Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai & ứng dụng mô hình kế toán quản trị theo phương pháp ABC Activity Based Costing làm cơ cở để tính giá thà
Trang 1i
ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài: Nghiên cứu giải pháp và kỹ thuật triển khai ứng dụng mô hình kế toán quản trị ABC (Activity Based Costing) cho nhóm các doanh nghiệp khai
thác cảng của Việt Nam
Mã số đề tài: 171.3190
Chủ nhiệm đề tài: Lê Thị Thu Trang
Đơn vị thực hiện: Trường Đại Học Công Nghiệp TP.Hồ Chí Minh
Trang 2ii
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn đến ban Giám hiệu trường Đại học Công Nghiệp Tp.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho bản thân em tiếp cận với môi trường nghiên cứu khoa học đầy bổ ích
Em xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy và anh chị Phòng Quản Lý Khoa Học & Hợp Tác Quốc Tế của trường Đại học Công Nghiệp Tp.Hồ Chí Minh đã luôn nhiệt tình hướng dẫn cách thức và lộ trình để em hoàn thành bài nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy Cô trong tiểu ban Kinh Tế của trường Đại học Công Nghiệp Tp.Hồ Chí Minh đã cho em những lời góp ý chân thành những vấn
đề còn bất cập và thiếu sót trong quá trình thực hiện đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô của khoa Kế Toán – Kiểm Toán trường Đại học Công Nghiệp Tp.Hồ Chí Minh đã luôn nhiệt tình truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm cho sinh viên chúng em
Em xin gửi lời cảm ơn đến Công ty Cảng Tân Cảng Cái Mép – Thị Vải đã cho
em kiến tập và thu thập số liệu liên quan tới bài nghiên cứu
Đặc biệt hơn, em chân thành cảm ơn sự hỗ trợ của Cô Nguyễn Thị Thu Hiền, Thầy Nguyễn Minh Tuấn, Thầy Huỳnh Tấn Dũng, Thầy Trần Thứ Ba, Thầy Nguyễn Thanh Bình đã cho em những kiến thức mới về nghiên cứu, giải thích những vướn mắc trong quá trình thực hiện đề tài
Lời cuối cho em xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô, lời cảm ơn chân thành
và kính trọng nhất !
Trang 3iii
Đề tài “Nghiên cứu giải pháp và kỹ thuật triển khai ứng dụng mô hình kế toán
quản trị ABC ( Activity Based Costing ) cho nhóm các doanh nghiệp khai thác cảng của Việt Nam” được tiến hành vào tháng 01 năm 2017 tới tháng 07 năm 2018
Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai
& ứng dụng mô hình kế toán quản trị theo phương pháp ABC (Activity Based Costing) làm cơ cở để tính giá thành hợp lý của dịch vụ cảng biển đối với nhóm doanh nghiệp khai thác cảng tại Việt Nam Căn cứ kết quả nghiên cứu Tác giả đề xuất một số giải pháp cũng như kỹ thuật triển khai và vận dụng mô hình kế toán quản trị theo phương pháp ABC/TD.ABC (Time - Driven Activity Based Costing) giúp cho nhóm các doanh nghiệp khai thác cảng của Việt Nam có thể triển khai và vận dụng thành công môn hình kế toán quản trị theo phương pháp ABC/TD.ABC Kết quả nghiên cứu thực nghiệm với dữ liệu khảo sát của 211 phiếu khảo sát các đối tượng là nhân viên của các doanh nghiệp khai thác cảng cho thấy việc ứng dụng mô hình kế toán quản trị theo phương pháp ABC bị tác động bởi các yếu tố như: Cơ cấu tổ chức, Sự ủng hộ của lãnh đạo, Hạn chế kỹ thuật, Nhận thức, Nguồn lực, Tâm lý nhân viên, Xây dựng mục
tiêu Trong đó, đặc biệt hai nhân tố có trọng số ảnh hưởng rất cao là sự ủng hộ của
lãnh đạo (0.630) và hạn chế kỹ thuật (0.578)
Từ khóa Phương pháp ABC, kế toán quản trị, nhân tố ảnh hưởng
Trang 4iv
The topic of "Research on the application of the ABC management accounting
model to the group of port operators in Vietnam" be conducted from January 2017 to
support, technical constraints, awareness, resources, staff psychology, goal setting In
particular, two factors with very high weight are the support of leaders (0.630) and technical limitations (0.578)
Key words ABC method, management accounting, factor influence.
Trang 5iii
MỤC LỤC CHƯƠNG TRANG
TÓM TẮT i
ABSTRACT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH xi
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu và tính mới của đề tài 3
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3
1.4.2 Tính mới của đề tài nghiên cứu 4
1.5 Kết cấu của đề tài 5
CHƯƠNG 2:TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 6
2.1 Tổng quan các nghiên cứu trước 6
2.1.1 Trên thế giới 6
2.1.2 Tại Việt Nam 8
2.2 Hệ thống kế toán quản trị chi phí 10
2.2.1 Quá trình phát triển của kế toán quản trị 10
2.2.2 Quá trình phát triển của hệ thống kế toán chi phí 11
2.2.3 Các kinh nghiệm ứng dụng phương pháp ABC trong kế toán quản trị 13
2.3 Từ phương pháp kế toán chi phí truyền thống đến phương pháp ABC 16
2.3.1 Sự ra đời của phương pháp kế toán truyền thống và phương pháp ABC 16
Trang 6iv
2.3.2 So sánh phương pháp ABC và TDC 16
2.4 Phương pháp xác định chi phí sản xuất dựa trên mức độ hoạt động 18
2.4.1 Khái niệm phương pháp kế toán quản trị theo phương pháp ABC 18
2.4.2 Các bước kỹ thuật để triển khai ABC 19
2.5 Một số đặc điểm của nhóm doanh nghiệp khai thác cảng tại Việt Nam 24
2.5.1 Giới thiệu ngành cảng biển và khai thác cảng biển 24
2.5.2 Công tác tính giá thành tại nhóm doanh nghiệp khai thác Cảng ở Việt Nam 30 2.6 Các yếu tố tác động đến việc triển khai mô hình ABC 35
2.6.1 Sự ủng hộ của nhà lãnh đạo 35
2.6.2 Nhận thức về ABC tại các doanh nghiệp khai thác cảng tại Việt Nam 36
2.6.3 Thiếu nguồn lực ảnh hưởng đến thiết kế mô hình ABC 37
2.6.4 Tâm lý không muốn thay đổi cản trở quá trình thiết kế và xây dựng ABC 39
2.6.5 Cấu trúc chi phí trong doanh nghiệp 40
2.6.6 Hạn chế về kỹ thuật triển khai 41
2.6.7 Xây dựng mục tiêu từng giai đoạn, gắn với khen thưởng 42
2.6.8 Cấu trúc tổ chức công ty ảnh hưởng triển khai ABC 43
CHƯƠNG 3:PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
3.1 Mô hình và quy trình nghiên cứu 45
3.1.1 Mô hình nghiên cứu 45
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 49
3.2 y dựng thang đo 51
3.2.1 Biến độc lập 52
3.2.2 Biến phụ thuộc 54
3.3 Phương pháp điều tra mẫu 55
3.4 y dựng các giả thiết 56
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 58
4.1 Giới thiệu 58
4.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 58
Trang 7v
4.3 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 60
4.3.1 Đánh giá thang đo thông qua hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 60
4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 63
4.4 Ph n tích hồi quy đa iến 68
4.4.1 Kiểm định độ phù hợp của mô hình 68
4.4.2 Mô hình hồi quy tuyến tính bội 69
4.4.3 Mức độ giải thích của mô hình 70
4.4.4 Ma trận tương quan 71
4.4.5 Đánh giá mức độ quan trọng trong các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng mô hình KTQT theo phương pháp ABC vào nhóm các DN khai thác cảng tại Việt Nam 73
4.5 Thảo luận 74
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
5.1 Kết quả và đóng góp của nghiên cứu 76
5.2 Kiến nghị và các hàm ý quản trị 77
5.2.1 Về phía Nhà nước và Hội nghề nghiệp 77
5.2.2 Về phía doanh nghiệp 78
5.2.2.1Thay đổi nhận thức, quan điểm của nhà lãnh đạo 78
5.2.2.2 Xây dựng mục tiêu gắn liền với huấn luyện, đào tạo nhân viên 79
5.2.2.3 Kỹ thuật triển khai mô hình ABC 81
5.3 Hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 88
5.3.1 Hạn chế 88
5.3.2 Hướng nghiên cứu: 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 1: MÔ HÌNH ABC KẾT HỢP VỚI PHƯƠNG PHÁP AHP 94
PHỤ LỤC 2: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT 106
PHỤ LỤC 3: DANH SÁCH NHÂN VIÊN THAM GIA KHẢO SÁT 115
PHỤ LỤC 4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU SPSS20 127
Trang 8ABC Phương pháp tính giá thành theo mức độ
hoạt động
Activity Based Costing
TDC Phương pháp tính giá thành theo truyền
thống
Traditional Costing
UHCC Hạn chế ủng hộ cấp cao
HCKT Hạn chế kỹ thuật triễn khai
TLNV Tâm lý e ngại của nhận viên
NL Hạn chế nguồn lực
NT Hạn chế về nhận thức
XDMT Chưa xây dựng mục tiêu
CCTC Cơ cấu tổ chức không phù hợp
WB Ngân hàng thế giới
LPI Chỉ số năng lực quốc gia về kho vận
CVP Phân tích mối quan hệ chi phí giá thành và
lợi nhuận
Cost-Colume-Profit
KTQT Kế toán quản trị
DN Doanh nghiệp
Trang 9xi
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH
Bảng 2.1 Các giai đoạn phát triển của kế toán quản trị 10
Bảng 2.2: Tóm tắt các giai đoạn phát triển của hệ thống chi phí 13
Hình 2.3 Mô hình giai đoạn đầu phân bổ chi phí 21
Hình 2.4 Thể hiện mô hình ABC áp dụng tại doanh nghiệp 23
Hình 2.5: Sơ đồ phân loại cảng biển theo chức năng 25
Hình 2.6: Giá trị ngành cảng biển Việt Nam 26
Hình 2.7: Tỷ trọng chi phí nhân công trên tổng chi phí 27
Hình 2.8: Cơ cấu doanh thu ngành 28
Hình 2.9: Cung cầu thông quan hàng hóa ở cảng phía Bắc 28
Hình 2.10: Sản lượng hàng hóa thông quan qua cảng miền Trung 29
Hình 2.11: Cung cầu hàng hóa thông quan qua cảng phía Nam 30
Bảng 2.12: Thống kê tiêu thức phân bổ CP SXC tại các DN khai thác Cảng 29
Bảng 2.13: Doanh thu của các loại dịch vụ nhóm ngành Cảng 30
Bảng: 2.14: Chi phí sản xuất chung phát sinh liên quan tới các hoạt động 30
Bảng 2.15: Phân bổ chi phí SXC thực tế tại doanh nghiệp 30
Bảng 3.1: Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng tới việc vận dụng mô hình ABC tại các doanh nghiệp 47
Hình 3.2: Quy trình nghiên cứu 49
Bảng 3.3: Thang đo chưa điều chỉnh biến độc lập 52
Bảng 3.4: Thang đo biến phụ thuộc 55
Bảng 4.1: Tỷ lệ các đối tượng tham gia khảo sát 58
Bảng 4.2: Thống Kê Mô Tả của các biến đưa vào mô hình 59
Bảng 4.3: Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronback Alpha 61
Bảng 4.4: Kết quả kiểm tra KMO và kiểm định Barlett 65
Bảng 4.5: Bảng phương sai trích 65
Bảng 4.6: Kết quả phân tích nhân tố EFA 66
Bảng 4.7: Bảng giá trị ma trận của biến Y 66
Trang 10xii
Bảng 4.8: Bảng dữ liệu ANOVA 68
Bảng 4.9: Thông số thống kê trong mô hình hồi quy 69
Bảng 4.10: Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 70
Bảng 4.11: Ma trận tương quan 71
Hình 4.12: Mô hình nghiên cứu đánh giá mức độ quan trọng trong các nhân tố 73
Bảng 4.13: Mức độ đóng góp của các nhân tố tới sự việc vận dụng mô hình ABC 74 Bảng 4.14: So sánh hệ số ảnh hưởng với nghiên cứu khác 75
Hình 5.1: Sơ đồ cấu trúc thứ bậc (Saaty, T.L., 1980) 82
Hình 5.2: Phân cấp thứ bậc phân bổ chi phí và hoạt động 83
Bảng 5.3: Ma trận về mối quan hệ giữa các chi phí với các hoạt độngp 84
Bảng 5.4 Thang đo 9 likert 85
Bảng 5.5: Ma trận so sánh cặp 85
Bảng 5.6: Ma trận so sánh cặp của các hoạt động 86
Bảng 5.7: Ma trận chuẩn hóa vector 86
Bảng 5.8: Bộ Trọng số của các hoạt động 87
Bảng 5.9: Chỉ số ngẫu nhiên ứng với số nhân tố (RI) 88
Hình 5.10: Cách tính minh họa tỉ số nhất quán CR 88
Trang 111
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Tầm quan trọng của nhóm doanh nghiệp khai thác cảng thể hiện trên cả hai phương diện kinh tế và xã hội Theo Tổng cục thống kê cho thấy giá trị xuất khẩu chiếm tỷ trọng ngày càng lớn năm 2000 đạt 50,0% GDP, năm 2007 chiếm 70,5% GDP
và đến năm 2016 chiếm 89,8% GDP Trong khi ấy, ngành cảng biển phụ thuộc rất lớn đến tình hình nhập xuất khẩu, xét về triển vọng dài hạn trong tương lai, FPTS cho rằng
tăng trưởng giữa các cảng sẽ phân hóa ngày càng sâu sắc Qua đó thấy được sức ảnh
hưởng rất lớn của nhóm ngành này tới nền kinh tế quốc dân Đặc biệt trong xu thế hội nhập đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp khai thác cảng nói riêng cần phải có cơ cấu tổ chức quản lý hiệu quả và tối ưu nhất nhằm tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ trong và ngoài nước
Để đạt được vấn đề trên, doanh nghiệp cần thay đổi và tiếp nhận nguồn thông tin cũng như cách ứng xử với thông tin kịp thời và phù hợp với điều kiện kinh tế Đặc biệt hơn chính là công tác kế toán, một nguồn dữ liệu cung cấp thông tin quan trọng nhất để doanh nghiệp có cái nhìn tổng thể về tình hình hoạt động cũng như đưa ra những quyết định quan trọng Tuy nhiên, thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp chỉ tập trung vào mảng kế toán tài chính mà lãng quên vai trò quan trọng nhất của kế toán trong thời đại hội nhập chính là quản trị, cụ thể là phương pháp kế toán dựa trên mức hoạt động (Activity Based Costing) Một phương pháp mới khắc phục những hạn chế của phương pháp truyền thống (Traditional Costing) không còn phù hợp trong bối cảnh kinh tế hiện nay Trong nền kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghệ và kỹ thuật thì phương pháp kế toán quản trị đơn thuần không còn phù hợp mà nó cần sự kết hợp nhiều thủ thuật hơn để tăng độ chuẩn xác và dự đoán cao
Mặc khác, với lĩnh vực khai thác cảng là một ngành mũi nhọn của quốc gia hiện nay đang bộc lộ những mặt hạn chế thì vấn đề này cần được đặt lên hàng đầu
Chính những vấn đề cấp thiết nêu trên, mong muốn của đề tài là xây dựng giải pháp hiệu quả để ứng dụng mô hình kế toán quản trị dựa trên mức độ hoạt động vào trong các doanh nghiệp khai thác cảng nói riêng và các doanh nghiệp Việt Nam nói chung Đồng thời kết quả nghiên cứu còn bổ sung vào lĩnh vực kế toán quản trị một khía cạnh mới, hướng sinh viên có tầm nhìn mới về nghiên cứu khoa học
Trang 122
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu thực hiện các mục tiêu sau:
Đề xuất giải pháp hỗ trợ việc ứng dụng thành công mô hình kế toán quản trị theo phương pháp ABC vào nhóm các doanh nghiệp khai thác cảng
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài sẽ nghiên cứu các vấn đề về:
+ Lý luận cơ bản về phương pháp kế toán dựa trên mức độ hoạt động
+ Thực tế vận dụng mô hình ABC ở một số nước trên thế giới và Việt Nam + Những nhân tố tác động tới việc hạn chế ứng dụng mô hình kế toán quản trị theo phương pháp ABC vào nhóm các doanh nghiệp khai thác cảng Việt Nam
+ Các giải pháp hỗ trợ công tác triển khai ứng dụng mô hình ABC tại các doanh nghiệp khai thác cảng
Trang 133
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Dựa trên mục tiêu nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu thì phạm vi nghiên cứu của đề tài được tiến hành khảo sát các nhân viên thuộc các doanh nghiệp khai thác cảng tại Việt Nam Cụ thể đề tài tiến hành khảo sát tại các đơn vị khai thác cảng trực thuộc SNP-Tân cảng Sài Gòn
Thời gian thực hiện: 01/2017 – 07/2018
1.4 Phương pháp nghiên cứu và tính mới của đề tài
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài thực hiện dựa vào phương pháp phân tích định tính kết hợp với phương pháp phân tích định lượng dựa trên phần mềm Excel và SPSS 20
Phương pháp định tính:
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính để xác định lại các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế vận dụng phương pháp ABC trong nhóm doanh nghiệp khai thác cảng tại Việt Nam, dựa trên sự tham khảo ý kiến của các chuyên gia là các trưởng phòng tài chính kế toán, kế toán trưởng tại các doanh nghiệp trực thuộc Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn và giảng viênkhoa Kế Toán-Kiểm Toán trường đại học Công Nghiệp TP.Hồ Chí Minh để nhận diện những nhân tố ảnh hưởng tới việc ứng dụng mô hình kế toán quản trị theo phương pháp ABC vào nhóm doanh nghiệp khai thác cảng tại Việt Nam Đồng thời thảo luận với giảng viên hướng dẫn để xây dựng các khái niệm và đề xuất mô hình nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng :
Sử dụng phương pháp thu thập, điều tra, thống kê số liệu liên quan tới thực trạng của các doanh nghiệp khai thác cảng tại Việt Nam Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp phân tích sâu để kiểm tra các thang đo cũng như những giả thuyết nghiên cứu, cụ thể phương pháp phân tích tương quan, nhân tố khám phá – EFA, hồi quy đa biến được xử lý và phân tích trên phần mềm SPSS20
Phương pháp điều tra mẫu:
Kích cỡ mẫu phụ thuộc vào phương pháp phân tích, nghiên cứu này có sử dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA) Để xác định cỡ mẫu cho phân tích nhân tố EFA thông thường thì số quan sát (kích thước mẫu) ít nhất phải bằng 4 hay 5 lần số biến
Trang 144
trong phân tích nhân tố [10] Ngoài ra, để phân tích hồi quy đạt được kết quả tốt nhất thì kích thước mẫu cần phải thỏa mãn theo công thức: n > = 8m + 50 (Tabachnick & Fidell (1996), dẫn theo Phạm Anh Tuấn, 2008)
Trong đó:
n : cỡ mẫu
m : số biến độc lập của mô hình
Dựa vào các cơ sở ở trên, tác giả chọn cỡ mẫu là 300 mẫu để thu thập dữ liệu Sau khi khảo sát, tổng số phiếu phát ra là 300 phiếu khảo sát, số phiếu thu lại gồm 235 phiếu, trong quá trình nhập liệu và làm sạch số liệu có 24 phiếu trả lời không hợp lệ
Do đó số phiếu khảo sát chính thức còn 211, cơ cấu của mẫu được trình bày trong bảng thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Mỗi câu hỏi được đo lường dựa trên thang đo Likert gồm 5 điểm Mẫu nghiên cứu được thu thập qua bảng câu hỏi gửi bằng google driver qua địa chỉ mail của các thành viên tham gia khảo sát Thời gian thu thập dữ liệu chính thức trong tháng 7-
2017
1.4.2 Tính mới của đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu khám phá những nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai & ứng dụng
mô hình kế toán quản trị theo phương pháp ABC (Activity Based Costing) - làm cơ sở
để tính giá thành hợp lý của nhóm dịch vụ cảng biển đối với doanh nghiệp khai thác cảng tại Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu Tác giả đề xuất một số giải pháp cũng như
kỹ thuật hỗ trợ vận dụng mô hình kế toán quản trị theo phương pháp ABC/TD.ABC (Time - Driven Activity Based Costing) giúp cho nhóm các doanh nghiệp khai thác cảng của Việt Nam có thể triển khai và vận dụng thành công mô hình kế toán quản trị theo phương pháp ABC/TD.ABC
Hiện nay, có khá nhiều nghiên cứu về đề tài kế toán quản trị theo phương pháp ABC tại Việt Nam và trên thế giới Tổng thể các nghiên cứu đi theo hai hướng cụ thể:
Hướng nghiên cứu thứ nhất, phạm vi nghiên cứu mang tính chất tổng quát cho các loại hình doanh nghiệp, ưu điểm của các nghiên đã nhận định được những bất cập trong công tác kế toán quản trị hay phương pháp tính giá thành chưa phù hợp với điều kiện của nền kinh tế Đồng thời, xây dựng và đưa ra các hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ
Trang 155
triển khai mô hình kế toán dựa trên mức độ hoạt động Bản chất của mỗi loại hình doanh nghiệp là khác nhau, công ty cổ phần khác với công ty trách nhiệm hữu hạn, hay doanh nghiệp thương mại khác với doanh nghiệp sản xuất,… nên tính linh hoạt ở hướng nghiên cứu chưa cao Chính vì vậy, các tác giả chuyển sang hướng thứ hai khắc phục những tồn tại trong các đề tài nghiên cứu ở hướng một, chuyên sâu và cụ thể cho từng loại hình doanh nghiệp
Tuy nhiên, đối với loại hình doanh nghiệp khai thác cảng hiện nay có khá ít đề tài nghiên cứu về ứng dụng cũng như giải pháp của mô hình Trong khi tầm quan trọng của nhóm doanh nghiệp này đóng góp rất lớn tới nền kinh tế quốc gia
Cụ thể hơn, trong quá trình nghiên cứu tác giả tiến hành khảo sát để xác định nhóm nhân tố trọng yếu ảnh hưởng đến hạn chế trong việc triển khai mô hình ABC vào nhóm doanh nghiệp khai thác cảng tại Việt Nam, từ đó tìm ra nguyên nhân và đưa
ra giải pháp để doanh nghiệp triển khai mô hình hiệu quả hơn
1.5 Kết cấu của đề tài
Kết cấu đề tài nghiên cứu gồm 5 chương bao gồm những nội dung như sau: Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về phương pháp kế toán quản trị theo phương pháp ABC và tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 166
CHƯƠNG 2:
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ
TOÁN QUẢN TRỊ THEO PHƯƠNG PHÁP ABC
2.1 Tổng quan các nghiên cứu trước
2.1.1 Trên thế giới
Vào những năm 1980, phương pháp ABC đã được giáo sư người Mỹ Robert S.Kaplan giới thiệu Phương pháp này ra đời nhằm khắc phục những nhược điểm của phương pháp TDC- được coi là không còn phù hợp trong nền kinh tế hiện đại Sau khi phương pháp ABC được công bố, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về những lợi ích của
nó, có thể kể ra một số tác giả như: Innes and Mitchell (1990), Cooper and Kaplan (1991), Gering (1999) Và cũng có rất nhiều tác giả nghiên cứu những hạn chế của nó điển hình như Noreen (1991), Datar and Gupta (1994), Banker and Potter (1993) Năm 2001, Gary Cokins_Giám đốc điều hành của Trung tâm ứng dụng công nghệ ABC xuất bản cuốn sách “ Quản trị chi phí kinh doanh theo quá trình hoạt động”, cuốn sách này bao gồm 11 chương với các nội dung tập trung về phân tích những lợi ích tăng thêm trong ABC/M, các giải pháp phổ biển để thực hiện ABC/M
Xét về phương diện thực tiễn, ABC đã được rất nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu và lựa chọn làm đề tài luận án tiến sỹ cũng như các bài báo nghiên cứu khoa học được đăng trên các tạp chí danh tiếng Chẳng hạn như:
Luận án tiến sỹ của Gurses, A P với đề tài “ Tính chi phí kinh doanh theo
quá trình hoạt động và mô hình lý thuyết của các mặt hạn chế cho các quyết định sản xuất hỗn hợp” đã được bảo vệ thành công vào ngày 29/6/1999 tại Blacksburg,
Virginia Luận án này đã tập trung phân tích cách sử dụng phương pháp tính chi phí kinh doanh theo quá trình hoạt động (ABC) kết hợp với lý thuyết của các mặt hạn chế trong việc ra các quyết định sản xuất hỗn hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính của một công ty [2] Cũng trong năm đó, các tác giả Gunasekaran A., Marri H.B và Grieve R.J đã công bố đề tài nghiên cứu “Các dẫn chứng và việc thực hiện phương pháp tính chi phí kinh doanh theo quá trình hoạt động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ” Nghiên cứu này trình bày tổng quan việc thực hiện quản trị chi phí kinh doanh và thảo luận các dẫn chứng và việc thực hiện ABC trong các doanh
Trang 177
nghiệp vừa và nhỏ Tháng 10/1999, các tác giả Narcyz Roztocki, Jorge F Valenzuela, José D Porter, Robin M Monk, Kim LaScola Needy đã công bố đề tài
“Quy trình thực hiện trôi chảy tính chi phí kinh doanh theo quá trình hoạt động
trong doanh nghiệp nhỏ” tại Hội thảo các quốc gia ASEM ở Virginia Nghiên cứu đã
mô tả một quy trình giúp cho các doanh nghiệp nhỏ (ít hơn 100 lao động) dịch chuyển một cách uyển chuyển, trôi chảy từ tính CPKD truyền thống sang ABC với mức đầu tư tối thiểu và rủi ro thấp [2]
Tiếp đến, tháng 6/2002 tác giả Chongruksut W với đề tài luận án tiến sỹ “Sự
tiếp nhận tính chi phí kinh doanh theo quá trình hoạt động ở Thái Lan” Luận án này
đã khảo sát mô hình lý thuyết ABC và sử dụng các thông tin về khủng hoảng kinh tế
ở Thái Lan như nguồn dữ liệu [2]
Ở Nam phi, năm 2005, tác giả Lucas Makomane Taba với Luận án “Thước đo
thực hiện thành công tính chi phí kinh doanh theo quá trình hoạt động ở ngành bưu điện Nam Phi” được nghiên cứu tại đại học Nam Phi Phát hiện nổi bật nhất của
nghiên cứu này là các nhà quản trị cao cấp thất bại trong việc đưa ra sự ủng hộ tích cực tới thực hiện ABC và các yếu tố kỹ thuật được lĩnh hội như là sự thừa nhận trong cách thức thực hiện thành công ABC đó là đào tạo, chi phí cao cho việc thực hiện ABC, thiếu phần mềm ứng dụng, thiếu các yêu cầu dữ liệu và sự hợp tác giữa các bộ phận Từ những phát hiện này tác giả đã đề nghị thước đo thực hiện thành công công cụ ABC trong ngành bưu điện Nam Phi [2]
Vào năm 2010, tác giả Gregory Wegmann với bài nghiên cứu về “Nghiên cứu
phương pháp dựa trên cơ sở hoạt động trong hệ thống thông tin của hai nhóm công ty tại Pháp về quản lý chiến lược giao dịch” Trong bài viết, tác giả đưa ra quan điểm về
quản lý chiến lược theo quan điểm ABC, đồng thời đưa ra những lý do tại sao phải sử dụng phương pháp này thông qua hai nghiên cứu triển khai một theo hướng hiện tại, một theo hướng ABC cho hai nhóm ngân hàng và thiết bị máy tính
Hay năm 2011, tác giả Ali Khozein &Morteza Dankoob với bài viết “Hệ thống chi phí dựa trên cơ sở hoạt động và cách triển khai thành công mô hình trong các tổ chức” Hai tác giả đã đưa ra 5 nguyên nhân chính gây thất bại khi triển khai mô hình
này vào nhóm doanh nghiệp tại nước Australian bao gồm nguyên nhân có thể kiểm soát được, hạn chế kỹ thuật, con người, trở ngại về tổ chức và các vấn đề khác Đồng
Trang 188
thời, tác giả đưa ra một số lỗi chi phí bị bóp méo khi đưa ra lựa chọn quyết định theo phương pháp truyền thống
Năm 2013, với bài viết “Xu hướng ứng dụng phương pháp chi phí dựa trên cơ
sở hoạt động “ của tác giả Nitin Kumar & Dalgobind Mahto Bài viết cũng nhận định
tầm quan trọng đối với phương pháp ABC bằng cách so sánh sự khác nhau và ưu điểm của phương pháp này với phương pháp TDC
2.1.2 Tại Việt Nam
Các vấn đề về kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị theo phương pháp ABC nói riêng được nhiều tác giả Việt Nam bắt đầu nghiên cứu từ những năm 1997
Vào năm 1997, tác giả Phạm Văn Dược đã nghiên cứu về “ Tổ chức công tác kế
toán quản trị trong các doanh nghiệp thuộc tổng công ty công nghiệp ô tô Việt Nam”
Trong công trình này, tác giả có những nghiên cứu cụ thể và đề xuất các biện pháp ứng dụng kế toán quản trị vào thực tiễn trong các doanh nghiệp Việt Nam
Sang đầu thế kỷ 21, trước sự thay đổi về xu hướng của nền kinh tế, các nghiên cứu kế thừa những kinh nghiệm của các nghiên cứu trước để đi sâu và cụ thể hơn, áp dụng riêng cho từng ngành, từng loại hình doanh nghiệp như:
Nghiên cứu trong lĩnh vực in của tác giả Đinh Thị Thanh Hương (năm
2006) “Phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động trong các doanh nghiệp
in” Tác giả đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị và việc áp dụng
phương pháp ABC để phân tích chi phí sản xuất của các doanh nghiệp in ấn
Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến xây dựng mô hình kế toán quản trị và phân
tích chi phí, tập trung và hoàn thiện dự toán chi phí, phân tích tình hình tài chính
theo biến động của các yếu tố Tuy nhiên, tác giả đi sâu vào phân tích các yếu tố
chi phí sản xuất nhiều hơn là việc đưa ra giải pháp và mô hình ứng dụng kế toán
quản trị chi phí vào trong doanh nghiệp
Cho tới năm 2008, tác giả Trần Thị Uyên Phương với đề tài “Vận dụng phương
pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) tại Công ty cơ khí ô tô và thiết bị điện Đà Nẵng” Trong luận án, tác giả đề cập tới cơ cấu tổ chức kế toán quản trị theo
chức năng và chu trình của hệ thống kế toán Xây dưng được phương pháp tính giá
Trang 199
thành dựa trên cơ sở hoạt động, đồng thời mang tính đặc thù riêng cho các công ty thuộc lĩnh vực cơ khí
Về lĩnh vực Dược, tác giả Trương Thoại Nhân với đề tài nghiên cứu “Vận dụng
phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty Cổ phần dược Danapha”
vào năm 2010 Tác giả đã đưa ra những thực trạng trong công tác tính giá thành tại nhóm ngành dược, điển hình là công ty Cổ phần dược Danapha Xây dựng được phương pháp tính giá dựa trên mức độ hoạt động cho doanh nghiệp
Hay tác giả Trần Quang Khải (năm 2011) với đề tài “Áp dụng phương pháp
tính chi phí theo hoạt động (ABC) cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ” Tác giả đã xây
dựng được các trung tâm chi phí để ứng dụng vào xây dựng mô hình ứng dụng phương pháp tính chi phí theo hoạt động vào nhóm doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, đặc biệt mô hình này khá phù hợp cho nhiều đối tượng doanh nghiệp tại Việt Nam
Năm 2013, tác giả Bùi Minh Nguyệt với đề tài “Vận dụng phương pháp tính
giá trên cơ sở hoạt động (ABC) để phục vụ cho việc ra quyết định chiến lược tại công
ty TNHH Ý Chí Việt”
Năm 2013, tác giả Phạm Hồng Hải trong luận văn Tiến sĩ “Quản trị chi phí
kinh doanh theo quá trình hoạt động (viết tắt là ABC/M) trong các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam” đưa ra hướng nghiên cứu định tính cho nhóm doanh nghiệp khai
thác gỗ Tác giả xây dựng các bước triển khai công tác tính giá thành bằng lý thuyết ABC/M cụ thể vào doanh nghiệp Đồng thời xây dựng 3 giải thuyết lớn ảnh hưởng tới việc triển khai mô hình ở giai đoạn tiếp nhận
Hay các tác giả Nguyễn Việt Hưng & Trần Thứ Ba(2015) với đề tài nghiên cứu
“ Hạn chế vận dụng ABC vào các doanh nghiêp vừa và nhỏ tại Việt Nam” Tạp chí
Phát triển & Hội nhập, Số 31 (41) Bài viết đã đưa ra những cụ thể về các yếu tố ảnh
hưởng tới việc hạn chế vận dụng mô hình kế toán quản trị theo phương pháp ABC tại Việt Nam, đồng thời trình bày cụ thể về cơ sở lý luận liên quan tới nội dung nghiên cứu Tuy nhiên, đề tài vẫn tập trung diện rộng cho tổng thể các loại doanh nghiệp chưa mang tính đặc thù cho từng loại doanh nghiệp Vì vậy, khó triển khai cho một đối tượng cụ thể
Trang 2010
Như vậy, bên cạnh những đóng góp lớn về kết quả nghiên cứu của các tác giả thì song song đó vẫn tồn tại một số hạn chế trong quá trình nghiên cứu Điển hình là chưa xoáy sâu vào nội dụng cần phân tích, hay đề tài nghiên cứu chưa cụ thể cho từng loại hình doanh nghiệp cũng như chưa làm rõ bản chất về phương pháp ABC
2.2 Hệ thống kế toán quản trị chi phí
2.2.1 Quá trình phát triển của kế toán quản trị
Kế toán quản trị ra đời từ lâu, nhưng ra đời khi nào thì còn có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng kế toán quản trị ra đời từ những năm đầu thế kỉ 19 nhưng cũng có ý kiến cho rằng kế toán quản trị mới ra đời từ những năm 50 của thế kỉ 20
Theo Robert S Kaplan và Anthony A Atkinson, kế toán quản trị ra đời từ những năm đầu thế kỉ 19 ở Mỹ.[11]
Theo Ronald W Hilton, kế toán quản trị ra đời từ những năm 50 của thế kỉ 20 Ông cho rằng, trước những năm 1950 trọng tâm là kế toán chi phí Kể từ 1950 trở đi mới xuất hiện khái niệm kế toán quản trị, một bộ phận kế toán cung cấp thông tin cho các nhà quản trị hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức
Theo IFAC (2002), quá trình phát triển của kế toán quản trị diễn ra theo 4 giai đoạn (xem bảng 2.1)
Bảng 2.1 Các giai đoạn phát triển của kế toán quản trị
toán quản trị
Các kĩ thuật kế toán quản trị
Vị trí của kế toán quản trị trong tổ chức
Trước những năm
1950
Chi phí: xác định chi phí và kiểm soát tài
chính
Dự toán và kế toán chi phí
Hoạt động mang tính chuyên môn, nghiệp vụ
Từ 1950 – 1965
Lợi nhuận: cung cấp thông tin cho hoạch định và kiểm soát
Phân tích quyết định
và kế toán trách nhiệm
Chức năng tham mưu, báo cáo cho quản lý
Từ 1965 – 1985
Cắt giảm hao phí, tiết kiệm chi phí thông qua việc quản trị chi phí chiến lược
Phân tích quá trình
và quản trị chi phí đương đại
Hoạt động nhóm
Trang 2111
Từ 1985 – 1995
Quản trị nguồn lực
và tạo ra giá trị: tạo
ra giá trị thông qua quản trị nguồn lực chiến lược – sử dụng hiệu quả các nguồn
lực
Phân tích các yếu tố giá trị khách hàng, giá trị cổ đông và cải cách tổ chức
Là một phần của quá trình quản trị
Nguồn: IFAC (2002) – Kim Langfield, Helen Thorne
Tuy nhiên cho đến nay theo Gary Cokin (2013) chúng ta có thể nói đến một giai đoạn mới của KTQT với xu hướng phát triển mạnh từ năm 2015 trở về sau là kỷ nguyên phân tích dự báo Theo đó dựa trên dữ liệu quá khứ, DN có thể đánh giá và dự báo tầm nhìn chiến lược cũng như các hành động cụ thể, cùng với các kế hoạch chi phí thì DN có thể dễ dàng chuyển đổi các mục tiêu, hành động cụ thể thành những con số
để có thể đánh giá hiệu quả của các quyết định Và trong kỷ nguyên phân tích dự báo này, Gary Cokin (2013) tổng hợp bảy xu hướng chính của KTQT bao gồm:
- Mở rộng từ việc phân tích sản phẩm sang phân tích kênh phân phối và tính khả lợi của khách hàng;
- Sự mở rộng vai trò của KTQT trong việc quản lý hiệu suất DN (EPM – Enterprise performance management);
- Sự nhấn mạnh về kế toán dự báo;
- Phân tích kinh doanh được bao hàm trong các phương thức quản lý hiệu suất DN;
- Cùng tồn tại và hoàn thiện các phương pháp KTQT khác nhau trong DN;
- Quản trị công nghệ thông tin và chia sẻ dịch vụ;
- Nhu cầu về kỹ năng cao hơn và năng lực tốt hơn về quản trị chi phí theo hành vi ứng xử;[10]
2.2.2 Quá trình phát triển của hệ thống kế toán chi phí
Theo Kaplan (1998) một công ty cần hệ thống kế toán chi phí để thực hiện các chức năng chính như sau:
- Tính giá thành sản phẩm sản xuất và tiêu thụ: đo lường giá vốn của các nguồn lực đã sử dụng để sản xuất sản phẩm, tiêu thụ và chuyển giao sản phẩm hay dịch vụ
đó cho khách hàng
Trang 22Quá trình phát triển của hệ thống đo lường chi phí của công ty được chia thành 4 giai đoạn Trong cuốn Cost& Effect của Kaplan (1998) đã tóm tắt bốn giai đoạn phát triển của kế toán chi phí dưới đây (Bảng 2.2)
Trang 2313
Bảng 2.2: Tóm tắt các giai đoạn phát triển của hệ thống chi phí
Chất lượng thông
tin
Nhiều sai sót, không phù hợp với chuẩn mực
kế toán
Phù hợp với chuẩn mực kế toán
Phù hợp với chuẩn mực
Sử dụng hệ thống máy tính tạo tính chính xác và nhanh chóng
Liên kết đầy đủ các cơ sở dữ liệu
và hệ thống kế toán
Sản phẩm báo cáo
tài chính
Chưa đầy đủ và còn sai sót
Thiết kế theo yêu cầu của đối tượng sử dụng
Duy trì theo giai đoạn 2
Phục vụ cho đối tượng bên ngoài
và bên trong doanh nghiệp
Độ tin cậy của chi
phí tính cho sản
phẩm
Chưa đầy đủ Chưa chính xác
Chi phí và lợi nhuận bị giấu
Phù hợp với chi phí
và lợi nhuận Tuy nhiên còn độc lập với ABC
Hợp nhất với hệ thống ABM
Phục vụ cho quản
lý và điều hành
Chưa đầy đủ Phản hồi chậm Các hệ thống chưa
liên kết với nhau
Hệ thống điều hành kết hợp với ABC
Phản hồi nhanh
Nguồn: tác giả tự tổng hợp
2.2.3 Các kinh nghiệm ứng dụng phương pháp ABC trong kế toán quản trị
a Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới
Tại Mỹ: là một quốc gia có bề dày phát triển kế toán quản trị chi phí cả về lý luận và thực tiễn Mặc dù các lý thuyết về phương pháp kế toán dựa trên mức độ hoạt động (ABC) được phát triển ở Mỹ từ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước với việc mô tả
nó là phương pháp kế toán hiệu quả trong việc xác định giá phí sản phẩm trong môi trường hoạt động phức tạp vì sẽ xác định được các hoạt động không gia tăng giá trị và
Trang 2414
phát hiện các địa chỉ có thể cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp Phương pháp này còn được đánh giá là một công cụ để kết nối hệ thống xác định giá phí sản phẩm với các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp, tuy nhiên việc áp dụng nó ngay tại nước Mỹ còn khá hạn chế Theo kết quả điều tra các doanh nghiệp sản xuất tại Mỹ năm 1996 tỷ
lệ áp dụng phương pháp này là 20% và năm 2000 là 21% Việc áp dụng phương pháp ABC cũng đã tăng lên trong những năm gần đây Năm 2003 có 35% các doanh nghiệp
áp dụng các phương pháp kế toán chi phí truyền thống, 8% áp dụng phương pháp ABC, 30% áp dụng cả các phương pháp truyền thống và phương pháp ABC, 26% áp dụng phương pháp chi phí biến đổi Như vậy, mặc dù phương pháp ABC đã được sử dụng nhiều hơn song các phương pháp xác định chi phí truyền thống cũng vẫn được áp dụng khá phổ biến trong các doanh nghiệp Mỹ
Tại Nhật Bản: vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, các phương pháp kế toán chi phí truyền thống vẫn giữ vai trò quan trọng trong hệ thống kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp Nhật Bản Đối với việc phân bổ các chi phí sản xuất chung, mặc dù phương pháp ABC đã được khuyến khích
áp dụng Tuy nhiên các phương pháp phân bổ truyền thống như tiêu thức phân bổ theo thời gian lao động hoặc chi phí nhân công vẫn được áp dụng chủ yếu (57%) Hơn nữa việc phân bổ chi phí sản xuất chung chủ yếu được thực hiện cho một nhóm các bộ phận sản xuất, chứ không phân bổ theo từng bộ phận sản xuất: có đến 68% các doanh nghiệp điều tra phân bổ chi phí chung theo phương pháp này.[23]
Tại Anh: các nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí rất phát triển và việc ứng dụng kế toán quản trị chi phí cũng khá phổ biến Cách xây dựng hệ thống kế toán quản trị của các doanh nghiệp Anh thường là xây dựng một hệ thống kế toán chung cho tất
cả các mục đích ra quyết định, đánh giá hàng tồn kho và xác định lợi nhuận Việc áp dụng phương pháp ABC tại Anh cũng còn nhiều hạn chế, nhưng có xu hướng ngày càng phổ biến hơn: Năm 1991 chỉ có 10 % các doanh nghiệp áp dụng phương pháp này thì đến năm 1995 là 20%; năm 1996 là 22% và đến năm 2000 là 23%.[23]
Phương pháp ABC được coi là một phương pháp kế toán quản trị chi phí hiện đại nhưng việc áp dụng phương pháp này tại các nước đang phát triển ở châu Á còn khá khiêm tốn so với các phương pháp truyền thống trình bày ở trên Tại Xing- ga-po chỉ có 13% các doanh nghiệp điều tra áp dụng phương pháp này, với mục đích chủ yếu
Trang 2515
là để xác định các nguồn hoạt động phát sinh chi phí Tại Ma-lai-xi-a tỷ lệ này là 18% năm 2002, tăng rất nhiều so với 4% năm 1998 Tại Trung Quốc tỷ lệ này vô cùng thấp, chỉ khoảng từ 1% tới 2%
b Kinh nghiệm vận dụng kế toán quản trị chi phí theo phương pháp ABC ở Việt Nam
Tại nhiều quốc gia, áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp không mới, nhưng tại Việt Nam thực sự chỉ được tìm hiểu vào đầu những năm 90 và được nghiên cứu có hệ thống từ năm 1999 Đặc biệt, với KTQT dựa trên mức độ hoạt động (ABC) được coi là một trong những công cụ quản lý hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường bởi tính linh hoạt và kịp thời của thông tin kế toán phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ doanh nghiệp Hiện nay, việc áp dụng phương pháp kế toán theo mức độ hoạt động trong các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế
Thuật ngữ “KTQT” cũng chỉ vừa được công nhận trong Luật Kế toán Việt Nam ban hành ngày 17/06/2003 Vào ngày 12/06/2006, Thông tư số 53/2006/TT-BTC của
Bộ Tài chính về hướng dẫn áp dụng KTQT trong doanh nghiệp chính thức được ra đời nhằm hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện KTQT Đến nay, số lượng các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tăng, điều đó có nghĩa sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có các chiến lược, có giải pháp hiệu quả Phần lớn các doanh nghiệp đều biết Thông tư số 53/2006/TT-BTC về việc áp dụng KTQT Tuy nhiên, quy mô doanh nghiệp Việt Nam đa phần là vừa và nhỏ nên chưa quan tâm đến việc tổ chức công tác KTQT Như vậy, đại đa số các doanh nghiệp vẫn chưa quan tâm thỏa đáng đến một văn bản có ý nghĩa đầu tiên hướng dẫn các doanh nghiệp áp dụng KTQT Các doanh nghiệp chỉ quan tâm đến kế toán tài chính mà không hề biết vai trò
mà KTQT mang lại trong điều hành hoạt động của công ty Mặc khác, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 53/2006/TT-BTC về áp dụng KTQT vào doanh nghiệp nhưng chỉ mang tính hướng dẫn chứ không bắt buộc nên đa phần các công ty vừa và nhỏ không áp dụng KTQT, thậm chí những công ty có quy mô lớn nhưng vẫn chưa áp dụng Nếu có áp dụng thì chỉ dạng sơ khai, đơn giản chỉ là sự kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị, KTQT chỉ là chi tiết hóa số liệu của kế toán tài chính Các doanh nghiệp chưa khai thác triệt để công cụ KTQT vào hoạt động của đơn vị
Trang 2616
Như vậy, việc tổ chức KTQT nói chung và áp dụng theo phương pháp ABC ở các DN Việt Nam vẫn còn sơ khai hoặc chỉ dừng lại ở mức độ tự xây dựng, chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin cho nhà quản trị làm cơ sở ra quyết định phù hợp
2.3 Từ phương pháp kế toán chi phí truyền thống đến phương pháp ABC
2.3.1 Sự ra đời của phương pháp kế toán truyền thống và phương pháp ABC
Phương pháp TDC ra đời vào những năm 1870 – 1920, lúc đó khoa học kỹ thuật chưa phát triển, quy trình sản xuất còn đơn giản, chi phí nhân công trực tiếp chiếm tỷ trọng cao và chi phí gián tiếp chiếm tỷ trọng thấp Phương pháp TDC lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí gián tiếp thường dựa trên số giờ công lao động hay số giờ máy hoạt động và việc phân bổ chi phí gián tiếp vào sản phẩm dịch [3]
Ngày nay, thời đại của khoa học công nghệ, thời đại của sự chuyển dịch từ sản xuất dựa trên nguồn nhân công là chính sang ứng dụng của thiết bị và máy móc tân tiến, giảm đi số giờ cũng như số lượng công nhân trong nhà máy Chính điều này làm thay đổi cơ cấu chi phí trong doanh nghiệp , tăng tỷ trọng định phí và giảm tỷ trọng của biến phí Mặc khác nguồn lực có hạn nhưng sức ép thị trường ngày càng gia tăng cả trong
và ngoài nước Trong bối cảnh này nhà quản trị cần có những thông tin về tài chính, cũng như năng lực cạnh tranh của mình một cách chính xác, kịp thời và chi tiết nhằm đưa ra quyết định và hướng đi đúng đắn Vì thế phương pháp TDC không còn phù hợp
để đáp ứng những yêu cầu này nữa Cụ thể vào những năm 1980, các công ty của Mỹ đối mặt với những cuộc cạnh tranh gay gắt bởi các công ty đến từ Nhật Bản, các nhà quản trị cần những thông tin đáng tin cậy để ra quyết định nhưng hệ thống kế toán hiện tại không đáp ứng được điều đó Cùng thời gian này, Robin Cooper and Rober S Kaplan giới thiệu phương pháp ABC nhằm khắc phục những nhược điểm vốn có của phương pháp TDC Các công ty Mỹ bắt đầu nghiên cứu áp dụng phương pháp ABC và
đã đem lại những thay đổi to lớn trong việc lựa chọn cơ cấu sản phẩm sản xuất, quyết định về giá, chính sách hậu mãi… đã dẫn đến cải thiện đáng kể lợi nhuận và gia tăng
sự cạnh tranh của các công ty Mỹ
2.3.2 So sánh phương pháp ABC và TDC
Về mục tiêu cơ bản, cả hai phương pháp này giống nhau là đều hướng tới mục tiêu xác định chi phí giá thành của sản phẩm dịch vụ, và cung cấp thông tin chi phí giá
Trang 2717
thành cho nhà quản trị ra quyết định Xét về giai đoạn thì cả hai phương pháp đều như nhau:giai đoạn đầu xác định chi phí liên quan đến hoạt động chịu chi phí hay trung tâm chi phí, giai đoạn 2 là tính toán giá thành sản phẩm dịch vụ thông qua kỹ thuật tính toán của từng phương pháp
Tuy nhiên, phương pháp TDC chỉ đề cập chủ yếu đến việc tính toán giá thành sản phẩm (dịch vụ) phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính, còn phương pháp ABC ngoài mục tiêu tính toán chính xác giá thành còn cung cấp thêm thông tin chính xác cho các quyết định của nhà quản trị Chính sự khác nhau này dẫn đến phạm vi tập hợp chi phí khác nhau và kỹ thuật tính toán cũng khác nhau
Đối với phương pháp TDC việc xác định đối tượng tập hợp chi phí thông thường theo nhà xưởng, quy trình sản xuất, còn phương pháp ABC xác định đối tương tập hợp chi phí là những hoạt động nhóm hoạt động làm phát sinh chi phí Phương pháp TDC sử dụng tiêu thức phân bổ chi phí gián tiếp thường là số giờ lao động hay số giờ hoạt động của máy móc thiết bị, trong khi ấy phương pháp ABC sử dụng nhiều tiêu thức phân bổ chi phí gián tiếp dựa trên mối quan hệ nhân quả với chi phí Thực tế ở đây công việc tập hợp chi phí phát sinh của kế toán là giống nhau, chỉ khác nhau là phạm vi tập hợp chi phí Về việc phân bổ chi phí gián tiếp cũng giống nhau, tất cả các chi phí gián tiếp đều được phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí (sản phẩm, dịch vụ) Nhưng bởi vì ABC lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí dựa vào mối quan hệ nhân quả với nguyên nhân làm phát sinh chi phí (driver cost) vì vậy tiêu thức phân bổ nhiều hơn rất nhiều so với phương pháp TDC.[4]
Ngoài ra, phương pháp TDC giá thành sản phẩm bao gồm tất cả những chi phí sản xuất kể cả những chi phí sản xuất không là nguyên nhân tạo ra sản phẩm Ngược lại, phương pháp ABC sẽ loại bổ các chi phí trong sản xuất không liên quan tới việc hình thành sản phẩm, thay vào đó những hoạt động làm phát sinh chi phí sau khi sản phẩm, dịch vụ (chi phí ngoài sản xuất) được cung cấp tới khách hàng như chi phí bảo hành của sản phẩm đó, chi phí hậu mãi sau bán hàng,…sẽ được tính vào trong sản phẩm (dịch vụ)
Chính vì vậy, phương pháp ABC cung cấp thông tin chi phí giá thành đầy đủ
và đáng tin cậy cho nhà quản trị ra quyết định, tránh được sai lầm mà các nhà quản trị hay mắc phải khi sử dụng thông tin được cung cấp từ phương pháp TDC
Trang 2818
2.4 Phương pháp xác định chi phí sản xuất dựa trên mức độ hoạt động
2.4.1 Khái niệm phương pháp kế toán quản trị theo phương pháp ABC
Vào những năm 1980, những hạn chế của hệ thống kế toán chi phí truyền thống
đã trở nên phổ biến Sau những năm 1980, những thách thức bắt đầu đặt ra cho việc tính toán và áp dụng những hệ thống thông tin chi phí mới Do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, những dây chuyền sản xuất tự động đã trở nên phổ biến, nhiều loại sản phẩm được sản xuất ra hàng loạt, chi phí lao động chiếm tỷ trọng ngày càng nhỏ trong tổng chi phí sản xuất, trong khi chi phí quản lý và phục vụ sản xuất tăng dần và chiếm tỷ trọng đáng kể, việc phân bổ chi phí gián tiếp dựa trên tiêu thức phân bổ giản đơn trở nên không còn phù hợp làm biến tướng giá trị của sản phẩm có thể cao hoặc thấp hơn bản chất thực sự dẫn tới việc đưa ra các quyết định đầu tư sai lệch
Một phương pháp tính chi phí mới được thiết kế nhằm khắc phục các nhược điểm của những hệ thống tính giá thành truyền thống, đó là hệ thống tính chi phí theo hoạt động ABC
Từ trước đến nay, có khá nhiều khái niệm về phương pháp ABC, mỗi học giả trên thế giới có một khái niệm khác nhau
Theo Douglas (1992) khi nghiên cứu ứng dụng triển khai ABC, có khái niệm ABC như sau:
“ Phương pháp phân bổ chi phí dựa trên mức độ hoạt động (ABC) là một khái niệm về kế toán chi phí, khái niệm dựa trên tiền đề sản phẩm sử dụng các hoạt động để hoàn thành, và các hoạt động đòi hỏi các chi phí để thực hiện Như vậy, hệ thống này được thiết kế các chi phí không được tập hợp trực tiếp đến các sản phẩm, mà các chi phí được tập hợp đến các hoạt động, sau đó các hoạt động được tập hợp đến các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp hoạt động đó.”[22]
Đối với Kaplan (1998) cho rằng: “Phương pháp ABC được thiết kế nhằm cung cấp một cách thức phân bổ chính xác chi phí gián tiếp và nguồn lực cho các hoạt động, quá trình kinh doanh, các sản phẩm và dịch vụ Mục tiêu của phương pháp ABC không phải là phân bổ chi phí chung cho các sản phẩm mà mục tiêu của phương pháp
Trang 2919
ABC là đo lường và tính giá tất cả các nguồn lực sử dụng cho các hoạt động mà có thể
hỗ trợ cho việc sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng”.[11]
Theo Robin (2009) ABC được định nghĩa là một hệ thống kế toán ghi nhận chi phí theo biến đổi của hoạt động thực hiện trong đơn vị và sử dụng nhiều tiêu thức để phân bổ chi phí sản xuất chung đến các sản phẩm Nguyên tắc chính của phương pháp này là dựa vào các hoạt động chuyển hoá các nguồn lực thành các đầu ra của doanh nghiệp
Như vậy, phương pháp ABC có thể được hiểu là phương pháp phân bổ chi phí
sử dụng đa tiêu thức để phân bổ chi phí đến đối tượng cuối cùng là sản phẩm, khách hàng, thị trường, kênh phân phối Nguyên tắc chính của phương pháp là tính chi phí cho từng hoạt động, sau đó tổng hợp các chi phí đến đối tượng cuối cùng bằng cách đo lường bao nhiêu hoạt động phục vụ cho đối tượng này
2.4.2 Các ước kỹ thuật để triển khai ABC
Để triển khai mô hình ABC, theo Kaplan (1998) thì các thành phần chính của
mô hình cần chú ý chính là: Nguồn lực, hoạt động, đối tượng tập hợp chi phí Nghiên cứu chi tiết hơn, Turney (1996) các thành phần trong mô hình cần chú ý như sau: Nguồn lực, hoạt động, trung tâm hoạt động, tiêu thức phân bổ nguồn lực, tập hợp chi phí theo hoạt động, nhân tố sử dụng chi phí, tiêu thức phân bổ chi phí theo hoạt động, đối tượng chi phí Trong hệ thống ABC, Kaplan (1998) cho rằng các hoạt động được tập trung chú ý hơn là các sản phẩm, vì điều này sẽ giúp thông tin cung cấp từ hệ thống tránh bị sai lệch như hệ thống kế toán chi phí truyền thống Hoạt động không chỉ được xem xét một cách thông thường mà đặt trong mối tương quan với sản phẩm, tính chi phí mỗi hoạt động, tiêu thức đo lường hoạt động chính trong công ty (Drury, 1996) Tuy nhiên, điều đầu tiên cần chú ý khi muốn triển khai mô hình ABC là mục tiêu của mô hình sẽ giải quyết được vấn đề nào cho doanh nghiêp, Turney (1996) đã đưa ra một số mục tiêu như sau:
– Những hoạt động gì đang được tiến hành và sử dụng nguồn lực của công ty?
– Chi phí thực hiện các hoạt động là bao nhiêu và cho toàn quá trình kinh doanh
là bao nhiêu?
– Tại sao công ty lại cần các hoạt động hay quá trình kinh doanh này?
– Mỗi nguồn lực tham gia vào sản phẩm và dịch vụ của công ty là bao nhiêu?
Trang 3020
Cụ thể các bước triển khai mô hình:
Bước 1: Nhận diện các hoạt động chính trong doanh nghiệp
Dury (1996) định nghĩa hoạt động là sự kiện, nghiệp vụ, một công việc với một mục đích cụ thể Còn theo Thủy (2009) hoạt động là một sự kiện hoặc một nghiệp vụ gây ra sự phát sinh chi phí của đơn vị Turney (1996) cho rằng hoạt động mỗi công ty
sẽ khác nhau tùy thuộc vào công nghệ áp dụng, quy mô, hay cách tổ chức kinh doanh của từng đơn vị
Quy trình chung trong việc xác định các hoạt động là các nhân viên trong nhóm thực hiện ABC phỏng vấn những nhân viên làm việc trong các bộ phận mô tả những hoạt động chính của họ Kết quả của các buổi phỏng vấn là một danh sách dài các hoạt động được cung cấp Tuy nhiên cần lưu ý, các hoạt động chỉ nên liệt kê từ 10 đến 30 hoạt động liên quan tới chi phí sản phẩm và chi phí đến khách hàng Các hoạt động sử dụng nguồn lực hay thời gian của đơn vị khoảng dưới 5%, thì có thể loại bỏ để từ điển hoạt động đơn giản, ngắn gọn
Nhóm và gộp các hoạt động:
Số lượng các hoạt động trong hệ thống ABC được theo dõi càng nhiều thì chi phí tính toán càng chính xác Tuy nhiên, theo Cooper (1990) việc theo dõi hệ thống gồm nhiều hoạt động phức tạp sẽ tốn nhiều chi phí, vì vậy các hoạt động tương tự sẽ được sắp xếp vào cùng một nhóm hoạt đông
Khi kết hợp các hoạt động trong một hệ thống ABC, các hoạt động sẽ được nhóm lại với nhau theo mức độ thích hợp Những hoạt động ở cấp độ lô sản phẩm không nên phối hợp với các hoạt động cấp đơn vị sản phẩm hoặc hoạt động dòng sản phẩm với các cấp độ hàng loạt Nói chung, tốt nhất là chỉ kết hợp những hoạt động liên quan chặt chẽ với nhau trong một cấp độ
Trang 3121
Bước 2: Xác định chi phí chung của từng tổ hợp hoạt động
Sau khi nhận diện các hoạt động bước kế đến là tính các chi phí cho mỗi hoạt động dựa vào hệ thống tài chính hay sổ cái của đơn vị (Kaplan, 1998) Giai đoạn này được xem là bước phân bổ chi phí đầu tiên Trong giai đoạn này các nguồn lực sẽ tính trực tiếp cho từng hoạt động cụ thể, hay các nguồn lực có thể tính cho nhiều hoạt động tùy theo mức độ phục vụ Turney (1996) cho rằng tiêu thức tập hợp và phân bổ chi phí đầu tiên thể hiện mối liên kết giữa nguồn lực và hoạt động, dựa vào sổ cái các chi phí
sẽ được phân bổ cho các hoạt động dựa trên các tiêu thức này Nguồn lực ở đây bao gồm các chi phí phát sinh, tổng nguồn lực cho mô hình phải bằng tổng chi phí phát sinh tại doanh nghiệp Trong bước này, đòi hỏi các thành viên cần phải phỏng vấn các nhân viên liên quan tới các nguồn lực tại các trung tâm chi phí, để đưa ra tỷ lệ phân phối các nguồn lực cho các hoạt động tương đối chính xác Và đây được xem là bước quan trọng và khó khăn nhất trong quá trình thực hiện tại các đơn vị
Hình 2.3 Mô hình giai đoạn đầu phân bổ chi phí
Nguồn Cooper(1990)
Bước 3: Xác định tiêu thức phân bổ lần hai cho hoạt động
Sau khi tiến hành xong lần phân bổ chi phí đầu tiên, việc tiếp theo của các nhân viên thực hiện phương pháp ABC là cần xác định được tiêu thức để phân bổ cho các đối tượng tập chi phí Mấu chốt trong mô hình ABC là lựa chọn chính xác tiêu thức phân bổ chi phí Kaplan (1998) cho rằng tiêu thức phân bổ chi phí có thể lựa chọn là những nhân tố sinh ra hay kiểm soát chi phí của một hoạt động, nhân tố này làm thay
Trang 3222
đổi chi phí của hoạt động Độ chính xác của việc phân bổ chi phí sản phẩm phụ thuộc vào việc lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí phù hợp (Gunasekaran, 1999) Lựa chọn tiêu thức này có thể thực hiện bằng cách phỏng vấn những người làm việc thường xuyên liên quan đến hoạt động này, họ sẽ giúp chỉ ra những nhân tố nào làm tăng, giảm thời gian, nỗ lực của họ khi thực hiện các hoạt động
Thuật ngữ nhân tố dẫn dắt chi phí_ cost driver được hiểu là thước đo hoạt động
là nguyên nhân phát sinh chi phí hay là nguồn tạo ra sản phẩm Hai thước đo được dùng phổ biến hiện nay là “Thước đo số lượng hoạt động- Transaction drivers” và
“Thước đo thời gian hoạt động- Duration drivers” Thước đo số lượng hoạt động là thước đo số lần hoạt động xảy ra, chẳng hạn như số lượng hóa đơn được gửi cho khách hàng Thước đo thời gian hoạt động là thước đo thời gian cần thiết để thực hiện một hoạt động, chẳng hạn như thời gian dành cho việc lập hóa đơn cho khách hàng Nhìn chung, thước đo thời gian hoạt động là phương pháp xác định sự tiêu thụ các nguồn lực chính xác hơn so với thước đo số lượng hoạt động, tuy nhiên phương pháp này mất nhiều công sức để ghi nhận Vì lí do đó, thước đo số lượng hoạt động thường được sử dụng trong thực tế.[4]
ABC phân bổ chi phí dựa trên năm nhóm hoạt động, hoạt động ở cấp độ đơn vị sản phẩm, hoạt động ở cấp độ lô sản phẩm, hoạt động dòng sản phẩm, hoạt động liên quan tới khách hàng và hoạt động duy trì tổ chức Trong năm nhóm hoạt động thì chỉ
có nhóm hoạt động cấp độ đơn vị sản phẩm liên quan đến số lượng sản phẩm được sản xuất Các chi phí và các thước đo hoạt động tương ứng cho các hoạt động cấp nào thì liên quan đến khối lượng các đơn vị sản xuất đó Các nhóm hoạt động được mô tả như sau:
Hoạt động ở cấp độ đơn vị sản phẩm là những hoạt động được thực hiện liên quan đến từng đơn vị sản phẩm được sản xuất Chi phí của hoạt động ở cấp độ đơn vị sản phẩm tỷ lệ với số lượng sản phẩm được sản xuất Chẳng hạn, năng lượng để chạy thiết bị là hoạt động ở cấp độ đơn vị sản phẩm vì năng lượng sẽ tiêu thụ theo số lượng đơn vị được sản xuất
Hoạt động ở cấp độ lô sản phẩm là những hoạt động được thực hiện liên quan đến lô sản phẩm, bất kể có bao nhiêu sản phẩm trong lô sản phẩm Ví dụ, thu xếp dịch
vụ vận chuyển cho khách hàng, lắp đặt thiết bị,
Trang 3323
Hoạt động dòng sản phẩm là những hoạt động liên quan đến những sản phẩm
cụ thể và thường phải được thực hiện bất kể có bao nhiêu lô sản phẩm hay đơn vị sản phẩm Ví dụ, thiết kế sản phẩm, quảng cáo sản phẩm,…
Hoạt động liên quan đến khách hàng là những hoạt động liên quan đến khách hàng cụ thể bao gồm các hoạt động như: gọi điện chào hàng, gửi mail danh mục hàng hay hỗ trợ kỹ thuật chung mà không gắn liền với bất kỳ đơn vị sản phẩm nào,…
Hoạt động liên quan đến duy trì tổ chức là những hoạt động không liên quan tới bốn hoạt động trên, chẳng hạn các hoạt động vận hành máy sản xuất, lập báo cáo hằng năm, [4]
Tóm lại, khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí cần phải cân nhắc giữa độ chính xác và độ phức tạp của ABC Theo nguyên tắc hệ thống càng phân bổ chính xác thì tốn kém cho hệ thống càng nhiều (Kaplan, 1998)
Dury (1996) đề xuất xem xét các nhân tố để chọn làm tiêu thức phân bổ như sau:
– Nhân tố này có thể giải thích được chi phí cho một hoạt động Thay đổi nhân tố này dẫn đến thay đổi chi phí của hoạt động
– Dễ dàng đo lường
– Có thể dễ dàng liên kết với sản phẩm
– Lựa chọn một tiêu thức phân bổ phải đại diện cho một hoạt động, tức là có thể giải thích được chi phí của một hoạt động thông qua nhân tố đã được chọn
Bước 4: Phân bổ chi phí hoạt động cho đối tượng chịu chi phí cuối cùng
Theo Turney (1996) bước này là bước phân bổ tổng chi phí của các hoạt động đến từng đối tượng chịu phí cuối cùng Đây là bước đánh giá mỗi loại sản phẩm, khách hàng cần bao nhiêu hoạt động để thực hiện Cooper (1990) nhận định bước một phân
bổ toàn bộ nguồn lực cho tất cả các hoạt động, bước hai đo lường tần suất và cường độ của mỗi hoạt động cho các đối tượng chịu phí cuối cùng
Trang 3424
Hình 2.4 Thể hiện mô hình ABC áp dụng tại doanh nghiệp Nguồn: Huỳnh Tấn Dũng(2017)
Bước 5: Lập báo cáo quản trị
Các báo cáo quản trị phổ biến được lập với các dữ liệu ABC là báo cáo sản phẩm, báo cáo hoạt động, báo cáo khách hàng, báo cáo lợi nhuận, Những báo cáo này giúp công ty định hướng các nguồn lực của họ để có sơ hội tăng trưởng lợi nhuận cao nhất
2.5 Một số đặc điểm của nhóm doanh nghiệp khai thác cảng tại Việt Nam
2.5.1 Giới thiệu ngành cảng biển và khai thác cảng biển
a Khái niệm cảng iển
Cảng biển là điểm luân chuyển hàng hóa giữa các quốc gia hoặc các khu vực với nhau, và được xem là mắt xích trong dây chuyền vận tải Cảng biển được xây dựng kết cấu hạ tầng và được trang bị các trang thiết bị cho tàu biển ra vào để bốc dỡ hàng hóa và thực hiện các dịch vụ khác Cảng biển bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng Vùng đất cảng là nơi để xây dựng cầu cảng, kho bãi, hệ thống giao thông và được lắp đặt các trang thiết bị Vùng nước cảng là vùng nước trước cầu cảng, nơi neo đậu và là vùng để tàu quay trở Cảng biển có một hoặc nhiều bến cảng, bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng Bến cảng bao gồm cầu cảng, kho bãi, nhà xưởng, hệ thống giao thông, phương tiện thông tin,…Cầu cảng là kết cấu cố định thuộc bến cảng, được
sử dụng cho tàu biển neo, đậu, bốc dỡ hàng hóa và thực hiện các dịch vụ khác
Sự phát triển của ngành cảng biển gắn liền với hoạt động khai thác cảng, bao gồm các dịch vụ như theo dõi và sắp xếp tình hình tàu ra vào cảng, tình hình hoạt động
Trang 35Hình 2.5: Sơ đồ phân loại cảng biển theo chức năng Cảng tổng hợp: là cảng thương mại chuyên giao nhận và xử lý nhiều loại hàng hóa khác nhau, bao gồm: hàng rời- đóng kiện (break- bulk cargo), hàng chuyên dụng, hàng container, các loại hàng khô và hàng lỏng khác
Cảng container: là cảng chuyên xử lý và xếp dỡ container, hàng hóa được bảo quản trong các container có tiêu chuẩn là 20 feet hoặc 40 feet Với xu hướng container hóa, hầu hết các cảng biển đều có khu vực và trang thiết bị riêng để phục vụ các mặt hàng container
Cảng chuyên dụng: là cảng chuyên xử lý một loại hàng hóa (xi măng, xăng dầu,…) phục vụ cho các ngành nghề riêng biệt (cung cấp nguyên liệu, phân phối sản phẩm của nhà máy hoặc các khu công nghiệp, ) bao gồm cảng chuyên dụng hàng rời (ngũ cốc, cát, sỏi, xi măng, ) và cảng chuyên dụng hàng lỏng (khí gas)
Cảng trung chuyển: là nơi chuyển tiếp hàng hóa container giữa các “ tàu mẹ” và” tàu con”, tức là các tàu đưa hàng hóa đến cảng trung gian, sau đó hàng hóa từ cảng trung gian sẽ được vận chuyển đến điểm đích (hoặc cảng đích) thông qua hệ thống vận tải nội địa hoặc các cảng feeder
Cảng cạn (ICD): là loại cảng nằm sâu trong nội địa (miền hậu phương của cảng), được gọi là cảng cạn hay điểm thông quan nội địa
Cảng iển
Cảng tổng
Cảng chuyên dụng
Cảng trung chuyển
Cảng cạn(ICD)
Trang 3626
Nhờ những ưu điểm vượt trội và xu hướng container hóa trên thế giới, cảng container hiện nay là cảng phổ biến nhất và phát triển nhất tại các quốc gia Tỷ trọng container trong ngành vận tải biển ngày càng gia tăng, từ mức 50% năm 2000 lên đến 70% trong năm 2015 [7]
c Giá trị ngành cảng iển Việt Nam
Đầu vào: Đất cảng, hạ tầng, trang thiết bị, lao động
Hình 2.6: Giá trị ngành cảng biển Việt Nam
Đất cảng không còn nhiều:
Cục Hàng Hải Việt Nam sẽ quy hoạch chi tiết phát triển cảng biển lên Bộ giao thông Việc đảm bảo quỹ đất, vùng nước để phát triển theo đúng quy hoạch thuộc về trách nhiệm của các Bộ và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Các doanh nghiệp muốn xây dựng cảng biển cần xin phép và trình kế hoạch xây dựng lên UBND cấp tỉnh cũng như dưới sự quản lý của Cục Hàng hải Việt Nam
Hạ tầng chưa đồng bộ:
Kết cấu hạ tầng bến cảng, cầu cảng do Nhà nước đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách hoặc bằng vốn ODA (ví dụ như cảng Cái Mép- Thị Vải được tài trợ bằng nguồn vốn ODA của Nhật Bản) Sau đó tiến hành cho các doanh nghiệp khai thác cảng (thường là tư nhân) thuê kết cấu hạ tầng Hợp đồng thuê khai thác kết cấu hạ tầng thường trên 30 năm, doanh nghiệp khai thác cảng trả phí thuê một lần cho việc sử dụng trong nhiều năm, hoặc trả từng năm một Giá thuê gồm hai phần là giá thu cố định và giá thu thay đổi, được điều chỉnh định kỳ 5 năm/lần
Trang 3727
Trang thiết bị, công nghệ chưa hiện đại:
Hiện nay trang thiết bị được sử dụng ở cảng tại Việt Nam đều được nhập khẩu
do Việt Nam vẫn chưa thể tự sản xuất được các trang thiết bị lớn như cẩu bờ, cẩu giàn, cẩu khung RTG,…Phần lớn trang thiết bị được nhập khẩu từ Đức hoặc Trung Quốc Ngoài các cảng lớn ở Hải Phòng, khu vực TP.HCM và Vũng Tàu được đầu tư các trang thiết bị hiện đại, còn lại các cảng khác tại Việt Nam có trang thiết bị và công nghệ còn lỗi thời và cần nhiều lao động thủ công, các thiết bị xếp dỡ tương đối lạc hậu với công suất bốc dỡ còn thấp, dẫn đến tình trạng chậm trễ ở các cảng
Các trang thiết bị được chạy bằng dầu diesel và điện, chi phí nhiên liệu (điện, dầu) thường chiếm 5-7 % trong chi phí giá vốn Do đó, những năm giá dầu giảm mạnh, biên lãi gộp của các công ty khai thác cảng chỉ tăng nhẹ và tác động không đáng
kể Các năm trở lại đây, Việt Nam cũng dần chuyển sang sử dụng các trang thiết bị xếp dỡ chạy bằng điện (thay vì chỉ chạy bằng dầu diesel như trước)
Lao động vừa thiếu vừa yếu:
Hình 2.7: Tỷ trọng chi phí nhân công trên tổng chi phí Chi phí nhân công chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi phí hoạt động của ngành, trung bình chiếm 33%.Theo thống kê hiện nay của Viện nghiên cứu phát triển logistics, nguồn nhân lực phục vụ cho ngành này hiện nay thiếu 26% chuyên gia kỹ thuật, 21% số người có kiến thức về logistics Trong 1,5 triệu lao động ngành logistics
Trang 3828
chỉ có 3% đã qua đào tạo; 53% doanh nghiệp thiếu nhân lực và 30% doanh nghiệp cần phải đào tạo lại
Đầu ra: các dịch vụ xếp dỡ, kho ãi, lai dắt tàu
Hình 2.8: Cơ cấu doanh thu ngành Doanh thu từ dịch vụ xếp dỡ tại cầu cảng chiếm tỷ trọng cao nhất 72,5%; doanh thu từ lưu kho bãi chiếm 20,2% trong cơ cấu doanh thu
Tại khu vực này tập trung một số cảng nổi bật như Green Port, Chùa Vẽ, Hải
An, Đình Vũ, Nam Hải – Đình Vũ,… Năm 2013, tổng sản lượng hàng thông qua hệ
Trang 3929
thống cảng biển phía bắc đạt 2,233 nghìn TEU, tốc độ tăng trưởng trung bình tại khu vực này là 10.1% trong giai đoạn 2008 – 2013, năm 2016 sản lượng hàng thông quan cảng Hải Phòng đạt khoảng 4500 TEU, tăng 13,6% so với năm 2015 và có tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) 2010-2015 là 12,6%.[7]
Nhóm cảng biển tại khu vực miền Trung
Hình 2.10: Sản lượng hàng hóa thông quan qua cảng miền Trung
Hiện tại chỉ có một số cảng biển khai thác hàng container như cảng Nghệ Tĩnh tại Bắc Trung Bộ, cảng Đà Nẵng tại Trung Trung Bộ, cảng Quy Nhơn tại Nam Trung
Bộ Phần lớn các cảng còn lại chủ yếu khai thác hàng rời, phục vụ cho nhu cầu luân chuyển hàng hóa trong nước Tỷ trọng hàng hóa container thông qua hệ thống các cảng miền Trung không cao Năm 2013, tổng lượng hàng hóa container thông qua khu vực này 263 nghìn TEU chiếm 3.11% trong tổng lượng hàng container cả nước.[9]
Nhóm cảng biển Đông Nam Bộ
Là khu vực có hoạt động khai thác cảng tấp nập và năng động nhất Việt Nam, với sản lượng hàng thông quan liên tục dẫn đầu trong cả năm Trong năm 2013, tổng lượng hàng hóa container thông qua hệ thống cảng Đông Nam Bộ đạt 5,886 nghìn TEU chiếm tỷ trọng 69.6% cả nước Trong đó, sản lượng hàng thông qua khu cảng Cát Lái vượt trội hơn cả đạt 3,255 nghìn TEU chiếm tỷ trọng hơn 50% khu vực.[9]
Trang 4030
Hình 2.11: Cung cầu hàng hóa thông quan qua cảng phía Nam
2.5.2 Công tác tính giá thành tại nhóm doanh nghiệp khai thác Cảng ở Việt Nam
a Tình hình chung của nhóm ngành khai thác cảng hiện nay
Trong xu thế hiện nay, xuất hiện nhiều nhà khai thác cảng trên toàn cầu, việc tăng lưu lượng thương mại vận tải biển và sử dụng tàu có trọng tải lớn đặt ra đòi hỏi về chất lượng và năng suất dịch vụ xếp dỡ, tư nhân hóa các hoạt động cảng trên thế giới
đã làm tăng sự tham gia của các nhà khai thác cảng toàn cầu, đặc biệt đối với cảng container
Các nhà khai thác toàn cầu xúc tiến thâm nhập vào thị trường xếp dỡ container nhằm tăng năng lực cạnh tranh thông qua việc thiết lập mạng lưới toàn cầu, xúc tiến liên kết dọc của các nhà khai thác cảng dưới liên kết và thâu tóm, đầu tư cảng container ở các quốc gia khác thông qua liên doanh với các công ty chủ nhà, với các nhà khai thác khác hoặc với các hãng tàu như: tháng 4/2012, hãng Evergreen của Đài Loan (thứ 4 thế giới) liên kết khai thác cùng liên minh CKYH Tháng 2/2013, hai liên minh Grand và New World đã bắt tay nhau, hình thành một liên minh mới G6 Q2/2014, Maersk Lines tham gia vào liên minh của MSC và CMA – CGM
Các nhà khai thác cảng hàng đầu đã thực hiện các chiến lược đa dạng, hướng
tới kiểm soát phần lớn chuỗi cung ứng với nhận thức rõ ràng là chuỗi vận tải được
xem như một hệ thống hợp nhất tổng thể Ý tưởng cửa đến cửa đã biến các nhà khai
thác cảng thành các tập đoàn logistics Các dịch vụ bao gồm kho bãi, phân phối, dịch
vụ logistics gia tăng giá trị như định hướng khách hàng địa phương Rất nhiều nhà
khai thác cảng thực hiện vận tải đa phương để tạo lên cầu nối giữa cảng và nội địa
Trong khi ấy, theo xếp hạng của WB, logistics tại Việt Nam hiện đang xếp hạng 64/160 trên toàn thế giới với điểm (LPI_chỉ số năng lực quốc gia về kho vận) 2,98 tụt