Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4.1 Ý nghĩa khoa học Đề tài sẽ đánh giá được chất lượng đất trên cơ sở nghiên cứu độ phì của các loại đất cần khảo sát ở huyện Cái Bè – Tiền Giang là
Trang 1Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Ngọc Hùng
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)
Trang 2NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngày, tháng, năm sinh: 10/11/1987 Nơi sinh: Bình Dương
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và Môi trường Mã số: 60.85.01.01
I TÊN ĐỀ TÀI:
Khảo sát, đánh giá chất lượng đất qua nghiên cứu độ phì các loại đất ở huyện Cái
Bè tỉnh Tiền Giang
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
- Thu thập tài liệu, số liệu, bản đồ về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội, tài nguyên thiên nhiên, tình hình quản lý, sử dụng đất và thoái hoá đất
- Khảo sát thực địa, đánh giá tình hình sử dụng đất tại địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá chất lượng đất trên cơ sở nghiên cứu độ phì của các loại đất
- Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm bảo vệ môi trường đất
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Theo Quyết định số 3396/QĐ-ĐHCN về việc giao
đề tài cho học viên và cử người hướng dẫn luận văn Thạc sĩ của Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM ngày 15 tháng 12 năm 2017
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: Ngày 15 tháng 06 năm 2018
V NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Vũ Ngọc Hùng
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2018
VIỆN TRƯỞNG VIỆN KHCN & QLMT
Trang 3ơn thời gian được học tập và làm việc cùng thầy
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt là các thầy cô thuộc Viện Khoa học Công nghệ và Quản
lý Môi trường thuộc Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy truyền đạt kiến thức để em hoàn thành khóa học và luận văn này Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các Bác, Chú và Anh chị em tại Trung tâm Tài nguyên đất và Môi trường trực thuộc Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp Miền nam đã sát cánh cùng tôi thực hiện đề tài này
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ động viên của gia đình và các bạn, tiếp cho tôi sức mạnh hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Học viên
Đinh Thị Hồng
Trang 4Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng đất tại huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang còn khá tốt, chỉ bị suy giảm nhẹ và đất hơi bị chua, làm thông tin nền để đối chiếu quan trắc suy giảm độ phì làm biến đổi môi trường đất trong thời gian tới Giúp địa phương có những giải pháp phù hợp nhằm duy trì độ phì nhiêu của đất, bảo vệ và ngăn chặn đất bị thoái hoá, có kế hoạch sử dụng đất hợp lý, kết hợp những biện pháp quản lý của nhà nước góp phần bảo vệ tài nguyên đất hướng tới phát triển bền vững
Phân tích 6 chỉ tiêu biểu thị cho độ phì của các tầng đất mặt lấy khảo sát cho thấy đất nơi đây có độ chua đạt mức từ chua cho đến trung tính, dung tích hấp thụ ở mức trung bình đến cao, chất hữu cơ và nitơ tổng số ở mức giàu đến rất giàu, kali tổng số đạt mức trung bình còn lại là phốt pho tổng số đạt mức trung bình đến rất giàu tuy nhiên có một vài mẫu chỉ ở mức nghèo tập trung ở đất phèn hoạt động sâu và đất phù sa có tầng loang lỗ đỏ vàng
Độ phì hiện tại của các loại đất đạt mức cao với tổng diện tích là 31.293,41 ha, chiếm 92,5 % DTĐT và độ phì ở mức trung bình là 2.535,71 ha, chiếm 7,5 % DTĐT
Đa số đất không bị suy giảm độ phì với tổng diện tích là 32.826,36 ha, chiếm 97,03
% DTĐT, đất bị thoái hoá do suy giảm độ phì nhẹ là 1.002,76 ha, chiếm 2,97 % DTĐT
Từ khoá: Đất, độ phì, chất lượng đất, các chỉ tiêu độ phì, tài nguyên đất
Trang 5Analysis of the six indicators indicates the fertility of the topsoil surveyed, indicating that the soils is acidic to sour to neutral, medium to high absorption capacity, organic matter and Total nitrogen in the rich to the very rich, total potassium in the remaining medium is medium to very high total phosphorus, but there are some samples only in the poor concentrated in deep soils Alluvial soils has yellowish reddish layer
The current fertility of the soils reached a high level with a total area of 31,293.41 hectares, accounting for 92.5% DTĐT and average fertility of 2,535.71 hectares, accounting for 7.5% DTĐT
Most of the soils was not fertile with a total area of 32,826.36 hectares, accounting for 97.03% DTĐT The soils was degraded due to decline in fertility of 1,002.76 hectares, accounting for 2.97% DTĐT
Keywords: Soil, fertility, soil quality, fertility indicators, land resources
Trang 6iv
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả đạt được trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, tìm
hiểu của riêng cá nhân tôi Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là
trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào
Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi
nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tp.HCM, ngày tháng năm 2018
Học viên
Đinh Thị Hồng
Trang 7v
MỤC LỤC
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
4.1 Ý nghĩa khoa học 2
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan các khái niệm 3
1.1.1 Tổng quan về đất đai và chất lượng đất 3
1.1.2 Tổng quan về độ phì nhiêu của đất 4
1.1.3 Các chỉ tiêu cơ bản biểu thị cho độ phì 6
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 7
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 7
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 10
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 13
1.3.1 Điều kiện tự nhiên huyện Cái Bè 13
1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội 19
1.3.3 Các nhóm đất chính 26
1.3.4 Hiện trạng sử dụng đất 29
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Nội dung nghiên cứu 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
2.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý và kế thừa dữ liệu 34
2.2.2 Phương pháp điều tra và khảo sát thực địa 35
2.2.3 Phương pháp lấy mẫu, xử lý mẫu và số liệu đã thu thập 36
Trang 8vi
2.2.4 Phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu (MCE) 37
2.2.5 Phương pháp bản đồ và ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) 37
2.2.6 Phương pháp chuyên gia 38
2.2.7 Phương pháp khảo sát thực địa và phỏng vấn nông hộ 38
2.2.8 Phương pháp đánh giá mức độ suy giảm độ phì 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1 Kết quả đánh giá các chỉ tiêu độ phì của đất 41
3.1.1 Độ chua của đất (pHKCl) 41
3.1.2 Dung tích hấp thụ (CEC) 42
3.1.3 Nitơ tổng số 43
3.1.4 Chất hữu cơ tổng số (OM) 44
3.1.5 Phốt pho tổng số (P2O5) 45
3.1.6 Kali tổng số (K2O) 46
3.2 Chất lượng đất ở huyện Cái Bè 47
3.2.1 Độ phì nhiêu đất hiện tại 47
3.2.2 Đánh giá mức độ suy giảm độ phì 51
3.2.3 Đánh giá chất lượng đất 55
3.3 Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm bảo vệ tài nguyên đất 57
3.3.1 Giải pháp về tuyên truyền 57
3.3.2 Giải pháp về tăng cường giám sát kế hoạch sử dụng đất 57
3.3.3 Giải pháp về bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường 58
3.3.4 Giải pháp về kỹ thuật 59
3.3.5 Giải pháp về nguồn lực, vốn đầu tư 59
3.3.6 Giải pháp về đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý đất đai 60
3.3.7 Giải pháp về chính sách, quản lý 61
3.3.8 Giải pháp về cải cách thủ tục hành chính trong quản lý đất đai 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 66
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 76
Trang 9vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Cái Bè 15
Hình 1.2 Bản đồ đất huyện Cái Bè 28
Hình 1.3 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Cái Bè 32
Hình 3.1 Biểu đồ độ chua trong tầng đất mặt của các loại đất chính 42
Hình 3.2 Biểu đồ CEC trong tầng đất mặt của các loại đất chính 43
Hình 3.3 Biểu đồ nitơ tổng số trong tầng đất mặt của các loại đất chính 44
Hình 3.4 Biểu đồ OM tổng số trong tầng đất mặt của các loại đất chính 45
Hình 3.5 Biểu đồ P2O5 tổng số trong tầng đất mặt của các loại đất chính 46
Hình 3.6 Biểu đồ K2O tổng số trong tầng đất mặt của các loại đất chính 47
Hình 3.7 Biểu đồ độ phì nhiêu đất hiện tại 48
Hình 3.8 Bản đồ độ phì hiện tại huyện Cái Bè 50
Hình 3.9 Biểu đồ đất bị thoái hoá do suy giảm độ phì 51
Hình 3.10 Bản đồ suy giảm độ phì huyện Cái Bè 54
Trang 10viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Biến động sử dụng đất ở huyện Cái Bè 29
Bảng 2.1 Phương pháp phân tích mẫu đất 36
Bảng 2.2 Phân cấp các chỉ tiêu hoá học đất để đánh giá đất bị suy giảm độ phì 40
Bảng 3.1 Độ chua trong tầng đất mặt của các loại đất chính 41
Bảng 3.2 CEC trong tầng đất mặt của các loại đất chính 42
Bảng 3.3 Nitơ tổng số trong tầng đất mặt của các loại đất chính 43
Bảng 3.4 OM tổng số trong tầng đất mặt của các loại đất chính 44
Bảng 3.5 P2O5 tổng số trong tầng đất mặt của các loại đất chính 45
Bảng 3.6 K2O tổng số trong tầng đất mặt của các loại đất chính 46
Bảng 3.7 Bảng đánh giá độ phì của đất 47
Bảng 3.8 Độ phì nhiêu đất hiện tại chia theo đơn vị hành chính 48
Bảng 3.9 Diện tích đất bị thoái hoá do suy giảm độ phì chia theo đơn vị hành chính
52
Trang 11ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
FCC Fertility Capability Classification
GCN QSDĐ Giấy chứng nhận sử dụng đất
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
VLHCSKT Vật liệu hữu cơ sau khai thác
Trang 12Thâm canh, tăng vụ lúa, bón phân không cân đối, ít sử dụng phân hữu cơ đưa đến tình trạng đất canh tác trở nên bạc màu là hiện trạng sản xuất nông nghiệp ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang nói riêng hiện nay Nông dân phải đầu tư nhiều hơn cho sản xuất để duy trì năng suất, qua đó giảm lợi nhuận do chi phí sản xuất cao Bên cạnh đó, việc sử dụng tầng đất canh tác cho các mục đích khác đã làm cho tình trạng suy thoái đất ngày càng nghiêm trọng hơn Tầng đất canh tác (tầng mặt) tuy chỉ chiếm một lớp mỏng trên bề mặt nhưng đóng vai trò rất quan trọng trong canh tác nông nghiệp Tầng đất mặt chứa hàm lượng hữu cơ cao nhất và cũng là lớp đất có khả năng cung cấp dinh dưỡng từ đất cao so với các tầng đất bên dưới trong phẫu diện đất Tầng đất mặt được hình thành trong quá trình tự nhiên qua hàng chục đến hàng trăm năm và rất khó tái tạo
Chất hữu cơ trong đất là thành phần cung cấp dưỡng chất chính cho cây trồng, góp phần cải thiện các đặc tính lý, hóa học của đất Bên cạnh đó, chất hữu cơ còn là nguồn thức ăn cho vi sinh vật trong đất, tác nhân quan trọng trong nhiều tiến trình chuyển hóa chất hữu cơ trong đất Với hệ thống canh tác như hiện nay thì vấn đề duy trì độ phì nhiêu của đất là rất cần thiết để đạt năng suất và ổn định và việc tìm ra nguyên nhân để
có giải pháp phù hợp để bảo vệ tài nguyên đất là vấn đề cấp thiết hiện nay
Đứng trước nguy cơ tài nguyên đất ngày càng bị tác động tiêu cực làm suy giảm
chất lượng của đất Đề tài "Khảo sát, đánh giá chất lượng đất qua nghiên cứu độ
phì các loại đất ở huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang" là cần thiết nhằm làm cơ sở phục
vụ cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường đất, đề xuất các giải pháp quản lý hướng tới phát triển bền vững
Trang 132
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu nắm vững một số đặc điểm của các loại đất trong mối quan hệ tương hỗ với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sử dụng đất
- Nghiên cứu đánh giá các chỉ tiêu độ phì đất
- Đánh giá độ phì hiện tại và mức độ suy giảm độ phì nhằm đánh giá chất lượng đất tại huyện Cái Bè
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển, cải tạo và bảo vệ tài nguyên đất
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lấy huyện Cái Bè làm địa bàn nghiên cứu, nhưng tập trung nghiên cứu độ phì các loại đất
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian nghiên cứu trong phạm vi đơn vị hành chính của huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang với diện tích là 41.638,61 ha trong đó tập trung quỹ đất nông nghiệp là 33.829,12 ha và thời gian nghiên cứu từ năm 2015 – 2017
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
4.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài sẽ đánh giá được chất lượng đất trên cơ sở nghiên cứu độ phì của các loại đất cần khảo sát ở huyện Cái Bè – Tiền Giang làm cơ sở khoa học góp phần hỗ trợ cho các nhà quản lý, người làm công tác quy hoạch, xây dựng phương án, kế hoạch quản lý nhằm bảo vệ môi trường đất hướng đến phát triển bền vững
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua kết quả đạt được đánh giá được chất lượng của đất, từ đó đề xuất được những biện pháp cụ thể góp phần bảo vệ môi trường đất, đem lại nhiều lợi ích cho người nông dân cũng như cho các nhà quản lý
Trang 143
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan các khái niệm
1.1.1 Tổng quan về đất đai và chất lượng đất
- Khái niệm về đất đai
Khái niệm đất đai được hiểu như là vùng có ranh giới, vị trí cụ thể và có các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên - kinh tế - xã hội như: Thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật và hoạt động sản xuất của con người
Theo hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil, 1993 thì : “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: Khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa)” [1]
- Khái niệm chất lượng đất
Chất lượng đất là khả năng thực hiện chức năng của từng loại đất riêng biệt trong các giới hạn của hệ sinh thái tự nhiên hoặc nhân tạo để: Duy trì năng suất của cây trồng và vật nuôi, cải thiện chất lượng không khí và nước, hỗ trợ sức khoẻ và nơi sống của con người
Khả năng thực hiện các chức năng của đất biến đổi một cách tự nhiên Do đó chất lượng đất được đánh giá tuỳ theo từng loại đất Chất lượng đất được chia thành hai phần riêng lẻ nhưng có quan hệ mật thiết với nhau: Chất lượng tự nhiên và chất lượng động
Trang 15có khả năng giữ nước tốt hơn đất cát, do đó đất thịt có chất lượng tự nhiên tốt hơn đất cát Chất lượng đất về tổng quát thường được xem như khả năng của đất Gần đây, chất lượng đất thường được xem như chất lượng động của đất, được định nghĩa như sự thay đổi tự nhiên các tính chất đất do các hoạt động của con người Một số hoạt động, như dùng cây che phủ, làm tăng vật chất hữu cơ và có tác động tích cực đến chất lượng đất Các hoạt động khác, như cày bừa khi đất ướt, tác động bất lợi đến chất lượng đất do nó làm tăng độ chặt đất Do đó, đánh giá chất lượng đất thường là đánh giá các tác động của các hoạt động của con người đến đất
1.1.2 Tổng quan về độ phì nhiêu của đất
* Các khái niệm độ phì nhiêu của đất
- Võ Thị Gương (2004), độ phì nhiêu đất đai là khả năng của đất đáp ứng nhu cầu của cây trồng về các chất dinh dưỡng với số lượng, dạng và tỷ lệ thích hợp để cho cây sinh trưởng, phát triển và tạo ra sinh khối lớn nhất [2]
- Lê Văn Khoa (2003), độ phì nhiêu của đất là khả năng cung cấp cho cây về nước, thức ăn khoáng và các yếu tố cần thiết khác (không khí, nhiệt độ ) để cho cây sinh trưởng và phát triển bình thường [3]
- Henry (1997), độ phì nhiêu của đất là khả năng cung cấp những nguyên tố cần thiết cho cây trồng phát triển, không có mặt của các độc chất [4]
- Đỗ Ánh (2003), thuật ngữ độ phì nhiêu chỉ ra khả năng vốn có của đất cung cấp cho cây trồng đầy đủ có tỷ lệ thích hợp Độ phì nhiêu đất là cơ sở của tiềm năng sản xuất và chủ yếu được quan tâm nghiên cứu vì độ phì nhiêu đất là yếu tố quyết định năng suất cây trồng [5]
Trang 165
- Ngoài ra, theo Trần Thành Lập (1999), đất phì nhiêu là đất có khả năng cho nhiều sản lượng cây trồng trong điều kiện canh tác tương đối thích hợp với mức đầu tư không quá lớn và ngược lại [6]
- Các yếu tố của độ phì nhiêu bao gồm nguyên tố dinh dưỡng, nước, không khí và nhiệt là những yếu tố cần thiết cho sự sống và sinh trưởng của cây Nên khái niệm sau đây là phù hợp nhất với đề tài tôi nghiên cứu: Độ phì nhiêu đất đai là khả năng của đất đáp ứng nhu cầu của cây trồng về các chất dinh dưỡng với số lượng, dạng
và tỷ lệ thích hợp để cho cây sinh trưởng, phát triển và tạo ra sinh khối lớn nhất
* Các dạng độ phì của đất [7]
Độ phì nhiêu của đất được chia thành các dạng như sau: Độ phì tự nhiên (thiên nhiên), độ phì tiềm tàng, độ phì hiệu lực, độ phì nhân tạo và độ phì kinh tế
- Độ phì tự nhiên có trong tất cả các loại đất tự nhiên Nó xuất hiện trong quá trình hình thành đất dưới ảnh hưởng của đá mẹ, khí hậu và sinh vật Độ phì tự nhiên được quyết định bởi sự tương tác phức tạp của các đặc tính và chế độ đất Nó hoàn toàn chưa chịu sự tác động của con người
- Trong độ phì tự nhiên có một phần tác dụng ngay đến cây trồng, một phần khác do nhiều nguyên nhân khác nhau cây trồng không sử dụng trực tiếp được Phần độ phì cây dễ dàng hấp thu được gọi là độ phì hiệu lực
- Phần độ phì thiên nhiên tạm thời cây trồng chưa sử dụng được gọi là độ phì tiềm tàng
- Sự khai thác đất để canh tác nông nghiệp đã dẫn đến sự thay đổi cơ bản sự phát triển
tự nhiên của các quá trình, chế độ và đặc tính của đất Sự thay đổi này được gây ra do
xử lý, bón phân, cải tạo đất…Sự thay đổi về mặt chất lượng và số lượng các đặc tính và chế độ của đất do tác động của con người đặc trưng cho độ phì nhân tạo
- Như vậy trên những mảnh đất có độ phì tự nhiên như nhau, một phần nhất định của độ phì này được cây sử dụng Mức độ sử dụng phần độ phì còn lại tuỳ thuộc vào tác động của người dụng đất Để nêu lên mối quan hệ chặt chẽ giữa đất với điều
Trang 176
kiện kinh tế, xã hội, người ta đã đưa ra khái niệm độ phì kinh tế Khi sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp, sự kết hợp giữa độ phì nhân tạo với độ phì tự nhiên tạo ra độ phì kinh tế (hoặc độ phì hữu hiệu) Nó được thể hiện bằng năng suất cây trồng Độ phì kinh tế không chỉ phụ thuộc vào mức độ của độ phì nhiêu tự nhiên mà còn phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện sử dụng đất, gắn chặt chẽ với các quan hệ kinh tế xã hội
* Vai trò và tầm quan trọng của độ phì đối với đất
- Độ phì nhiêu của đất có vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Độ phì nhiêu của đất có được tùy loại đất, quá trình hình thành đất và do tác động của con người
- Trong sản xuất nông nghiệp, đất là cơ sở sinh sống và phát triển cây trồng Cây trồng có thể sống trên đất là nhờ độ phì nhiêu Độ phì phát huy được tác dụng nhờ các yếu tố bên trong của đất (môi trường tự nhiên của khu vực và yếu tố kỹ thuật canh tác) Nhờ có độ phì mà đất trở thành đối tượng canh tác của loài người là tư liệu sản xuất cơ bản của nông nghiệp và là cơ sở để thực vật sinh trưởng và phát triển Bởi
vì độ phì nhiêu là khả năng của đất có thể cung cấp cho cây đồng thời và không ngừng cả nước lẫn thức ăn, khả năng đó nhiều hay ít (tức độ phì cao hay thấp) do các tính chất lý học, hoá học và sinh học đất quyết định, ngoài ra còn phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên và tác động của con người
1.1.3 Các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện cho độ phì của đất
- Dung tích hấp thụ (CEC): CEC là chỉ tiêu quan trọng của độ phì nhiêu đất, nó phản ánh khả năng giữ chất dinh dưỡng của đất CEC phụ thuộc vào 2 chỉ tiêu đó là hàm lượng và bản chất mùn, cấp hạt sét [8]
- Độ chua của đất pHKCl: Độ chua tiềm tàng được tính bằng ion H+ tự do và hấp thu trên bề mặt keo đất Thông thường độ chua này chua hơn độ chua hiện tại và biểu thị khả năng gây chua tiềm tàng của đất [8]
- Chất hữu cơ tổng số (OM): Mùn hay chất hữu cơ trong đất là chỉ tiêu quan trọng của độ phì nhiêu đất, nó có tính chất quyết định đối với các tính chất vật lý, hóa học
Trang 187
cũng như sinh học đất Phân tích mùn thường sử dụng phương pháp Tiurin hoặc phương pháp Walkley-Black Việt Nam nằm trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nên lượng nhiệt cao, độ ẩm tương đối lớn, quá trình khoáng hóa mùn mạnh do vậy nhìn chung hàm lượng mùn trong đất nghèo, đặc biệt là đối với đất canh tác lâu năm mà không sử dụng phân hữu cơ, lấy đi phụ phẩm cây trồng mà không trả lại cho đồng ruộng [8]
- Nito tổng số: Nitơ là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây trồng Trong đất phần lớn Nitơ (>95%) ở dạng hữu cơ chứa trong mùn là dạng khó tiêu đối với thực vật, chỉ có một phần nhỏ là ở dạng dễ tiêu bao gồm NH4+, NO3 –, một số axit amin mà cây có thể hút trực tiếp Nhìn chung hàm lượng nitơ trong đất có một mối tương quan chặt với hàm lượng mùn [8]
- Phốt pho tổng số (P2O5): Lân là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng chỉ đứng sau nitơ Trong đất Việt Nam do quá trình tích luỹ tương đối sắt nhôm phát triển nên hàm lượng lân dễ tiêu trong đất thấp, đặc biệt đối với đất đồi chua, chúng bị cố định bởi các phốt phát sắt nhôm [8]
- Kali tổng số (K2O): Sau đạm, lân thì kali là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng thứ
3 đối với cây trồng Các kết quả nghiên cứu cho thấy kali tập trung chủ yếu vào các hạt limon mịn và vừa nếu còn chứa khoáng nguyên sinh Như vậy hàm lượng kali trong đất phụ thuộc vào nguồn đá mẹ, mức độ phong hoá và quá trình hình thành đất Kali là nguyên tố đa lượng rất quan trọng đối với sự sinh trưởng của cây trồng sau đạm và lân [8]
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nhằm nâng cao độ phì nhiêu của đất và duy trì năng suất rừng, một nghiên cứu của nhóm tác giả: Phạm Thế Dũng, Kiều Tuấn Đạt, với sự giúp đỡ của Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR) qua dự án “Quản lý lập địa và năng suất rừng trồng nhiệt đới” của Bộ NN&PTNT cho cây bạch đàn trong đề tài “Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật bảo vệ và nâng cao độ phì của đất nhằm nâng cao năng
Trang 198
suất rừng trồng keo, bạch đàn ở các luân kỳ sau” thực hiện năm 2008-2012 Bằng các phương pháp thu thập số liệu, xử lý số liệu và phương pháp bố trí các thí nghiệm nhằm nâng cao độ phì của đất thu được kết quả sau 3 năm nghiên cứu, sinh trưởng chiều cao bạch đàn nhờ giữ lại vật liệu hữu cơ sau khai thác (VLHCSKT) đã vượt so với biện pháp phát đốt dọn thực bì (như sản xuất hiện nay) là 33,9%, và so với lấy hết vật liệu hữu cơ là 14,8% và chỉ để lại vật liệu hữu cơ hiện hữu (không bổ sung thêm) là 10,3% Các chỉ số về lân, đạm và mùn trong đất đều tăng theo các thí nghiệm đối chứng đến giữ lại vật liệu hữu cơ sau khai thác Sử dụng thuốc diệt cỏ phun toàn diện 1 và 2 lần/năm có hiệu quả trong việc kiểm soát cỏ dại Sử dụng phân đạm phối hợp với lân ở liều lượng 120kg đạm với 60kg lân/ha trong việc bổ sung dinh dưỡng cho đất trồng rừng bạch đàn sau 2 năm tuổi là hiệu quả đáng kể Việc tỉa thưa bạch đàn cho sinh trưởng cây cá thể tốt hơn so vời không tỉa Tuy nhiên cần nghiên cứu tiếp theo về dinh dưỡng đất khi kết thúc chu kỳ [9]
Sự khai thác hiện nay của con người dần dần làm mất đi tầng đất mặt đã và đang xảy ra ở nhiều tỉnh tại Đồng bằng sông Cửu Long Khi không còn tầng đất mặt có thể đưa đến sự bạc màu đất, xói mòn, suy giảm chất lượng đất và giảm năng suất cây trồng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của nhân dân Nghiên cứu của nhóm tác giả: Võ Thị Gương, Trần Bá Linh và Châu Thị Anh Thy nói về việc “Tăng cường độ phì nhiêu đất và cải thiện năng suất lúa trên ruộng bị mất tầng canh tác tại Châu Thành, Trà Vinh” Với mục tiêu đánh giá tác động của việc khai thác tầng đất mặt đến một số đặc tính hoá học đất và hiệu quả của việc sử dụng phân hữu cơ trong cải thiện độ phì nhiêu và năng xuất lúa Bằng phương pháp bố trí các nghiệm thức bón phân kết hợp với phương pháp phân tích đất cho thấy phân hữu cơ bã bùn mía và phân bò tại địa phương được bón vào đất với lượng 10 và 20 tấn/ha kết hợp phân vô
cơ theo khuyến cáo Mẫu đất đầu vụ được phân tích so sánh giữa còn và mất tầng canh tác Năng suất lúa được ghi nhận để đánh giá hiệu quả của hai dạng phân hữu
cơ Qua phân tích hàm lượng dưỡng chất của mẫu đất đầu vụ cho thấy việc lấy đi tầng đất mặt đã làm lớp đất canh tác mỏng đi, hàm lượng các chất dinh dưỡng rất thấp so với đất còn tầng mặt Việc bón kết hợp phân hữu cơ và phân hóa học theo
Trang 209
liều lượng khuyến cáo giúp cải thiện đạm hữu dụng, chất hữu cơ dễ phân hủy, sự khoáng hóa đạm trong đất và gia tăng có ý nghĩa năng suất lúa so với kỹ thuật của nông dân Tuy nhiên, pH đất, hàm lượng lân hữu dụng, kali trao đổi có khuynh hướng gia tăng nhưng chưa khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng Nghiệm thức bón
bổ sung 20 tấn phân bã bùn mía cho hàm lượng chất hữu cơ dễ phân hủy, đạm hữu
cơ dễ phân hủy và năng suất lúa cao nhất Nhìn chung, việc bón phân hữu cơ được ủ oai kết hợp phân vô cơ theo khuyến cáo là biện pháp tốt cho việc giúp cải thiện tình trạng cung cấp dinh dưỡng từ đất và gia tăng năng suất lúa trong điều kiện đất đã bị mất tầng đất mặt [10]
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng, quá trình canh tác cho thấy năng suất lúa qua nhiều năm có xu hướng giảm mà lượng phân bón ngày càng tăng, chứng tỏ độ phì nhiêu trong đất đang có xu hướng giảm Nghiên cứu của nhóm tác giả: Lê Thi Linh, Võ Quang Minh và Lê Quang Trí về
“Khả năng ứng dụng hệ thống phân loại tiềm năng độ phì FCC trong đánh giá độ
phì nhiêu đất trồng lúa tỉnh Trà Vinh tỷ lệ 1/100.000” Mục tiêu chính của nghiên
cứu nhằm xác định và đánh giá các đặc tính độ phì đất canh tác lúa ở tỉnh Trà Vinh
và chuyển đổi chú giải bản đồ đất tỉ lệ 1/100.000 phân loại theo hệ thống WRB (1998) sang bản đồ phân bố độ phì đất FCC (Fertility Capability Classification) Nghiên cứu chủ yếu dựa trên các điểm khảo sát phân tích đất thực tế và bản đồ đất theo phân loại theo hệ thống WRB (1998) Việc chuyễn đổi từ bản đồ đất sang bản
đồ độ phì FCC dựa trên sự quan hệ giữa các tầng chẩn đoán, đặc tính chẩn đoán với một số đặc tính độ phì đất tỉnh Trà Vinh Kết quả cho thấy đất canh tác lúa ở Trà Vinh gồm 3 nhóm đất chính, với 3 tầng chẩn đoán, 10 đặc tính chẩn đoán, và 2 vật liệu chẩn đoán Các khuyến cáo sử dụng đất phù hợp cho canh tác lúa dựa vào đặc tính độ phì đất cũng được khuyến cáo [11]
Lúa là loại cây trồng rất phổ biến của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng, vì đây là cây trồng đem lại lợi ích kinh tế khá cao thì việc quản lý độ phì nhiêu của đất cũng như các biện pháp bảo vệ đất là rất cần thiết Nghiên cứu của nhóm tác giả: Trần Bá Linh và Lê Văn Khoa về “ Hiện trạng độ phì
Trang 2110
vật lý của đất thâm canh lúa ở xã Long Khánh – Cai Lậy – Tiền Giang” Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá các đặc tính vật lý đất ở vùng lúa thâm canh 3 vụ lúa/năm tại xã Long Khánh - huyện Cai Lậy - tỉnh Tiền Giang thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam Bằng việc sử dụng các phương pháp thu thập số liệu, lấy mẫu và phỏng vấn nông dân thu được các kết quả sau : Việc canh tác lúa 3 vụ/năm được thực hiện từ năm 1980, trong những năm gần đây tăng lên 7 vụ/2 năm Tập quán canh tác có từ lâu của nông dân vùng này là đốt bỏ rơm rạ sau khi thu hoạch, không bón phân hữu cơ và sử dụng máy cày để làm đất sau mỗi vụ trong điều kiện đất ướt Điều này có thể dẫn đến sự thoái hoá về mặt vật lý đất rất nghiêm trọng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng độ phì vật lý của vùng đất này kém.Trong phẫu diện có rất ít rễ tươi được phát hiện ở tầng nén dẽ và tầng đất này phát triển ngay bên dưới tầng đất mặt ở độ sâu 20 - 45 cm, cấu trúc bị phá huỷ, dung trọng khá cao, độ chặt của đất cao, lượng nước hữu dụng thấp là đặc điểm của tầng nén dẽ này Bắt nguồn từ việc độc canh cây lúa và quản trị đất không thích hợp.[12]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Do nhu cầu thức ăn, chất xơ và nhiên liệu tăng để đáp ứng nhu cầu của một dân số toàn cầu ngày càng tăng, việc quản lý độ phì của đất ngày càng trở nên quan trọng Không chỉ người trồng phải quản lý đúng mức khả năng sinh sản của đất để tối ưu hóa năng suất, họ phải duy trì các chất dinh dưỡng trong đất và chất hữu cơ như là một phần của các nỗ lực bảo tồn đất toàn diện Quản lý dinh dưỡng đất tốt cũng là chìa khóa cho năng suất cao và khả năng sinh lời của nông dân
Nghiên cứu của nhóm tác giả Adamu G.K và Maharaz A Jusuf về so sánh sự thay đổi độ phì đất theo hai hoạt động nuôi trồng ở vùng Kano close-settled Nghiên cứu
về ảnh hưởng của hai hệ thống canh tác (canh tác đơn và hỗn hợp) đối với tính chất của đất đã được khảo sát tại khu vực Wudil của vùng kano close-settled Hàng loạt các cuộc phỏng vấn được thực hiện với chủ sở hữu lô đất được tìm thấy trên nông dân của họ Tổng số 50 nông dân đã được tìm thấy làm việc trên trang trại của họ và
đã được phỏng vấn Các vấn đề liên quan đến loại đất, đặc điểm đất, loại hình quản
lý, mô hình trồng trọt, loại phân bón được áp dụng và lý do tại sao các loại khác
Trang 2211
Những lý do khác nhau cho việc lựa chọn trồng xen canh hoặc duy nhất được đưa ra bởi những người sử dụng đất địa phương, từ đất đai đầy đủ, nguồn cung cấp thực phẩm, tính chất đất, tăng độ phì nhiêu của đất Tổng cộng có 100 mẫu đất được thu thập từ các ô canh tác duy nhất ở độ sâu 0-20cm Sau đó, 100 mẫu được trộn với
10 mẫu hỗn hợp được phân tích cho nghiên cứu Một tập hợp 100 mẫu khác cũng được thu thập theo chủ đích từ các ô canh tác hỗn hợp ở cùng độ sâu và được tổng hợp thành 10 mẫu hỗn hợp, từ đó tạo ra tổng số 20 mẫu đại diện: 10 mẫu từ các ô canh tác hỗn hợp và 10 ô mẫu và phân tích các chỉ số liên quan đến vật lý, hóa học
và khả năng sinh sản Kết quả cho thấy đất trồng xen có hàm lượng cacbon hữu cơ cao, nitơ tổng, dung tích trao đổi cation (CEC), các cơ sở có thể trao đổi và phốt pho sẵn có so với các ô được trồng trọt Trồng hỗn hợp có lợi trong việc tăng độ màu mỡ của đất thông qua giảm xói mòn đất và tăng chất hữu cơ [13]
Nghiên cứu của B Duguy, P Rovira và R.Vallejo về lịch sử sử dụng đất và hậu quả cháy trên độ màu mỡ của đất ở Tây Ban Nha Những thay đổi về sử dụng đất và hỏa hoạn ảnh hưởng trực tiếp đến các tính chất hóa lý của đất Ở khu vực phía Tây Tây Ban Nha, tác giả đã sử dụng các phương pháp như thiết kế và bố trí thí nghiệm, phân tích đất và phân tích thống kê các ảnh hưởng của lịch sử sử dụng đất và tần suất cháy trước khi nghiên cứu độ phì đất 9 năm sau khi cháy Kết quả cho thấy trồng trọt kéo dài làm giảm lượng chất hữu cơ trong đất, tổng nitơ (N) và C / N Từ
20 đến 40 năm sau khi ngừng trồng, carbon hữu cơ (C) và tổng lượng N nói chung không lấy lại được các giá trị tương tự như trong đất ban đầu khi mà đất chưa được canh tác Tổng phốt pho và hàm lượng phốt pho có sẵn trong mảnh đất bị bỏ hoang sớm nhất và những mảnh đất không bị khai thác sẽ lớn hơn so với các mảnh đất bị
bỏ hoang gần đây nhất Tăng tần suất hỏa hoạn từ một đến hai đám lửa gây ra sự suy giảm đất C, tổng N, C / N, phốt pho tổng số và phốt pho có sẵn Chúng tôi quan sát thấy sự mất mát của C hữu cơ trong đất gây ra bởi lửa lớn hơn trong số những mảnh đất chưa được trồng Kết quả của chúng tôi cũng gợi ý rằng cả việc canh tác lâu dài và hoả hoạn sẽ có xu hướng tách chu trình C và P [14]
Trang 2312
Nghiên cứu của nhóm tác giả J Mugwe , D Mugendi , M Mucheru-Muna , D Odee & F Mairura về ảnh hưởng đến độ màu mỡ của đất trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên hữu cơ đặc biệt cho Nitisol ở vùng cao nguyên trung tâm của Kenya Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp bố trí thí nghiệm, lấy mẫu và phân tích mẫu kết hợp phương pháp phân tích thống kê, kết quả nghiên cứu cho thấy các nguồn tài nguyên hữu cơ (Calliandra calothyrsus, Leucaena trichandra, Tithonia diversifolia, Mucuna pruriens, Crotalaria ochroleuca và phân gia súc) đã được áp dụng hoặc cùng với phân bón vô cơ trong một thử nghiệm trồng trọt sử dụng ngô như là cây trồng thực nghiệm Sau 4 năm canh tác và sinh trưởng liên tục, hiệu quả sinh sản của đất thay đổi tùy theo cách xử lý Phân gia súc cho thấy độ phì của đất hiệu quả và cải thiện bằng cách tăng pH, cation (Ca, K và Mg) và C Calliandra, Leucaena, Tithonia và các cây họ đậu nói chung làm giảm độ pH của đất, C và N nhưng tăng Ca, K và Mg Do đó, phân chuồng là một nguồn quan trọng để duy trì chất hữu cơ trong đất Một hệ thống quản lý dinh dưỡng hợp lý nên cố gắng tạo sự cân bằng giữa tối đa hoá sản xuất cây trồng và duy trì chất lượng đất [15]
Một nghiên cứu khác về đánh giá khả năng sinh sản của đất và đánh giá sự phù hợp của đất ở các khu vực trồng tràm khác nhau ở Leyte, Philippines của Romel B Armecin and Wilfredo C Cosico Abaca được coi là một trong những trụ cột trong
số các mặt hàng xuất khẩu của Philippin từ sợi nguyên liệu, thủ công mỹ nghệ, bột giấy và giấy, và các sản phẩm liên quan khác Trong năm 2006, nước này đã cung cấp gần 85% nhu cầu sợi tự nhiên toàn cầu, chiếm ít nhất 88 triệu USD xuất khẩu (FAO 2007) Tuy nhiên, đa số các vùng trồng cây Abaca của đất nước tập trung ở các vùng đất đồi, nơi sản xuất và chất lượng sợi bị ảnh hưởng Giảm năng suất do canh tác liên tục và thiếu quản lý dinh dưỡng thích hợp có thể dẫn đến sự xuống cấp của đất Suy thoái đất là một quá trình nhân tạo có ảnh hưởng bất lợi đến hiệu suất của cây abaca Sự suy giảm khả năng sinh sản của đất được cho là quá trình thoái hoá chủ yếu xảy ra ở hầu hết các khu vực trồng tràm Việc trồng trọt Abaca thâm canh trong những khu vực này đã được thực hiện trong hơn hai thập niên mà không cần sử dụng bất kỳ phân bón nào làm bổ sung cho cây trồng Điều này sẽ dẫn đến sự
Trang 2413
suy giảm trữ lượng dinh dưỡng trong đất sẽ làm giảm đáng kể sản lượng sợi Do đó, việc đánh giá mức độ màu mỡ của đất và sự phù hợp của đất đối với các vùng trồng trọt trong tỉnh là một trong những mối quan tâm lớn làm cơ sở cho việc xây dựng các lựa chọn nghiên cứu và phát triển trong các khu vực này, tác giả đã thu thập và tiến hành phân tích mẫu đất cho kết quả sau: Độ phì của đất là một trong những nguyên nhân của năng suất thấp trong số các vùng trồng tràm ở Leyte Các công cụ được sử dụng để đánh giá độ phì đất của các vùng trồng tràm ở Leyte như Soil Fertiliy Index (SFI) và phân loại khả năng sinh sản của đất (FCC) Tương tự, việc tích hợp dữ liệu SFI và FCC có thể giúp đánh giá tính phù hợp của đất đối với các khu vực trồng tràm ở Leyte N, P2O5, và K2O ứng dụng cải thiện đáng kể hiệu suất của Abaca [16]
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Cái Bè nằm về phía Tây của tỉnh Tiền Giang, thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cách thành phố Mỹ Tho 50 km, là cửa ngõ của vùng Đồng Tháp Mười và
là một trong những huyện thuộc vùng lúa chất lượng cao, vùng chuyên canh cây ăn
quả đặc sản lớn nhất của tỉnh Vị trí địa lý của huyện được xác định như sau:
* Tọa độ địa lý:
- Kinh độ Đông: Từ 105049’09’’ đến 106003’01’’
- Vĩ độ Bắc: Từ 10016’21’’ đến 10031’49’’
* Địa giới hành chánh: Tứ cận huyện Cái Bè được xác định như sau:
- Phía Đông: Giáp huyện Cai Lậy
- Phía Tây: Giáp tỉnh Đồng Tháp
- Phía Nam: Giáp tỉnh Vĩnh Long
Trang 2514
- Phía Bắc: Giáp tỉnh Long An
Huyện Cái Bè có tổng diện tích tự nhiên là 41.638,61 ha, chiếm 17% diện tích tỉnh Tiền Giang, dân số năm 2015 là 293.755, ước đến cuối năm 2016 có dân số là 295.587 người, huyện Cái Bè có 25 đơn vị với 01 thị trấn và 24 xã gồm: Hậu Mỹ Bắc A, Hậu Mỹ Bắc B, Mỹ Trung, Hậu Mỹ Trinh, Hậu Mỹ Phú, Mỹ Lợi A, Mỹ Lợi
B, Mỹ Tân, Mỹ Đức Đông, Mỹ Đức Tây, Tân Hưng, Tân Thanh, An Thái Trung,
An Thái Đông, An Hữu, Hoà Hưng, Mỹ Lương, Thiện Trung, Thiện Trí, Hoà Khánh, Đông Hoà Hiệp, Hậu Thành, An Cư, Mỹ Hội Trên địa bàn huyện có Quốc lộ 1 xuyên suốt chiều dài từ Đông sang Tây khoảng 23,02 km
Huyện Cái Bè có mạng lưới giao thông dày đặc phân bố rộng khắp trên địa bàn gắn liền với các trục giao thông thuỷ, bộ lớn như: Hệ thống sông Tiền lưu thông thuộc
hệ thống sông Cửu Long gồm các nhánh sông như sông Cái Bè; Cái Cối; Trà Lọt, kênh Bằng Lăng; Nguyễn Văn Tiếp; Cổ Cò; kênh 28, rạch Ruộng và nhiều kênh rạch lớn nhỏ khác Trục Quốc lộ 1 nối liền các tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long với TP Hồ Chí Minh và các tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, tuyến Quốc lộ 30 nối liền Tiền Giang với tỉnh Đồng Tháp và các tuyến đường tỉnh 861, 863, 864,
865, 869, 875…hợp thành một hệ thống giao thông thuỷ bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế Đồng thời, vị trí địa
lý trên cũng mang những hạn chế nhất định, đó là một phần diện tích của huyện nằm trong vùng Đồng Tháp Mười thường xuyên bị ảnh hưởng của lũ lụt, đặc biệt là khu vực Bắc Quốc lộ 1 nên ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện, việc định hướng cây trồng và vật nuôi trên địa bàn cũng gặp không ít khó khăn [17]