI LỘI LỨA TUỔI 13-14 THUỘC TRUNG TÂM ĐÀO TẠO HUẤN LUYỆN THỂ DỤC THỂ THAO NGHỆ
Trang 1NGÔ VĂN ĐOÀN
LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP THỂ LỰC NÂNG CAO
THÀNH TÍCH BƠI 200M HỖN HỢP CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN
BƠI LỘI LỨA TUỔI 13-14 THUỘC TRUNG TÂM ĐÀO TẠO HUẤN LUYỆN THỂ DỤC THỂ THAO NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2017
Trang 2NGÔ VĂN ĐOÀN
LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP THỂ LỰC NÂNG CAO
THÀNH TÍCH BƠI 200M HỖN HỢP CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN
BƠI LỘI LỨA TUỔI 13-14 THUỘC TRUNG TÂM ĐÀO TẠO HUẤN LUYỆN THỂ DỤC THỂ THAO NGHỆ AN
Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Mã số: 60 14 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN NGỌC TUẤN
NGHỆ AN, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới Trường Đại học Vinh, Phòng Đào tạo sau đại học, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin được bày tỏ lòng cảm ơn, biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Ngọc Tuấn đã giành nhiều thời gian và tâm huyết chỉ bảo cho tác giả những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, giúp tôi tự tin trong quá trình nghiên cứu để hoàn thiện luận văn thạc sĩ này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm ĐTHLTDTT Nghệ An, các cán bộ quản lý, vận động viên đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập các dữ liệu liên quan đến đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã tận tình giúp đỡ trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học
Mặc dù trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, bản thân đã rất nổ lực và cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nhà giáo, bạn bè và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Nghệ An, tháng 8 năm 2017
Tác giả Ngô Văn Đoàn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan trên đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Ngô Văn Đoàn
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG ĐƯỢC
SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
A CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AL Axit Lactic
HLV Huấn luyện viên
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Phạm vi nghiên cứu 5
4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 5
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Đặc điểm cơ bản trong huấn luyện vận động viên bơi 6
1.1.1 Đặc điểm vận động trong bơi 6
1.1.2 Tính giai đoạn của quá trình huấn luyện nhiều năm 7
1.2 Những khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài 14
1.2.1 Khái niệm về huấn luyện thể thao 14
1.2.2 Khái niệm bài tập thể dục thể thao (TDTT) 15
1.3 Các phương pháp đánh giá độ tin cậy và tính thông báo của test 18
1.3.1 Độ tin cậy của test 18
1.3.2 Tính thông báo của test 19
1.4 Xác định chỉ tiêu đánh giá hiệu quả bài tập nâng cao thành tích bơi 200m Hỗn hợp cho nam VĐV bơi lứa tuổi 13 – 14 19
1.4.1 Các vùng cường độ trong bơi 200m hỗn hợp: 19
1.4.2 Đặc điểm sinh lý của bài tập bơi 200m HH 24
1.5 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 13-14 26
1.5.1 Đặc điểm tâm lý của nam VĐV lứa tuổi 13-14 26
1.5.2 Đặc điểm sinh lý của nam VĐV lứa tuổi 13-14 29
Trang 7Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu 32
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 33
2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 33
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 33
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 36
2.2.6 Phương pháp toán học thống kê 37
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 39
3.1 Đánh giá thực trạng huấn luyện nâng cao thành tích bơi 200m Hỗn hợp của nam VĐV bơi lội lứa tuổi 13 -14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An 39
3.1.1 Thực trạng sử dụng bài tập nâng cao thành tích bơi 200m Hỗn hợp cho nam VĐV bơi lứa tuổi 13 -14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An 39
3.1.2 Thực trạng thành tích bơi 200m Hỗn hợp của nam VĐV bơi lứa tuổi 13 – 14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An 46
3.2 Lựa chọn và đánh giá hiệu quả ứng dụng bài tập nâng cao thành tích bơi 200m HH cho nam VĐV bơi lội lứa tuổi 13-14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An 55
3.2.1 Lựa chọn bài tập nâng cao thành tích cho nam VĐV bơi 200m HH lứa tuổi 13-14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An 55
3.2.2 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập đã lựa chọn 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Quá trình tổ chức đào tạo VĐV bơi của Hungari 10
Bảng 1.2 Quá trình đào tạo VĐV bơi của Nga 11
Bảng 1.3 Quá trình đào tạo VĐV bơi của Australia 12
Bảng 1.4 Quá trình đào tạo VĐV bơi của Trung Quốc 13
Bảng 1.5 Quá trình đào tạo VĐV bơi của Trung Quốc 13
Bảng 1.6 Tỷ lệ phần trăm cung cấp năng lượng với các cự ly thi đấu bơi của các hệ thống năng lượng ưa khí và yếm khí 19
Bảng 1.7 Phân loại bài tập theo tác động huấn luyện bơi (Olbretcht 2000) 21
Bảng 3.1 Thực trạng tỷ lệ sử dụng bài tập nâng cao thành tích bơi 200m HH của nam VĐV lứa tuổi 13 -14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An 40
Bảng 3.2 Thực trạng sử dụng bài tập nâng cao thành tích bơi 200m HH của nam VĐV lứa tuổi 13 -14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An 40 Bảng 3.3 Thực trạng tỷ lệ % phân chia các nhóm bài tập và các giai đoạn để huấn luyện nâng cao thành tích bơi 200m HH của các HLV Trung tâm Đào tạo VĐV Hà Nội 44
Bảng 3.4 Thực trạng tỷ lệ % phân chia các nhóm bài tập và các giai đoạn để huấn luyện nâng cao thành tích bơi 200m HH của các HLV Trung tâm Đào tạo VĐV Thành phố Hồ Chí Minh 46
Bảng 3.5 Thành tích 200m Hỗn hợp của nam VĐV bơi lứa tuổi 13 – 14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An (Giải vô địch các nhóm tuổi năm 2012) 47
Bảng 3.6 Thành tích 200m Hỗn hợp của nam VĐV bơi lứa tuổi 13 – 14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An (Giải vô địch các nhóm tuổi năm 2013) 47
Trang 9Bảng 3.7 Thành tích 200m Hỗn hợp của nam VĐV bơi lứa tuổi 13 – 14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An (Giải vô địch các nhóm tuổi năm 2014) 48 Bảng 3.8 So sánh thành tích bơi 200m Hỗn hợp nam VĐV Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An với VĐV Hà Nội, VĐV Hồ Chí Minh 49 Bảng 3.9 Kết quả phỏng vấn các chỉ tiêu nâng cao thành tích bơi 200m HH cho nam VĐV bơi lứa tuổi 13-14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An (n=20) 51 Bảng 3.10 Hệ số tin cậy của 2 lần kiểm tra các chỉ tiêu nâng cao thành tích bơi 200m HH cho nam VĐV bơi lứa tuổi 13-14 Trung tâm HLTT QG 52 Bảng 3.11 Hệ số tương quan giữa thành tích của 7 chỉ tiêu với thành tích 200m Hỗn hợp của VĐV bơi lứa tuổi 13- 14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An (n= 12) 53 Bảng 3.12 Kết quả kiểm tra sức bền ưa khí, yếm khí, ưa- yếm khí của nam VĐV bơi lứa tuổi 13 – 14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ
An (n= 06) 54 Bảng 3.13 Kết quả phỏng vấn xác định các nguyên tắc cơ bản trong lựa chọn các bài tập nâng cao thành tích bơi 200m HH cho nam VĐV lứa tuổi 13-14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An 56 Bảng 3.16 Tỷ lệ % sử dụng các bài tập ở từng giai đoạn huấn luyện 58 Bảng 3.19 Các thông số thống kê so sánh thành tích các test đánh giá thành tích trước thực nghiệm giữa hai nhóm thực nghiệm và đối chứng 62 Bảng 3.20 So sánh tự đối chiếu thành tích các test đánh giá nâng cao thành tích của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm 63 Bảng 3.21 Các thông số thống kê so sánh thành tích các test đánh giá nâng cao thành tích sau thực nghiệm giữa hai nhóm thực nghiệm và đối chứng 64 Bảng 3.22 Nhịp độ tăng trưởng thành tích các test đánh giá nâng cao thành tích của VĐV hai nhóm đối chứng và thực nghiệm sau 6 tháng thực nghiệm 66
Trang 10PHỤ LỤC
Bảng 3.14 Kết quả phỏng vấn tỷ lệ (%) các nhóm bài tập huấn luyện bơi nâng cao thành tích 200m hỗn hợp cho nam VĐV lứa tuổi 13- 14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An IX Bảng 3.15 Kết quả phỏng vấn tỷ lệ các bài tập huấn luyện bơi nâng cao thành tích 200m HH cho nam VĐV lứa tuổi 13-14 ở từng giai đoạn huấn luyện (n=20) X Bảng 3.17 Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập nâng cao thành tích bơi 200m
HH cho nam VĐV bơi lứa tuổi 13- 14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An XI Bảng 3.18 Tiến trình ứng dụng các bài tập nâng cao thành tích 200m hỗn hợp cho nhóm thực nghiệm XIV
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 So sánh thành tích trung bình Bơi 50m TS của hai nhóm vào hai thời điểm trước và sau thực nghiệm 67 Biểu đồ 3.2.So sánh thành tích trung bình Bơi 50m Ngửa của hai nhóm vào hai thời điểm trước và sau thực nghiệm 68 Biểu đồ 3.3 So sánh thành tích trung bình Bơi 50m Ếch của hai nhóm vào hai thời điểm trước và sau thực nghiệm 68 Biểu đồ 3.4.So sánh thành tích trung bình Bơi 50m Bướm của hai nhóm vào hai thời điểm trước và sau thực nghiệm 69 Biểu đồ 3.5 So sánh thành tích trung bình Bơi 200m Hỗn Hợp của hai nhóm vào hai thời điểm trước và sau thực nghiệm 69 Biểu đồ 3.6 So sánh thành tích trung bình Bơi 400m TS của hai nhóm vào hai thời điểm trước và sau thực nghiệm 70 Biểu đồ 3.7 So sánh thành tích trung bình Bơi 2000m TS của hai nhóm vào hai thời điểm trước và sau thực nghiệm 70
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thể dục, thể thao (TDTT) ra đời, tồn tại và phát triển song song với xã hội loài người Đó là một hình thức vận động tích cực giúp con người hoàn thiện bản thân về cả thể chất lẫn tinh thần Tập luyện TDTT giúp con người phát triển
về thể chất, củng cố nâng cao sức khoẻ, phát triển cân đối và hài hoà về hình thái cơ thể, đồng thời phát triển các phẩm chất đạo đức, trí sáng tạo, thẩm mỹ, tăng khả năng làm việc phục vụ cho lao động và bảo vệ tổ quốc TTDT là cầu nối giữa các dân tộc và các quốc gia trên thế giới Qua đó, trao đổi và tiếp thu những tinh hoa văn hoá, những thành tựu khoa học kỹ thuật, học hỏi lẫn nhau, tăng tính đoàn kết gắn bó hữu nghị giữa các dân tộc và các quốc gia trên toàn thế giới
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh
tế nước ta, nhiều lĩnh vực hoạt động trong đó có TDTT đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ Bơi lội là một trong những môn Thể thao cơ bản, có vị trí quan trọng trong hệ thống thi đấu của các Đại hội TDTT trong nước và quốc tế với tổng cộng hơn 30 bộ huy chương
Lịch sử phát triển môn Bơi lội gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người Do quá trình lao động sản xuất và đấu tranh sinh tồn, con người dần dần tạo được những thói quen vận động đơn giản như leo, trèo, chạy, nhảy, ném, bơi, lặn Từ đó phát sinh ra môn Bơi lội, cũng từ đó Bơi lội gắn liền với cuộc sống của con người và thực sự cần thiết cho sự sinh tồn của họ
Với những di vật khảo cổ đã được các nhà khoa học tìm thấy ở Hy Lạp,
La Mã và Ai Cập (Các bình gốm, sứ, các bức tranh tạc trên đảo các ngôi mộ cổ… đã chạm trổ hình người bơi, lặn dưới nước) và đã được xác định có niên đại có cách đây khoảng 5000 năm hiện đang được lưu trữ tại viện bảo tàng Luân
Trang 13Đôn (Anh) và Tua (Pháp) Điều đó cũng có thể chứng tỏ rằng Bơi lội đã ra đời cách đây khoảng 5000 năm
Ở Việt Nam, một dân tộc có lịch sử lâu đời lại nằm ở một nơi có khí hậu
và địa lý ưu đãi cho Bơi lội, với chiều dài hơn 3000 km bờ biển và 3112 con sông ngòi Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta cũng đã ghi lại nhiều chiến công chống giặc ngoại xâm
Bơi lội đã tồn tại ở Việt Nam từ những ngày đó, với thành tích xuất sắc ở GANEFO 1966 tại Phnômpênh đội Bơi lội Việt Nam đã giành 7 huy chương (1 vàng, 3 bạc, 3 đồng) trong đó tấm huy chương vàng duy nhất mà các vận động viên (VĐV) của chúng ta đoạt được là của Vũ thị Sen tại cự ly 200m bơi Ếch
Thể thao thành tích cao là một bộ phận cấu thành nền thể dục thể thao xã hội chủ nghĩa Mục đích của thể thao thành tích cao là vươn tới những đỉnh cao của thành tích Động cơ thành tích chính là động lực mạnh mẽ thúc đẩy vận động viên trong việc vươn tới các thành tích kỷ lục, cũng như thúc đẩy hoạt động khoa học thể thao nhằm tìm ra các phương pháp, biện pháp, yếu tố mới thúc đẩy, khai thác tối đa khả năng của con người trong việc vươn tới các thành tích đó
Những năm gần đây việc nâng cao thành tích thể thao của nước ta lên trình độ hàng đầu Đông Nam Á đã trở thành một yêu cầu của Quốc gia, dân tộc trên con đường hội nhập Quốc tế, nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Để thực hiện mục tiêu đó, ngành thể dục thể thao cũng đã đưa ra các quan điểm, giải pháp hữu hiệu để đổi mới công tác đào tạo tài năng trẻ thể thao, chú ý tập trung một số môn thể thao mũi nhọn để tham gia các đại hội thể dục thể thao quốc tế và khu vực, trong đó có môn Bơi lội
Ở nước ta, so với các môn thể thao khác, Bơi lội mặc dù được hình thành sớm hơn, đã nhanh chóng phát triển rộng khắp các tỉnh thành như: Hà Nội, TP
Hồ Chí Minh, Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An, Hải
Trang 14Phòng, Nam Định, Quảng Bình… Ở những giải bơi Quốc gia được tổ chức hằng năm để thu hút hàng trăm VĐV ở khắp các tỉnh thành tham gia thi đấu
Trong thời gian gần đây các VĐV Bơi lội Việt Nam đã đạt được thành
tích tốt, tiêu biểu như các VĐV: Nguyễn Hữu Việt, Hoàng Quý Phước, Nguyễn Thị Ánh Viên, Nguyễn Thị Kim Tuyến, Trần Duy Khôi …
Trong hệ thống đào tạo VĐV Bơi lội nói riêng, cũng như VĐV các môn thể thao khác nói chung, việc nâng cao thành tích thể thao phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tác động như lối sống, điều kiện, môi trường, đào tạo, công tác tuyển chọn, huấn luyện Trong đó việc sử dụng các bài tập huấn luyện nâng cao thành tích cho VĐV là yếu tố quan trọng đối với Huấn luyện viên (HLV), nó quyết định nhiều đến thành tích của VĐV
Chính vì có tầm quan trọng như vậy nên việc nghiên cứu lựa chọn bài tập nhằm nâng cao thành tích của vận động viên đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu như: “Nghiên cứu tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên bơi lội trẻ từ 9 – 12 tuổi trong giai đoạn huấn luyện ban đầu” Chung Tấn Phong (1998), “ Nghiên cứu khả năng hoạt động thể lực tối
đa của VĐV bơi lội 12-16 tuổi ở Việt Nam” của Vũ Chung Thủy (luận án tiến sĩ), “Phương pháp phát triển sức bền của vận động viên bơi nữ lứa tuổi 11-12” của Phan Thanh Hài (luận án tiến sĩ), “Huấn luyện thể lực cho VĐV bơi lội” của Nguyễn Văn Trạch và cộng sự Tuy các đề tài này đã đề cập khá toàn diện các phương pháp phát triển tố chất nhằm nâng cao thành tích cho VĐV bơi lội, nhưng chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về lựa chọn các bài tập phát triển nhằm nâng cao thành tích bơi 200m Hỗn hợp (HH) cho nam vận động viên lứa tuổi 13-14 Bởi vậy, việc:
“Lựa chọn một số bài tập thể lực nâng cao thành tích bơi 200m hỗn hợp cho nam vận động viên bơi lội lứa tuổi 13-14 thuộc Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An”
Trang 15Là một việc làm rất thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo VĐV bơi ở nước ta
2 Mục tiêu nghiên cứu
Từ thực trạng thành tích và thực trạng sử dụng bài tập nâng cao thành tích bơi 200m hỗn hợp cho nam vận động viên bơi lội lứa tuổi 13-14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An nhằm tìm ra các bài tập phát triển thể lực, kỷ thuật trên cạn, dưới nước có tính khả thi và có cơ sở khoa học, ứng dụng vào thực tiễn trong huấn luyện để nâng cao thành tích bơi 200m hỗn hợp cho nam vận động viên bơi lội lứa tuổi 13-14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An
Mục tiêu1: Thực trạng sử dụng các bài tập để nâng cao thành tích bơi
200m hỗn hợp cho nam VĐV lứa tuổi 13-14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An
- Thực trạng việc sử dụng bài tập nâng cao thành tích bơi 200m hỗn hợp cho nam VĐV lứa tuổi 13-14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An
- Thực trạng thành tích bơi 200m Hỗn hợp;
- Thực trạng sức bền ưa khí, yếm khí và ưa - yếm khí
Mục tiêu 2: Lựa chọn và đánh giá hiệu quả các bài tập nâng cao thành
tích bơi 200m hỗn hợp cho nam VĐV lứa tuổi 13-14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An
- Lựa chọn bài tập nâng cao thành tích bơi 200m Hỗn hợp
- Đánh giá hiệu quả thành tích bơi 200m HH các VĐV bơi lứa tuổi 13-14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An
+ Lựa chọn Test
+ Kiểm tra trên VĐV
+ Chia nhóm thực nghiệm
+ Tiến hành thực nghiệm
Trang 16+ Đánh giá hiệu quả các bài tập lựa chọn sau thực nghiệm
3 Phạm vi nghiên cứu
Lựa chọn và đánh giá hiệu quả các bài tập nâng cao thành tích bơi 200m hỗn hợp cho nam VĐV lứa tuổi 13-14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An
4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
4.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 12/2015 đến tháng 08/2017 và được chia thành 4 giai đoạn nghiên cứu sau:
Giai đoạn 1: Từ tháng 11/2015 đến tháng 12/2015
- Xác định hướng nghiên cứu đề tài
- Thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Xây dựng đề cương nghiên cứu và báo cáo trước Hội đồng khoa học
Giai đoạn 2: Từ tháng 01/2016 đến tháng 10/2016
Giải quyết mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng công tác huấn luyện bơi 200m
HH cho nam VĐV bơi lứa tuổi 13-14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An
Giai đoạn 3: Từ tháng 11/2016 đến tháng 06/ 2017
Giải quyết mục tiêu 2: Lựa chọn và đánh giá hiệu quả ứng dụng bài tập nâng cao thành tích bơi 200m HH cho nam VĐV bơi lứa tuổi 13-14 Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An
Giai đoạn 4: Từ tháng 07/2017 đến tháng 08/2017
- Hoàn thiện đề tài, tóm tắt luận văn
- Tổ chức bảo vệ thử đề tài
- Bảo vệ luận văn trước Hội đồng khoa học
4.2 Địa điểm nghiên cứu
- Trường Đại học Vinh
- Trung tâm đào tạo huấn luyện thể dục thể thao Nghệ An.
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm cơ bản trong huấn luyện vận động viên bơi
1.1.1 Đặc điểm vận động trong bơi
Bơi lội là môn thể thao hoạt động trong môi trường nước, chịu tác động như độ nổi, lực cản áp lực của nước Do đó muốn đạt tốc độ cao cơ bắp cần phải
nỗ lực Trong khi bơi con người luôn phải chịu tác động của lực cản: Như lực cản do ma sát, đó là lực tác dụng giữa vật thể với nước khi chuyển động tương đối với hướng vận động Lực cản do chênh lệch áp lực, đó là khi vận động do chênh lệch áp lực phía trước và phía sau của cơ thể Lực cản do sóng, khi vận động ở giữa hai môi trường nước và không khí, mà nước có mật độ lớn hơn 800 lần so với không khí [43, tr.58) nên khi cơ thể chuyển động và thực hiện động tác, sẽ làm cho một bộ phận nước nhô lên cao phía không khí và cao hơn mặt nước tạo thành đỉnh sóng, cùng lúc đó, trọng lượng của nước ép xuống mặt nước hình thành chân sóng Lực cản của cơ thể, thể hiện khi chuyển động trong nước được tính theo công thức F= V2 x K x S (F=Lực cản, V= Tốc độ, K= Hệ số đậm đặc của nước) Vì vậy trở lực (lực cản và tiết diện cơ thể) nhỏ, sức mạnh cơ bắp lớn là yếu tố tạo tốc độ nhanh Đặc biệt khi bơi cơ thể ở tư thế nằm ngang máu cung cấp ôxy và các chất dinh dưỡng cho cơ thể dễ dàng hơn Các thử nghiệm y học cho thấy: cùng VĐV bơi, nếu tập thể lực trên cạn và thể lực dưới nước thì thể tích của tim lúc hoạt động ở dưới nước tăng 11.2% (Đối với phi công vũ trụ tăng 38%) Nhịp tim cũng khác, cùng một khối lượng, công năng như nhau, mạch đập tim khi hoạt động trên cạn đạt 220 lần/ phút trong khi bơi chỉ đạt 200 lần/ phút Tương tự các chỉ số Acid Lactic trong máu ở VĐV bơi đều thấp hơn VĐV Điền kinh Cụ thể nồng độ Acid Lactic đo chậm nhất sau 10” (khi bơi nỗ lực) ở từng cự ly:
Trang 18Bơi Điền kinh
nỗ lực tốt, vì vậy VĐV bơi có thể thi đấu 4-5 cự ly/ ngày Tim là cơ quan phát triển chậm nhất so với các bộ phận khác trong cơ thể (đến 30 tuổi mới phát triển hoàn chỉnh) Do đó cần phát triển hoạt động của tim trong công tác huấn luyện VĐV bơi trẻ [9]
1.1.2 Tính giai đoạn của quá trình huấn luyện nhiều năm
Hiện nay, trước sự phát triển của thể thao thành tích cao, kỷ lục được thiết lập từng ngày đòi hỏi phải có quy trình đào tạo VĐV dài hạn và có định hướng, bảo đảm những hình thức tổ chức, phương tiện, phương pháp huấn luyện ưu việt, hiệu quả của từng thời kỳ từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau, từ giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ đến huấn luyện thành tích cao Rõ ràng thành tích thể thao cao nhất chỉ có thể đạt được nếu những cơ sở cần thiết cho nó được tạo nên ngay trong lứa tuổi thiếu niên và thanh niên [10]
Do đó, việc chuẩn bị cho VĐV lâu dài, hệ thống và có mục đích hướng tới những thành tích thể thao cao nhất của họ có ý nghĩa vô cùng to lớn
Khái niệm về vấn đề này được các chuyên gia trong nước và ngoài nước
đề cập theo những góc độ tiếp cận khác nhau nhiều, nhưng đều có một điểm chung, đó là quá trình bao gồm việc đào tạo các VĐV từ lúc bắt đầu tập luyện
Trang 19trong tuổi nhi đồng, thiếu niên và thanh niên tới khi trở thành các VĐV có trình
độ cao Quá trình đó được bắt đầu từ việc huấn luyện cơ bản một cách toàn diện theo yêu cầu của môn thể thao, cho tới việc huấn luyện chuyên môn hóa hẹp
Theo Phan Hồng Minh: “Quy trình công nghệ đào tạo VĐV về thực chất
là hệ thống các chuẩn mực được xác định chặt chẽ để có được chất lượng của sản phẩm tính từ đầu vào đến đầu ra trong một hệ thống đào tạo” [14, tr.11]
Sự phân chia giai đoạn chỉ mang tính chất tương đối, thực chất của vấn đề quan trọng nhất của hệ thống này là tính kế thừa và liên tục Căn cứ khoa học chủ yếu của sự phân định trên là dựa vào sự phát triển sinh học tự nhiên của con người và quy luật hình thành và phát triển thành tích thể thao
Mặc dù có sự thống nhất cao về quan điểm huấn luyện nhiều năm, song các nhà lý luận trong và ngoài nước đã có những cách phân chia giai đoạn khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận vấn đề
Theo Mátvêep L.P, Molchinhikolop.K.D (1988), Novicôp.A.D, quá trình huấn luyện nhiều năm được chia làm 4 giai đoạn lớn: Giai đoạn chuẩn bị thể thao sơ bộ, giai đoạn chuyên môn hoá thể thao bước đầu hoặc chuẩn bị cơ sở, giai đoạn hoàn thiện sâu và giai đoạn “tuổi thọ thể thao” Giai đoạn chuẩn bị thể thao sơ bộ thường bắt đầu từ tuổi học sinh cấp I (và sớm hơn nữa trong một số môn thể thao) Giai đoạn chuyên môn hoá bước đầu với mục đính tạo nền tảng đầy đủ và có chất lượng cho những thành tích tương lai, đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và cân đối của cơ thể, làm phong phú thêm những kỹ năng và kỹ xảo vận động cho VĐV Giai đoạn hoàn thiện sâu là thời gian tập luyện tích cực nhất, thời gian nảy nở của những tài năng thể thao và chiếm lĩnh những đỉnh cao của thành tích thể thao, giai đoạn hoàn thiện thể thao có thể chia ra làm 2 giai đoạn nhỏ: giai đoạn thứ nhất kết thúc đồng thời với thời điểm được gọi là “tuổi thành tích thể thao”, tức là thời kỳ thuận lợi nhất để đạt thành tích trong môn thể thao lựa chọn, tiếp theo là giai đoạn nhỏ thứ 2, là giai đoạn duy trì thành tích đã đạt được Giai đoạn tuổi thọ thể thao là giai đoạn giảm sút theo lứa tuổi những khả năng chức phận và khả năng thích ứng của cơ thể [20, tr.116]
Trang 20Theo D.Harre, quá trình đào tạo nhiều năm của Cộng hoà dân chủ Đức trước đây được chia làm 2 giai đoạn đào tạo khác nhau: Giai đoạn đào tạo VĐV trẻ và giai đoạn huấn luyện VĐV cấp cao
Mục đính của giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ là đào tạo nên các tiền đề chung và chuyên môn cho các thành tích thể thao cao nhất sau này Các tiền đề
đó diễn ra với sự tăng dần tính chất chuyên môn hoá trong tập luyện Mục đích của giai đoạn huấn luyện VĐV cấp cao là xây dựng các thành tích thể thao cao nhất trong quá trình huấn luyện chuyên môn hoá [12]
Cơ sở khoa học của sự phân chia giai đoạn theo D.Harre là các yếu tố xác định thành tích thể thao Mỗi giai đoạn cần xác định chính xác mục đích, mục tiêu, nội dung tập luyện tương ứng, tuổi đời không phải là tiêu chuẩn để phân chia giai đoạn Khi VĐV đã đạt được yêu cầu của giai đoạn trước, có thể được chuyển sang giai đoạn tiếp huấn luyện tiếp theo
Ở Việt nam một số nhà khoa học cũng đưa ra những quan điểm phân chia giai đoạn trong huấn luyện nhiều năm
Xét trên quan điểm nhân tài học, Nguyễn Thế Truyền chia hệ thống huấn luyện nhiều năm thành 3 giai đoạn: Giai đoạn phát hiện năng khiếu thể thao, giai đoạn đào tạo tài năng thể thao, và giai đoạn bồi dưỡng nhân tài thể thao [19, tr.11]
Theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, quy trình huấn luyện nhiều năm được chia theo 3 giai đoạn chính: giai đoạn đào tạo ban đầu, giai đoạn hiện thực hoá tối đa khả năng thể thao và giai đoạn duy trì tuổi thọ thể thao Mục đích của giai đoạn đào tạo ban đầu là đặt nền móng cho thành tích thể thao và được chia làm 2 giai đoạn nhỏ: giai đoạn đào tạo thể thao (là giai đoạn phát hiện tài năng, với mục tiêu là phát hiện môn thể thao phù hợp với năng khiếu của từng em) và giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu Giai đoạn thực hiện hoá tối đa khả năng thể thao chia làm 2 giai đoạn nhỏ: giai đoạn tiền cực điểm (giai đoạn thể hiện rõ các đặc điểm cuả môn chuyên sâu) và giai đoạn đạt thành tích thể thao tột đỉnh (giai đoạn này trùng với lứa tuổi thuận lợi nhất để xuất hiện những thành tích thể thao
Trang 21xuất sắc) Giai đoạn duy trì tuổi thọ thể thao chia làm 2 giai đoạn nhỏ; giai đoạn duy trì thành tích thể thao và giai đoạn duy trì trình độ tập luyện chung để đưa VĐV trở lại đời sống bình thường [25, tr.458]
Lê Văn Lẫm lại cho rằng có thể chia quá trình huấn luyện nhiều năm thành 4 giai đoạn: giai đoạn huấn luyện sơ bộ, giai đoạn huấn luyện ban đầu, giai đoạn huấn luyện chuyên môn hoá và giai đoạn hoàn thiện thể thao
Qua phân tích đặc điểm các giai đoạn của quy trình huấn luyện nhiều năm của các tác giả trong và ngoài nước cho thấy: Quá trình đào tạo VĐV diễn ra nhiều năm và chia thành các giai đoạn cụ thể Đặc điểm quan trọng nhất của tính giai đoạn đó là tính kế thừa và tính liên tục Để đào tạo VĐV đạt tới đỉnh cao thành tích phải căn cứ vào quy luật phát triển sinh học của cơ thể và phải đạt được những mục tiêu mà mỗi giai đoạn đã đề ra trong quy trình đào tạo theo những tiêu chuẩn đặc trưng cho từng giai đoạn
Quá trình tổ chức đào tạo VĐV Bơi lội:
Tại Hungari chia quá trình đào tạo như sau
Bảng 1.1 Quá trình tổ chức đào tạo VĐV bơi của Hungari
Chuyên môn hoá sâu II Thiếu niên nhỏ 12-13 10-11
Thiếu niên lớn 14-15 12-13 Hoàn thiện thể thao
Trưởng thành 18 trở lên 16 trở lên Tại Nga, mục tiêu của quá trình đào tạo nhiều năm là duy trì được động thái hợp lý của sự phát triển các tố chất thể lực phù hợp với quy luật phát triển theo lứa tuổi Quá trình đào tạo được chia làm 4 giai đoạn [2]
Trang 22Bảng 1.2 Quá trình đào tạo VĐV bơi của Nga
(Thời gian: 1-2 năm)
7-9 tuổi (nữ) 8-10 tuổi (nam)
2 Chuyên môn hoá ban đầu
(Thời gian trung bình 3 năm)
9-10 tuổi (nữ) 10-11 tuổi (nam)
(Thời gian: 3-4 năm)
12-14 tuổi (nữ) 13-15 tuổi (nam)
4
Hoàn thiện thể thao:
(Thời gian: tuỳ theo mỗi VĐV)
15-16 tuổi(nữ) 16-19 tuổi (nam) Tại Mỹ, nhân tố lớn nhất quyết định cho sự tăng trưởng mạnh mẽ của bơi lội
Mỹ trong những năm sau thế chiến thứ hai là việc phát triển các nhóm bơi theo lứa tuổi Theo Peter Daland, HLV của trường Đại học Tổng hợp Nam California, kết quả đầu tiên của chương trình mới đã thể hiện tại thế vận hội Melbourne 1956, khi Sylvia Ruuska, một VĐV của chương trình huấn luyện theo nhóm tuổi đã đạt huy chương đồng ở cự ly 400m TD Trong bài báo “Kế hoạnh huấn luyện nhiều năm” Madsen và Wike (1983) đã công bố mô hình huấn luyện cho các nhóm tuổi để đạt thành tích cao Kế hoạch bắt đầu với việc huấn luyện hệ thống ở lứa tuổi 7 hoặc 8 và đến đỉnh cao 8 năm học kỹ thuật toàn diện trong các hoạt động đa dạng và lượng vận động dưới nước ngày một tăng Kế hoạch này được chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn học vận động cơ bản: từ 8-10 tuổi
+ Giai đoạn huấn luyện cơ sở: từ 10-12 tuổi
+ Giai đoạn phát triển cơ sở: từ 12-14 tuổi
+ Giai đoạn đỉnh cao tài năng: từ 14-18 tuổi [31, tr 255)
Ở Australia: Hệ thống huấn luyện nhiều năm được chia làm 4 giai đoạn:
Trang 23Bảng 1.3 Quá trình đào tạo VĐV bơi của Australia
I
(2z năm)
1 Phối hợp các động tác hợp lý trong nước
2 Học các yếu lĩnh của kỹ thuật bơi
3 Phối hợp tổng thể các kỹ năng chung
2 Bơi tốc độ: biến tốc và nhịp điệu từng đoạn ngắn
3 Hướng dẫn kỹ thuật bơi: củng cố 4 kiểu bơi
4 Huấn luyện sức bền, bơi biến tốc dài
5 Thi đấu cự ly dài
2 3 Sức bền với nhóm cơ bắp chính của VĐV
3 (bơi động tác lẻ: tay chân với phao)
Trang 24Phương thức thư nhất: phù hợp với chế độ giáo dục phổ thông và thuận
tiện cho công tác quản lý cơ sở, được chia làm 3 giai đoạn huấn luyện lớn như sau:
Bảng 1.4 Quá trình đào tạo VĐV bơi của Trung Quốc
1 Giai đoạn giảng dạy và huấn
luyện cơ bản
Huấn kuyện kỹ thuật 9-10 tuổi
2 Giai đoạn phát triển toàn diện Nâng cao năng lưc cơ bản 11-12 tuổi
Huấn luyện chuẩn bị chuyên sâu 13-14 tuổi
3 Giai đoạn huấn luyện chuyên sâu Huấn luyện chuyên sâu nâng cao 15-17 uổi
[33, tr.120]
Phương thức thứ hai: Căn cứ vào hệ thống huấn luyện của trường thể
thao thanh thiếu niên Cách này coi trọng sự khác biệt về giới tính, do vậy đòi hỏi quá trình huấn luyện hết sức khoa học:
Bảng 1.5 Quá trình đào tạo VĐV bơi của Trung Quốc
Giai đoạn huấn
1 Giai đoạn dạy
bơi ban đầu
2 Giai đoạn huấn
3 Giai đoạn nâng
cao môn chuyên
sâu
1 Từng bước phát triển năng lực chuyên môn và chuyên môn
Nữ 13-14 tuổi Nam 14-15 tuổi
2 Nâng cao năng lực chuyên môn, lập thành tích cao
15-17 tuổi
[33, tr.120]
Trang 251.2 Những khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài
1.2.1 Khái niệm về huấn luyện thể thao
Huấn luyện được hiểu là quá trình đào tạo có tổ chức nhằm mục đích nâng cao các mặt về sinh lý, tâm lý, trí tuệ và kỹ năng vận động của con người Trong lĩnh vực TDTT đó là một quá trình sư phạm được tiến hành dựa trên cơ
sở các tri thức khoa học nhằm hoàn thiện trình độ tập luyện thể thao Quá trình này tác động có hệ thống vào khả năng chức phận về tâm-sinh lý và trạng thái sẵn sàng đạt thành tích, nhằm mục đích dẫn dắt VĐV tới các thành tích thể thao cao và cao nhất [12]
Các nhân tố tạo nên công việc huấn luyện một cách khoa học được xác định là hoạt động có hệ thống, có phương pháp và có chủ đích tới cơ bắp, với mục đích cải thiện thành tích thông qua sự thích nghi, thích ứng về hình thái và khả năng chức phận Vì vậy, nếu có một hoạt động nào về cơ bắp thì được coi là tập luyện Mặc dù thói quen ăn uống, hoặc thực phẩm có thể ảnh hưởng tới sự thành công của tập luyện, tới sự phát triển thành tích nhưng chúng không được coi là tập luyện Trong HLTT, tư tưởng ý chí và nghị lực của VĐV trong tập luyện chi phối mạnh mẽ đến sự hoạt động của cơ bắp, vì thế việc rèn luyện phẩm chất ý chí, tư tưởng được xem là một dạng của tập luyện
Theo Nguyễn Toán thì HLTT là một quá trình giáo dục chuyên môn, chủ yếu bằng các bài tập thể lực, nhằm hoàn thiện các phẩm chất, năng lực, các mặt của trình độ chuẩn bị nhằm đảm bảo cho VĐV đạt thành tích cao nhất trong môn thể thao đã chọn [31] Trong huấn luyện bơi, theo Olbrecht: “Huấn luyện bơi là nghệ thuật về sự tạo dựng, là cảm giác, là sự sáng tạo, là kiến thức khoa học và kinh nghiệm để không ngừng đạt hiệu quả trong kế hoạch huấn luyện, hay nói cách khác là giúp cho VĐV bơi đạt tới những thành tích đỉnh cao”[49]
HLTT là một quá trình làm cho cơ thể VĐV phát triển theo hình làn sóng (từ chỗ cân bằng đến chỗ mất cân bằng rồi trở lại cân bằng) và là một quá trình nâng cao thành tích theo đường gấp khúc đi lên Do đó, theo Diên Phong:
Trang 26“Muốn đạt được trình độ cao về thành tích hiện đại, đòi hỏi VĐV trong quá trình tập luyện phải phát huy được tất cả các năng lực và tiềm lực của bản thân Muốn làm được điều này chỉ có một con đường duy nhất là sử dụng LVĐ lớn nhất trong tập luyện”[22]
Như vậy, thực chất công tác huấn luyện được thực hiện thông qua các bài tập được tiến hành qua các thời kỳ, các giai đoạn, tuần và mỗi buổi tập cụ thể trong quá trình huấn luyện hàng năm phải mang tính tuần tự, kế thừa, phát triển
và có hệ thống khoa học
1.2.2 Khái niệm bài tập thể dục thể thao (TDTT)
Bài tập thể dục thể thao (TDTT) là phương tiện huấn luyện chủ yếu trong các môn thể thao Trong chừng mực nhất định, các bài tập có được chuyên môn hoá phù hợp với những đặc điểm của môn thể thao lựa chọn để tập luyện chuyên sâu [22, tr.11, 12], [21, tr.11]
Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn, Bài tập TDTT là những hoạt động vận động chuyên biệt do con người sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ đích, phù hợp với các quy luật giáo dục thể chất Người ta dùng chúng để giải quyết những nhiệm vụ giáo dục thể chất, đáp ứng những yêu cầu phát triển thể chất và tinh thần của con người [25, tr.109]
Theo Lưu Quang Hiệp và Phạm Thị Uyên, thì một tổ hợp các tác động có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định được gọi là bài tập [8, tr.361]
Nội dung bài tập TDTT bao gồm các thành phần tạo nên bài tập đó và các quá trình cơ bản xảy ra trong cơ thể do việc thực hiện bài tập đó tạo nên Các quá trình này quyết định tác dụng của bài tập đối với bài tập Các quá trình xảy
ra trong cơ thể rất phức tạp, đa dạng và có thể xem xét từ các góc độ khác nhau: tâm lý, sinh lý, sinh hoá Về mặt sinh hoá học, nội dung bài tập TDTT là những biến đổi trong hoạt động chức năng của cơ thể khi thực hiện bài tập, làm cho cơ thể chuyển sang một mức độ hoạt động cao hơn so với mức yên tĩnh, nhờ vậy
Trang 27mà có thể hoàn thiện được những khả năng chức phận của cơ thể Ngoài ra người ta còn tính tới cả những biến đổi trước và sau khi thực hiện bài tập Tuỳ theo đặc điểm bài tập, những biến đổi sinh lý có thể đạt mức khá lớn Thí dụ: thông khí phổi có thể tăng lên 30 lần, lượng hấp thụ Oxy tăng đến 20 lần, lưu lượng phút của máu tăng đến 10 lần, kèm theo các quá trình mệt mỏi, tích luỹ các sản phẩm Oxy- hoá Những biến đổi sinh lý đó kích thích quá trình hồi phục
và thích nghi của cơ thể trong và sau lúc thực hiện bài tập, vì vậy được coi là nhân tố có tác dụng mạnh mẽ, làm tăng khả năng chức phận và hoàn thiện những đặc điểm cấu trúc của cơ thể
Khi xem xét nội dung bài tập TDTT từ góc độ sự phạm, điều quan trọng là xem xét tác dụng tổng hợp của các bài tập đó đối với việc phát triển các năng lực vận động của cơ thể và sự hình thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động (KN-KX VĐ), cũng như sự tác động đến hành vi, nhân cách người tập
Để nắm được nội dung của bài tập TDTT nào đó, nhà sư phạm không những cần hiểu những biến đổi sinh lý, sinh hoá và những biến đổi khác xảy ra trong cơ thể do ảnh hưởng của bài tập mà điều chủ yếu là hiểu được phương hướng tác dụng của bài tập đối với việc thực hiện những nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng đặt ra
Một đặc trưng quan trọng của bài tập TDTT là nó được xây dựng trên cơ
sở những hoạt động vận động có ý thức, tức là được điều khiển từ các trung khu thần kinh ở vỏ não Đó là những hành vi vận động có chủ đích, liên quan đến nhiều quá trình tâm lý: sự biểu tượng về động tác, hoạt động tư duy, cảm xúc vv có ảnh hưởng mạnh đối với sự biểu hiện ý chí, tình cảm, tính cách Bài tập TDTT có thể được coi là những hành vi vận động có ý thức, trong đó thể hiện sự thống nhất giữa hoạt động thân thể và tâm lý Nó không chỉ tác động đến cơ thể,
mà cả đối với nhân cách và tâm lý người tập
Hình thức của bài tập là cấu trúc (hay tổ chức) bên trong và bên ngoài của
nó Hình thức của bài tập phụ thuộc vào các đặc điểm nội dung của nó
Trang 28Cấu trúc bên trong của bài tập TDTT thể hiện ở mối quan hệ và sự phối hợp, tác động lẫn nhau giữa các quá trình khác nhau của hoạt động chức năng của cơ thể trong lúc thực hiện bài tập Các quá trình phối hợp thần kinh cơ, sự phối hợp tác động lẫn nhau giữa hoạt động của hệ vận động và hệ thực vật, cấu trúc của quá trình chuyển hoá năng lượng (tương quan giữa các quá trình có Oxy
và không có Oxy),v.v
Cấu trúc bên ngoài của bài tập TDTT là hình dáng có thể nhìn thấy của
nó, thể hiện đặc trưng ở quan hệ giữa các thông số không gian, thời gian và lực của các động tác tạo thành bài tập
Hình thức và nội dung của bài tập TDTT liên quan hữu cơ với nhau, trong
đó nội dung là mặt quyết định và động hơn Điều đó có nghĩa là, để thực hiện được một hoạt động vận động quy định nào đó cao hơn khả năng hiện có, trước hết phải thay đổi một cách tương ứng mặt nội dung của nó Tức là phải nâng cao khả năng chức phận của cơ thể các năng lực vận động đó đòi hỏi
Nội dung thay đổi thì hình thức bài tập cũng thay đổi Thí dụ, sức mạnh hoặc sức bền thay đổi thì biên độ, tần số động tác cũng có thể thay đổi
Hình thức cũng có ảnh hưởng đến nội dung Hình thức chưa hoàn thiện của bài tập sẽ cản trở sự biểu hiện tối đa các khả năng của cơ thể Ngược lại, hình thức hoàn thiện sẽ tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả các năng lực thể chất Thí dụ, cùng một tốc độ chuyển động như nhau, người có kỹ thuật bơi hợp lý sẽ tiêu hao năng lượng ít hơn nhiều so với những người mới biết bơi, hoặc dùng sức như nhau nhưng người có kỹ thuật tốt hơn sẽ bơi nhanh hơn những người mới biết bơi, hay dùng sức như nhau nhưng người có kỹ thuật hơn sẽ bơi nhanh hơn [25, tr.111-116] Toàn bộ cấu trúc bên trong và bên ngoài của bài tập TDTT
có sự liên hệ mật thiết với nhau và được gọi là lượng vận động của bài tập tập luyện (hoặc thi đấu) Lượng vận động bao gồm : khối lượng vận động (độ dài thời gian hoạt động vận động) và cường độ vận động (độ “nặng” của bài tập)
Trang 29Theo Phạm Trọng Thanh, Lê Nguyệt Nga, Đào Công Sanh (2006), lượng vận động trong huấn luyện VĐV bơi trẻ bao gồm các yếu tố sau:
- Tính chất của bài tập
- Cường độ hoạt động (tốc độ bơi)
- Thời gian nghỉ giữa các lần bơi
1.3 Các phương pháp đánh giá độ tin cậy và tính thông báo của test
1.3.1 Độ tin cậy của test
Có ba phương pháp đánh giá độ tin cậy của test là phương pháp test lập lại (Rest Retest & Methods), phương pháp test gấp đôi và phương pháp hình thức
song song, ở đây chỉ đề cập đến hình thức test lặp lại
Phương pháp test lặp lại (Test Retest & Methods): là lặp lại hai lần yêu cầu của Retest, lần thứ hai lên tiến hành cùng buổi hoặc cùng ngày với lần thứ
nhất, trên cùng đối tượng nghiên cứu hoặc trên cùng điều kiện
Xác định độ tin cậy của test bằng phương pháp phân tích phương sai, tức
là tính hệ số tương quan tuyến tính giữa kết quả hai lần lập test
Cách đánh giá độ tin cậy
Khi r: Từ 0,95 đến 0,99: Mức độ tin cậy rất cao
Từ 0,90 đến 0,94: Mức độ tin cậy cao
Từ 0,80 đến 0,89: Cho phép dùng được
Từ 0,70 đến 0,79: Mức độ tin cậy yếu
< 0,70: Mức độ nghi vấn trong đánh giá
Trang 301.3.2 Tính thông báo của test
Khái niệm: Là mức độ chính xác của test trong đo lường xác định một đặc trưng nào đó
Ở những trường hợp khác nhau với cùng một test sẽ có thể có tính thông báo khác nhau Như vậy, tính thông báo của test sẽ giải đáp hai vấn đề: Đo cái gì? và chính xác như thế nào?
Tính thông báo của test có thể xác định được số lượng nhờ số lượng đối tượng thực nghiệm gọi là thông báo thực nghiệm và xác định được về chất lượng,
về sự phân tích nội dung tình huống gọi là thông báo logic (thông báo nội dung)
1.4 Xác định chỉ tiêu đánh giá hiệu quả bài tập nâng cao thành tích bơi 200m Hỗn hợp cho nam VĐV bơi lứa tuổi 13 – 14
1.4.1 Các vùng cường độ trong bơi 200m hỗn hợp:
Theo tài liệu của tác giả PGS Nguyễn Văn Trạch, Ths Nguyễn Đức Thuận, Ths Lê Anh Tuấn đã viết trong sách “Những tri thức cơ bản trong đào tạo VĐV Bơi lội trẻ”, tác giả đã dựa vào kết quả nghiên cứu các quá trình trao đổi năng lượng của tác giả Gulstarand (1992) của các cự ly bơi từ 50m -1500m được trình bày ở bảng 1.6 như sau:
Bảng 1.6 Tỷ lệ phần trăm cung cấp năng lượng với các cự ly thi đấu
bơi của các hệ thống năng lượng ưa khí và yếm khí
Cự ly thi đấu các kiểu bơi
Tỷ lệ % các hệ cung cấp năng lượng
ATP, CP và
hệ axit lactic
Hệ axit lactic và hệ
ưa khí
Hệ ưa khí
50 bơi tự do
100(m) hoặc 100 Yard (các kiểu bơi)
200 (m) hoặc 200 Yard (các kiểu bơi)
Trang 31Thông qua bảng 1.6 cho thấy ở cự ly 200m thì năng lượng cung cấp cho hoạt động bởi hệ thống năng lượng Hệ axit lactic và hệ ưa khí chiếm 65% và hệ
ưa khí chiêm 5%, ATP, CP và hệ axit lactic tỉ lệ 30%
Hiện nay trong huấn luyện thể thao hiện đại, nhất là các môn thể thao có chu kỳ thường dựa vào hệ thống cung cấp năng lượng cho sự hoạt động của cơ thể để phân loại ưa khí và yếm khí
Theo tài liệu của tác giả Nguyễn Ngọc Cừ, Dương Nghiệp Chí thì hệ thống năng lượng cung cấp cho hoạt động vận động của cơ thể được sắp xếp theo các miền năng lượng sau:
- Miền năng lượng Phosphagene: Gồm các môn thể thao có đặc điểm kỹ chiến thuật và tố chất thể lực đòi hỏi VĐV phải có tốc độ tối đa, sức mạnh tốc
độ lớn (lực bột phát), tần số động tác hoặc tốc độ một động tác nhanh, đó là các môn cử tạ, ném lao, tạ xích, đẩy tạ, các môn nhảy cao, nhảy xa, nhảy sào, chạy 100m, xe đạp cự ly ngắn,… [7]
- Miền năng lượng hỗn hợp Phosphagene và Glycolysis: Gồm các môn thể thao có chu kỳ như chạy 200m, bơi 50m và các môn phi chu kỳ như bóng rổ, bóng chuyền, bóng đá, bóng bàn, cầu lông, cầu mây, vật tự do, vật cổ điển, võ thuật, Karatedo, Teakwondo, Judo, thể dục dụng cụ,…Đặc điểm sinh hóa nổi bật của những môn thể thao này là năng lực dự trữ Phosphagene của VĐV lớn Năng lượng cung cấp cho hoạt động chủ yếu là khai thác tới tối đa mức năng lượng Creatine phosphate (CP), làm CP cạn kiệt sau vận động, năng lượng AL máu thấp [7]
- Miền năng lượng Glycolysis: Gồm chạy 400m, bơi 100m, xe đạp 1000m
- Miền năng lượng hỗn hợp glycolysis và oxy hóa glucose: chạy 800m, 1500m, bơi 200m, 400m,…
Những môn thể thao thuộc hai miền năng lượng Glycolysis và hỗn hợp Glycolysis oxy hóa có chung đặc điểm là lượng AL máu cao và rất cao, trung
Trang 32bình 12-15 mmol/l và có thể đạt giá trị tối đa là 22-25 mmol/l Khả năng chịu đựng của VĐV với nồng độ AL với nồng độ máu cao là yếu tố có ý nghĩa quyết định đạt thành tích cao trong các môn thể thao thuộc hai miền năng lượng này [7]
Miền năng lượng Oxy hóa: chạy 3000m, bơi 1500m, marathon…
Qua nghiên cứu và thực tiễn của TDTT, các nhà khoa học thể thao bơi đã phân loại các bài tập luyện ưa khí và yếm khí theo tác động đặc thù, kết hợp với các hệ thống cung cấp năng lượng trong cơ thể Theo Olbrecht (2000), phân loại bài tập theo tác động đặc trưng của bài tập ưa khí, yếm khí, kết hợp với phân loại các miền năng lượng được trình bày, thể hiện như bảng 1.7
Bảng 1.7 Phân loại bài tập theo tác động huấn luyện bơi (Olbretcht 2000)
Dung lượng ưa khí Nâng cao khả năng hấp thụ Oxy tối đa (VO2max)
Dung lượng yếm khí Nâng cao tối đa tốc độ phân giải của pha Glycolysis (còn
gọi là dung lượng Lactate tối đa – Plamax = Vlamax)
Công suất ưa khí Tối đa việc sử dụng khả năng hấp thụ Oxy tối đa
(% VO2max) trong quá trình gắng sức thi đấu
Công suất yếm khí Sử dụng tối đa tốc độ phân giải của pha Glycolysis
(% VLamax) Với phân loại bài tập ưa khí và yếm khí như trên, sẽ tạo ra các yêu cầu về mục đích tác động trong huấn luyện như sau:
- Xác định mục đích chính của một thời kỳ huấn luyện
- Tạo ra thích nghi sinh học chính
Từ quan điểm phân loại bài tập ưa khí, yếm khí trên giúp cho người huấn luyện viên trong việc:
- Lập kế hoạch huấn luyện và đưa mục đích huấn luyện của kế hoạch đề
ra vào trong các bài tập luyện theo quá trình phát triển các chu kỳ huấn luyện của kế hoạch đã đề ra một cách đúng nhất
Trang 33- Thực hiện “điều chỉnh” huấn luyện sau khi thực hiện các test đánh giá tập luyện [49]
Như vậy, HLV sẽ có khái quát đầy đủ về nội dung tập luyện ưa khí và yếm khí của mỗi thời kỳ huấn luyện và đánh giá hiệu quả huấn luyện bằng cách xem xét khối lượng tập luyện và tác động của nó qua tập luyện, kiểm tra, thi đấu Từ đó điều chỉnh tập luyện thời kỳ huấn luyện tiếp theo (sự lặp lại ở các buổi tập, khối lượng bơi của các bài tập khác nhau…) với dự định về các mức thích nghi, thích ứng cần thiết cho VĐV Tiêu chuẩn phân loại các bài tập luyện
ưa khí và yếm khí dựa trên cơ sở phối hợp của các chứng minh khoa học và dựa vào kinh nghiệm của các HLV sau các thử nghiệm, cũng như thực tế của quá trình huấn luyện thể thao Tất nhiên để sát thực hơn trong huấn luyện, các nhà khoa học thể thao và thực tế của các chuyên gia huấn luyện thể thao đã phân bổ việc tập luyện theo dạng các vùng huấn luyện hay còn gọi là phân vùng cường
độ tập luyện Khái niệm huấn luyện đặc biệt này hàm ý một hệ thống cung cấp năng lượng được cấu thành bởi khối lượng và cường độ bài tập tập luyện theo giới hạn nhất định Các giới hạn này là: “Các vùng huấn luyện hay các vùng cường độ tập luyện” để quy ra các dạng tập luyện tác động tạo nên sự thích nghi
có mục đích theo các nhóm bài tập, phù hợp mục đích tạo nên sự thích nghi, thích ứng mà HLV mong muốn trong huấn luyện cho VĐV
Theo Olbrecht để giải quyết thành tích 200m HH cho VĐV bơi, điều quan trọng là phải đạt được mục đích của bốn vấn đề lớn là dung lượng ưa khí (Aerobic Capacity), dung lượng yếm khí (Aerobic Capacity), công suất ưa khí (Aerobic Power), công suất yếm khí (Aerobic Power) Các khái niệm về dung lượng và công suất hoạt động của các hệ thống cung cấp năng lương ưa khí và
hệ thống cung cấp năng lượng yếm khí được hiểu như sau:
- Dung lượng ưa khí là sự nâng cao mức độ hấp thụ Oxy tối đa (VO2max)
- Dung lượng yếm khí là tăng cường nhịp độ đường phân yếm khí tối đa, còn gọi là khả năng sản sinh AL tối đa (Vlamax)
Trang 34- Công suất ưa khí là sự sử dụng khả năng hấp thụ Oxy tối đa (%VO2max) trong quá trình thi đấu
- Công suất yếm khí là sự sử dụng nhịp độ hoạt động tối đa của hệ thống đường phân yếm khí (glycolisis) trong quá trình thi đấu
Như vậy, trong huấn luyện bơi việc phân chia bài tập tập luyện theo các vùng cường độ đã dựa trên cơ sở phát triển dung lượng và công suất của hệ thống cung cấp năng lượng ưa khí, hệ thống cung cấp năng lượng yếm khí để nâng cao trình độ thể thao và thành tích cho VĐV bơi [49]
Theo Bugacova, trình độ phát triển cao của các chức năng cơ thể, phát triển những khả năng về năng lượng ở VĐV bơi là cơ sở năng lực vận động thể thao Nó được quy định bởi ba đặc tính sinh lý có liên quan với nhau của cơ thể VĐV: Năng lực yếm khí không có AL, năng lực yếm khí đường phân và năng lực ưa khí (hay hô hấp) [2]
Năng lực yếm khí không có AL bao gồm những đặc tính của cơ thể đảm bảo thực hiện những bài tập có cường độ cao nhờ nguồn năng lượng có gốc phôtpho Năng lực này là cơ sở cho một số tố chất thể lực của VĐV bơi, như sức mạnh, sức nhanh và sức bền tốc độ (năng lực duy trì trong một thời gian hoạt động công suất tối đa) Những khả năng về năng lượng loại này có ý nghĩa lớn nhất đối với các cự ly bơi ngắn [2]
Năng lực yếm khí đường phân có ý nghĩa tương ứng với khái niệm sức bền tốc độ Trình độ phát triển của tố chất này chi phối khả năng của VĐV duy trì nhịp độ cao trên cự ly và rút mạnh về đích mặc dù rất mệt mỏi Năng lực yếm khí đường phân có vai trò quan trọng trong các bài tập cường độ cao với thời gian ngắn, những bài tập gây cảm giác thiếu Oxy gay gắt như bơi 100m [2]
Năng lực ưa khí của VĐV cho phép thực hiện các hoạt động cơ kéo dài nhờ năng lượng của các quá trình Oxy hóa Năng lực ưa khí có ý nghĩa gần hơn
cả với khái niệm sức bền chung hay sức bền cự ly dài [2]
Trang 35Tổng tiêu hao năng lượng khi bơi, đó là năng lượng được giải phóng trong quá trình ưa khí và năng lượng được sản sinh ra nhờ những biến đổi yếm khí Như vậy ở cự ly bơi 200m Hỗn hợp thì các quá trình tạo năng lượng ưa khí (aerobic) chiếm ưu thế [2]
1.4.2 Đặc điểm sinh lý của bài tập bơi 200m HH
Cự ly 200m Hỗn hợp là nội dung khó nhất trong các nội dung kiểm tra đánh giá quá trình huấn luyện của các VĐV Ngoài việc ứng dụng tốt các kỹ thuật của 4 kiểu bơi, còn đòi hỏi VĐV phải phát huy tốt các tố chất vận động Với thời gian hoạt động từ 2-5 phút Thành tích của cự ly phụ thuộc vào khả năng ưa khí và yếm khí của người tập Trong đó khả năng ưa khí chiếm ưu thế Khả năng cung cấp oxy tối đa của cơ thể (VO2max) được quyết định bởi hệ thống chức năng chính:
+ Hệ vận chuyển oxy
+ Hệ sử dụng oxy
Hệ vận chuyển oxy: Bao gồm hệ hô hấp ngoài, máu và hệ tim mạch
- Hệ hô hấp ngoài: Chức năng chính là đảm bảo quá trình trao đổi khí giữa cơ thể với môi trường bên ngoài Đảm bảo duy trì phân áp oxy trong máu động mạch ở mức cần thiết để cung cấp máu cho hệ cơ quan và các cơ quan trong cơ thể
- Hệ máu: thực hiện chức măng vận chuyển oxy và chất dinh dưỡng tới các cơ quan sử dụng và vận chuyển các sản phẩm của quá trình trao đổi chất tới các cơ quan đào thải Thể tích máu và hàm lượng Hêmoglobin quyết định khả năng vận chuyển oxy của cơ thể Oxy được vận chuyển trong máu nhờ sự kết hợp với hemoglobin của hồng cầu cấu tạo thành oxyhemoglobin
Trong hoạt động hàm lượng axitlactic cũng được biểu thị khả năng hoạt động sức bền Khi hoạt động tỷ lệ axitlactic tỷ lệ thuận với công suất vận động
cơ, tỷ lệ nghịch với thời gian vận động Như vậy axitlactic xuất hiện nhiều trong các hoạt động yếm khí Công suất vận động cơ càng cao thì axitlactic trong máu
Trang 36càng lớn và ngược lại Bởi vì cơ bắp của sức bền có khả năng trao đổi khí ở điều kiện hàm lượng oxy cao đặc biệt ở các VĐV sức bền có cơ tim phát triển và tỷ
lệ các lợi cơ chậm trong cơ bắp nhiều Trong hoạt động sức bền, khối lượng máu tuần hoàn tăng lên nhờ sự hoạt động của cơ quan dự trữ làm pha loãng nồng độ axitlactic nên làm giảm nồng độ axitlactic trong máu để tăng cường hoạt động
ưa khí kéo dài
Hệ tim mạch: máu có thực hiện chức năng vận chuyển oxy hay không là nhờ vào khả năng làm việc của hệ tim mạch
Trong các hoạt động sức bền, đặc biệt là hoạt động sức bền ưa khí tối đa thì hệ tim mạch được phát triển rất rõ rệt Cụ thể là làm tăng khối lượng của tim, tăng phì đại cơ tim, rộng buồng tim, tăng đàn hồi tính cơ tim và thành mạch, vì vậy mà thể tích tâm thu, tâm trương tăng lên, tăng khối lượng và tốc độ dẫn máu trong thành mạch khi hoạt động ưa khí tối đa Thể tích phút của các VĐV sức bền có thể đạt tối đa 38-40lit/ phút (gấp đôi người bình thường) Thể tích tâm thu tối đa tăng có thể đạt tới 190-210ml trong khi người bình thường không quá 130ml Hệ tim mạch phát triển còn tăng lượng các mao mạch nhỏ và làm tăng bề mặt khuếch tán khi thực hiện quá trình trao đổi chất trong cơ thể
Hệ sử dụng oxy: trong hoạt động thể lực hệ cơ được coi là hệ sử dụng oxy của cơ thể
Đặc điểm nổi bật của hệ cơ đối với hoạt động sức bền là tỷ lệ sợi cơ chậm cao hơn Tỷ lệ sợi cơ chậm và hoạt động VO2 max có liên quan tuyến tính với nhau Thực tế tập luyện không làm thay đổi tỷ lệ sợi cơ chậm khi tỷ lệ cơ có hoạt tính oxy hóa tăng thì tỷ lệ nhóm cơ nhanh giảm xuống Tức là khi hoạt động khả năng hoạt động ưa khí tăng lên thì khả năng hoạt động yếm khí giảm xuống
Hoạt động thể lực đúng khoa học sẽ làm cơ quan phát triển, đó là hiện tượng phì đại cơ Trong các hoạt động sức mạnh và sức nhanh, sự phì đại cơ bắp
là do tăng thiết diện ngang sinh lý của cơ, tức là tăng số lượng và độ dài tơ cơ
Trang 37trong các hoạt động sức bền ngoài sự tăng thiết diện ngang sinh lý đến mức độ nhất định Sự phì đại cơ bắp còn do sự phì đại của cơ trương Bởi vì khi hoạt động ở điều kiện ưa khí sẽ làm tăng số lượng ty lạp thể, làm tăng hàm lượng men oxy hóa và làm tăng thể tích cơ trương, hoạt động ưa khí làm tăng khả năng oxy hóa lipit trong cơ thể
1.5 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 13-14
Trong quá trình sống và phát triển, cơ thể con người có những biến đổi đa dạng về cấu tạo, chức năng và tâm lý dưới tác động của các yếu tố di truyền và môi trường sống Vì vậy tập luyện TDTT sẽ có ảnh hưởng tốt tới cơ thể người tập nếu như những hoạt động tập luyện đó phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, giới tính và trình độ tập luyện của đối tượng Do đó, việc nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm tâm – sinh lý của đối tượng tập luyện có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đóng góp tích cực
và việc nâng cao thành tích cho nam VĐV bơi lội lứa tuổi 13-14 [8]
1.5.1 Đặc điểm tâm lý của nam VĐV lứa tuổi 13-14
Trong hoạt động thể thao các quá trình, trạng thái tâm lý có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả tập luyện và thi đấu Do đó, trong quá trình huấn luyện, chúng ta cần nắm được đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi nói chung và đặc điểm tâm lý của từng cá nhân nói riêng Để từ đó có biện pháp điều chỉnh thích hợp, phục vụ cho quá trình phát triển và hoàn thiện tâm lý thi đấu, gắn liền với quá trình giảng dạy
và huấn luyện nâng cao các năng lực chuyên môn [40], [41]
- Tri giác: Ở lứa tuổi 13 – 14, tri giác đã đạt tới trình độ phát triển như người trưởng thành Tri giác có chủ định phát triển mạnh, biết phân tích, tổng hợp đối tượng có chủ định Khả năng nhận thức cảm tính của các em đã phát triển ở mức độ cao Trong quá trình huấn luyện cho các em, cần hướng đối tượng này vào những dấu hiệu nhận biết và cách đánh giá để phát triển khả năng phân tích, tổng hợp đồng thời gây hứng thú và sự say mê tập luyện cho các em [40], [41]
Trang 38Mặt khác, khả năng phương hướng tri giác không gian lứa tuổi 13-14 đã khá chính xác Do vậy khi huấn luyện khả năng phối hợp vận động cần chú ý đến việc phát triển khả năng định hướng cho VĐV
- Khả năng tập trung chú ý: Ở lứa tuổi 13-14, có khả năng chú ý vào một
đề tài, một đối tượng cao Chú ý có chủ định chiếm ưu thế, chú ý ở lứa tuổi này bền vững hơn, sự di chuyển chú ý nhanh và linh hoạt hơn, khối lượng chú ý nhiều hơn so với lứa tuổi nhi đồng, các em có thể chú ý được 2-3 đối tượng Vì vậy người giáo viên, huấn luyện viên cần chú ý các bài tập có tác dụng phát huy tính sáng tạo của học sinh [40], [41]
- Trí nhớ: Trí nhớ của học sinh lứa tuổi 13-14 có nhiều biến đổi căn bản
so với lứa tuổi nhi đồng, trí nhớ trừu tượng phát triển mạnh Ghi nhớ chủ định
và ghi nhớ ý nghĩa chiếm ưu thế, khả năng ghi nhớ và nhớ lại (tái hiện) có chủ định phát triển, các em có ý thức lựa chọn các nội dung chủ yếu để ghi nhớ, biết
hệ thống và sắp xếp nội dung bài học để các em thực hiện tốt các kỹ-chiến thuật cần thiết Mặt khác, sử dụng hiệu quả trí nhớ, có khả năng diễn đạt bài học, các
em thích thú quan sát một cách tỉ mỉ và biết đặt ra những câu hỏi và giải quyết vấn đề [40], [41]
- Phát triển tư duy: Lứa tuổi 13-14, tư duy trừu tượng được phát triển nhanh Các em có khả năng tiếp thu những khái niệm trừu tượng và phức tạp Khi giải quyết vấn đề các em dựa vào những khái niệm trừu tượng, phải dựa vào ngôn ngữ chứ không dựa vào hình ảnh và động tác cụ thể như lứa tuổi nhi đồng; năng lực phân tích và tổng hợp, năng lực trừu tượng hoá và khái quát hoá hệ thống duy luận còn yếu Đặc biệt các em chưa chủ động vận dụng hiểu biết của mình để kiểm nghiệm và củng cố kiến thức, kỹ năng kỹ xảo đã lĩnh hội được Vì vậy trong quá trình huấn luyện cũng cần phát triển năng lực tư duy và óc tưởng tượng, sáng tạo học sinh
- Tưởng tượng: Ở lứa tuổi 13-14, tư duy trừu tượng được phát triển ở mức
độ tưởng tượng tái tạo, các em tưởng tượng lại những điều đã học, mô tả trong
Trang 39giờ học và được trình bày trong sách vở để áp dụng trong tập luyện, thi đấu Khả năng tưởng tượng của học sinh nếu được hướng dẫn nâng cao thì khả năng tưởng tượng sáng tạo trong quá trình huấn luyện sẽ có tác dụng tốt đến việc nâng cao thành tích sau này của các em
- Cảm xúc: Đặc điểm nổi bật trong tình cảm của thiếu niên lứa tuổi 13-14
là tính xúc cảm cao (dễ bị kích động) Điều đó là do tính xúc động cao của tuổi dậy thì, nó phụ thuộc vào đặc điểm của hệ thần kinh; quá trình hưng phấn tạm thời có ưu thế so với ức chế, làm cho các em không kìm chế được bản thân Cho nên tham gia bất cứ hoạt động nào các em đều biểu hiện cảm xúc rất mạnh mẽ
và rõ nét Tình cảm của thiếu niên lứa tuổi này bắt đầu phục tùng lý trí, có khả năng điều chỉnh tình cảm và cảm xúc của mình Các em đã biết che dấu phần nào sự biểu hiện cảm xúc bề ngoài của mình Tuy vậy, tính bồng bôt, xốc nổi vẫn là đặc tính cảm xúc của các em Tâm trạng của thiếu niên cũng thay đổi dễ dàng và nhanh chóng (vui buồn nhất thời) Tâm trạng đó thường ngắn và chuyển hoá sang cho nhau nhanh Vì vậy, trong quá trình huấn luyện cho lứa tuổi này cần thận trọng khi phê bình về mặt tâm lý Mỗi buổi tập cần gây cảm xúc tình cảm cho các em, cần có những phương pháp nhằm nâng cao tính thi đua học tập, tạo tính hăng say hứng thú cho các em, khen thưởng động viên các em kịp thời, đúng mức khi các em thực hiện tốt các nhiệm vụ đề ra [40], [41]
-Ý thức: Ở lứa tuổi 13-14, hành vi ý thức đã phát triển, các em thường có nhiều ước mơ táo bạo và bắt đầu nghĩ đến ý tưởng (nhưng dễ thay đổi do hiếu động), sẵn sàng khắc phục khó khăn, có tính kỷ luật và sự quyết tâm, song vẫn chưa cao, tính kiên trì còn yếu Các em thích tìm tòi khám phá nhưng dễ nản lòng khi kết quả trước mắt không rõ ràng Chưa nghĩ đến mục đích lâu dài, vì thế trong quá trình huấn luyện người giáo viên, HLV khi đề ra mục đích cụ thể
có tính khái quát dễ hiểu, giúp các em thực hiện tốt và có hiệu quả nhất các nhiệm vụ đề ra
Trang 401.5.2 Đặc điểm sinh lý của nam VĐV lứa tuổi 13-14
Các em học sinh lứa tuổi 13-14, quá trình hưng phấn chiếm ưu thế so với quá trình ức chế, một sự mất cân đối giữa phần dưới vỏ não có xu hướng phát triển nhanh hơn và mãnh liệt hơn so với hoạt động của vỏ não, dẫn đến sự mất cân bằng tạm thời giữa hai hệ thống tín hiệu [8]
- Hệ thần kinh đang ở thời kì phát triển đi đến hoàn chỉnh Dưới tác động của tuyến nội tiết, nhất là nội tiết tố sinh dục tuyến giáp làm mất khả năng thăng bằng giữa hưng phấn và ức chế Nhờ có hệ thống tín hiệu thứ hai phát triển và hoàn thiện nên sự kìm chế bản thân đã được củng cố Cơ quan tiền đình phát triển tốt [8]
- Hệ hô hấp của trẻ lứa tuổi 13-14 nói chung có đặc điểm là nhớ nhanh và không ổn định, thông khí phổi tối đa cũng tăng dần Quá trình hồi phục chậm với khối lượng vận động lớn, khả năng thích nghi với hoạt động kém, khả năng hoạt động yếm khí thấp Do vậy ở lứa tuổi này, nếu áp dụng với lượng vận động quá lớn thì sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển chung của cơ thể Dung tích sống tăng lên, nhịp thở vào khoảng 19-20 lần/ phút Do hệ thần kinh giao cảm rất nhạy bén nên các em dễ bị tăng giảm nhịp tim, nhịp thở do sự tác động, chi phối của điều kiện hoàn cảnh, tâm lý và môi trường [8]
- Hệ tuần hoàn cũng đang phát triễn để đi đến hoàn thiện Thể tích tim phát triển mạnh nhưng kích thước của động mạch còn bé, mạch đập 70-80 lần/ phút, huyết áp 105-100/ 75-70 mmHg Hệ tim mạch cơ thể thích nghi với sự tăng công suất hoạt động Thể lực của các em vẫn còn kém hơn so với người lớn, thể hiện ở chỗ khi tăng công suất hoạt động lên 1kg/ giây thì nhịp tim của trẻ 13-14 tuổi tăng lên 5-6 lần/ phút Các cơ quan thực vật ở lứa tuổi này đã phát triển tương đối Các kích thước tuyệt đối cũng như tương đối của tim tăng dần theo lứa tuổi và chịu sự ảnh hưởng rất mạnh của tập luyện [8], [17]