LỜI CẢM ƠN Đề tài “Xây dựng quy hoạch quản lý môi trường phù hợp với chương trình phát triển chăn nuôi mới giai đoạn 2020 định hướng đến năm 2025 của tỉnh Bình Thuận.” được hoàn thành vớ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Xây dựng quy hoạch quản lý môi trường phù hợp với chương trình phát triển chăn nuôi mới giai đoạn 2020 định hướng đến năm 2025 của tỉnh Bình Thuận.” được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của PGS.TS
Trương Thanh Cảnh; đã theo sát, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cám ơn ban lãnh đạo Viện Khoa học Công nghệ và Quản lý môi trường, trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Quản lý Sau đại học và các Thầy, Cô trong Viện đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Xin cám ơn ban lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận, Chi cục Bảo vệ môi trường Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện Tánh Linh, Đức Linh, Hàm Tân, Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình, Hàm Thuận Nam, UBND các huyện Tánh Linh, Đức Linh, Hàm Tân, Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình, Hàm Thuận Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, cung cấp thông tin, đóng góp các ý kiến quý báu Đồng thời, xin chân thành cám ơn các người dân thuộc các huyện Tánh Linh, Đức Linh, Hàm Tân, Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình, Hàm Thuận Nam đã nhiệt tình tham gia trả lời phỏng vấn góp phần hoàn thành
đề tài nghiên cứu này
Học viên
Lê Thị Thu Thủy
Trang 2TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài xây dựng quy hoạch quản lý môi trường phù hợp với chương trình phát triển chăn nuôi mới giai đoạn 2020 định hướng đến năm 2025 của tỉnh Bình Thuận nhằm tích hợp các chương trình quản lý môi trường cho hoạt động chăn nuôi của tỉnh Bình Thuận phù hợp với chương trình phát triển chăn nuôi mới giai đoạn 2020 định hướng đến năm 2025 của tỉnh; đồng thời góp phân thúc đẩy chương trình phát triển chăn nuôi mới giai đoạn 2020 định hướng đến năm 2025 Thực hiện điều tra, đánh giá thu thập các số liệu về tình hình chăn nuôi và chất lượng môi trường tại các địa bàn có hoạt động chăn nuôi tại tỉnh từ đó đánh giá các tác động và ảnh hưởng của hoạt động chăn nuôi đến môi trường xung quanh; phân tích đánh giá về quy hoạch chăn nuôi hiện tại từ đó đưa ra các giải pháp quản lý môi trường chính cho hoạt động chăn nuôi như: xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh; thực hiện thu gom, xử lý chất thải; tái sử dụng lại chất thải của quá trình chăn nuôi; hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước và các quy định; thực hiện tuyên truyền, thông tin; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; các chính sách ưu đãi cho chăn nuôi…
Trang 3ABSTRACT
The theme of development of environmental management plan is in line with the new livestock development program of 2020 in orientation to 2025 of Binh Thuan province in order to integrate environmental management programs for animal husbandry in Binh province Thuan in line with the new livestock development program in the 2020 period with orientation to 2025 of the province; At the same time, it contributes to the development of the new livestock development program
in the period of 2020 up to 2025 To carry out surveys and assessments to collect data on livestock situation and environmental quality in the areas where it operates raising livestock in the province from which the impact and impact of livestock activities on the surrounding environment are assessed; Analyze the current livestock production planning and then propose key environmental management options for livestock production such as hygienic livestock construction; to collect and treat wastes; re-use of waste from livestock production; perfecting the system of state management organizations and regulations; conducting propaganda and information; intensify inspection and supervision; preferential policies for animal husbandry…
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Thủy
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH ẢNH ix
DANH MỤC BẢNG BIỂU x
DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT xii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Cách tiếp cận trong nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU VÀ KHU VỰC TỈNH BÌNH THUẬN 5
1.1 Tổng quan về hoạt động ngành chăn nuôi 5
1.1.1 Thực trạng chăn nuôi 5
1.1.2 Các tác động môi trường của chăn nuôi 7
1.2 Tổng quan về quy hoạch môi trường 12
1.2.1 Quy hoạch môi trường 12
1.2.2 Những nội dung chính của QHMT 14
1.2.3 Mục đích của QHMT 14
1.2.4 Quan điểm cơ bản về QHMT 15
1.2.5 Các bước thực hiện QHMT 16
1.2.6 Nguyên tắc QHMT 16
1.3 Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan 17
Trang 61.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 18
1.4.1 Vị trí địa lý 18
1.4.2 Điều kiện về tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 19
1.4.2.1 Tài nguyên đất 19
1.4.2.2 Tài nguyên nước và chế độ thủy văn 21
1.4.2.3 Điều kiện khí hậu 21
1.4.2.4 Điều kiện địa hình 22
1.4.2.5 Đồng cỏ và nguồn thức ăn tự nhiên 23
1.4.3 Điều kiện kinh tế 23
1.4.4 Đặc điểm văn hóa - xã hội 24
1.5 Tổng quan về quy hoạch ngành chăn nuôi tỉnh Bình Thuận 25
1.5.1 Thực trạng quy hoạch chăn nuôi của tỉnh Bình Thuận 25
1.5.2 Định huớng quy hoạch chăn nuôi đến năm 2020 của tỉnh Bình Thuận 27 1.5.2.1 Phát triển chăn nuôi 27
1.5.2.2 Quy hoạch vùng chăn nuôi 29
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Nội dung nghiên cứu 31
2.1.1 Đánh giá hoạt động chăn nuôi của tỉnh Bình Thuận 31
2.1.2 Đánh giá hiện trạng môi trường dưới tác động của hoạt động chăn nuôi của tỉnh Bình Thuận 32
2.1.3 Xác định các vấn đề môi trường có ý nghĩa từ hoạt động chăn nuôi của tỉnh Bình Thuận 32
2.1.4 Xây dựng chương trình quản lý ô nhiễm từ hoạt động chăn nuôi cho đến năm 2020 định hướng đến năm 2025 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu 33
2.2.2 Phương pháp khảo sát 34
2.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học 34
Trang 72.2.4 Phương pháp ước tính tải lượng ô nhiễm trong nước thải, chất thải rắn
trong chăn nuôi 36
2.2.5 Phương pháp xây dựng quy hoạch 36
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Đánh giá hoạt động chăn nuôi tỉnh Bình Thuận 37
3.1.1 Khảo sát tình hình chăn nuôi 37
3.1.1.1 Số lượng đàn gia súc, gia cầm 37
3.1.1.2 Sản xuất và sử dụng thức ăn 39
3.1.1.3 Tình hình phát triển cơ sở chăn nuôi tập trung 40
3.1.2 Hiện trạng quản lý chất thải chăn nuôi 45
3.1.2.1 Hiện trạng QLCT ở các trang trại 45
3.1.2.2 Công tác quản lý chất thải của chính quyền địa phương và các ngành chức năng đối với chăn nuôi trang trại 50
3.1.3 Định hướng quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi tỉnh Bình Thuận đến năm 2020 51
3.1.3.1 Quan điểm phát triển 51
3.1.3.2 Mục tiêu phát triển 52
3.2 Đánh giá hiện trạng môi trường dưới tác động của hoạt động phát triển chăn nuôi của tỉnh Bình Thuận 53
3.2.1 Chất lượng môi trường nước 53
3.2.1.1 Chất lượng nước thải 53
3.2.1.2 Chất lượng nước ngầm 60
3.2.1 Chất lượng không khí 62
3.3 Dự báo diễn biến môi trường dưới tác động của hoạt động phát triển chăn nuôi của tỉnh Bình Thuận 62
3.3.1 Nước thải chăn nuôi 62
3.3.2 Chất thải rắn 65
CHƯƠNG 4 XÂY DỰNG CÁC KẾ HOẠCH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CHO HOẠT ĐỘNG CHĂN NUÔI 67
Trang 84.1 Cơ sở khoa học, pháp lý về việc thực hiện quy hoạch môi trường cho hoạt
động chăn nuôi tại tỉnh Bình Thuận 67
4.1.1 Cơ sở khoa học phục vụ đề xuất giải pháp 67
4.1.2 Các nguyên tắc về QH Môi trường 68
4.2 Chương trình quản lý môi trường trong hoạt động chăn nuôi của tỉnh Bình Thuận đến năm 2020 định hướng đến năm 2025 69
4.2.1 Mục tiêu và tiêu chí thực hiện 69
4.2.1.1 Mục tiêu thực hiện 69
4.2.1.2 Tiêu chí thực hiện 70
4.2.2 Các giải pháp thực hiện 71
4.2.2.1 Xây dựng chuồng trại hợp về sinh 71
4.2.2.3 Thu gom, lưu trữ và xử lý chất thải 73
4.2.2.4 Tái sử dụng chất thải 77
4.2.2.5 Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi 78
4.2.2.6 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý môi trường 81
4.2.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát 82
4.2.2.8 Công tác thông tin tuyên truyền 82
4.2.2.9 Về chính sách 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Kiến nghị 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO I PHỤ LỤC: III
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN IX
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Vị trí địa lý vùng tỉnh Bình Thuận 19
Hình 2.1 Sơ đồ các bước xây dựng quy hoạch môi trường 36
Hình 3.1 Trang trại gà chuồng kín 46
Hình 3.2 Nuôi gà công nghiệp kiểu chuồng hở 47
Hình 3.3 Nuôi gà trên kiểu chuồng nhà sàn 47
Hình 3.4 Nuôi gà trên sàn xi măng 48
Hình 4.1 Sơ đồ thực hiện quy hoạch môi trường 68
Hình 4.2 Hầm xử lý nước thải chăn nuôi 74
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Đặc trưng khí hậu tại một số trạm quan trắc năm 2015 22Bảng 1.2 Tỷ trọng các ngành kinh tế qua các năm 24Bảng 3.1 Sự biến động gia súc, gia cầm tại Bình Thuận (2010-2015) 37Bảng 3.2 Quy mô đàn gia súc, gia cầm phân theo huyện, thị xã, thành phố năm 2015 38Bảng 3.3 Số cơ sở chăn nuôi tập trung quy mô lớn và vừa 41Bảng 3.4 Quy mô trung bình của các cơ sở chăn nuôi lớn và vừa 42
Bảng 3.5 Tỷ trọng đàn gia súc, gia cầm được nuôi tập trung trong các cơ sở chăn
nuôi lớn và vừa 43Bảng 3.6 Biện pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi gia cầm 45Bảng 3.7 Hiện trạng chuồng trại chăn nuôi gia súc hộ gia đình khu vực nông thôn tỉnh Bình Thuận đến cuối năm 2015 49Bảng 3.8 Chất lượng nước thải chăn nuôi heo (rửa chuồng + phân) 54Bảng 3.9 Chất lượng nước thải chăn nuôi heo (hốt phân trước sau đó rửa chuồng) 56Bảng 3.10 Kết quả phân tích vi sinh trong phân gia súc, gia cầm 57Bảng 3.11 Kết quả quan trắc thành phần môi trường nước mặt 58Bảng 3.12 Kết quả quan trắc thành phần môi trường nước ngầm tại 2 khu vực điển hình 61
Trang 11Bảng 3.13 Kết quả quan trắc thành phần môi trường không khí tại khu vực chăn nuôi xã Sông Lũy-huyện Bắc Bình 62Bảng 3.14 Hệ số phát thải nước thải trong chăn nuôi 63
Bảng 3.15 Dự báo lưu lượng và tải lượng ô nhiễm nước thải trong chăn nuôi đến năm 2025 64
Bảng 3.16 Dự báo tổng lưu lượng và tải lượng ô nhiễm nước thải chăn nuôi đến năm 2025 65Bảng 3.17 Hệ số phát thải chất thải rắn trong chăn nuôi 65Bảng 3.18 Dự báo chất thải rắn trong chăn nuôi đến năm 2025 66
Trang 12DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
BVMT Bảo vệ môi trường
ÔNMT Ô nhiễm môi trường
PPNC Phương pháp nghiên cứu
SXNN Sản xuất nông nghiệp
TNMT Tài nguyên và Môi trường
TNN Tài nguyên nước
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập kỷ gần đây, người ta đã chú trọng nhiều đến việc phát triển hệ thống sản xuất nông nghiệp bền vững, trong đó ngành chăn nuôi là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổng thể Sản xuất ngành chăn nuôi đang phải đương đầu với những khó khăn không chỉ về mặt kỹ thuật như việc cung cấp thức ăn, sức khỏe gia súc, tạo giống và quản lý mà cả những yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội Ở nhiều nước trên thế giới, nông dân đã và đang chuyển sản xuất trang trại thành những hệ thống sản xuất chuyên môn hóa cao Năng suất cá thể gia súc và năng suất vật nuôi trên một đơn vị ha đất cũng như qui mô trang trại đang tăng lên một cách đáng kể Tuy nhiên từ sự thâm canh cao độ này, gần đây đã phát sinh một vấn đề thu hút sự quan tâm sâu sắc của xã hội đó là sự ô nhiễm môi trường Những khó khăn trong việc thu trữ và xử lý các chất thải chăn nuôi là những vấn đề đầu tiên gắn liền với sự thâm canh chăn nuôi Sự ô nhiễm đất, không khí và nguồn nước ngầm do các chất thải chăn nuôi đã làm ảnh hưởng đáng kể tới hệ sinh thái và sức khỏe con người Trong quá trình dự trữ chất thải, một lượng lớn các chất độc ở dạng lỏng hay chất khí được tạo ra bởi hoạt động của các vi sinh vật như là SO2, NH3, CO2, H2S, CH4,
NO3-, NO2-, indole, schatole, phenole và các vi sinh vật có hại như enterobacteriacea, ecoli, salmonella, shigella, proteus, klebsiella Các loại chất độc này có thể làm ô nhiễm không khí và nguồn nước làm ảnh hưởng tới đời sống con người và đến hệ sinh thái Ô nhiễm mùi và nước thải từ các chất thải chăn nuôi trong chuồng trại, các hệ thống dự trữ hoặc từ quá trình sử dụng phân bón trên đồng ruộng đang là vấn đề quan tâm của nhân dân trong các khu vực chăn nuôi nhất là ở các nơi mà mật độ gia súc cao nhất
Bình Thuận là một trong những tỉnh trọng điểm về sản xuất nông nghiệp của vùng Duyên hải Miền trung với tổng diện tích tự nhiên 781 ngàn ha, chiếm gần 2,4% diện tích tự nhiên cả nước và dân số năm 2010 khoảng 1,17 triệu người, chiếm 1,35% dân số cả nước GDP ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản (khu vực I) hiện chiếm
Trang 1421,01% tổng GDP của tỉnh Chăn nuôi là một trong những ngành sản xuất truyền thống và quan trọng của Bình Thuận Hiện nay, toàn tỉnh có 9.247 con trâu, 223.563 con bò, 269.541 con heo, 32.177 con ngựa, dê, cừu và 2.391.000 con gia cầm Sản xuất ngành chăn nuôi của tỉnh giai đoạn 2000-2010 tuy gặp nhiều khó khăn về điều kiện khí hậu – thời tiết, tình hình dịch bệnh và giá cả thức ăn tăng, nhưng vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ở mức 3-4%/năm Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tuy có bị giảm sút nhưng vẫn duy trì ở mức 11,9% Tuy nhiên, hiện nay việc phát triển chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phần lớn vẫn còn tự phát, quy mô nhỏ lẻ, hiệu quả kinh tế chưa cao Mặt khác, công tác vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở chăn nuôi, nhất là các trại nuôi lợn, gia cầm hiện vẫn chưa được quan tâm đúng mức, ảnh hưởng đến sự bền vững trong phát triển
Cùng với việc quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi của tỉnh Bình Thuận
2011-2020 nhằm đưa ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất trang trại, đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm; nâng cao tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp, đồng thời tăng thu nhập, cải thiện mức sống cho người dân ở vùng nông thôn của tỉnh thì cần thiết phải ứng dụng linh hoạt công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi, sử dụng hiệu quả từ nguồn chất thải chăn nuôi, tránh tác động ô nhiễm môi trường đến hệ sinh thái cũng như sức khỏe người dân Vì vậy, việc thể chế hóa thành luật pháp và xây dựng các biện pháp nhằm để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của các hệ thống chăn nuôi đến môi trường, góp phần thúc đẩy chăn nuôi phát triển theo hướng bền vững đang là vấn đề cấp thiết
Yêu cầu phát triển chăn nuôi theo định hướng sản xuất hàng hóa trong tình hình mới cần phải thực hiện công tác quy hoạch chăn nuôi để đáp ứng quy hoạch phát triển chung của tỉnh, tỉnh đã thực hiện việc Quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi giai đoạn 2011-2020 Do đó, nhu cầu cấp thiết phải xây dựng quy hoạch MT để đáp ứng quy hoạch phát triển chăn nuôi mới (Quyết định số 384/QĐ-UBND ngày 6/2/2013 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển chăn nuôi tỉnh Bình Thuận đến năm 2020 của UBND Tỉnh) Đó cũng chính là lý do để lựa chọn nghiên cứu đề tài
Trang 15“Xây dựng quy hoạch quản lý môi trường phù hợp với chương trình phát triển chăn
nuôi mới giai đoạn 2020 định hướng đến năm 2025 của tỉnh Bình Thuận”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tích hợp quy hoạch môi trường cho hoạt động Chăn nuôi Bình Thuận phù hợp với chương trình phát triển chăn nuôi mới giai đoạn 2020 định hướng đến năm 2025 của tỉnh Bình Thuận
- Góp phần thúc đẩy chương trình phát triển chăn nuôi mới giai đoạn 2020 định hướng đến năm 2025
- Xây dựng quy hoạch môi trường nhằm thích ứng với chương trình phát triển chăn nuôi mới giai đoạn 2020 định hướng đến năm 2025 của tỉnh Bình Thuận
- Xây dựng chương trình quản lý môi trường nhằm ngăn ngừa tác động ô nhiễm từ hoạt động chăn nuôi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của Luận văn là Quy hoạch chăn nuôi của tỉnh Bình Thuận và công tác quản lý môi trường trong hoạt động chăn nuôi của tỉnh Bình Thuận
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về các yếu tố của công tác quản lý môi trường trong hoạt động chăn nuôi tại tỉnh Bình Thuận như: chính sách môi trường, cơ cấu tổ chức và quá trình thực hiện công tác quản lý môi trường làm cơ sở cho việc xây dựng QHQLMT nhằm thích ứng với chương trình phát triển chăn nuôi
4 Cách tiếp cận trong nghiên cứu
Xây dựng các chương trình, giải pháp giải quyết cho các vấn đề môi trường tại tỉnh Bình Thuận bị ảnh hưởng, tác động bởi hoạt động chăn nuôi nhằm xây dựng một biện pháp quản lý môi trường một cách khoa học hơn
Trang 165 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở phân tích hiện trạng chăn nuôi hiện nay tại tỉnh Bình Thuận Phát hiện những vấn đề môi trường cần giải quyết từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa ô nhiễm và dựa vào quy hoạch phát triển chăn nuôi mới giai đoạn 2020 định hướng đến năm 2025 của tỉnh Bình Thuận để xây dựng một hệ thống quản lý môi trường khoa học, thực tiễn và hiệu quả hơn
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU VÀ KHU VỰC TỈNH BÌNH THUẬN
1.1 Tổng quan về hoạt động ngành chăn nuôi
1.1.1 Thực trạng chăn nuôi
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, ngành chăn nuôi năm 2015 đã có những bước chuyển dịch rõ ràng, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh
tế Bên cạnh sự phát triển đạt được, ngành chăn nuôi vẫn còn phải đối mặt với nhiều thách thức từ những dịch bệnh đã xảy ra và thực trạng sử dụng chất cấm, chất kháng sinh trong chăn nuôi đến những cạnh tranh khó khăn trên thị trường tiêu thụ khi nhiều mặt hàng thịt nhập khẩu đang có giá thấp hơn thịt gia cầm, gia súc trong nước.[1]
Theo số liệu điều tra tổng cục thống kê thời điểm 01/10/2015 đàn trâu cả nước hiện
có 2,52 triệu con, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 85,8 nghìn tấn Chăn nuôi bò phát triển do Đàn bò sữa tăng mạnh cả nước hiện có 5,36 triệu con bò, trong
đó bò sữa có 275,3 nghìn con, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 299,3 nghìn tấn Cũng theo số liệu điều tra thì cả nước có khoảng 27,75 triệu con, trong
đó lợn nái có 4,06 triệu con, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2015 ước tính đạt 3,48 triệu tấn Đàn gia cầm cả nước có khoảng 341,9 triệu con, trong đó đàn gà
có 259,3 triệu con, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng là 908,1 nghìn tấn, sản lượng trứng gia cầm đạt 8874,6 triệu quả.[2]
Về phát triển trang trại chăn nuôi thì trang trại chăn nuôi chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lượng trang trại nông nghiệp cả nước, và hiện nay tỷ trọng này đang có chiều hướng tăng lên Theo ước tính của Hội Chăn nuôi Việt Nam Nam cả nước hiện có khoảng 20.000 trang trại chăn nuôi Tuy nhiên, theo báo cáo của Cục Chăn nuôi, hiện nay phổ biến nhất vẫn là trang trại quy mô chăn nuôi theo hộ gia đình, nên đa số hoạt động manh mún, nhỏ lẻ Kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê cho
Trang 18thấy: Trong số 4.131,6 ngàn hộ nuôi lợn thì số hộ nuôi quy mô nhỏ (<10 lợn/hộ) chiếm tới 86,4% tổng số hộ, nhưng chỉ sản xuất 34,2% tổng sản lượng thịt lợn Còn
về gia cầm: tổng số 7.864,7 ngàn hộ, số hộ nuôi quy mô (< 100 con gia cầm/hộ) chiếm tới 89,62%, nhưng chỉ sản xuất 30% tổng sản lượng thịt gia cầm Thực tiễn
đã chứng minh, chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ thường chịu rủi ro rất cao do không được kiểm soát và hỗ trợ cung cấp thông tin về dịch bệnh, giá cả, thiếu kỹ thuật chăn nuôi, thường chỉ dựa vào kinh nghiệm tích lũy và ít được tập huấn, phổ biến các kiến thức, hướng dẫn mới về chăn nuôi, không có sự am hiểu cơ bản về VSATTP Ngoài ra, chăn nuôi tại Việt Nam theo cả phương thức trang trại và quy
mô hộ gia đình vẫn chưa tạo được vùng hàng hóa tập trung, chưa chú trọng đến việc xây dựng quy trình sản xuất theo chuỗi để giảm chi phí, giá thành, nâng cao lợi nhuận
Về đầu vào của ngành chăn nuôi Việt Nam: Đầu vào còn phụ thuộc khá nhiều vào nước ngoài Khâu sản xuất giống, người chăn nuôi vẫn trong tình trạng khan hiếm con giống Bên cạnh đó, tuy nguồn con giống nhập khẩu có chất lượng tốt nhưng phải đảm bảo các quy trình kỹ thuật chăn nuôi hiện đại mới phát triển tốt Trong khi
đó, các trang trại của Việt Nam quy mô nhỏ, những tiêu chuẩn kỹ thuật về chuồng trại thiếu đồng bộ gây khó khăn cho việc vệ sinh, sát trùng, áp dụng các biện pháp
vệ sinh an toàn sinh học trong phòng trị bệnh và không phù hợp cho việc áp dụng
kỹ thuật tiên tiến trong quản lý chăm sóc theo đàn
Về thị trường đầu ra đối với các sản phẩm của ngành chăn nuôi: Theo điều tra của Liên minh Nông nghiệp, hiện nay hệ thống chăn nuôi quy mô nhỏ, mức độ vệ sinh
an toàn thực phẩm thấp đang cung cấp ra thị trường gần 70% sản phẩm thịt Trong khi đó, chăn nuôi thương mại quy mô lớn, công nghệ hiện đại, an toàn thực phẩm cao chỉ mới cung cấp trên 15% lượng thịt cho tiêu dùng Công nghệ chế biến bảo quản thịt sau giết mổ còn yếu, các phương tiện vận chuyển thịt sau giết mổ và các quầy bán thịt, sản phẩm chăn nuôi tại chợ đa số chưa đạt yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm Nguyên nhân do thiếu sự liên kết giữa các trang trại, hộ chăn nuôi với các nhà máy chế biến Bên cạnh đó, do thiếu sự liên kết hợp tác nên giá cả nguyên
Trang 19liệu không ổn định, gây khó khăn không chỉ cho các nhà máy chế biến mà còn cho
cả nông dân không muốn đầu tư tái đàn [3]
Theo đánh giá của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO): ngành chăn nuôi đến năm
2020 vẫn tiếp tục phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm đảm bảo cho sức khỏe cộng đồng và gia tăng dân số Sản xuất chăn nuôi đang có xu hướng chuyển dịch từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển, từ phương Tây sang các nước Châu Á Thái Bình Dương Châu Á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn nhất Sự thay đổi về chăn nuôi ở khu vực này có ảnh hưởng quyết định đến “cuộc cách mạng” về chăn nuôi trên toàn cầu Nhu cầu tiêu thụ thịt, sữa cho xã hội tăng nhanh ở các nước đang phát triển, ước tính tăng khoảng
7 - 8%/năm
Cũng như các nước trong khu vực, chăn nuôi Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa phải duy trì mức tăng trưởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước hướng tới xuất khẩu Chăn nuôi phải phát triển bền vững gắn với nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, khả năng cạnh tranh và bảo vệ môi trường là xu hướng tất yếu hiện nay Giai đoạn 2008 - 2010 đạt 8 - 9% năm; giai đoạn 2010 - 2015 đạt khoảng 6 - 7% năm và dự kiến mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2015 - 2020 đạt khoảng 5 - 6% năm
1.1.2 Các tác động môi trường của chăn nuôi
Chất thải chăn nuôi là nguyên nhân gây ô nhiễm lớn cho môi trường tự nhiên do lượng lớn các khí thải và chất thải từ vật nuôi Các khí thải từ vật nuôi cũng chiểm
tỷ trọng lớn trong các khí thải gây hiệu ứng nhà kính Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), chất thải của gia súc toàn cầu tạo ra 65% lượng Nitơ oxit (N2O) trong khí quyển Đây là loại khí có khả năng hấp thụ năng lượng mặt trời cao gấp 296 lần so với khí CO2 Động vật nuôi còn thải ra 9% lượng khí CO2 toàn cầu, 37% lượng khí Methane (CH4) – loại khí có khả năng giữ nhiệt cao gấp 23 lần khí CO2 Theo số liệu ước tính của Cục Chăn nuôi, tổng số chất thải rắn hằng năm
từ đàn gia súc, gia cầm ở Việt Nam khoảng 73 - 76 triệu tấn Phần lớn chất thải
Trang 20chăn nuôi được sử dụng làm phân bón Tuy nhiên trước khi đưa vào sử dụng, việc
xử lý chất thải chăn nuôi có sự khác nhau theo quy mô chăn nuôi Với quy mô chăn nuôi trang trại và gia trại thì việc xử lý chất thải được coi trọng hơn, còn tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ gắn với sản xuất nông nghiệp, chất thải chăn nuôi chủ yếu được vận chuyển trực tiếp từ chuồng nuôi ra ngoài đồng bón cho cây trồng, số lượng được xử lý rất ít Theo kết quả điều tra chăn nuôi lợn 8 vùng sinh thái, số gia trại, trang trại chăn nuôi lợn có áp dụng các biện pháp xử lý chất thải chiếm khoảng 74%, còn lại không xử lý chiếm khoảng 26%; trong các hộ, các cơ sở có xử lý thì 64% áp dụng phương pháp sinh học (Biogas, ủ v.v ), số còn lại 36% xử lý bằng phương pháp khác
Hiện nay, còn nhiều trang trại chăn nuôi lợn, bò hàng ngày thải ra một lượng lớn chất thải không được xử lý và đổ trực tiếp vào hệ thống thoát nước, kênh mương trong vùng làm nhiều hộ dân không có nước sinh hoạt (nước giếng trong vùng có váng, mùi hôi tanh), tỷ lệ người dân bị mắc bệnh tiêu chảy, mẫn ngứa và ghẻ lở cao
Ô nhiễm do chất thải chăn nuôi không chỉ ảnh hưởng nặng tới môi trường sống dân
cư mà còn gây ô nhiễm nguồn nước, tài nguyên đất và ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất chăn nuôi Các hoạt động gây ô nhiễm do chăn nuôi vẫn đang tiếp tục diễn
ra ở nhiều nơi trên cả nước Tình trạng chăn nuôi thả rông, chăn thả trên đất dốc, đầu nguồn nước v.v còn khá phổ biến đã làm tăng diện tích đất xói mòn, suy giảm chất lượng nước, giảm thiểu khả năng sản xuất nông nghiệp trên vùng rộng lớn Ô nhiễm môi trường còn làm phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi Trong mười năm qua, từ 1997 đến nay, dịch lở mồm, long móng trên gia súc
đã diễn ra thường xuyên và đến nay chưa được khống chế triệt để Từ cuối năm
2003, dịch cúm gia cầm đã bùng phát Từ năm 2003 đến nay, dịch đã tái phát 5 đợt,
đã phải tiêu huỷ trên 51 triệu gia cầm các loại, thiệt hại ước tính lên đến hàng ngàn
tỷ đồng Từ đầu năm 2007 đã bùng phát hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (bệnh tai xanh - PSSR) trên lợn, gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi, gây mất an toàn thực phẩm và còn có nguy cơ lây nhiễm sang người nguy hiểm không kém bệnh cúm gia cầm, bệnh lở mồm, long móng
Trang 21Rõ ràng ngành chăn nuôi phát triển nếu không đi kèm với các biện pháp xử lý chất thải sẽ làm môi trường sống của con người xuống cấp nhanh chóng Môi trường bị ô nhiễm lại tác động trực tiếp vào sức khoẻ vật nuôi, phát sinh dịch bệnh, gây khó khăn trong công tác quản lý dịch bệnh, giảm năng suất không thể phát triển bền vững
Ô nhiễm môi trường không khí
Chăn nuôi là ngành sản xuất tạo ra nhiều loại khí thải nhất Khí thải chăn nuôi có thể sinh ra từ bản thân gia súc, gia cầm, đa phần là sản phẩm của quá trình phân giải
vi sinh vật kỵ khí hay hiếu khí các chất hữu cơ trong chất thải Theo nghiên cứu của Hobbs và các cộng sự (1995) cho biết có tới trên 170 chất khí có thể sinh ra từ chuồng chăn nuôi, quá trình thu gom, dự trữ và sử dụng chất thái điển hình là các khí CO2, CH4, NH3, NO2, N2O, NO, H2S, indol, schatol, mecaptan và đặc biệt là ô nhiễm mùi từ chăn nuôi đang là vấn đề quan tâm của ngành chăn nuôi Dựa vào khả năng gây độc của các khí, Trương Thanh Cảnh (1999) đã phân các khí thải chăn nuôi thành các nhóm sau:[4]
Các khí gây ngạt đơn giản như CH4, CO2 có tính chất trơ về mặt sinh lý nhưng nếu hít vào với nồng độ cao sẽ gây hiện tượng ngạt thở
Nhóm chất vô cơ hay hữu cơ dễ bay hơi bao gồm các nguyên tố hay hợp chất kim loại độc dễ bay hơi, chúng tạo ra nhiều chất khí có tác dụng khác nhau khi vào cơ thể, chẳng hạn H2S ở nồng độ cấp tính
Các khí kích thích bao gồm NH3, H2S, indole, skatol, phenol, mercaptan ở nồng độ bán cấp tính sẽ gây tổn thương đường hô hấp, giảm thị lực
Các khí gây mê là các hợp chất carbonhydrat nếu hấp thụ với lượng lớn có tác dụng như dược phẩm gây mê
Ngoài những khả năng gây độc và nhiễm bệnh cho người và vật nuôi thì các khí thải chăn nuôi góp phần gây nên sự suy thoái môi trường, làm ô nhiễm bầu khí quyển,
Trang 22góp phần gây nên tác động toàn cầu như hiệu ứng khí nhà kính; mưa axit làm ảnh hưởng môi trường đất, nước, phá hoại mùa màng và làm chết rừng
Ô nhiễm môi trường nước
Chất thải chăn nuôi không được xử lý triệt để sẽ gây ảnh hưởng đến các vấn đề ô nhiễm đối với môi trường nước và môi trường đất, đặc biệt là đối với nguồn nước mặt và nước ngầm Cụ thể:
Khi nước thải chăn nuôi thâm nhập vào nguồn nước thì chúng làm thay đổi thành phần và tính chất của nước, gây bất lợi cho việc sử dụng nguồn nước trong các mục đích sinh hoạt và sản xuất con người Các thay đổi đó là thay đổi pH của nước, tăng khả năng hấp phụ hóa học và lý học của nước, tăng hàm lượng các chất vô cơ hòa tan đặc biệt kim loại nặng, tăng hàm lượng các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng gây hiện tượng phú dưỡng hóa nước, giảm hàm lượng oxy hòa tan, giảm độ trong, tăng các yếu tố gây bệnh sinh vật.[4]
Ô nhiễm nguồn nước mặt: Trong thực tế nguồn tiếp nhận nước thải chăn nuôi cuối cùng thường là các nguồn nước mặt như ao, hồ, kênh, rạch hay sông, suối và nguồn nước mặt các khu vực gần trang trại chăn nuôi dễ bị ô nhiễm chất hữu cơ, nitơ, phospho và vi sinh vật Hầu hết khoảng cách dưới 20m thì nồng độ các chất ô nhiễm đều lớn hơn so với ở nguồn nước trong cùng khu vực
Ô nhiễm nguồn nước ngầm: Hiện nay, nhiều hộ chăn nuôi không xây dựng hệ thống mương dẫn và hố chứa chất thải đúng quy cách, các hệ thống mương dẫn, bể chứa không được lót đáy bằng beton hay sử dụng vật liệu chống thấm, do đó chất thải dễ dàng ngấm qua đất, thâm nhập làm ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm ở các giếng có độ sâu 50-60 m gần trại chăn nuôi ở một số hộ chăn nuôi có hệ thống thoát nước và hố chứa chất thải bằng đất cho thấy một số chỉ tiêu ô nhiễm có nồng độ cao hơn khi so sánh với các giếng trong cùng khu vực đặc biệt là nồng độ nitrat và E.coli trong nước
Trang 23 Ô nhiễm môi trường đất
Chất thải chăn nuôi thâm nhập và gây tác động đến môi trường đất theo hai cách chủ yếu sau:[4]
- Do chất thải không được thu gom, lưu trữ đúng kỹ thuật như đỗ tràn nước thải trên đất, thu gom nước thải bằng hệ thống mương đất hay lưu trữ nước thải bằng các bể chứa, hố ga đào trong đất
- Do quá trình sử dụng chất thải làm phân bón cho cây Bón phân không đúng kỹ thuật có thể làm thay đổi tính chất hóa lý của đất
Các vấn đề môi trường đất thường gặp khi sử dụng phân bón động vật không đúng
kỹ thuật hay vượt quá khả năng hấp thụ của cây trồng là:
Gây phú dưỡng hóa đất đặc biệt là nitơ, phospho, kali, các kim loại nặng hay các chất hữu cơ Phú dưỡng hóa đất có thể dẫn tới phú dưỡng hóa nguồn nước
Lan truyền bệnh của gia súc, gia cầm cho người Thông qua bón phân cho đất hay việc chôn lấp gia súc bị bệnh Các mầm bệnh sẽ bị phát tán vào đất, sau đó là nguồn nước và có thể là trong không khí và cuối cùng con người
Làm thay đổi thành phần lý, hóa và sinh học của đất gây bất lợi cho khu hệ sinh vật đất và cho quá trình phát triển bình thường của cây trồng
Lan truyên dịch bệnh
Chăn nuôi có thể là nguồn truyền bệnh cho con người và sinh vật Ngày nay các bệnh môi trường do chăn nuôi đang là một thách thức lớn làm giảm giá trị kinh tế sản xuất ngành chăn nuôi Hầu hết các dịch bệnh đều xuất phát từ hệ thống chăn nuôi và lan truyền thông qua các yếu tố trung gian như môi trường không khí, nguồn nước, quá trình sử dụng chat thải gia súc như phân bón trên đồng ruộng hay làm thức ăn cho cá Các mầm bệnh phát tán trong môi trường và còn có thể lan truyền thông qua chuỗi thức ăn và lây lan cho người kể cả gây tử vong Bệnh trong chăn nuôi gây ra do các nguyên nhân sau:
Trang 24- Do vi sinh vật thâm nhập vào gia súc, gia cầm qua thực phẩm bị nhiễm bẩn, do môi trường bị nhiễm độc hoặc tiếp xúc trực tiếp
- Do gia súc, gia cầm bị nhiễm các ký sinh trùng
Bệnh từ gia súc, gia cầm có thể lây lan cho con người theo hai đường chính như sau:
- Do quá trình sử dụng các sản phẩm chăn nuôi (thịt, trứng, sữa…) từ gia súc gia cầm bị bệnh
- Do sự phát tán các mầm bệnh từ con vật, chuồng trại chăn nuôi, từ quá trình thu gom, vận chuyển, lư trữ và sử dụng chất thải chăn nuôi, thông qua môi trường đất, nước, không khí và các yếu tố trung gian truyển bệnh
1.2 Tổng quan về quy hoạch môi trường
1.2.1 Quy hoạch môi trường (QHMT)
Quy hoạch môi trường (QHMT) là một công cụ quan trọng trong số nhiều công cụ thường dùng của hệ thống quản lý môi trường [5]
Thuật ngữ QHMT ra đời vào những năm 70 và phổ biến rộng rãi vào những năm 90 của thế kỷ qua Quy hoạch môi trường có thể coi là một ngành khoa học môi trường khá mới, do đó tồn tại nhiều quan niệm khác nhau
Trong từ điển về môi trường và phát triển bền vững (Dictionary of Environment and Sustainable Development) Alan Gilpin (Nam) cho rằng quy hoạch môi trường là :
“sự xác định các mục tiêu mong muốn về kinh tế - xã hội đối với môi trường tự nhiên và tạo ra các chương trình, quy trình quản lý để đạt được mục tiêu đó” Những vấn đề trong quy hoạch môi trường được đề cập đến bao gồm: sử dụng đất, giao thông vận tải, lao động, sức khoẻ, các trung tâm thị xã mới, dân số, chính sách của nhà nước về định cư, các vấn đề nhà ở, công nghiệp, phát triển đô thị, chính sách môi trường đối với quốc gia, vùng và đô thị, các vấn đề về ô nhiễm và đánh giá tác động môi trường (ĐTM)