Lời đầu tiên học viên xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS.Nguyễn Quốc Hiển Trưởng Khoa Công trình giao thông - Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Trang 3NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: NGUYỄN HỮU ĐỨC MSHV: 11014242 Ngày, tháng, năm sinh: 10/01/1986 Nơi sinh: Đồng Nai
Chuyên ngành: Xây d ng Đường Ôtô và Đường Thành Phố
I TÊN ĐỀ TÀI : Nghiên cứu các biện pháp giáo dục người lái xe 2 bánh nhằm
nâng cao nhận thức về mối nguy hiểm trong giao thông tại thành phố Biên Hòa, Đồng Nai
NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG :
- Thu thập số liệu tìm nguyên nhân chủ yếu của các vụ tai nạn giao thông, tìm đối tượng chủ yếu gây ra các vụ tai nạn giao thông
- Xây d ng các biện pháp tuyên truyền xoay quanh các nguyên nhân chủ yếu của các vụ tai nạn giao thông nhằm nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông
- Khảo sát và đánh giá hiệu quả của biện pháp tuyên truyền đối với nhóm đối tượng chủ yếu gây ra các vụ tai nạn
II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 21/01/2013
III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : 22/11/2013
IV CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : TS NGUYỄN QUỐC HIỂN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS NGUYỄN QUỐC HIỂN
TP HCM, ngày tháng năm
CHỦ NHIỆM BỘ MÔN ĐÀO TẠO
TRƯỞNG KHOA XÂY DỰNG
Trang 4Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn của mình, học viên đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu của nhiều đơn vị, cá nhân liên quan về lĩnh vực nghiên cứu Lời đầu tiên học viên xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS.Nguyễn Quốc Hiển Trưởng Khoa Công trình giao thông - Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn học viên trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Học viên xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Cầu đường Trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Học viên xin chân thành cảm ơn các đồng chí công tác tại Ban An toàn giao thông tỉnh Đồng Nai, Sở Giao thông vận tải Đồng Nai, Đội Cảnh sát giao thông thành phố Biên Hòa đã tạo điều kiện thuận lợi cung cấp số liệu, tài liệu giúp học viên hoàn thành luận văn
Học viên xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ, góp ý nhiệt tình của người thân, bạn
bè và đồng nghiệp trong quá trình thực hiện luận văn của mình
Một lần nữa học viên xin chân thành cảm ơn!
Trang 5Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
TÓM TẮT
Tai nạn giao thông (TNGT) hiện nay được xem là một trong những vấn đề đáng
lo ngại mà toàn xã hội đang rất quan tâm Việc giảm thiểu tai nạn giao thông trong giai đoạn hiện nay được xem là bài toán khó đối với các bộ ngành từ Trung ương đến địa phương Về nguyên nhân của tai nạn giao thông có thể phân thành 3 nhóm nguyên nhân chủ yếu như sau:
Thứ nhất, cơ sở hạ tầng không đảm bảo về chất lượng và quy mô chưa tương xứng với nhu cầu khai thác thực tế
Thứ hai, hệ thống pháp luật cũng như các chế tài xử phạt chưa phát huy hiệu quả, một bộ phận người thực thi công vụ chưa làm tốt vai trò, nhiệm vụ được giao
Thứ ba, ý thức tham gia giao thông của từng cá nhân còn chưa cao
Trong thời gian qua, chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp như đầu tư phát triển
cơ cở hạ tầng giao thông, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các quy định về trật tự an toàn giao thông (ATGT), tăng cường công tác tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm, đẩy mạnh phong trào chống tiêu cực trong khi thi hành nhiệm vụ tuần tra, xử lý vi phạm trật tự ATGT Với các giải pháp đó, tình hình TNGT đã có giảm nhưng theo đánh giá chung thì vẫn còn cao so với các nước trên thế giới Hơn nữa, theo các số liệu tổng hợp
về các nguyên nhân gây ra TNGT thì nhóm nguyên nhân do ý thức của người tham gia giao thông chiếm số lượng chủ yếu
Trong khi các giải pháp tập trung vào nhóm nguyên nhân thứ nhất và thứ hai chưa đạt được hiệu quả như mong đợi thì công tác tuyên truyền ý thức tham gia giao thông được xem là nhiệm vụ trọng tâm và tác giả chọn đây là mục tiêu của đề tài Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá biện pháp tuyên truyền để nâng cao ý thức và nhận thức của người tham gia giao thông Trên cơ sở đó, các mục tiêu cụ thể của đề tài như sau:
- Thu thập số liệu tìm ra những nguyên nhân chủ yếu của các vụ tai nạn giao thông
- Thu thập số liệu tìm ra những đối tượng phổ biến gây ra các vụ tai nạn giao
Trang 6Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
- Trên cơ sở những kết quả thu được, tác giả đưa ra các kết luận và kiến nghị cụ thể để công tác tuyên truyền ý thức tham gia giao thông được đi đến từng người dân một cách hiệu quả
Trang 7Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy TS.Nguyễn Quốc Hiển Trưởng Khoa Công trình giao thông - Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và không có trong công bố của các công trình khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Nguyễn Hữu Đức
Trang 8
Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
MỤC LỤC
MỤC LỤC 5
DANH MỤC BIỂU BẢNG 7
DANH MỤC HÌNH ẢNH 8
PHẦN MỞ ĐẦU 10
1 Tính cấp thiết của đề tài 10
2 Cơ sở hình thành đề tài 12
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 14
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới: 14
1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIAO THÔNG 18
2.1 Giới thiệu: 18
2.2 Thực trạng giao thông 19
2.2.1 Mạng lưới đường quốc lộ, tỉnh lộ: 19
2.2.2 Mạng lưới đường do Thành phố quản lý: 27
2.2.3 Nút giao thông: 30
2.2.4 Các công trình phụ trợ: 33
2.2.5 Nhận xét mạng lưới cầu đường bộ thành phố: 34
2.3 Tình hình tai nạn giao thông: 35
2.3.1 Phương tiện gây tai nạn giao thông: 35
2.3.2 Các nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông: 36
2.3.3 Tỷ lệ giới tính vi phạm luật giao thông: 37
2.3.4 Độ tuổi gây tai nạn giao thông: 37
2.4 Nhận xét: 38
CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 39
3.1 Phương pháp nghiên cứu: 39
3.2 Xây dựng nội dung tuyên truyền: 40
Trang 9Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
CHƯƠNG 4: THU THẬP DỮ LIỆU VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 43
4.1 Lựa chọn mẫu phỏng vấn và cách thức tiến hành: 43
4.2 Khảo sát thử nghiệm: 44
4.3 Khảo sát chính thức: 45
4.3.1 Giới thiệu: 45
4.3.2 Kết quả khảo sát chính thức: 50
4.3.3 Tổng hợp và nhận xét chung kết quả khảo sát: 61
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
5.1 Kết luận: 64
5.2 Kiến nghị 64
5.2.1 Kiến nghị với Ban ATGT thành phố: 64
5.2.2 Kiến nghị cơ quan công an giao thông, thanh tra giao thông: 65
5.2.3 Kiến nghị phòng giáo dục đào tạo, các trường học: 65
5.2.4 Kiến nghị các tổ chức mặt trận, đoàn thể: 65
5.2.5 Kiến nghị các tổ chức chính trị cấp xã, phường, khu phố: 65
5.3 Hạn chế của đề tài: 66
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo: 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHẦN PHỤ LỤC 68
Trang 10Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 1.1: Thống kê các nước có tỷ lệ TNGT cao năm 2007 10
Bảng 2.1: Tổng hợp hiện trạng quốc lộ, tỉnh lộ 26
Bảng 2.2: Tổng hợp hệ thống đường giao thông Thành phố Biên Hòa 27
Bảng 2.3: Lưu lượng giao thông trên một số tuyến đường bộ chủ yếu 29
Bảng 2.4: Số lượng các loại phương tiện gây TNGT 36
Bảng 2.5: Các nguyên nhân gây tai nạn 36
Bảng 2.6: Tỷ lệ giới tính gây ra TNGT 37
Bảng 2.7: Độ tuổi gây ra TNGT 37
Bảng 4.1: Kết quả khảo sát trước khi được tuyên truyền 61
Trang 11Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Bản đồ tổng thể thành phố Biên Hòa 18
Hình 2.2: Bản đồ các trục giao thông chính tại thành phố Biên Hòa 19
Hình 2.3: Đường Quốc lộ 1 21
Hình 2.4: Đường Quốc lộ 1K 22
Hình 2.5: Đường Quốc lộ 51 23
Hình 2.6: Đường Quốc lộ 15 24
Hình 2.7: Đường tỉnh 760 (đường Bùi Hữu Nghĩa) 25
Hình 2.8: Đường tỉnh 768 (đường Huỳnh Văn Nghệ) 26
Hình 2.9: Nút giao Ngã tư Vũng Tàu 30
Hình 2.10: Nút giao ngã tư Tam Hiệp 31
Hình 2.11: Nút giao ngã ba Sặt (công viên 30/4) 32
Hình 2.12: Nút giao ngã tư Vườn Mít 33
Hình 3.1: Lược đồ phương pháp nghiên cứu 40
Hình 4.2: Tác giả hướng dẫn các bạn cách điền phiếu khảo sát 47
Hình 4.3: Các bạn tiến hành trả lời phiếu khảo sát lần 01 49
Hình 4.4: Tác giả cho các bạn xem tài liệu tuyên truyền ATGT 49
Hình 4.5: Tác giả phát phiếu khảo sát lần 02 cho các bạn 50
Hình 4.6: Biểu đồ kết quả khảo sát câu hỏi số 1 51
Hình 4.7: Biểu đồ kết quả khảo sát câu hỏi số 2 52
Hình 4.8: Biểu đồ kết quả khảo sát câu hỏi số 3 53
Hình 4.9: Biểu đồ kết quả khảo sát câu hỏi số 4 54
Hình 4.10: Biểu đồ kết quả khảo sát câu hỏi số 5 55
Hình 4.11: Biểu đồ kết quả khảo sát câu hỏi số 6 56
Hình 4.12: Biểu đồ kết quả khảo sát câu hỏi số 7 57
Hình 4.13: Biểu đồ kết quả khảo sát câu hỏi số 8 58
Hình 4.14: Biểu đồ kết quả khảo sát câu hỏi số 9 59
Trang 12Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển Hình 4.15: Biểu đồ kết quả khảo sát câu hỏi số 10 60
Trang 13Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tai nạn giao thông đường bộ đang là vấn đề xã hội mang tính toàn cầu mà các quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm TNGT đường bộ làm chết hơn 1,2 triệu người, hơn 50 triệu người khác bị thương hoặc tàn tật, thiệt hại vật chất khoảng 518 tỷ USD Hơn 90% số người tử vong do TNGT đường bộ đều ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình Đối tượng phải chịu hậu quả nhiều nhất là những người đi bộ, đi xe đạp, xe gắn máy và TNGT đường bộ đã trở thành nguyên nhân tử vong hàng đầu đối với nhóm trẻ em và thanh niên trong độ tuổi
Số người chết /100.000 dân
Trang 14Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
vấn đề rất đáng quan tâm của xã hội và ở một mức độ nào đó được xem là một quốc nạn Bình quân 5 năm trở lại đây, mỗi năm cả nước có trên 12.000 người chết và trên 35.000 người bị thương do TNGT, trong đó TNGT đường bộ chiếm chủ yếu Ước tính thiệt hại về người và tài sản do TNGT gây ra ở Việt Nam hàng năm lên đến 40.000 tỷ đồng chiếm 0,56% tổng sản phẩm GDP cả nước
Để giải quyết tình hình TNGT trong nước, Chính phủ đã đặt mục tiêu giảm từ 5% đến 10% số vụ tai nạn, số người chết và bị thương do TNGT hàng năm [2] Giải pháp lâu dài được Chính phủ đưa ra nhằm đạt được mục tiêu trên là tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về trật tự ATGT đảm bảo tính đồng bộ và xây dựng chế tài xử phạt vi phạm hành chính đảm bảo có hiệu lực, nâng cao mức xử phạt đối với các hành
vi vi phạm trật tự ATGT Cùng với đó, Chính phủ cũng tiếp tục đầu tư mở rộng các tuyến quốc lộ trọng yếu, xây dựng các tuyến đường tránh đi qua khu vực thành phố, thị
xã, mở rộng các trục đường chính qua thành phố để có thể tổ chức giao thông một chiều, tách làn ô tô và xe máy đi riêng, bắt đầu đầu tư xây dựng đường cao tốc Bắc Nam, đầu tư hệ thống giám sát giao thông bằng camera trên các tuyến quốc lộ và đường đô thị, thu phí lưu hành phương tiện giao thông cá nhân,… Công tác tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm được tăng cường, đẩy mạnh phong trào chống tiêu cực trong khi thi hành nhiệm vụ tuần tra, xử lý vi phạm trật tự ATGT,…
Nhờ vậy, trong những năm qua, tình hình TNGT có giảm đáng kể, đặc biệt là năm 2012 Cụ thể trong năm 2012, toàn quốc xảy ra khoảng 36.000 vụ, làm chết khoảng 10.000 người, bị thương khoảng 38.000 người, giảm 17% về số vụ, 14% số người chết và 20% số người bị thương so với năm 2011 [3] Tuy nhiên, theo đánh giá chung tình hình TNGT năm 2012 có giảm nhưng chưa bền vững Các giải pháp đã đưa
ra và có hiệu quả nhưng triển khai không đồng bộ, thiếu chiều sâu, kinh phí cho các dự
án đầu tư hạ tầng lại rất tốn kém nhất là trong thời điểm kinh tế đang khó khăn như hiện nay, các giải pháp hạn chế TNGT chủ yếu tập trung nhiều vào chế tài xử phạt vi phạm hành chính mà không đi sâu tác động vào ý thức chấp hành giao thông của người dân
Trang 15Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Đồng Nai cũng được xem là một tỉnh mà tình hình TNGT diễn biến khá phức tạp Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong những năm vừa qua, TNGT xảy ra trên 700 vụ (gồm
cả va chạm), làm chết trên 350 người, bị thương trên 900 người Tỷ lệ số người chết tính trên 100.000 dân là 12 người Tỷ lệ số người chết do TNGT đường bộ trên 10.000
xe cơ giới là 2 người Nguyên nhân gây tai nạn giao chủ yếu do ý thức chủ quan của người điều khiển phương tiện như chạy quá tốc độ, lấn trái, lái xe không đúng phần đường quy định, lái xe đi vào đường cấm, đường ngược chiều, lái xe chuyển hướng không đúng quy định, thiếu chú ý quan sát Tương tự như tình trạng chung của cả nước, nhóm tuổi chủ yếu gây TNGT là 18 – 26 tuổi (chiếm 26%) [4]
2 Cơ sở hình thành đề tài
Để thay đổi ý thức tham gia giao thông của con người đòi hỏi phải mất rất nhiều thời gian vì phải thay đổi cả thái độ và hành vi ứng xử của con người trong cách thức tham gia giao thông bởi vì việc tuân thủ các quy tắc ATGT hiện nay chưa được chấp hành một cách nghiêm túc Có thể việc làm này sẽ phải kéo dài từ thế hệ này sang thế
hệ khác mới có thể thay đổi cách nghĩ, cách làm và cách ứng xử đúng khi tham gia giao thông từ đó góp phần xây dựng tính tự giác chấp hành luật lệ giao thông, chống ùn tắc, và xa hơn là kiềm chế và đẩy lùi TNGT
Như đã đề cấp ở trên, thanh niên tuổi từ 18 đến 26 là lứa tuổi có tỷ lệ gây tai nạn cao nhất Điều này có thể dễ dàng lý giải là lứa tuổi này còn trẻ, kinh nghiệm thực tế tham gia giao thông chưa nhiều Mặt khác, do ý thức chủ quan, thiếu tính cẩn thận, hơn nữa nhiều bạn trẻ vốn rất háo thắng, bốc đồng và thích thể hiện bản thân trước đám đông bằng cách phóng nhanh, vượt ẩu Do vậy, nếu sử dụng các giải pháp tuyên truyền, giáo dục về thức tham gia giao thông thì đối tượng này phải là nhóm đầu tiên cần hướng đến
Mặc dù hiện nay việc thi bằng lái xe bắt buộc phải trải qua các lớp học kỹ năng lái xe và lý thuyết thông qua các điều luật và quy định Tuy nhiên việc giảng dạy và thi
cử vẫn còn một số hạn chế và mang tính đối phó Thậm chí tình trạng mua giấy phép lái xe vẫn còn xảy ra Điều này dẫn đến tình trạng một số người đã được cấp giấy phép
Trang 16Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
lái xe nhưng thực tế vẫn chưa nắm rõ luật và các quy định, khi tham gia giao thông trên đường vẫn thường xuyên vi phạm các quy định thậm chí gây ra các vụ tai nạn giao thông Do đó, tác giả nhận thấy rằng bên cạnh việc học nâng cao các kỹ năng và nắm vững các quy định thì việc tuyên truyền giáo dục ý thức tham gia giao thông đến từng người thông qua những hình ảnh cụ thể, trực quan là rất cần thiết
Từ những lý do nêu trên, tác giả thiết nghĩ đây là một vấn đề khá cấp thiết tại Việt
Nam nên tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu các biện pháp giáo dục người lái xe 2 bánh nhằm nâng cao nhận thức về mối nguy hiểm trong giao thông tại thành phố Biên Hòa, Đồng Nai”
Trang 17Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Trên thế giới hiện nay không có nhiều nghiên cứu tập trung vào việc giáo dục ý thức người tham gia giao thông, chấp hành tốt luật lệ và đưa ra những đánh giá cụ thể
mà chủ yếu tập trung nghiên cứu nhiều vào các giải pháp nhằm hạn chế TNGT Cụ thể như:
Trong bài The importance of confounding in observational before-and-after
studies of road safety measures” [6] của tác giả Rune Elvik có nghiên cứu các giải
pháp nhằm giảm thiểu TNGT và thu được kết quả khá rõ rệt Các giải pháp cụ thể như: phân làn giao thông để người đi bộ và đi xe đạp tách hẳn ra khỏi làn xe ô tô, xây dựng tuyến đường vượt qua 20 thị trấn nhỏ ở Na Uy, xây dựng những trục đường chính ở các khu đô thị mới tại thị trấn Bergen, mở rộng đường từ hai đến bốn làn xe và bổ sung thêm dải phân cách trên các đường huyết mạch ở thành phố Trondheim, xử lý các điểm đen, chủ yếu là nơi các phương tiện giao thông giao nhau, xử l đường cong nằm ngang, quản lý tốc độ bằng camera Kết quả đạt được là 4 năm trước khi thực hiện các giải pháp thì có 323 vụ tai nạn và 4 năm sau khi thực hiện các giải pháp thì số vụ tai nạn còn 268 vụ
Trong bài Improving road safety education in developing countries; Ghana” [7],
nhóm tác giả I Sayer, C J Palmer, G Murray and J Guy đã nghiên cứu việc sử dụng
các bài giảng cho các em học sinh về cách ứng xử ATGT trong các trường hợp thực tế như an toàn khi đi bộ, quan sát khi đi đường, qua đường đoạn có dải phân cách hoặc băng qua đường nơi không có các dải phân cách, lựa chọn các tuyến đường lưu thông
an toàn Trong giai đoạn đánh giá, tác giả đã sử dụng các bảng câu hỏi để đo lường mức độ hiểu biết đồng thời kiểm tra kiến thức của các em sau khi được giảng giải Đó đều là những kiến thức về các hành vi an toàn, và những hành vi không an toàn khi tham gia giao thông Thông qua các kết quả kiểm tra đó tác giả nhận thấy rằng hành vi giao thông của các em đều có những chuyển biến tích cực hơn
Trang 18Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Trong bài Comparison of self-reported and computer-based hazard perception
skills among novice and experienced drivers [8] của tác giả Nebi Sumer công tác tại
Khoa Tâm l trường Đại học Kỹ thuật Trung Đông nkara, Thổ Nhĩ Kỳ nghiên cứu về khả năng nhận thức nguy hiểm tiềm ẩn trong giao thông bằng cách sử dụng các biện pháp mô phỏng trên máy tính và dùng các video clip Trong nghiên cứu này, tác giả đo thời gian phản ứng của nhóm người ít có kinh nghiệm tham gia giao thông và nhóm người có nhiều kinh nghiệm tham gia giao thông bằng cách sử dụng các video clip phản ánh những tình huống giao thông thực tế Tham gia nghiên cứu gồm có 43 người
ít kinh nghiệm và 65 người có kinh nghiệm được kiểm tra trên máy vi tính Kết quả cho thấy người có kinh nghiệm có thời gian phản ứng ngắn hơn so với người không có kinh nghiệm tham gia giao thông Như vậy qua kết quả thử nghiệm này ta thấy được người lớn có khả năng xử lý các tình huống giao thông tốt hơn và nhanh hơn các bạn trẻ
Trong nghiên cứu ccident risk factors of young drivers and targeted
countermeasures” [9] của PGS.TS George Yannis công tác tại Sở Kế hoạch và Kỹ thuật Giao thông vận tải, Kỹ thuật Quốc gia Đại học Athens, tác giả đã nghiên cứu về
kinh nghiệm tham gia giao thông của các bạn trẻ và các biện pháp giảm thiểu tai nạn cho họ Kết quả của nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của kinh nghiệm tham gia giao thông, những người đã có kinh nghiệm tham gia giao thông có tỷ lệ tai nạn thấp hơn đặc biệt là những người ở độ tuổi từ 21-24 tuổi Nam có xu hướng gặp tai nạn nhiều hơn nữ, xu hướng này giảm dần theo độ tuổi và số thâm niên tham gia lưu thông Người đi xe hai bánh có tỷ lệ rủi ro cao hơn so với người đi xe ô tô Nguy cơ tai nạn cũng phần nào chịu ảnh hưởng bởi công suất của động cơ, đặc biệt là xe máy Lái xe vào ban đêm và đặc biệt là trong những ngày cuối tuần cũng là một trong những điều kiện khách quan thiếu an toàn khi tham gia lưu thông Nghiên cứu này đã đưa ra biện pháp nhằm cải thiện ATGT là cần phải có một chương trình đào tạo và cấp phép tham gia giao thông, bên cạnh đó là những lời khuyên hạn chế lái xe về đêm và cuối tuần, các biện pháp chế tài cấm những công dân chưa đủ tuổi điều khiển các loại xe có tốc
Trang 19Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
độ cao Các biện pháp khác cũng đã được đề xuất như là tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng khi tham gia giao thông, tổ chức các lớp học tại trường về việc điều khiển phương tiện giao thông và hành vi an toàn đường bộ
1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, hiện nay tập trung khá nhiều trong công tác giáo dục tuyên truyền
ý thức chấp hành luật lệ giao thông Tuy nhiên, vẫn chưa có một đánh giá cụ thể nào đạt được kết quả cao Một số chương trình triển khai tuyên truyền giáo dục như sau: Chương trình Toyota cùng em học ATGT: Từ năm học 2005-2006 Quỹ Toyota Việt Nam phối hợp với Bộ Giáo dục - Đào tạo và Ủy ban ATGT Quốc gia thực hiện chương trình Toyota cùng em học ATGT Chương trình này thông qua các trò chơi để giáo dục các em nhỏ kiến thức tham gia giao thông Các trò chơi này khá hấp dẫn và lý thú đối với các em, giúp các em dễ nhớ và hứng thú học những kiến thức, kỹ năng về ATGT Với những hiệu quả mà chương trình này mang lại, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định kết hợp lồng ghép các tài liệu của chương trình này vào chương trình giảng dạy chung về giáo dục ATGT đã và đang được triển khai ở cấp tiểu học trên toàn quốc Cuộc thi viết báo chí tuyên truyền về ATGT: Ủy ban ATGT Quốc gia cùng Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức cuộc thi viết báo chí tuyên truyền về ATGT năm
2012 Sau 6 tháng phát động, đã có 1.000 tác phẩm của 65 cơ quan báo chí trên cả nước tham gia và dự thi ở 6 thể loại là bài phản ánh, ghi chép, bình luận, phóng sự, điều tra, bút ký báo chí Với việc tuyên truyền mảng đề tài, giải báo chí tuyên truyền về ATGT góp phần nâng cao mạnh mẽ ý thức tham gia giao thông của mọi người nhằm kiềm chế ùn tắc và TNGT, vì sự an toàn của mỗi người mỗi nhà khi tham gia giao thông, đồng thời biểu dương các cá nhân, tập thể điển hình và phê phán các hành vi ảnh hưởng đến việc bảo đảm trật tự ATGT
Tỉnh đoàn Bến Tre phát động kế hoạch hành động đảm bảo trật tự ATGT năm
2013 qua việc đẩy mạnh và đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền: Liên tục triển khai các hoạt động tuyên truyền đến đoàn viên thanh niên, học sinh – sinh viên với phương châm Kiên trì, kiên quyết, liên tục và đồng bộ”, đồng loạt thay đổi phương pháp tuyên
Trang 20Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
truyền thông qua hình ảnh trực quan bằng máy chiếu tại cơ quan, trong các buổi sinh hoạt Chi đoàn, Chi hội, Chi đội hàng tháng, sinh hoạt lớp, các buổi họp mặt bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng Tăng cường tuyên truyền trực quan, sử dụng thông điệp, pano, áp phích, tờ rơi, băng rôn, khẩu hiệu, triển lãm tranh ảnh, kịch tương tác, các hội thi…Tổ chức và tuyên truyền sản phẩm từ các cuộc vận động sáng tác âm nhạc, phim ảnh, văn học nghệ thuật về an toàn giao thông Sử dụng các khẩu hiệu tuyên truyền tại các nơi công cộng Củng cố 100% Đội Thanh niên xung kích giữ gìn trật tự an toàn giao thông ở các xã, phường, thị trấn Thành lập mới và củng cố Đội Thanh niên xung kích trong các trường học nhằm tăng cường phối hợp và tham gia tốt công tác tuyên truyền về trật tự ATGT Giúp cho lực lượng chức năng kịp thời phát hiện và kiên quyết
xử l thật nghiêm các vụ việc vi phạm nhằm làm chuyển biến r n t công tác đảm bảo trật tự ATGT, quyết tâm k o giảm TNGT trên phạm vi toàn tỉnh
Trang 21Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIAO THÔNG
2.1 Giới thiệu:
Thành phố Biên Hòa nằm ở phía tây tỉnh Đồng Nai, phía Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu, phía Nam giáp huyện Long Thành, phía Đông giáp huyện Trảng Bom, phía Tây giáp huyện Tân Uyên, thị xã Dĩ n tỉnh Bình Dương và Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh Biên Hòa ở hai phía của sông Đồng Nai, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh
30 km, cách thành phố Vũng Tàu 90 Km
Hình 2.1: Bản đồ tổng thể thành phố Biên Hòa Thành phố Biên hòa là Trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học kĩ thuật của tỉnh Đồng Nai, là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Đồng Nai và có Quốc lộ 1 đi ngang qua Tổng diện tích tự nhiên là 264,08 km2 Theo thống kê năm
2012, dân số thành phố khoảng 900.000 dân, mật độ dân số là 3.408 người/km² Nguyên nhân của sự gia tăng dân số thành phố là do số dân di cư rất lớn từ các nơi khác đến để làm tại các khu công nghiệp Hiện nay, thành phố Biên Hòa là thành phố
Trang 22Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
thuộc nhóm tỉnh có dân số cao nhất Việt Nam
Biên Hòa có tiềm năng to lớn để phát triển công nghiệp với nền đất l tưởng, thuận lợi cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, có nguồn tài nguyên khoáng sản với trữ lượng khai thác đáng kể, nhất là tài nguyên khoáng sản về vật liệu xây dựng, thuận lợi về nguồn cung cấp điện, có nguồn nước dồi dào đủ cung cấp nhu cầu sản xuất và sinh hoạt (sông Đồng Nai), ngoài ra nguồn nhân lực với trình độ cao ngày càng tăng đáp ứng được cho yêu cầu phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa của tỉnh
2.2 Thực trạng giao thông 2.2.1 Mạng lưới đường quốc lộ, tỉnh lộ:
Với tầm quan trọng trọng khu vực Đông Nam Bộ, thành phố Biên Hòa có các trục đường quốc lộ, tỉnh lộ thông suốt cho khả năng vận hành giao thông khá hiệu quả
Hình 2.2: Bản đồ các trục giao thông chính tại thành phố Biên Hòa Như thể hiện ở hình 2.2, chạy qua địa bàn thành phố Biên Hòa gồm có 4 quốc lộ
và 2 tỉnh lộ Chúng đóng vai trò giao thông huyết mạch phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng Quốc lộ 1 bắt đầu từ huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai đi theo hướng
768
768
760
15
Trang 23Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
nam qua thành phố Biên Hòa đến thành phố Hồ Chí Minh là tuyến giao thông kết nối các huyện thuộc phía bắc tỉnh Đồng Nai với thành phố Hồ Chí Minh, lưu lượng giao thông cao bao gồm nhiều tuyến xe đi từ Bắc – Trung – Nam Quốc lộ 1K từ thành phố Biên Hòa đi theo hướng nam ngang qua Bình Dương đến thành phố Hồ Chí Minh giao thông chủ yếu là các xe thuộc các tỉnh Đông Nam Bộ lưu lượng nhìn chung khá cao Quốc lộ 51 từ thành phố Biên Hòa đi theo hướng đông sang tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lưu lượng giao thông lớn do mật độ dân cư khu vực này rất đông Quốc lộ 15 từ thành phố Biên Hòa đi theo hướng đông nam sang huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai lưu lượng khá lớn nhưng chủ yếu là các xe 2 bánh, ô tô và các xe tải nhỏ giao thông chủ yếu là trong tỉnh Tổng chiều dài 4 tuyến quốc lộ đoạn qua thành phố Biên Hòa là 29,11 km Tỉnh lộ ĐT760 đi từ phường Tân Vạn thành phố Biên Hòa dọc sông Đồng Nai theo hướng tây bắc về phía tỉnh Bình Dương, lưu lượng ở mức trung bình, phương tiện giao thông chủ yếu là các xe tải chở vật liệu từ các mỏ đá Hóa n, mỏ đá BBCC Tỉnh lộ ĐT768 xuất phát từ cầu Hóa An thành phố Biên Hòa đi theo hướng bắc về phía huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai lưu lượng thưa thớt do tuyến đường hiện đang xuống cấp và mật độ dân cư trong khu vực thưa thớt Tổng chiều dài 2 tỉnh lộ đoạn qua thành phố Biên Hòa là 14,1km Tình trạng các tuyến này cụ thể như sau:
Quốc lộ 1: (Từ ngã 4 Vườn Mít đến ranh giới phường Tân Hòa giáp huyện
Trảng Bom) dài 13,45 km, toàn tuyến đã được xây dựng lại với đoạn từ ngã 4 Vườn Mít đến cầu Tân Hiệp chuyển thành đường đôi, chiều dài 1,65km Quy mô đường thể hiện như hình 2.3 với bề rộng mặt đường 21m
Trang 24Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Hình 2.3: Đường Quốc lộ 1
Quốc lộ 1K: (Từ ranh giới phường Bửu Hòa giáp Bình Dương đến ngã 4
Vườn Mít) dài 5,06 km, lộ giới 55m, bề rộng 12m
Trang 25Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Hình 2.4: Đường Quốc lộ 1K
Quốc lộ 51: Đoạn từ ngã 3 Vũng Tàu đến đoạn cắt QL 15 (cổng số 11), chiều
dài 5,2km, mặt đường 9,5m x 2, dải phân cách ở giữa rộng 2m, đường cho xe thô sơ 1,5m x 2, lộ giới 24m
Trang 26Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Hình 2.5: Đường Quốc lộ 51
Quốc lộ 15: Gồm 2 đoạn:
- Đoạn từ cổng số 11 đến ngã tư Tam Hiệp, nối Biên Hòa với quốc lộ 51 đi Vũng Tàu, dài 5,4km, rộng 10,5m, trước thuộc khu vực quốc phòng quản lý, hiện giao ngành GTVT quản lý
Trang 27Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Hình 2.6: Đường Quốc lộ 15
- Đoạn từ ngã tư Tam Hiệp đến Vườn Mít dài 5,05km, đã được mở rộng mặt đường 10,5m, vỉa hè 2 x 5,0m, lộ giới 20,5m
Đường tỉnh 760 (TL16): (hay còn gọi là đường Bùi Hữu Nghĩa đi từ cầu Bà
Lồ đến ranh giới xã Tân Hạnh giáp với Bình Dương) dài 8,7km, đã được đầu tư nâng cấp rải nhựa, mặt đường rộng 11 m
Trang 28Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Hình 2.7: Đường tỉnh 760 (đường Bùi Hữu Nghĩa)
Đường tỉnh 768: (Từ ngã 4 QL 1K đến thị trấn Vĩnh n (Vĩnh Cữu) nối trung
tâm thành phố Biên Hòa với khu du lịch Bửu Long và thị trấn Vĩnh n, đoạn đường qua thành phố dài 5,4km, đã được đầu tư nâng cấp mở rộng, lộ giới 24m, mặt đường 14m, vỉa hè 5m x 2
Trang 29Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Hình 2.8: Đường tỉnh 768 (đường Huỳnh Văn Nghệ) Hiện trạng các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ trên địa bàn thành phố được tổng hợp như ở bảng 2.1
Trang 30Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
2.2.2 Mạng lưới đường do Thành phố quản lý:
Trên toàn thành phố có 925 tuyến đường, nhưng do phân cấp Thành phố chỉ quản
lý 40 tuyến với tổng chiều dài khoảng 56 km Tình hình cụ thể từng tuyến được thể hiện trong bảng sau
Bảng 2.2: Tổng hợp hệ thống đường giao thông Thành phố Biên Hòa
Stt Tên đường K/c mặt
đường
Rộng mặt (m)
K/c lề đường
Rộng
lề (m)
Dài (m)
Trang 31Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Trang 32Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
a Lưu lượng giao thông trên một số tuyến chính
Do đặc thù là Thành phố có nhiều Quốc lộ đi qua, là trung tâm của tỉnh nên lưu lượng phương tiện lưu thông trên địa bàn Biên Hòa khá lớn Kết hợp số liệu khảo sát đếm xe ngoài thực địa của nhiều dự án và của dự án HOUTRANS, lưu lượng xe trên một số tuyến chính của thành phố như sau:
Bảng 2.3: Lưu lượng giao thông trên một số tuyến đường bộ chủ yếu
Tên tuyến Vị trí trên tuyến Năm 2013
Trang 33Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
2.2.3 Nút giao thông:
Toàn bộ nút giao trên địa bàn thành phố Biên Hòa là giao cắt đồng mức, chưa có giao cắt khác mức nên vấn đề kẹt xe, đặc biệt vào những giờ cao điểm là không tránh khỏi
a Nút giao Ngã tƣ Vũng Tàu :
Đây là nút giao có quy mô lớn nhất trên địa bàn thành phố, là nút giao hình tròn,
có bốn nhánh (giao cắt giữa QL 51 và QL 1) Hoạt động tương đối tốt vào giờ bình thường, tuy nhiên vào giờ cao điểm thì trở nên quá tải dẫn đến ách tắc giao thông Đặc biệt là hướng từ TP HCM ra, do lưu lượng xe tăng nhanh trong những năm gần đây
Hình 2.9: Nút giao Ngã tư Vũng Tàu
b Nút giao ngã tƣ Tam Hiệp :
Đây là nút giao có quy mô lớn thứ hai sau nút giao ngã tư Vũng Tàu, có dạng hình tròn, giao cắt giữa QL 1 và QL 15 Là của ng vào Tp Biên Hòa, nút này tương đối thông thoáng hơn nút ngã tư Vũng Tàu (do một phần lưu lượng đã lưu thông vào
QL 51 đi Vũng Tàu)
Trang 34Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Hình 2.10: Nút giao ngã tư Tam Hiệp
c Nút giao ngã 3 Sặt :
Đây là nút giao hình tam giác, giao cắt giữa QL 1A và QL 1 Nút giao này tương đối lớn, do ngoài chức năng phân luồng giao thông còn là một công viên nhỏ kết hợp với chức năng là trạm xe buýt Tuy nhiên trong tương lai khi đô thị hoá phát triển thì việc quy hoạch nút giao này theo từng chức năng riêng biệt là điều hết sức cần thiết Hiện tại cây xanh trồng trên nút này khá lớn gây cản trở tầm nhìn
Trang 35Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Hình 2.11: Nút giao ngã ba Sặt (công viên 30/4)
d Nút giao ngã tư Vườn Mít :
Đây là nút giao cắt bằng, là điểm giao cắt giữa QL 1K, QL 15 và QL 1A Nút tương đối nhỏ, hình tam giác, nút có vai trò như một đảo dẫn hướng
Trang 36Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Hình 2.12: Nút giao ngã tư Vườn Mít
2.2.4 Các công trình phụ trợ:
a Biển báo :
Trong tổng số 40 tuyến đường do thành phố Biên Hòa quản lý, 21 tuyến đã được lắp đặt biển báo Hầu hết các tuyến quốc lộ, tuyến đường tỉnh đi qua địa bàn thành phố đều đã được lắp đặt biển báo Tổng số biển báo trên địa bàn thành phố vào khoảng 503 biển báo các loại
Trang 37Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Một số giao lộ có lắp đặt hệ thống đèn tín hiệu:
- Ngã 3 Bồn Nước (giao cắt giữa Quốc lộ 1 và đường vào Khu Công nghiệp Biên Hòa 1)
- Ngã 3 Quốc lộ 1 và đường vào nhà máy nước Thiện Tân
- Ngã tư Quốc lộ 1 và đường Võ Thị Sáu
- Ngã 3 Quốc lộ 1 và đường CMT 8
- Ngã 3 Quốc lộ 15 và đường vào công ty gốm Đồng Nai
- Quốc lộ 1K và đường vào khu không quân
- Ngã 3 giữa Quốc lộ 1K và đường Cây Chàm
- Ngã 3 giữa Quốc lộ 1K và đường Phan Đình Phùng
2.2.5 Nhận xét mạng lưới cầu đường bộ thành phố:
Các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ có vị trí phân bố khá hợp lý nhờ đó khả năng khai thác sử dụng cao đáp ứng được nhu cầu giao thông vận tải trọng yếu của vùng và trong tỉnh Hiện nay các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ đã được mở rộng đáp ứng đủ lưu lượng thực tế nhờ vậy tình hình ùn tắc đã giảm đi rất nhiều
Mạng lưới đường nội ô phân bố tương đối hợp lý, song việc thiếu các tuyến vành đai, các tuyến trục chính nan quạt dẫn đến sự nối kết chung của toàn mạng chưa được liên hoàn, chưa tạo được sự gắn kết chặt chẽ giữa khu vực trung tâm và ngoại ô Đường
đô thị tập trung tại các phường trung tâm thành phố, đặc biệt mạng đường được kết nối tốt ở các phường như: Trung Dũng, Quyết Thắng, Thống Nhất, Thanh Bình, Tân Tiến, Tân Mai Trục đường chính là QL 1K, QL 1 và QL 15 Số lượng cầu qua sông Đồng
Nai và kênh rạch ở phía Nam còn hạn chế
Ngoài các tuyến quốc lộ, nhìn chung các tuyến đường trong thành phố có bề rộng mặt đường hẹp, một số tuyến khá quanh co làm ảnh hưởng đến tầm nhìn khi chạy xe Một số tuyến có mặt đường đã xuống cấp chưa được nâng cấp kịp thời, đặc biệt vỉa hè các tuyến đường chưa được nâng cấp hoàn chỉnh, hiện tượng lấn chiếm vỉa hè khá phổ biến
Các nút giao là giao cùng mức nên tốc độ lưu thông tại vị trí nút giao khá chậm
Trang 38Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Mặt khác mặt bằng xây dựng tại vị trí các nút giao không đảm bảo rộng nên khả năng lưu thông không cao Vào giờ cao điểm hoặc dịp lễ Tết thì có xảy ra tình trạng ùn ứ Chỉ tiêu về giao thông còn rất thấp so với yêu cầu của đô thị loại 2:
- Mật độ đường chính: 0,64km/km2 (tiêu chuẩn 2,5 – 3,2km/km2)
- Chiều dài đường chính: 0,1m/người (tiêu chuẩn 0,20 – 0,25m/người)
- Diện tích đường chính: 5,71m2/người (tiêu chuẩn 9 – 13m2/người)
Trong những năm qua tỉnh Đồng Nai và Thành phố Biên Hòa đã chú đầu tư nâng cấp cải tạo đường và xây dựng mới các cầu trong thành phố Nhờ vậy giảm được ách tắc giao thông đáng kể
2.3 Tình hình tai nạn giao thông:
Do đặc thù là trung tâm của tỉnh, đang trên đà phát triển mạnh về mọi mặt nên tình hình TNGT của Thành phố diễn biến rất phức tạp với mức độ ngày càng nghiêm trọng Theo báo cáo của phòng cảnh sát giao thông thành phố Biên Hòa, trong năm
2012 toàn thành phố xảy ra trên 90 vụ, làm trên 80 người chết và trên 160 người bị thương Cụ thể về phương tiện gây tai nạn, nguyên nhân gây tai nạn, độ tuổi và giới
tính gây tai nạn được thể hiện qua các số liệu như sau:
2.3.1 Phương tiện gây tai nạn giao thông:
Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, tốc độ cơ giới hóa và hiện đại hóa tăng nhanh dẫn đến hàng loạt phương tiện tham gia giao thông ra đời với số lượng lớn Trong đó phải kể đến như xe ô tô, xe gắn máy, xe đạp, xe bus, xe tải, tàu hỏa, Tại thành phố Biên Hòa các loại phương tiện tham gia giao thông với số lượng chủ yếu bao gồm xe ô tô, xe gắn máy, xe đạp Đây cũng là thành phần chủ yếu gây ra các vụ tai nạn trên địa bàn thành phố Theo số liệu thu thập được của đội cảnh sát giao thông thành phố như sau:
Trang 39Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Bảng 2.4: Số lượng các loại phương tiện gây TNGT
Phương tiện Xe ô tô Xe gắn máy Xe thô sơ Bộ hành
Như thể hiện ở bảng 2.4, số vụ TNGT do người điều khiển xe gắn máy chiếm tỷ
lệ cao nhất Do vậy, để góp phần giảm thiểu số vụ tai nạn chúng ta cần tập trung nhiều hơn nữa trong việc tuyên truyền ý thức giao thông đối với nhóm người lái xe gắn máy
2.3.2 Các nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông:
TNGT đang là nỗi lo của toàn xã hội, đặc biệt là số vụ TNGT gây chết người đang có chiều hướng gia tăng Theo thống kê của các cơ quan chức năng, hơn 80% các
vụ TNGT là do người điều khiển phương tiện tham gia giao thông không chấp hành nghiêm các quy định pháp luật về trật tự ATGT
Bảng 2.5: Các nguyên nhân gây tai nạn
Trang 40Học viên: Nguyễn Hữu Đức GVHD: TS Nguyễn Quốc Hiển
Như thể hiện ở bảng 2.5, số vụ TNGT do nguyên nhân chạy quá tốc độ, đi không đúng phần đường, tránh vượt sai quy định, say rượu bia chiếm tỷ lệ cao Hiện nay ý thức chủ quan khi tham gia giao thông của mọi người được xem là nguyên nhân hàng đầu của các vụ TNGT Vì vậy để góp phần giảm thiểu TNGT, thiết nghĩ việc giáo dục
ý thức giao thông được xem là vấn đề hết sức cần thiết và quan trọng
2.3.3 Tỷ lệ giới tính vi phạm luật giao thông:
Hiện nay, nam giới và nữ giới đều tham gia giao thông mức độ tương đồng như nhau Tuy nhiên, mỗi giới có tỷ lệ TNGT khác biệt nhau khá nhiều như sau:
2.3.4 Độ tuổi gây tai nạn giao thông:
Cùng với sự khác biệt về tỷ lệ TNGT của nam giới và nữ giới thì độ tuổi gây tai nạn cũng thể hiện sự khác biệt nhiều ở các lứa tuổi khac nhau, cụ thể số liệu thu thập được như sau: