1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lỗi phát âm tiếng anh của sinh viên ngành ngôn ngữ anh trường đại học công nghiệp tp hồ chí minh thực trạng và giải pháp báo cáo đề tài khoa học và công nghệ cấp trường

75 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phỏng vấn xin việc, nhất là khi vị trí công việc là giảng dạy tiếng Anh, một nghề nghiệp mà ngày càng có nhiều sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ Anh của Trường Đại học Công Nghiệp Th

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG LỖI PHÁT ÂM TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN NGÀNH NGÔN NGỮ ANH TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MÌNH – NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

Mã số đề tài: 2018010201

Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thu Hà

Thành viên: ThS Nguyễn Đình Luật

ThS Phan Thanh Huyền

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2018

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT i

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của đề tài: 3

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: 5

3 Câu hỏi nghiên cứu: 6

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

5 Phạm vi nghiên cứu: 7

6 Đóng góp mới về khoa học của đề tài: 7

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài: 8

8 Phương pháp nghiên cứu: 8

9 Kết cấu đề tài: 8

PHẦN NỘI DUNG 10

Chương 1 Những vấn đề chung về ngữ âm 10

1.1 Một số khái niệm ngữ âm được dùng trong bài nghiên cứu: 10

1.1.1 Ngữ âm và âm vị học: 10

1.1.2 Âm tố 11

1.1.3 Một số thuật ngữ cơ bản trong ngữ âm tiếng Anh 11

1.1.3.1 Các thuật ngữ liên quan đến các cơ quan cấu âm 12

1.1.3.2 Âm vị (phoneme): 13

1.1.3.3.Âm tiết (syllable): 13

1.2 Phụ âm xát /s/ và /ʃ/ tiếng Anh: 13

1.2.1 Tổ hợp phụ âm trong một âm tiết và một số vấn đề liên quan đến vị trí phân bố của phụ âm /s/ và /ʃ/ trong các tổ hợp phụ âm 13

1.2.1.1 Các vị trí có thể xuất hiện âm /s/ 14

1.2.1.2 Các vị trí có thể xuất hiện âm /ʃ/: 15

1.2.2 Mô tả các phụ âm /s/ và /ʃ/: 16

1.2.2.1 Mô tả dựa trên vị trí cấu âm: 16

Trang 3

1.2.2.2 Mô tả dựa trên phương thức phát âm: 20

1.2.3 Mối quan hệ giữa chữ viết và âm xát: 23

1.2.3.1 Các chữ viết có liên quan đến âm /s/: 23

1.2.3.2 Các chữ viết có liên quan đến âm /ʃ/: 24

1.3 Phụ âm /s/ và /ʂ/ tiếng Việt: 25

1.3.1 Vị trí phân bố của /s/ và /ʂ/: 25

1.3.2 Mô tả âm xát /s/ và /ş/ trong tiếng Việt: 26

1.3.2.1 Phụ âm /s/ trong tiếng Việt: 26

1.3.2.2 Phụ âm /ʂ/ trong tiếng Việt: 27

1.4 Các nét khu biệt: 27

1.4.1 Các nét khu biệt của âm /s/ và /ʃ/: 27

1.4.2 Nét khu biệt giữa âm /s/ và /ʃ/ tiếng Anh với /s/ và /ʂ/ tiếng Việt: 28

Tiểu kết chương 1 30

Chương hai: Thực trạng phát âm âm xát /s/ và /ʃ/ tiếng Anh của sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 31

2.1 Giới thiệu chung Khoa Ngoại ngữ Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh: 31

2.2 Phương pháp nghiên cứu: 33

2.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: 33

2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu: 33

2.2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu: 35

2.3 Thực trạng phát âm âm xát /s/ và /ʃ/ tiếng Anh của sinh viên: 36

2.3.1 Kết quả khảo sát: 36

2.3.2 Kết quả chi tiết 39

2.3.2.1 Các từ đơn lẻ chỉ chứa /s/ hoặc /ʃ/ 40

2.3.2.2 Các từ đơn lẻ và các câu có chứa cả hai âm xát /s/ và /ʃ/: 41

2.4 Kết quả từ khảo sát bằng bảng câu hỏi: 51

2.4.1 Yếu tố vùng miền: 51

2.4.2 Kinh nghiệm và trải nghiệm của sinh viên trong việc học tiếng Anh: 52

2.4.3 Thói quen học tập: 52

Trang 4

2.4.4 Thái độ của sinh viên đối với kĩ năng phát âm tiếng Anh: 55

2.4.5 Khó khăn mà sinh viên gặp phải trong việc học phát âm tiếng Anh: 55

2.5 Nguyên nhân dẫn đến phát âm sai âm xát /s/ và /ʃ/ tiếng Anh của sinh viên: 56

Tiểu kết chương 2 58

Chương 3: Giải pháp khắc phục lỗi phát âm âm xát /s/ và /ʃ/ tiếng Anh của sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ Anh trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh 60

3.1 Định hướng phát triển khoa Ngoại ngữ trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh: 60

3.2 Giải pháp khắc phục lỗi phát âm âm xát /s/ và /ʃ/ tiếng Anh của sinh viên 60

Tiểu kết chương 3 64

PHẦN KẾT LUẬN 65

Tài liệu tham khảo 68

Trang 5

i

PHỤ LỤC BẢNG

Bảng 1: Tổ hợp phụ âm đầu giữa /s/ và một phụ âm khác 13

Bảng 2: Tổ hợp phụ âm ở vị trí đầu âm tiết 14

Bảng 3: Phân loại âm /s/ và /ʃ/ theo vị trí và phương thức cấu âm 15

Bảng 4: Các chữ viết có liên quan đến âm /s/ theo Ashton và Shepherd 22

Bảng 5: Các chữ viết có liên quan đến âm /s/ theo O’Connor 22

Bảng 6: Các chữ viết có liên quan đến âm /ʃ/ theo Ashton và Shepherd 23

Bảng 7: Các chữ viết có liên quan đến âm /ʃ/ theo O’Connor 23

Bảng 8: Bảng hệ thống âm đầu tiếng Việt 24

Bảng 9: Bảng hệ thống âm cuối tiếng Việt 25

Bảng 10: So sánh các đặc điểm của cặp âm xát tiếng Anh và tiếng Việt 27

Bảng 11: Kết quả thu âm tổng quát của sinh viên năm nhất và năm ba 37

Bảng 12: Kết quả thu âm xét theo vị trí của hai âm của sinh viên năm 1 và năm 3 38

Bảng 13: Lỗi phát âm âm/s/ và /ʃ/ trong từ có chứa cả hai âm và trong câu 41

Bảng 14: Tỉ lệ của các lỗi phổ biến khi phát âm /s/ và /ʃ/ trong từ chứa cả hai âm và trong câu 42

Bảng 15: Tỉ lệ của các lỗi phổ biến trong phương thức phát âm /s/ và /ʃ/ theo vị trí phân bố 42

Bảng 16: Kết quả phát âm âm /s/ trong các từ có chứa cả hai âm 45

Bảng 17: Kết quả phát âm âm /ʃ/ trong các từ có chứa cả hai âm 45

Bảng 18: Tỉ lệ lỗi phát âm khi âm /s/ và /ʃ/ cùng xuất hiện trong từ 46

Bảng 19: Kết quả phát âm âm /s/ trong các từ có chứa tổ hợp âm 46

Bảng 20: Tỉ lệ phát âm sai âm /s/ và /ʃ/ xét về mối quan hệ 48

Bảng 21: Vùng miền nơi sinh viên sinh sống trước khi vào trường đại học 49

Bảng 22: Kinh nghiệm và trải nghiệm của sinh viên trong việc học tiếng Anh 50

Bảng 23: Thói quen học phát âm tiếng Anh của sinh viên 51

Bảng 24: Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của kĩ năng phát âm tiếng Anh 52

Bảng 25: Những khó khăn của sinh viên trong việc học phát âm tiếng Anh 53

Trang 6

ii

PHỤ LỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Âm /s/ ở các vị trí khác nhau 39 Biểu đồ 2: Âm /ʃ/ ở các vị trí khác nhau 39

Trang 7

iii

PHỤ LỤC HÌNH VẼ

Hình 1: Các cơ quan cấu âm 11

Hình 2: Cấu trúc của lưỡi 12

Hình 3 : Vị trí cấu âm của âm /s/ (Roach) 16

Hình 4 : Vị trí cấu âm của âm /s/ (O’Connor) 16

Hình 5: Vị trí cấu âm của âm /s/ (Lujan) 17

Hình 6: Vị trí cấu âm âm /s/ theo Pronunciation Power 17

Hình 7: Vị trí cấu âm của âm /ʃ/ (Roach) 18

Hình 8: Vị trí cấu âm của âm /ʃ/ (Avery và Ehrlich) 18

Hình 9: Vị trí cấu âm âm /ʃ/ theo Pronunciation Power 18

Hình 10: Sự cản trở luồng không khí một phần trong âm /s/ 19

Hình 11: Hình dáng môi của âm /s/ do ảnh hưởng của nguyên âm 20

Hình 12: Hình dáng của môi của âm /ʃ/ 20

Hình 13: Hình dáng của môi của âm /s/ 20

Hình 14: Sự cản trở luồng không khí một phần trong âm /ʃ/ (O’Connor) 21

Hình 15: Sự cản trở luồng không khí một phần trong âm /ʃ/ (Lujan) 21

Hình 16: Sơ đồ phát âm phụ âm /s/ tiếng Việt 26

Hình 17: Sơ đồ phát âm phụ âm /ʂ/ trong tiếng Việt 26

Trang 8

1

TÓM TẮT

Phát âm là một trong những kĩ năng cơ bản mang tính chất nền tảng và quyết định cho những người học ngoại ngữ nói chung và học tiếng Anh nói riêng Rất nhiều sinh viên chuyên ngữ trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, dù đã được học tiếng Anh 12 năm phổ thông và từ 1 đến 3 năm chuyên Anh vẫn gặp khó khăn trong việc phát

âm đúng các phụ âm xát /s/ và /ʃ/ do những hạn chế nhất định mang tính khách quan và chủ quan trong quá trình học tập Để đáp ứng nhu cầu của xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, hội nhập với cộng đồng quốc tế về kinh tế - chính trị, văn hóa và nâng tầm chất lượng đào tạo đạt chuẩn quốc tế của trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, nhóm tác giả mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ lý luận cơ bản về các đặc điểm ngữ âm của các phụ âm xát /s/ và /ʃ/ trong tiếng Anh Qua đó đối chiếu với các đặc trưng ngữ âm của các phụ âm xát tương đương trong tiếng Việt để tìm ra những đặc điểm tương đồng và khu biệt của những phụ

âm này trong hai ngôn ngữ Từ đó đánh giá thực trạng phát âm tiếng Anh của sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ Anh năm nhất và năm ba Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh và tìm hiểu những nguyên nhân có thể dẫn đến việc phát âm chưa chuẩn xác của sinh viên đối với hai phụ âm xát /s/ và /ʃ/ trong tiếng Anh Dựa vào kết quả

có được từ dữ liệu, nhóm nghiên cứu đề xuất gợi ý hoàn thiện phương pháp giảng dạy cho giáo viên, cải thiện phương pháp học phát âm cho sinh viên

Trang 9

2

ABSTRACT

Pronunciation is one of the fundamental and decisive skills for foreign language learners

in general and English language learners in particular Quite a number of English language majors at the Industrial University Ho Chi Minh City, though having been studying English for more than 12 years, still struggle to utter English words containing such English fricatives as /s/ and /ʃ/ owing to certain objective and subjective limitations

In order to meet the demands of the society in the industrialization and modernization of the country, to integrate with the international community in economic, political and cultural terms and to raise the university’s academic training quality to international standards, the authors wished to undertake a systematic and thorough investigation into theoretical basis concerning the phonetic characteristics of the fricative consonants /s/ and /ʃ/ in English Based on that basis, a comparative and contrastive analysis is made taking account of the Vietnamese equivalents /s/ and /ş/ so as to identify identical and distinctive features of these consonants in the two languages Subsequently, a proper assessment of how English-majored first and third-year undergraduates articulated the English fricatives was provided and followed by an attempt to tentatively explain why mispronunciation occurred Finally, the research team aimed to propose solutions to enhance the teaching and learning of the above-mentioned English alveolar and alveopalatal fricatives

Trang 10

3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khó có thể phủ nhận rằng phát âm tốt là một điều mà hầu như người học ngoại ngữ nào cũng mong muốn đạt được vì điều đó giúp họ tạo được ấn tượng tốt đẹp khi giao tiếp với người bản xứ, với người nước ngoài hoặc khi đi phỏng vấn ứng tuyển vào một vị trí đòi hỏi phải có kĩ năng giao tiếp bằng một ngoại ngữ nào đó Trong giao tiếp với người nước ngoài, đặc biệt là người bản xứ, việc phát âm chính xác vừa giúp người sử dụng ngoại ngữ tiếp nhận được thông tin nghe được dễ dàng và chính xác hơn, đồng thời cũng giúp họ truyền đạt được nội dung cần trình bày một cách rõ ràng hơn Ngược lại, có một tình trạng cũng khá phổ biến là dù gặp những từ cơ bản đã biết nhưng người học tiếng Anh không thể nhận ra khi người nước ngoài phát âm từ

đó, hoặc người học phát âm các từ cơ bản đó khi nói tiếng Anh nhưng người khác không thể hiểu Lý do chủ yếu của tình trạng này là vì người học phát âm những từ đó thiếu chính xác Trong phỏng vấn xin việc, nhất là khi vị trí công việc là giảng dạy tiếng Anh, một nghề nghiệp mà ngày càng có nhiều sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ Anh của Trường Đại học Công Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh hướng tới, ứng viên chắc chắn ít nhiều sẽ tạo được thiện cảm và niềm tin ở nhà tuyển dụng vào năng lực sử dụng và giảng dạy ngoại ngữ của mình nếu họ có kĩ năng phát âm tiệm cận với phát âm của người bản xứ

Qua nhiều năm giảng dạy sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ Anh tại Trường Đại học Công Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận thấy có khá nhiều em có phát

âm tốt Tuy nhiên, số sinh viên bộc lộ nhiều lỗi về phát âm cũng rất đáng quan tâm Trong số các lỗi phát âm của sinh viên mà chúng tôi thường xuyên nghe thấy, việc nhầm lẫn hai phụ âm xát /s/ và /ʃ/ xảy ra khá thường xuyên mặc dù hai phụ âm này không phải là quá khó để phát âm Và điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là dường như có

sự thay đổi trong khuynh hướng phát âm của sinh viên Cách đây vài năm, dường như sinh viên thường nhầm lẫn âm /ʃ/ thành âm /s/ thì gần đây sự việc lại xảy ra theo chiều hướng ngược lại, nghĩa là rất nhiều sinh viên nhầm lẫn âm /s/ thành âm /ʃ/ Đây

là lý do để chúng tôi đi đến quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu “Lỗi phát âm âm xát /s/ và /ʃ/ tiếng Anh của sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ Anh trường Đại học

Trang 11

4

Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh - thực trạng và giải pháp”, với mong muốn có thể tìm hiểu một cách có hệ thống hơn và có cơ sở hơn về thực trạng và nguyên nhân của hiện tượng nêu trên, từ đó tìm ra các giải pháp khả thi để việc giảng dạy phát âm các phụ âm xát cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đạt được hiệu quả tốt hơn

âm thường gặp khi phát âm các phụ âm tiếng Anh của học viên tại trung tâm Anh ngữ Worldlink”; Lê Thanh Hòa năm 2016 với “Lỗi phát âm tiếng Anh của sinh viên Việt Nam trường hợp sinh viên Đại học Đồng Nai” Các nghiên cứu chỉ ra những dạng lỗi phát âm như lỗi trong nội bộ từ, lỗi ngữ điệu, lỗi phát âm phụ âm tiếng Anh , lỗi phát

âm các phụ âm tiếng Anh cụ thể như θ, δ, ʃ, ʒ, ʤ, ʧ, lỗi phát âm nguyên âm tiếng Anh, lỗi không nhấn trọng âm, giới hạn ở việc đối chiếu ngôn ngữ tiếng Anh với tiếng Việt ở phạm vi ngữ âm để phát hiện lỗi trong từ đơn, cụ thể là lỗi phát âm phụ âm, lỗi phát âm các yếu tố chiết đoạn tiếng Anh của sinh viên do ảnh hưởng của tiếng Việt , nguyên nhân mắc lỗi do chuyển di tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ, đề xuất biện pháp chung

để khắc phục lỗi Tuy nhiên các tác giả mới chỉ tập trung ở các nhóm đối tượng sinh viên không chuyên, học viên trung tâm ngoại ngữ Hiện chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về lỗi phát âm phụ âm xát ………… Tiếng Anh, một loại phụ

âm phát âm sai phổ biến, và công trình được nghiên cứu trên đối tượng là sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ Anh, và đây là lí do nhóm nghiên cứu chọn đề tài “ Lỗi phát

âm phụ âm xát …… tiếng Anh của sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ Anh trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh

Trang 12

5

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài được xác định là nhằm đánh giá khả năng phát âm hai phụ âm xát /s/ và /ʃ/ trong tiếng Anh, thông qua đó xác định các lỗi phổ biến mà sinh viên thường mắc phải khi phát âm hai phụ âm này cũng như qui luật của các lỗi phát

âm đó Căn cứ vào qui luật đó, chúng tôi đối chiếu với hệ thống lý luận âm vị của hai phụ âm trên, kết hợp với các mô tả âm vị của hai phụ âm xát tương đương trong tiếng Việt là /s/ và /ş/ để xác định nguyên nhân mắc lỗi của sinh viên Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm cách xác định các yếu tố quan trọng có thể ảnh hưởng nhiều nhất đến việc rèn luyện phát âm của sinh viên Sau khi đã có đầy đủ các dữ liệu định tính và định lượng, chúng tôi đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện phương pháp giảng dạy và học tập phát âm phụ âm xát tiếng Anh /s/ và /ʃ/ của giáo viên và sinh viên Khoa Ngoại Ngữ

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhóm tác giả triển khai đồng bộ các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu làm sáng tỏ những đặc trưng về âm tiết của tiếng Anh và tiếng Việt cũng như những đặc điểm ngữ âm liên quan đến vị trí phân bố, vị trí cấu âm và phương thức cấu âm của hai phụ âm xát trong tiếng Anh và hai phụ âm xát tương đương trong tiếng Việt Từ đó chúng tôi sẽ xác định những nét khu biệt giữa hai phụ

âm xát tiếng Anh và giữa hai phụ âm xát tiếng Anh so với cặp phụ âm xát tiếng Việt Căn cứ vào những nét khu biệt đó, chúng tôi sẽ dự đoán được nguyên nhân cơ bản gây khó khăn cho sinh viên trong việc học phát âm các phụ âm xát tiếng Anh Ví dụ, nếu vị trí cấu âm của hai cặp phụ âm xát có sự tương đồng, còn vị trí phân bố và phương thức cấu âm thể hiện những nét khu biệt, thì có thể suy luận rằng nguyên nhân gây ra lỗi phát âm cặp phụ âm xát trong tiếng Anh là do khác biệt về vị trí phân

bố và phương thức cấu âm

Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng phát âm phụ âm /s/ và /ʃ/ của sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ Anh Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, qua đó kiểm chứng những nhận định được đưa ra trong quá trình so sánh và đối chiếu hai cặp phụ âm xát tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng phát âm này

Trang 13

4 Câu hỏi nghiên cứu

Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên các câu hỏi:

1 Lỗi sai khi phát âm các phụ âm xát /s/ và /ʃ/

2 Nguyên nhân gây ra lỗi phát âm các phụ âm xát /s/ và /ʃ/

3 Giải pháp để khắc phục các lỗi phát âm xát /s/ và /ʃ/

5 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là lỗi phát âm các âm xát /s/ và /ʃ/ tiếng Anh của sinh viên chuyên ngữ để tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục

Đối tượng khảo sát là sinh viên năm nhất và năm ba chuyên ngành Ngôn ngữ Anh Khoa Ngoại Ngữ Căn cứ vào quy mô đề tài và thời gian nghiên cứu, chúng tôi chọn mỗi khối lớp 100 sinh viên, với lí do như sau:

Đối với sinh viên năm 3, trong quá trình giảng dạy nhóm sinh viên này từ năm thứ 2 lên đến năm thứ 3, chúng tôi nhận thấy các em phát âm lẫn lộn hai phụ âm xát /s/ và /ʃ/ rất thường xuyên Đến năm thứ 3, chúng tôi muốn kiểm tra xem sau 3 năm học, cụ thể là sau khi đã học xong môn Ngữ âm thực hành và Ngữ âm và âm vị học, khả năng phát âm các âm nói trên sẽ như thế nào

Đối với sinh viên năm 1, chúng tôi muốn biết các em sinh viên năm 1 có cùng khó khăn trong việc phát âm các âm nêu trên hay không Tại thời điểm tiến hành thu âm, nhóm sinh viên này vẫn chưa học môn Ngữ âm thực hành và Ngữ âm và âm vị học Nhờ đó, chúng tôi có thể so sánh được phương thức phát âm của sinh viên năm 1 và sinh viên năm 3 để tìm hiểu xem có những điểm nào tương đồng và những điểm nào đặc thù Từ đó chúng tôi có thể đưa ra định hướng trong phương pháp giảng dạy phát

âm các âm nói trên cho các em sinh viên năm nhất một cách hiệu quả nhất

Trang 14

7

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung xem xét khả năng phát âm âm /s/ và /ʃ/ trong tiếng Anh ở góc độ là hai âm vị Vì vậy trong quá trình nghe và đánh giá, chúng tôi không xét đến các qui tắc âm vị liên quan đến hai phụ âm này Bài nghiên cứu cũng không đi sâu phân tích các lỗi phát âm bị ảnh hưởng bởi yếu tố vùng miền, vì hạn chế về thời gian và hệ thống mô tả ngữ âm từng vùng miền trong tiếng Việt chưa đầy đủ Bên cạnh đó, bài nghiên cứu so sánh phương thức và đặc thù phát âm các phụ âm xát nói trên của hai nhóm sinh viên khác nhau, chưa xét đến xu hướng phát âm của cùng một nhóm sinh viên trước và sau khi được học các môn học hỗ trợ phát âm như Ngữ âm thực hành

và Ngữ âm-Âm vị học Ngoài ra, khả năng phát âm của sinh viên chỉ dừng lại ở mức

độ đọc một bài kiểm tra được thiết kế sẵn, chưa xem xét được khả năng phát âm của các em trong tình huống đối thoại thực tế Về phần các câu hỏi khảo sát, bài nghiên cứu chỉ xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc học phát âm nói chung, chưa đi sâu khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến việc học phát âm phụ âm xát

7 Đóng góp mới về khoa học của đề tài

Là công trình nghiên cứu có hệ thống về ngữ âm tiếng Anh, tiếng Việt, đặc biệt là phát âm, đề tài có những đóng góp cơ bản sau:

Thứ nhất, đề tài nghiên cứu ứng dụng trong đào tạo sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh khoa Ngoại ngữ trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu được sử dụng để biên soạn bài giảng và phương pháp giảng dạy cho môn Ngữ âm thực hành

Thứ hai, kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để các nhà khoa học chuyên ngành nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực so sánh và đối chiếu các âm vị trong tiếng Anh và tiếng Việt, từ đó có thể dự báo được những rào cản trong việc học phát âm tiếng Anh của người Việt và đưa ra phương pháp giảng dạy phù hợp, sâu sát với thực tế và hiệu quả hơn

Thứ ba, kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho giảng viên nâng cao kĩ năng giảng dạy các phụ âm xát trong tiếng Anh, đồng thời tạo ra một ý thức giảng dạy phát âm tiếng Anh

có xem xét đến những điểm tương đồng và khác biệt của các đặc điểm ngữ âm của các âm vị trong tiếng Việt và tiếng Anh để có thể giúp sinh viên bậc đại học và cao

Trang 15

8

đẳng vốn đã ở độ tuổi bị ảnh hưởng sâu sắc bởi cách phát âm trong tiếng Việt vượt qua được những khó khăn khi học phát âm hiệu quả hơn

8 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Với sự phát triển mạnh mẽ việc giảng dạy và học tập tiếng Anh trên toàn Việt Nam,

đề tài là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngữ âm, phát âm tiếng Anh, chú trọng âm /s/, /ʃ/ Những kết luận và kiến nghị nêu trong đề tài đều có cơ sở và thực tiễn góp phần hoàn thiện hệ thống đào tạo tiếng Anh tại Việt Nam về lĩnh vực phát

âm Đề tài cũng có giá trị tham khảo cho các đơn vị đào tạo khác của Bộ Công Thương và các cơ sở giáo dục khác của Việt Nam về giảng dạy và học phát âm /s/, /ʃ/ tiếng Anh trong quá trình đào tạo tiếng Anh Đồng thời đề tài giúp nhóm tác giả hiểu sâu sắc hơn về sự khác biệt trong phát âm tiếng Anh, tiếng Việt, rào cản trong việc phát âm chuẩn tiếng Anh…từ đó thực hiện, khắc phục chính trong công tác giảng dạy các môn luyện âm và các môn khác trong khoa Ngoại ngữ - Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

9 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài thực hiện theo các phương pháp

- Tổng thuật tư liệu

Chương 1 Những vấn đề chung về ngữ âm

Trang 17

10

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 Những vấn đề chung về ngữ âm

1.1 Một số khái niệm ngữ âm được dùng trong bài nghiên cứu

1.1.1 Ngữ âm và âm vị học

Ngữ âm là âm thanh của ngôn ngữ Âm thanh ngôn ngữ là âm thanh do bộ máy cấu âm của con người tạo ra Nó có nghĩa và đảm nhận chức năng giao tiếp Âm thanh tiếng nói con người, về bản chất là vô tận bởi tuỳ theo các đặc điểm cá nhân, các đặc điểm về hoàn cảnh phát âm, mục đích phát âm mà tiếng nói phát ra có những phần khác nhau

Để phân biệt âm thanh tiếng nói con người với âm thanh của các loài vật, người ta căn cứ vào các cơ chế sinh lí học của các cơ quan phát âm, khả năng thụ cảm của các cơ quan thính giác và thần kinh

Miêu tả âm thanh về mặt tự nhiên (vật lí, sinh lí) đã được thực hiện từ lâu, đặc biệt là vào cuối thế kỉ XIX; ngày nay, việc miêu tả ấy càng được thực hiện tỉ mỉ, chính xác hơn nhờ những thành tựu mới của vật lí học và sinh lí học Miêu tả âm thanh về mặt xã hội, nghĩa

là nghiên cứu để chỉ ra giá trị khu biệt của các yếu tố ngữ âm trong mặt biểu đạt của ngôn ngữ được thực hiện từ những năm 20 của thế kỉ XX Trường phái Praha phân biệt hai bộ

môn: ngữ âm học (phonétique /phonetics) và âm vị học (phonologie /phonology)

Ngữ âm học nghiên cứu âm thanh lời nói về mặt tự nhiên - nghiên cứu bản chất âm học

và những phương thức cấu tạo của chúng về mặt sinh lí - nghiên cứu cơ chế cấu âm - âm học của âm thanh lời nói

Âm vị học chuyên nghiên cứu các âm có tổ chức của tiếng nói - nghiên cứu thêm âm thanh về mặt xã hội; xem chúng có chức năng biểu đạt như thế nào trong giao tiếp xã hội,

từ đó tìm ra và miêu tả hệ thống những đơn vị biểu đạt của một ngôn ngữ nhất định Hiện nay, ngữ âm học hiện đại nghiên cứu ngữ âm của các ngôn ngữ đồng thời về cả hai mặt tự nhiên và xã hội

Trang 18

11

Khi giao tiếp, người ta phát ra những chuỗi âm thanh kế tiếp nhau theo thời gian, gọi là ngữ lưu Dựa vào những chỗ ngừng, chỗ nghỉ và bằng thủ pháp phân tích có thể chia cắt chuỗi âm thanh thành những âm đoạn nhỏ hơn cho đến khi không thể chia được nữa Những đơn vị ngữ âm thu nhận được do sự phân đoạn đó gọi là đơn vị đoạn tính, bao gồm âm tiết, âm tố và âm vị Thêm nữa, để tổ chức các đơn vị âm đoạn thành một thể thống nhất lớn hơn còn có các phương tiện đóng vai trò phương thức muôn màu muôn vẻ,

đó là những đơn vị siêu đoạn tính (hay hiện tượng ngôn điệu) gồm trọng âm, thanh điệu

và ngữ điệu

1.1.2 Âm tố 12

Âm tố (sound) là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa

Âm tố là đơn vị âm thanh nhỏ nhất của lời nói, có thể tách ra về mặt cấu âm–thính giác, đồng chất trong một khoảng thời gian nhất định và thường ứng với một âm vị

Có thể nói, âm tố là đoạn âm thanh nhỏ nhất, có thể tách ra được từ chuỗi lời nói liên tục, không gắn liền với giá trị khu biệt âm vị học của nó Âm tố là sự thể hiện cụ thể của âm

vị, nó chứa đựng cả một loạt những đặc trưng cần yếu và không cần yếu của âm vị

Dựa theo cách thoát ra của luồng âm không khí khi phát âm, các âm tố thường được phân

ra làm hai loại chính: nguyên âm (vowel) và phụ âm (consonant)

1.1.3 Một số thuật ngữ cơ bản trong ngữ âm tiếng Anh

Để tìm hiểu các đặc điểm ngữ âm và âm vị học của các phụ âm xát đang được xem xét, việc xuất phát từ đơn vị âm vị và âm tiết là hết sức cần thiết Thông qua việc làm rõ khái niệm âm vị, việc miêu tả các phụ âm cũng như nguyên âm sẽ trở nên rõ ràng và chi tiết hơn khi đặt trong mối quan hệ đối sánh với các tha âm hay còn gọi là biến thể âm vị (allophones), nhờ đó người học sẽ học được cách phát âm các phụ âm này một cách tự nhiên nhất có thể theo cách phát âm của người bản xứ

Trang 19

12

Bên cạnh đó, việc tìm hiểu cấu trúc của âm tiết cũng sẽ cho thấy vị trí phân bố có thể có của các phụ âm nói trên, và điều đó giúp cho người dạy và người học có thể tiếp cận với các phụ âm này một cách toàn diện và có hệ thống nhất Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với giáo viên dạy phát âm, vì họ có thể dự đoán được tất cả các vị trí phân bố có thể có của các phụ âm đang được dạy, sau đó yêu cầu người học luyện tập các âm ở nhiều vị trí phân bố đó Nhờ đó người học có thể được luyện tập đầy đủ một âm nào đó và có thể tự sửa lỗi sai của mình khi phát âm các âm ở nhiều vị trí khác nhau, tránh được trường hợp sau khi học xong vẫn mắc lỗi vì không được luyện tập một âm nào đó ở nhiều vị trí khác nhau

Ngoài ra, các mô tả ngữ âm học của hai phụ âm xát đang được nghiên cứu có liên quan nhiều đến các cơ quan cấu âm, vì vậy cũng cần phải nêu sơ lược các cơ quan cấu âm tham gia vào quá trình tạo ra hai phụ âm này để các mô tả rõ ràng hơn

1.1.3.1 Các thuật ngữ liên quan đến các cơ quan cấu âm

Roach (2014:8) minh họa các cơ quan cấu âm bằng hình vẽ như sau:

Hình 1: Các cơ quan cấu âm

Trong số các cơ quan trên, có hai bộ phận có liên quan và thường xuyên được sử dụng trong việc mô tả các đặc điểm ngữ âm học của hai phụ âm xát đang được xem xét là nướu (alveolar ridge) và ngạc cứng (hard palate)

Một cơ quan quan trọng khác tham gia vào quá trình cấu âm hai phụ âm nêu trên là lưỡi, với các bộ phận được minh họa bởi Roach (2014:9) như sau:

Trang 20

13

Hình 2: Cấu trúc của lưỡi

Như vậy xét về ngữ âm học, lưỡi được chia làm 5 phần: đầu lưỡi (tip), mặt trước của lưỡi (blade), thân trước (blade), thân sau (back) và gốc lưỡi (root)

1.1.3.2 Âm vị (phoneme)

Trong tiếng Anh, âm vị là đơn vị nhỏ nhất của từ nếu xét về mặt phát âm Theo Roach (2014:31), âm vị là yếu tố giúp phân biệt các từ Nói cách khác, nếu thay thế một

âm vị nào đó trong một từ, chúng ta thay đổi nghĩa của từ đó Ví dụ, nếu thay đổi âm /`/

thành âm /e/ trong từ bed, chúng ta có từ bad

Đối với âm vị /ʃ/, tác giả Roach (2014:42) cho rằng đây là một phụ âm khá phổ biến

và có vị trí phân bố khá đa dạng Tương tự như vậy, phụ âm /s/ cũng có thể xuất hiện ở cả

3 vị trí: đầu, giữa và cuối từ

1.1.3.3 Âm tiết (syllable)

Theo Roach (2014:56), xét về mặt ngữ âm học, âm tiết là một đơn vị ngữ âm bao gồm một âm đứng ở vị trí trung tâm mà khi phát âm âm này luồng không khí không bị hoặc ít

bị cản trở, âm lượng phát ra cũng khá lớn Đứng trước và sau âm trung tâm này là các âm

có sự ngăn cản luồng không khí nhiều hơn và âm lượng cũng nhỏ hơn Điều đó có nghĩa

là cấu trúc đầy đủ của một âm tiết sẽ bao gồm một nguyên âm đứng giữa và hai bên là hai

phụ âm Có thể minh họa cấu trúc âm tiết cơn bản như sau: Phụ âm – Nguyên âm – Phụ

âm

1.2 Phụ âm xát /s/ và /ʃ/ tiếng Anh

1.2.1 Tổ hợp phụ âm trong một âm tiết và một số vấn đề liên quan đến vị trí phân bố của phụ âm /s/ và /ʃ/ trong các tổ hợp phụ âm

Trang 21

14

Trước khi tìm hiểu về các cơ sở lý thuyết liên quan trực tiếp đến đề tài, chúng tôi đặt ra một số vấn đề cơ bản cần tìm hiểu để giải thích được lý do vì sao sinh viên thường mắc lỗi khi phát âm hai phụ âm xát Các vấn đề đó bao gồm mô tả về vị trí cấu âm, phương thức cấu âm và vị trí phân bố của các phụ âm xát trong tiếng Anh và tiếng Việt Nếu có

sự khác biệt nào về các mô tả nói trên thì khó khăn, hay nói cách khác là nguyên nhân gây lỗi sẽ liên quan đến khác biệt đó

Trước hết, chúng tôi bắt đầu từ vị trị phân bố của các phụ âm xát, và để làm rõ vấn đề này, việc tìm hiểu về cấu trúc của một âm tiết tiếng Anh và tiếng Việt, đặc biệt là cấu trúc của tổ hợp phụ âm ở vị trí đầu và cuối của một âm tiết tiếng Anh là hết sức quan trọng

Ở vị trí đầu và cuối của một âm tiết tiếng Anh, có thể xuất hiện nhiều phụ âm cùng lúc ở hai vị trí này Khi đó, các phụ âm này đứng liền kề nhau tạo thành một tổ hợp phụ âm (consonant cluster) Nhà nghiên cứu Roach (2014:57, 59) đã ước tính có thể có tối đa 3 phụ âm cho tổ hợp âm đứng đầu và 4 phụ âm cho tổ hợp đứng ở vị trí cuối của một âm tiết

1.2.1.1 Các vị trí có thể xuất hiện âm /s/

Ở vị trí đầu âm tiết, nếu chỉ có hai phụ âm trong tổ hợp thì một trong hai trường hợp được tác giả Roach (2014:57) nhắc đến là phụ âm đầu tiên là âm /s/ kết hợp với một trong các

phụ âm như /t/, /w/, /m/ như trong các từ sting, sway, smoke Các nhà nghiên cứu

Celce-Murcia, Brinton và Goodwin (1996:81) cũng đồng quan điểm như trên, khi cho rằng một trong hai trường hợp là phụ âm đầu phải là âm /s/ Nhóm tác giả Avery và Ehrlich (1995:56) đã liệt kê các tổ hợp có hai phụ âm đầu với sự xuất hiện của phụ âm /s/ như sau:

Bảng 1: Tổ hợp phụ âm đầu giữa /s/ và một phụ âm khác

Tổ hợp sl sy sw sp st sk sm sn sf

Ví dụ slow suit swich spit stone school smile snow sphere

Trường hợp có cả 3 phụ âm trong tổ hợp thì âm đầu tiên luôn là âm /s/, như nhóm nghiên cứu Celce-Murcia, Brinton và Goodwin (1996:81) đã phát biểu Tổ hợp này cũng được tác giả Roach (2014:57) thống nhất quan điểm và minh họa như sau:

Trang 22

vị trí đầu như trên

Xét về vị trí cuối âm tiết, Roach (2014:59) chỉ ra rằng đối với tổ hợp có hai phụ âm, âm

/s/ là một trong các phụ âm có thể đứng đầu hoặc cuối tổ hợp, ví dụ như trong từ ask và

bets Khi tổ hợp phụ âm cuối có 3 phụ âm, phụ âm /s/ có thể đứng ở vị trí cuối như trong

từ banks, fifths hay lapsed Khi tổ hợp phụ âm này có 4 phụ âm, chỉ có âm /s/ có thể xuất hiện ở vị trí cuối như prompts

Phần mô tả trên đây cho thấy tần xuất xuất hiện của âm xát /s/ trong một âm tiết tiếng Anh là cực kì lớn, vì vậy việc phát âm chính xác phụ âm này lại càng có ý nghĩa hết sức quan trọng Thậm chí để thuận tiện cho việc phát âm các tổ hợp có 3 hoặc 4 phụ âm, người bản xứ thường sẽ lược bỏ bớt phụ âm ở giữa, như Celce-Murcia, Brinton và Goodwin (1996:83) đã đề cập, phụ âm /s/ vẫn hầu như không bị lược bỏ vì không thường xuyên xuất hiện ở vị trí giữa Vì lẽ đó, việc phát âm đúng phụ âm này lại càng quan trọng

1.2.1.2 Các vị trí có thể xuất hiện âm /ʃ/

Theo tác giả Roach (2014:58), phụ âm /ʃ/ có thể được tìm thấy trong tổ hợp phụ âm đầu

âm tiết, ở vị trí giữa trong tổ hợp và kết hợp với âm /r/ đứng ở vị trí cuối trong tổ hợp,

như trong từ shrew Phân tích của tác giả O’Connor (1986:66) cũng cho thấy phụ âm /ʃ/ chỉ xuất hiện trong tổ hợp /ʃr/ ở đầu âm tiết, với các từ shred, shrill, shriek

Ở vị trí cuối âm tiết, tác giả O’Connor (1986:74, 75) đề cập trường hợp âm /ʃ/ có thể xuất

hiện ở vị trí cuối, sau âm /l/ như trong từ Welsh hoặc ở vị trí kề cuối như trong từ washed

Trang 23

16

Các nhà nghiên cứu Avery và Ehrlich (1995:57) có nhắc đến tổ hợp /ʃr/ ở vị trí cuối âm

tiết trong từ marsh

Như vậy so với âm /s/, phụ âm /ʃ/ có tần số xuất hiện trong các tổ hợp phụ âm thấp hơn

1.2.2 Mô tả các phụ âm /s/ và /ʃ/

Bảng tóm tắt sau đây được trích từ bảng tổng hợp các phụ âm trong tiếng Anh của tác giả Roach (2014:40), cho thấy cách thức phân loại phụ âm /s/ và /ʃ/ dựa trên vị trí cấu âm và phương thức phát âm

Bảng 3: Phân loại âm /s/ và /ʃ/ theo vị trí và phương thức cấu âm

Phương thức cấu âm

sẽ thuận tiện hơn, đồng thời việc gợi ý phương pháp giảng dạy sẽ cụ thể và sát với thực tế hơn

Một điều cần lưu ý nữa là hầu hết các tài liệu về ngữ âm và âm vị học đều không đề cập đến sự khác biệt nào giữa phụ âm xát /s/ và /ʃ/ trong tiếng Anh của người Anh và tiếng Anh của người Mỹ Vì vậy bài nghiên cứu sẽ tổng hợp một cách chi tiết phần mô tả ngữ

âm cũng như âm vị học của các tác giả đến từ hai quốc gia này để xem liệu có sự khác biệt nào trong cách phát âm các phụ âm xát đang được xem xét giữa hai quốc gia này hay không, từ đó sẽ đưa ra được những đề xuất thiết thực và linh hoạt hơn cho việc dạy và học các phụ âm này

1.2.2.1 Mô tả dựa trên vị trí cấu âm

Trang 24

17

a Phụ âm /s/

Nhóm tác giả Celce-Murcia, Brinton và Goodwin (1996:44) cho rằng trong quá trình phát

âm phụ âm /s/, bộ phận cấu âm tham gia vào việc hình thành khe hở hẹp trong khoang miệng để hạn chế sự di chuyển của luồng không khí chính là lưỡi và nướu răng

Theo Roach (2014: 41, 26), phụ âm nướu /s/ có vị trí cấu âm tương tự /t/ và /d/, nghĩa là phần mặt trước của lưỡi (blade) được đặt tựa vào khu vực nướu phía sau hàm răng trên nhưng không chạm vào mặt sau của răng trên

Hình 3: Vị trí cấu âm của âm /s/ (Roach)

Theo tác giả O’Connor (1986:31), phần đầu lưỡi (tip) và mặt trước của lưỡi (blade) được đặt rất gần với nướu lợi, và phần khe hở giữa nướu và lưỡi không nằm gần hàm răng trên, cũng không gần ngạc cứng Hình vẽ của tác giả này cũng cho thấy đầu lưỡi được đặt phía trong hàm răng trên chứ không phải là thân trước (front) của lưỡi

Hình 4 : Vị trí cấu âm của âm /s/ (O’Connor)

Trong cuốn The American Accent Guide, tác giả Lujan (2014:6.1) cũng đề cập đến khe hở

hẹp giữa lưỡi và nướu răng khi phát âm phụ âm/s/, tuy nhiên theo tác giả này phần đầu

Trang 25

18

lưỡi phải đặt ở phía sau hàm răng dưới, và phần lưỡi gần tiếp xúc với nướu là thân trước

(front) của lưỡi chứ không phải làđầu lưỡi (tip) như các tác giả khác đã mô tả

Hình 5: Vị trí cấu âm của âm /s/ (Lujan)

Hình chụp từ phần mềm Pronunciation Power của Mark Peterson cũng cho thấy đầu lưỡi tiếp xúc với khu vực nướu của hàm răng trên

Hình 6: Vị trí cấu âm âm /s/ theo Pronunciation Power

Các nhà nghiên cứu Ashton và Shepherd (2013:36) cho rằng phụ âm /s/ được phát âm theo nhiều cách khác nhau, cụ thể là phần đầu lưỡi có thể đưa lên cao phía trong hàm răng trên hoặc đưa xuống thấp phía trong hàm răng dưới Tuy nhiên hai tác giả này cũng khẳng định điều đó không quan trọng, điều quan trọng là nâng phần mặt trước của lưỡi cho đến khi gần chạm vào khu vực nướu răng chứ không chạm vào nướu, sau đó thở ra

b Phụ âm /ʃ/

Nhóm tác giả Celce-Murcia, Brinton và Goodwin (1996:44) cho rằng trong quá trình phát

âm phụ âm /ʃ/, bộ phận cấu âm tham gia vào việc hình thành khe hở hẹp trong khoang miệng để hạn chế sự di chuyển của luồng không khí chính là lưỡi và ngạc cứng Nhà nghiên cứu Roach (2014:41) cho rằng trong quá trình phát âm phụ âm trên nướu /ʃ/, lưỡi tiếp xúc với khu vực xa hơn một chút về phía ngạc cứng Theo ông, nếu phát âm /s/ rồi tiếp tục với âm /ʃ/, chúng ta sẽ cảm nhận được lưỡi di chuyển về phía sau

Trang 26

19

Hình 7: Vị trí cấu âm của âm /ʃ/ (Roach)

Xét về quá trình phát ra phụ âm âm /ʃ/ các nhà nghiên cứu Avery và Ehrlich (1995:15) nhắc đến việc đặt mặt trước (blade) của lưỡi ở vị trí trên nướu răng, gần chạm vào ngạc cứng Nói cách khác, phần blade của lưỡi được nâng lên đến gần ngạc cứng

Hình 8: Vị trí cấu âm của âm /ʃ/ (Avery và Ehrlich)

Phần mềm Pronunciation Power của Mark Peterson cũng cho thấy đầu lưỡi tiếp xúc với khu vực trên nướu của hàm răng trên, tiến gần về phía ngạc cứng

Hình 9: Vị trí cấu âm âm /ʃ/ theo Pronunciation Power

Trang 27

20

Tác giả Lujan, B.A (2014:6.2) lại một lần nữa đề cập đến vị trí xuất phát để tạo ra âm /S/

rất khác biệt so với các tác giả nói trên Cụ thể là phần đầu lưỡi đặt ở phía sau hàm răng dưới, còn mặt lưỡi thì song song với vòm họng, sau đó nâng nhẹ phần trước của lưỡi để

tạo ra một khe hở rộng để cho luồng khí di chuyển liên tục

1.2.2.2 Mô tả dựa trên phương thức phát âm

a Phụ âm /s/

Tác giả Avery và Ehrlich (1995:19) chỉ ra rằng khi phát âm phụ âm /s/, luồng không khí chỉ bị ngăn cản một phần, vì đầu lưỡi không chạm vào phần lợi phía sau hàm răng trên như khi phát âm /t/ Kết quả là luồng không khí sẽ tiếp tục đi ra khỏi miệng, chính vì vậy phụ âm này có thể được kéo dài hơn nhiều so với âm /t/, vốn là một phụ âm đòi hỏi đầu lưỡi phải chạm vào nướu để ngăn cản hoàn toàn luồng không khí trong khoang miệng trước khi bật hơi Trái với âm /s/, việc kéo dài âm /t/ là điều không thể Việc cản trở một phần luồng không khí trong quá trình phát âm /s/ được tác giả Avery và Ehrlich (1995:19) minh họa bằng hình ảnh dưới đây

Hình 10: Sự cản trở luồng không khí một phần trong âm /s/

Theo tác giả O’Connor (1986:31), sự cọ xát luồng không khí (friction) của âm /s/ mạnh hơn so với âm /z/, /f/, /v/, và /ˇ/ Tác giả này cũng lưu ý rằng ngạc mềm được nâng lên để

luồng hơi thở có thể thoát ra từ đường miệng Đồng thời, đầu lưỡi và mặt trước của lưỡi rất gần với nướu, và có một khe hở tại vị trí tiếp xúc này, không gần mặt sau của răng và cũng không gần ngạc cứng Một đặc điểm nữa được tác giả này đề cập là hai hàm răng được đặt rất gần nhau

Trong cuốn The American Accent Guide, tác giả Lujan (2014:6.1) có đề cập đến hình

dáng môi khi phát ra phụ âm này Theo đó hình dáng môi dẹp (retract) hay tròn tùy thuộc

Trang 28

21

vào nguyên âm theo sau Nếu nguyên âm theo sau là nguyên âm cao dòng trước (high

front vowels) như trong các từ see, lease, easy, môi sẽ dẹp (retract); còn nếu nguyên âm theo sau là nguyên âm cao dòng sau (high back vowels) như trong các từ soon, so hoặc

whose, môi sẽ tròn hơn Nói cách khác, độ tròn môi của nguyên âm trong âm tiết có khởi

âm hay còn gọi là phụ âm khởi đầu (onset) là âm /s/ sẽ quyết định hình dáng môi khi phát

Hình 12: Hình dáng của môi của âm /ʃ/ Hình 13: Hình dáng của môi của âm /s/

Trang 29

22

Nếu so sánh hai hình ảnh trên, có thể thấy âm /s/ có hình dáng môi bè hay trải rộng hơn

so với âm /ʃ/

Tác giả O’Connor (1986:35) cho rằng âm /ʃ/ là một phụ âm có sự chà xát mạnh về mặt

âm thanh Cũng theo tác giả này, trong quá trình phát âm phụ âm này, phần ngạc mềm được nâng lên để toàn bộ luồng hơi thở buộc phải di chuyển qua khoang miệng Một đặc điểm khác được đề cập là có một khe hở hẹp giữa đầu lưỡi (tip) và khu vực sau nướu răng (the back of the alveolar ridge) Bên cạnh đó, phần thân trước (front) của lưỡi được đặt ở

vị trí cao hơn so với âm /s/ và /z/ Cùng quan điểm với Avery và Ehrlich (1995), tác giả O’Connor cũng nhắc đến sự tròn môi của âm /ʃ/, tuy nhiên ông nhấn mạnh rằng môi chỉ hơi tròn mà thôi Ngoài ra, tác giả này còn mô tả rằng phụ âm /ʃ/ tạo ra tiếng ồn hơn rất nhiều so với các phụ âm /f/ và /ˇ/ và chỉ ít ồn hơn một chút so với âm /s/

Ơ

Hình 14: Sự cản trở luồng không khí một phần trong âm /ʃ/ (O’Connor)

Theo Roach (2014:42), đối với phụ âm /ʃ/, luồng không khí từ phổi thoát ra khỏi khoang miệng sẽ di chuyển dọc theo trung tâm của lưỡi tương tự như âm /s/, tuy nhiên khe hở sẽ rộng về chiều ngang hơn một chút, có thể do lưỡi bè ra thay vì co lại hai bên như âm /s/ Tác giả này cũng cho biết hầu hết các phát thanh viên của Đài BBC đều phát âm /ʃ/ với môi tròn và đây cũng là một điểm khác biệt quan trọng giữa hai phụ âm /s/ và /ʃ/

Theo tác giả Lujan (2014:6.2) để phát âm âm /S/, như đã đề cập ở trên, phần đầu lưỡi đặt

ở phía sau hàm răng dưới, còn mặt lưỡi thì song song với vòm họng, sau đó nâng nhẹ phần trước của lưỡi để tạo ra một khe hở rộng để cho luồng khí di chuyển liên tục

Trang 30

23

Hình 15: Sự cản trở luồng không khí một phần trong âm /ʃ/ (Lujan)

1.2.3.Mối quan hệ giữa chữ viết và âm xát

1.2.3.1 Các chữ viết có liên quan đến âm /s/

Các nhà nghiên cứu Ashton và Shepherd (2013:36) đề cập đến tần xuất âm /s/ xuất hiện trong mối tương quan với chữ viết như sau:

Chữ viết Ví dụ Tần suất

Tác giả O’Connor (1991:28) đề cập đến mối liên hệ giữa chữ viết với âm /s/ trong bảng sau đây:

Chữ viết Ví dụ Ngoại lệ

s đứng ở đầu âm tiết see, side

Trang 31

24

ss ở vị trí đầu, cuối âm tiết cross, fussy scissors, possess

s + phụ âm khác stay, last

ce, ci, cy centre, science, cycle

s ở vị trí giữa hai nguyên âm trong

âm tiết

basic, mason

se ở vị trí cuối âm tiết mouse, cease

s ở vị trí cuối âm tiết bus, gas

s sau các âm không kêu cats, writes

Đây là những nền tảng lý thuyết quan trọng, định hướng cho việc thiết kế bài ghi âm và phân tích kết quả ghi âm của các đối tượng nghiên cứu

1.2.3.2 Các chữ viết có liên quan đến âm /ʃ/

Quan điểm của hai tác giả Ashton và Shepherd (2013:44) về các chữ viết có chứa âm /ʃ/ được tóm tắt trong bảng thống kê dưới đây

Trang 32

Bảng 8: Bảng hệ thống âm đầu tiếng Việt

Trang 33

26

Xét về vị trí phân bố, phụ âm tiếng Việt chỉ được phân bố ở vị trí đầu và cuối âm tiết Số lượng phụ âm có thể đứng ở vị trí cuối âm tiết có số lượng ít hơn so với các phụ âm có thể đững ở vị trí đầu âm tiết Ngoài âm cuối /rezo/, tiếng Việt còn có 8 âm cuối có nội dung tích cực, trong đó có 6 phụ âm /m, n, ŋ, p, t, k/ và hai bán nguyên âm /-w, -j/

Bảng 9: Bảng hệ thống âm cuối tiếng Việt

Như vậy có thể thấy /s/, /ş/ là hai phụ âm xát chỉ có vị trí đầu âm tiết

1.3.2 Mô tả âm xát /s/ và /ş/ trong tiếng Việt

Xét về vị trí cấu âm, phụ âm /s/ và /ʂ/ là nhóm phụ âm đầu lưỡi, với phụ âm /s/ là phụ âm đầu lưỡi bẹt và phụ âm /ʂ/ là phụ âm đầu lưỡi quặt

Dựa vào phương thức cấu âm, hai phụ âm /s/ và /ʂ/ được gọi là âm xát Phương thức xát

là phương thức phát âm mà theo đó luồng hơi trước khi thoát ra ngoài bị cản trở không hoàn toàn Điều đó có nghĩa là luồng hơi bị chặn lại nhưng nó vẫn cứ cọ xát vào bộ phận cấu âm để thoát ra ngoài Dựa vào vị trí luồng hơi đi ra chính giữa miệng hay hai bên, phụ âm /s/ và /ʂ/ tiếng Việt là được phân loại là phụ âm xát, với luồng hơi đi ra giữa miệng

Một tiêu chí phân loại phụ âm khác cần lưu ý khi mô tả phụ âm là tiêu chí thanh tính, tức

là sự rung động của dây thanh Khi phát âm phụ âm /s/ và /ʂ/, dây thanh không rung nên hai phụ âm này còn được gọi là phụ âm vô thanh

1.3.2.1 Phụ âm /s/ trong tiếng Việt

Phụ âm /s/ tiếng Việt được phát âm bằng cách để đầu lưỡi gần chân răng hàm dưới, phần cuối lưỡi nâng chạm nhẹ vào phần ngạc mềm, luồng hơi được đẩy ra thông qua khe hẹp giữa răng và lưỡi Khi phát âm phụ âm này, không có tiếng thanh nào thoát ra từ cổ họng

Trang 34

27

Hình 16: Sơ đồ phát âm phụ âm /s/ tiếng Việt

1.3.2.2 Phụ âm /ʂ/ trong tiếng Việt

Hình 17: Sơ đồ phát âm phụ âm /ʂ/ trong tiếng Việt

Nhìn vào sơ đồ ta có thể nhận thấy phụ âm /ʂ/ được phát âm bằng cách để đầu lưỡi quặt lên gần chạm vào phần ngạc cứng, luồng hơi được đẩy ra thông qua khe hẹp giữa lưỡi và phần ngạc cứng Khi phát âm phụ âm này, không có tiếng thanh nào thoát ra từ cổ họng

1.4 Các nét khu biệt

1.4.1 Các nét khu biệt của âm /s/ và /ʃ/

Để xác định phương pháp giảng dạy phát âm đúng đắn, giúp phân biệt rõ ràng đặc điểm của hai phụ âm xát đang được xem xét, việc tìm hiểu về các nét khu biệt giữa hai âm này

là hết sức cần thiết Như đã trình bày ở trên, có thể thấy nét khu biệt quan trọng giữa hai phụ âm này chính là vị trí cấu âm Như Ashton và Shepherd (2013:36) đã khẳng định, đối với âm /s/, phần đầu lưỡi có thể đưa lên cao phía trong hàm răng trên hoặc đưa xuống thấp phía trong hàm răng dưới, và phần mặt trước của lưỡi được nâng cho đến khi gần

Trang 35

28

chạm vào khu vực nướu răng chứ không chạm vào nướu Trong khi đó, âm /ʃ/ là phụ âm trên nướu, với phần đầu lưỡi tiếp xúc với khu vực xa hơn một chút về phía ngạc cứng như các nhà nghiên cứu Roach (2014:41) cũng như Avery và Ehrlich (1995:15) đã đề cập

Một điểm khác biệt nhỏ nhưng quan trọng khác cần lưu ý là độ tròn môi của hai phụ âm này Trong khi hình dáng môi tương đối tròn khi phát âm phụ âm /ʃ/, âm /s/ có khuynh hướng được phát âm với khuôn miệng dẹp hơn hoặc có sự linh hoạt hơn, nghĩa là phụ thuộc vào nguyên âm theo sau như Lujan (2014:6.1) đã mô tả ở nội dung a ở mục 1.2.2.2

1.4.2 Nét khu biệt giữa âm /s/ và /ʃ/ tiếng Anh với /s/ và /ʂ/ tiếng Việt

Để dự đoán, xác định và giải thích lỗi phát âm sai của sinh viên, việc xem xét nét khu biệt giữa hai cặp phụ âm xát trong tiếng Việt và tiếng Anh là một điều cần thiết Những kiến thức về các nét khu biệt đó có thể giúp giải thích được nguyên nhân của các lỗi sai có phải là do sinh viên áp dụng các đặc trưng phát âm trong tiếng Việt vào việc học phát âm tiếng Anh hay không, cụ thể là có phải do vị trí phân bố âm, vị trí cấu âm hoặc phương thức phát âm không tương đồng hay không Từ những mô tả âm xát /s/ và /ʃ/ tiếng Anh

với /s/ và /ʂ/ tiếng Việt nói trên, chúng tóm tắt các đặc điểm chính của hai cặp phụ âm

Vị trí cấu âm đầu lưỡi – răng

hàm trên

đầu lưỡi – chân răng sau hàm trên

đầu lưỡi – răng hàm dưới

đầu lưỡi – ngạc

Phương thức

cấu âm

xát, ồn, vô thanh

xát, ồn, vô thanh

xát, ồn, vô thanh

xát, ồn, vô thanh

Trang 36

29

Như vậy về phương thức và vị trí cấu âm, hai cặp phụ âm xát của tiếng Anh và tiếng Việt không có sự khác biệt đáng kể, ngoại trừ một điểm khác biệt nhỏ là so với phụ âm /ʃ/ trong tiếng Anh, đầu lưỡi tiến gần hơn về phía ngạc cứng khi phát âm phụ âm /ʂ/ trong tiếng Việt Điểm khác biệt quan trọng nhất là ở vị trí phân bố âm Trong khi hai phụ âm xát tiếng Anh có thể đứng ở vị trí đầu và cuối âm tiết, cặp phụ âm xát tiếng Việt chỉ có thể xuất hiện ở vị trí đầu âm tiết

Trang 37

30

Tiểu kết chương 1

Việc tìm hiểu những vấn đề về ngữ âm học, đặc điểm ngữ âm các phụ âm xát /s/ và /ʃ/ tiếng Anh, đặc điểm ngữ âm âm xát /s/ và /ʂ/ tiếng Việt là hết sức cần thiết hiện nay Việc này hình thành nên những tri thức căn bản về lĩnh vực phát âm, làm cơ sở để có được sự nhìn nhận, đánh giá thực trạng phát âm các phụ âm xát /s/ và /ʃ/ tiếng Anh một cách chính xác và khách quan

Khi tìm hiểu về ngữ âm học tổng quát, đặc điểm ngữ âm các phụ âm xát /s/ và /ʃ/ tiếng Anh, ngữ âm âm xát /s/ và /ʂ/ tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy những nét khu biệt cơ bản trong cấu trúc âm tiết, âm tố và âm vị của hai ngôn ngữ dẫn đến sự khác nhau cơ bản trong phát âm của hai ngôn ngữ, và điều đó giúp ích cho việc xác định được nguyên nhân gây ra lỗi khi phát âm tiếng Anh (nguyên nhân tiềm ẩn do ảnh hưởng bởi phát âm tiếng

mẹ đẻ - tiếng Việt), có thêm kinh nghiệm khi xây dựng chương trình học ngành Ngôn ngữ Anh và hoàn thiện phương pháp giảng dạy môn luyện âm

Những nội dung liên quan đến lý luận so sánh và đối chiếu của hai phụ âm xát tiếngViệt

và tiếng Anh cho thấy khác biệt về vị trí cấu âm và phương thức cấu âm của hai cặp phụ

âm trên là không đáng kể Điều đó cũng có nghĩa là khả năng người học vận dụng đặc điểm về vị trí và phương thức cấu âm của tiếng Việt để phát âm phụ âm xát trong tiếng Anh có thể bị loại bỏ Như vậy điều nghi vấn còn lại là sinh viên lược bỏ không phát âm hai phụ âm xát tiếng Anh ở vị trí giữa hai âm tiết của từ và cuối âm tiết là do vị trí phân

bố của phụ âm xát trong tiếng Anh đa dạng hơn, và dự đoán có thể đưa ra là sinh viên có thể sẽ nhầm lẫn âm /s/ trong tiếng Anh thành âm /ʃ/ hoặc âm /ʂ/ tiếng Việt khi phát âm các từ tiếng Anh có âm /s/ ở vị trí đầu âm tiết, và hiện tượng lược bỏ phụ âm /s/ và /ʃ/ hoặc lẫn lộn hai âm này ở vị trí cuối hoặc giữa hai âm tiết cũng sẽ khá phổ biến, vì đây là những vị trí mà phụ âm xát của tiếng Việt không hề hiện diện Nguyên nhân dẫn đến nhầm lẫn các phụ âm xát nói trên chủ yếu là do vị trí cấu âm có sự khác biệt giữa âm /s/ với âm /ʃ/ Đặc biệt ở sinh viên năm nhất

Ngày đăng: 27/01/2021, 14:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Ashton, H. & Shepherd, S. (2013), Work on Your Accent – Clearer Pronunciation for Better Communication, HarperCollins Publishers Limited Khác
[2] Avery, P. and Ehrlich, S. (1995), Teaching American English Pronunciation, Oxford University Press Khác
[3] Celce-Murcia, M., Brinton, D.M. and Goodwin, J. (1996), Teaching Pronunciation – A Reference for Teachers of English to Speakers of Other Languages, Cambridge University Press Khác
[4] Đoàn Thiện Thuật (2015), Lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Nhà xuất bản. Hà Nội Khác
[5] Jenkins J. (2000), The Phonology of Engish as an International Language, Oxford University Press Khác
[6] Lujan, B.A. (2004), The American Accent Guide – A comprehensive Course on the Sound System of American English, Lingual Arts Khác
[7] Mai Ngọc Chừ (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Khác
[8] Mark Hancock (2003), English Pronunciation in Use, Oxford University Press Khác
[9] Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, Nhà xuất bản ĐHQG HN, Hà Nội [10] O’Connor,J.D. (1992), Better English Pronunciation, Cambridge University Press [11] O’Connor,J.D. (1991), Sounds English, Cambridge University Press Khác
[12] Poedjosoedarmo, G. (2004), Teaching Pronunciation – Why, What, When, and How, SEAMEO Regional Language Centre Khác
[13] Roach, P. (2014), English Phonetics and Phonology, Cambridge University Press Khác
[14] Swan, M. and B. Smith (2001), Learner English (Second Edition), Cambridge University Press Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w