1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực của kỹ sư định giá và xây dựng mô hình đánh giá, lựa chọn bằng công cụ ahp

87 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 868,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo khối lượng được gọi là dự toán, và mục đích của nó là cung cấp những thông tin để ra quyết định thi công [1] Dự toán chi phí cho nguồn vốn của một dự án là cực kỳ quan trọng ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

-

LÊ ĐÌNH HIẾU

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ QUAN TRỌNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CỦA KỸ SƯ ĐỊNH GIÁ VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ, LỰA CHỌN BẰNG CÔNG CỤ AHP

Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG

Mã số ngành : 60.58.90

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 12 NĂM 2013

Trang 2

Cán bộ hướng dẫn khoa học :

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký) Cán bộ chấm nhận xét 1 :

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký) Cán bộ chấm nhận xét 2 :

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký) Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp HCM ngày tháng năm

Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm: (Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ) 1

2

3

4

5

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có) CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA…………

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Công nghệ và Quản lý Xây dựng MS: 60.58.90

I TÊN ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ QUAN TRỌNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CỦA

KỸ SƯ ĐỊNH GIÁ VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ, LỰA CHỌN BẰNG CÔNG

CỤ AHP

NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

Xác định các nhân tố quan trọng ảnh hưởng năng lực kỹ sư định giá Đánh giá, phân tích các nhân tố xác định được

Nghiên cứu và xây dựng mô hình đánh giá, lựa chọn kỹ sư định giá bằng công cụ AHP (Analytic Hierarchy Process )

II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 14/01/2013

III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : 22/11/2013

IV CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS.ĐINH CÔNG TỊNH

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trước tiên, em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến thầy Đinh Công Tịnh, thầy

đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn Xin chân thành cám ơn các thầy cô trong Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng, đặc biệt là các thầy cô giảng dạy thuộc chuyên ngành Công nghệ và Quản lý xây dựng trường Đại học Bách khoa Tp Hồ Chí Minh Những kiến thức mà thầy cô truyền đạt trong 02 năm qua chính là những kinh nghiệm

và hành trang giúp ích rất nhiều cho em trong cuộc sống cũng như trong công việc sau này

Xin chân thành cám ơn tất cả bạn bè cùng lớp, những người đã cùng tôi trải qua những ngày học tập thật vui, bổ ích và những thảo luận trong suốt thời gian học đã giúp tôi tự hoàn thiện mình và mở ra trong tôi nhiều sáng kiến mới

Xin cám ơn những người đồng nghiệp, đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và chính những kinh nghiệm thực tế trong quá trình công tác của họ đã đóng góp rất nhiều ý kiến cho tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, xin cám ơn những người thân trong gia đình tôi, những người bạn thân của tôi đã luôn bên cạnh tôi, quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn, trở ngại để hoàn thành luận văn này

Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 12 năm 2013

Lê Đình Hiếu

Trang 5

TÓM TẮT

Cơ sở hạ tầng phát triển nhanh chóng là một minh chứng cho sự lớn mạnh không ngừng của ngành xây dựng Sự lớn mạnh thể hiện ở tất cả các lĩnh vực như công trình nhà cửa, giao thông, thủy lợi, cảng biển Tuy nhiên, việc các dự

án xây dựng thường bị vượt dự toán, tổng mức đầu tư xây dựng, hoặc dự án có hiệu quả đầu tư kém đang là vấn đề rất đáng được quan tâm Trong đó năng lực của kỹ sư định giá là một trong những yếu tố quyết định ảnh hưởng đến hiệu quả một dự án đầu tư xây dựng công trình

Chính từ yêu cầu thực tế đó, nội dung của luận văn này với mong muốn đánh giá năng lực của các kỹ sư định giá bên cạnh sự hỗ trợ của các phương pháp

hỗ trợ ra quyết định Phương pháp định lượng Analytic Hierarchy Process (AHP), là một phương pháp có thể giải quyết những bài toán với hệ thống cấu trúc thứ bậc và các mối quan hệ qua lại lẫn nhau giữa các nhân tố dựa trên ma trận so sánh cặp

Nghiên cứu đã tìm ra 15 nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến năng lực của

kỹ sư định giá từ 33 nhân tố khảo sát ban đầu Xây dựng một mô hình đánh giá dựa trên cấu trúc thứ bậc với 15 nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất

Trang 6

ABSTRACT

The quick development of infrastructure demonstrates the development of construction The development represents in all parts of construction such as houses, tracffic , bridges anh roads However the expenditure of building projects exceed the cost estimate, total investment, or project with bad result, there are some noticeable issues that we have to facing So the ability of cost engineering is one of the deciding factors taking effect to result of those building investment projects

From that real requirement, this thesis contributed a study report after considering every aspect of all problems to evaluate ability of cost engineering with the decision support system Analytic Hierarchy Process (AHP) quantitative method can solve problem with hierarchical structure and mutual relationship between these factors which relying on paired comparison matrix

It has been found 15 factors that has great influence on ability of cost engineering among 33 ones from the first research And building assessment models based on hierarchical structure with 15 strongest factors

Trang 7

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 9

1.1 Giới thiệu chung 9

1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu 10

1.3 Các mục tiêu nghiên cứu 11

1.4 Phạm vi nghiên cứu 11

1.5 Tầm quan trọng nghiên cứu 12

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 13

2.1 Các khái niệm và thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu 13

2.2 Các nghiên cứu tương tự đã công bố 13

2.2.1 Nghiên cứu 1: [2] 13

2.2.2 Nghiên cứu 2 : [6] 15

2.2.3 Nghiên cứu 3 : [19] 156

2.2.4 Nghiên cứu 4: [3] 15

CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Giới thiệu về phương pháp AHP (Analytic Hierarchy Process) 19

3.1.1 Nguồn gốc phương pháp định lượng AHP 19

3.1.2 Phương pháp định lượng và hướng nghiên cứu 20

3.1.3 Ưu điểm của phương pháp AHP 21

3.2 Các tiên đề của phương pháp AHP 23

3.3 Nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng mô hình theo phương pháp AHP 24

3.3.1 Phân tích và thiết lập cấu trúc thứ bậc 24

3.3.2 Thiết lập độ ưu tiên 26

3.4 Giới thiệu về Bảng câu hỏi 34

3.4.1 Thiết kế Bảng câu hỏi 34

3.4.2 Kích thước mẫu 37

3.5 Sơ đồ nghiên cứu 38

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 40

4.1 Nội dung bảng câu hỏi khảo sát và kết quả thu thập số liệu 40

4.1.1 Nội dung bảng câu hỏi khảo sát trong nghiên cứu này 40

Trang 8

4.1.2 Kết quả thu thập số liệu 40

4.2 Thống kê mô tả mẫu 41

4.2.1 Số năm kinh nghiệm làm việc của người trả lời 41

4.2.2 Vai trò của người trả lời trong dự án : 42

4.2.3 Chức vụ của người trả lời trong công ty/cơ quan: 43

4.2.4 Chuyên môn của người trả lời: 44

4.2.5 Phần lớn loại dự án tham gia: 45

4.2.6 Quy mô trung bình các dự án tham gia: 46

4.3 Kiểm tra độ tin cậy thang đo 47

4.4 Xếp hạng các nhân tố theo trị trung bình 48

4.5 Phân tích One-way ANOVA 50

4.6 Phân tích thành phần chính PCA (Principal Component Analysis) 54

4.6.1 Phân tích bảng hệ số “KMO” và kiểm định “Bartlett’s Test of Sphericity” 56

4.6.2 Phân tích bảng “Total Variance Explained” 56

4.6.3 Phân tích bảng “Rotated Component Matrix”: 58

4.6.4 Phân tích ý nghĩa các thành phần chính ảnh hưởng đến năng lực kỹ sư định giá 61

CHƯƠNG 5: XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ 64

5.1 Xây dựng mô hình 64

5.1.1 Cấu trúc thứ bậc áp dụng 64

5.1.2 Xây dựng ma trận so sánh cặp 66

CHƯƠNG 6: NHẬN XÉT, KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

6.1 Nhận xét 73

6.2 Kết luận 73

6.3 Kiến nghị 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 78

Trang 9

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1 Giới thiệu chung

Trong những năm trở lại đây, đặt biệt sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, chính sách mở cửa hợp tác với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới

đã và đang làm cho ngành xây dựng và các ngành kinh tế khác của Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ Ở nhiều nơi trên đất nước, các công trình xây dựng mọc lên như nấm, rất nhiều công trình xây dựng với qui mô lớn nhanh chóng xuất hiện và ngày càng đa dạng

Hiện nay ngành công nghiệp xây dựng giữ vai trò quan trọng trong hệ thống nền kinh tế cũng như trong việc hình thành, kiến thiết và phát triển cơ sở hạ tầng của bất kì quốc gia nào trên thế giới Không có các công trình xây dựng nhà cửa, cao ốc, các công trình công cộng, hệ thống giao thông, hệ thống cầu đường…thì không thể tồn tại xã hội ngày càng hiện đại của chúng ta ngày nay Xã hội ngày càng hiện đại bao nhiêu thì ngành công nghiệp xây dựng ngày càng phát triển bấy nhiêu

Năm 2012 , mặc dù nền kinh tế thế giới đang lâm vào tình trạng khủng hoảng quy

mô lớn, nhưng GDP trong năm vẫn đạt mức tăng trưởng 5,2% và dự báo trong năm

2013 sẽ đạt mức 5,5% Điều này chứng tỏ sự nỗ lực vượt bậc của đất nước trong bối cảnh suy thoái toàn cầu Việt Nam đã và đang đạt được sự ổn định và hướng tới sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Trong đó ngành công nghiệp xây dựng giữ một vai trò quan trọng

Trên khắp đất nước đã và đang có nhiều dự án với số vốn đầu tư lên đến hàng nghìn tỷ đồng: cầu Nhật Tân (13.600 tỷ đồng), dự án đường cao tốc Tp.Hồ Chí Minh-Long Thành - Dầu Giây (20.630 tỷ đồng), dự án Nhà máy nhiệt điện Mông Dương 1 (33.614 tỷ đồng), dự án Thủy điện Nho Quế 2 (1.492 tỷ đồng), dự án tuyến Metro Bến Thành-Suối Tiên (2,490 tỷ USD), dự án Nhà máy hóa lọc dầu Nghi Sơn (6,2 tỷ USD),

dự án Nhà máy nhiệt điện Mông Dương 2 (2 tỷ USD)

Trang 10

Tuy nhiên, bên cạnh việc gia tăng số lượng và quy mô dự án thì vấn đề các dự án xây dựng thường bị vượt dự toán, tổng mức đầu tư xây dựng, hoặc dự án có hiệu quả đầu tư kém…đang là vấn đề rất đáng được quan tâm Đối với những dự án lớn được công bố, số tiền vượt mức đầu tư nhiều khi lên tới hàng nghìn tỷ đồng Đơn cử như dự

án đường cầu Nhật Tân, tăng hơn 6.000 tỷ đồng Ngoài ra, trong dữ liệu không được phổ biến của các công ty, thì số lượng các dự án bị vượt dự toán, tổng mức đầu tư, hoặc đầu tư kém hiệu quả…là không hề ít

1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu

Dự toán là đưa ra một báo cáo gần đúng về khối lượng vật liệu, thời gian, hoặc chi phí để xây dựng công trình Báo cáo khối lượng được gọi là dự toán, và mục đích

của nó là cung cấp những thông tin để ra quyết định thi công [1]

Dự toán chi phí cho nguồn vốn của một dự án là cực kỳ quan trọng cho cả Chủ đầu tư và các công ty xây dựng/kỹ thuật Chủ đầu tư dựa trên chi phí dự toán để tiến hành các phân tích kinh tế thu hồi vốn từ chi phí đầu tư của họ Công ty xây dựng/kỹ thuật dựa trên chi phí dự toán để đấu thầu, đàm phán công việc, nó là một cơ sở để bảo

đảm công việc trong tương lai và bảo đảm lợi ích cho công ty của họ [2]

Sự cạnh tranh chủ yếu dựa vào chi phí là khả năng dự báo chính xác các chi phí giao nhận dự án Vượt chi phí dự toán có thể dẫn đến sự phán đoán sai cho tính khả thi của một dự án hoặc mất hợp đồng cho đối thủ cạnh tranh Mặt khác nhà thầu có thể

gánh chịu thiệt hại đáng kể khi để giá chi phí dự toán thấp [3]

Công tác định giá và quản lý chi phí xây lắp là một khâu quan trọng của công tác quản lý kinh tế trong ngành xây dựng Định giá đúng, hợp lý và quản lý chặt chẽ giá xây dựng là góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, sớm đưa công trình vào khai thác

sử dụng, nâng cao chất lượng công trình, tạo quyền chủ động cho doanh nghiệp xây dựng hạch toán sản xuất kinh doanh, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước

trong đầu tư xây dựng [4]

Do vậy công tác định giá xây dựng công trình đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập nên kế hoạch tài chính cho một dự án đầu tư xây dựng Để có thể phân tích

Trang 11

đánh giá hiệu quả dự án, lập bảng dự toán hoàn chỉnh và chính xác đáp ứng được yêu cầu của việc quản lí chi phí đầu tư xây dựng công trình, năng lực của kỹ sư định giá có vai trò vô cùng quan trọng

Hầu hết những cố gắng nhằm thúc đẩy công tác lập dự toán tốt hơn đều tập trung vào thông tin giá thành, điều chỉnh cho thời gian/quy mô/vị trí và phát triển các công

cụ dự toán, cụ thể là tự động hóa quá trình dự toán bằng phương thức máy tính Tuy nhiên, những công cụ hỗ trợ cho công tác lập dự toán này không thể thay thế sự phán

đoán và kinh nghiệm của một người lập dự toán chi phí giỏi [2] Cho nên năng lực của

kỹ sư định giá là một trong những yếu tố quyết định ảnh hưởng đến thành bại của một

dự án đầu tư xây dựng Vì vậy mục tiêu của đề tài này là “Phân tích các nhân tố quan

trọng ảnh hưởng đến năng lực của kỹ sư định giá và xây dựng mô hình đánh giá, lựa chọn bằng công cụ AHP” Thông qua kết quả đạt được của đề tài này, tôi hi vọng

sẽ góp phần đưa ra một phương hướng cho các kỹ sư định giá, làm cho người kỹ sư định giá đó biết họ sẽ nên làm gì, và nên trau dồi rèn luyện những kiến thức, kỹ năng,

cá tính gì để nâng cao năng lực của bản thân Cung cấp cho các nhà tuyển dụng có thêm một phương án xem xét, lựa chọn trước khi đưa ra quyết định tuyển dụng kỹ sư định giá để thực hiện công việc của họ một cách hiệu quả nhất

1.3 Các mục tiêu nghiên cứu

- Xác định các nhân tố quan trọng ảnh hưởng năng lực kỹ sư định giá Đánh giá, phân tích các nhân tố xác định được

- Nghiên cứu và xây dựng mô hình đánh giá, lựa chọn kỹ sư định giá bằng công cụ AHP (Analytic Hierarchy Process)

1.4 Phạm vi nghiên cứu

- Thành phố Hồ Chí Minh không những là đô thị lớn nhất của Việt Nam mà còn đóng vai trò là trung tâm kinh tế của cả nước, có tốc độ phát triển xây dựng rất cao, nhiều công trình lớn được xây dựng, là địa điểm được lựa chọn trong nghiên cứu này

Trang 12

- Đối tượng khảo sát:

+ Chủ đầu tư / BQLDA

+ Nhà thầu thi công

+ Tư vấn thiết kế/giám sát

- Về mặt thực tiễn:

+ Đề tài này sẽ góp phần làm cho các kỹ sư định giá có được cái nhìn tổng quát hơn về các nhân tố quan trọng quyết định năng lực làm việc của bản thân, đồng thời tìm cách cải tiến các kỹ năng kiến thức cần thiết thông qua các nhân

tố tìm được

+ Qua đề tài này cũng cung cấp cho các nhà tuyển dụng một cơ sở khá vững chắc cho việc lựa chọn và đánh giá các ứng viên kỹ sư định giá thông qua việc xem xét các yếu tố quan trọng mà ứng viên cần có, có thể thiết kế các chương trình đào tạo phù hợp theo yêu cầu của công tác định giá

Trang 13

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN

2.1 Các khái niệm và thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu

- Nhân tố quan trọng: là một thuật ngữ cho một nhân tố nào đó là cần thiết cho khả năng, năng lực của một cá nhân để thực hiện nhiệm vụ của mình Nó là một nhân

tố quan trọng, cần thiết để đảm bảo sự thành công của một cá nhân

- Năng lực được định nghĩa là “một tiêu chuẩn yêu cầu cho một cá nhân để hoàn thành một công việc cụ thể và nó là sự kết hợp của các yếu tố kỹ năng, kiến thức

và cá tính để đạt được kết quả tốt hơn” [5]

- Kỹ sư định giá:

+Kĩ sư xây dựng với vai trò là kĩ sư định giá còn đảm nhiệm công tác đo bóc khối lượng dự toán, lập và thẩm định giá công trình nhằm đưa ra những số liệu về chi phí cho toàn bộ dự án

+ Công việc của Kỹ sư định giá Xây dựng thường làm là những công việc của người quản lí chi phí bao gồm việc: Lập và quản lý tổng mức đầu tư, đánh giá hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình, xác định định mức và đơn giá xây dựng, đo bóc khối lượng xây dựng công trình, lập và thẩm tra dự toán xây dựng công trình, xác định giá gói thầu, kiểm soát chi phí xây dựng công trình, lập hồ sơ thanh toán, quyết toán hợp đồng và vốn đầu tư (Nghị định 112/2009/NĐ-CP)

2.2 Các nghiên cứu tương tự đã công bố

2.2.1 Nghiên cứu 1: [2]

Bài báo: “Analysis of Cost Estimating Competencies Using Criticality Matrix and Factor Analysis” của tác giả Alroomi, A., Jeong, D H S and Oberlender, G D (2012)

trong tạp chí J Constr Eng Manage

Mục tiêu nghiên cứu

- Khám phá ra các nhân tố ảnh hưởng năng lực của kỹ sư lập dự toán

- Đánh giá mức độ quan trọng của các nhân tố và mức độ thiếu hụt của các nhân tố cần thiết ở kỹ sư lập dự toán trẻ

Trang 14

- Phân tích đánh giá các nhân tố xác định được

Phương pháp nghiên cứu

- Thông qua cuộc thảo luận diễn ra 2 ngày tại hội thảo ở Houston với 22 chuyên gia lập dự toán đã lập ra một bảng câu hỏi với 37 câu Các câu hỏi được thực hiện

5 khoảng thang đo, mức độ quan trọng từ 1 “không quan trọng” đến 5 “cực kỳ quan trọng” và mức độ thiếu hụt từ 1 “không thiếu hụt” đến 5 “thiếu hụt rất nhiều” Bảng câu hỏi được phát tới tất cả các công ty thành viên Viện công nghệ

kỹ thuật Xây dựng (CII) và cũng được phát tới AACE-I và Hiệp hội dự toán chuyên nghiệp của Mỹ (ASPE) tại hội thảo quốc gia năm 2008 Thu thập được

228 bảng câu hỏi hợp lệ

- Ma trận tới hạn được lập để xác định các nhân tố quan trọng nhất dựa trên cơ sở kết hợp mức độ ảnh hưởng và mức độ thiếu hụt của mỗi nhân tố, phương pháp phân tích nhân tố (PCA) được áp dụng để nhóm các nhân tố thành các thành phần chính

Kết quả nghiên cứu

- Nghiên cứu này đã xác định được 23 nhân tố quan trọng mà một kỹ sư dự toán cần có

- Ma trận tới hạn đã xác định được 2 nhân tố then chốt có mức độ quan trọng cao

và là nhân tố mà kỹ sư dự toán còn thiếu hụt nhiều: (i) Phân tích những gì còn thiếu trong phạm vi xác định, (ii) Khả năng xem xét tổng quan và nhận biết những vấn đề quan trọng, các nhân tố còn lại có tính quan trọng và thiếu hụt thấp hơn

- Phương pháp PCA đã nhóm các nhân tố lại thành 7 thành phần chính: (i)Kỹ năng giao tiếp và thái độ làm việc của kỹ sư dự toán, (ii)Kiến thức cơ bản của kỹ sư dự toán, (iii)Xây dựng khối lượng công việc ban đầu, (iv)Khả năng của kỹ sư dự toán để phân tích quy mô dự án và chịu được áp lực công việc, (v)Khả năng sắp xếp lại các thông tin dự án và ra quyết định, (vi)Kiến thức thi công và kỹ năng phán đoán, (vii) Khả năng lập ra một bảng dự toán đáng tin cậy

Trang 15

- Nghiên cứu này là nền tảng để các nghiên cứu tiếp theo hướng tới việc lập nên các chương trình đào tạo cho kỹ sư dự toán và đánh giá các kỹ năng cốt lõi, hạn chế các lỗ hổng kiến thức ở kỹ sư dự toán trẻ giúp cho các công ty đào tạo nhân viên dự toán của họ tốt hơn Là cơ sở để phát triển các phương pháp và kỹ thuật mới để giữ lại các kỹ năng mềm, các kiến thức vô giá của các chuyên gia và chuyển giao cho thế hệ kỹ sư dự toán trẻ

2.2.2 Nghiên cứu 2 : [6]

Bài báo: “A survey of current cost estimating practices in the UK” của tác giả

Akintola Akintoye và Eamon Fitzgerald (2000) trong Construction Management and Economics

Mục tiêu nghiên cứu

- Khảo sát quan điểm Nhà thầu về hoạt động dự toán hiện tại tại Vương Quốc Anh

Phương pháp nghiên cứu

- Bảng câu hỏi khảo sát được thực hiện để xác định các ý kiến của Nhà thầu đến tình hình hoạt động dự toán hiện tại trong ngành công nghiệp xây dựng tại Vương Quốc Anh, đối tượng khảo sát là các Nhà thầu dựa vào doanh thu được phân loại thành 4 nhóm: công ty rất nhỏ, nhỏ, vừa, và lớn Bảng câu hỏi gồm 6 trang kèm với thư giải thích, sử dụng thang đo liker scale với 1 “mức độ ít nhất” hoặc “ít quan trọng nhất” đến 5 “mức độ cao nhất” hoặc “quan trọng nhất”, Bảng câu hỏi được gởi đến các Giám đốc điều hành của mẫu gồm 200 công ty, các công ty được lựa chọn dựa trên sự kết hợp của phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên và hạn ngạch

- Phần mềm SPSS được sử dụng để phân tích dữ liệu thu thập, sau đó so sánh giá trị trung bình giữa các nhóm và phân tích phương sai (ANOVA) để kiểm tra có sự khác biệt hay không giá trị trung bình của các biến giữa các nhóm tham gia khảo sát

Trang 16

Kết quả nghiên cứu

- Trình bày được quan điểm thực tế của Nhà thầu (rất nhỏ, nhỏ, trung bình, lớn) về tình hình hoạt động của công tác dự toán ở Vương Quốc Anh

- Kết quả khảo sát ý kiến của các Nhà thầu về mục đích của việc lập dự toán, kỹ thuật để lập dự toán, nguyên nhân làm cho chi phí dự toán không chính xác, tỷ lệ phần trăm các dự án Nhà thầu tham gia mà bảng dự toán chi tiết được lập, tỷ lệ lãnh đạo của các công ty phê duyệt dự toán chi phí cho các dự án lớn, tỷ lệ lãnh đạo của các công ty phê duyệt dự toán chi phí cho các dự án nhỏ, những thiếu sót

về kỹ năng, kiến thức và dữ liệu cho kỹ sư dự toán

- Nghiên cứu cho thấy sự thiếu kiến thức thi công thực tế của những người lập dự toán, không đủ thời gian để chuẩn bị bảng dự toán, hồ sơ mời thầu thiếu sót, sự thay đổi giá của những nhà thầu phụ là những nguyên nhân chính làm cho bảng

dự toán không chính xác

- Nghiên cứu cũng đề ra những biện pháp để cải thiện công tác lập dự toán cho tốt hơn

2.2.3 Nghiên cứu 3 :[19]

Bài báo: “The accuracy of pre-tender building cost estimates in Australia” của tác

giả Ajibade Ayodeji Aibinu và Thomas Pasco (2009) trong Construction Management and Economics

Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm ra tần suất và qui mô của sự không chính xác trong dự toán chi phí xây dựng,

Trang 17

- Nghiên cứu những nỗ lực mà các công ty đang thực hiện để cải thiện tính chính xác dự toán chi phí trong thực tế, và các vấn đề liên quan, đánh giá hiệu quả của phương pháp cải tiến

Phương pháp nghiên cứu

- Hai phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng để đạt được các mục tiêu nghiên cứu Để giải quyết mục tiêu 1, 2 và 3, dữ liệu được thu thập từ các tập tin của 56

dự án xây dựng hoàn thành từ năm 1999 và 2007 Các dữ liệu thu được từ các văn phòng của một số công ty được khảo sát ở Úc Thông tin thu được đối với từng

dự án bao gồm: Giá trị dự án, số tầng, tổng diện tích sàn (GFA), địa điểm dự án (trung tâm thương mại, đô thị, hay nông thôn), loại dự án (khu dân cư, công nghiệp hoặc thương mại), cường độ giá (đo bằng tỷ lệ giá trị dự án và tổng diện tích sàn), và vật liệu kết cấu chính được sử dụng ( thép, bê tông hoặc gỗ)

- Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên được sử dụng

- Để giải quyết mục tiêu thứ 4, bảng câu hỏi với thang đo liker-scale được thiết kế

để thu thập dữ liệu, người trả lời được yêu cầu đánh giá 12 phương pháp có thể được sử dụng để bảng dự toán ngày càng chính xác hơn

- Các kiểm định T-test, phân tích phương sai một yếu tố Anova được sử dụng trong nghiên cứu Mô hình hồi quy các nhân tố của dự án ảnh hưởng đến tính chính xác của chi phí dự toán

Kết quả nghiên cứu

- Phân tích dữ liệu cho thấy rằng chi phí dự toán trước khi đấu thầu không chính xác thay đổi tùy theo quy mô dự án và vật liệu kết cấu chính được sử dụng Khi tất cả các yếu tố này được kết hợp trong phân tich hồi quy thì tính chính xác của chi phí dự toán bị ảnh hưởng mạnh bởi quy mô dự án

- Các công ty cần phải lưu ý nhiều hơn ở các dự án nhỏ, khi dự toán của các dự án nhỏ thường được thực hiện bởi những nhân viên ít kinh nghiệm

Trang 18

- Nghiên cứu cũng cho thấy các dự án ngày nay đang ngày càng phức tạp hơn, sử dụng những kỹ thuật dự toán trước đây có thể không đầy đủ và có thể không hiệu quả như trước nữa

2.2.4 Nghiên cứu 4 :[3]

Bài báo: “Improving cost estimates of construction projects using phased cost

factors” của tác giả Li Liu và Kai Zhu (2007) trong J Constr Eng Manage

Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu xác định những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tính hiệu quả của công tác dự toán ở những giai đoạn khác nhau của dự án

Kết quả nghiên cứu

- Xác định các yếu tố quan trọng ở từng giai đoạn của dự án cần được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo công tác dự toán chi phí đạt hiệu quả cao

- Tính phù hợp của nghiên cứu cần được cần được thử nghiệm trong nghiên cứu thực tế hơn nữa

- Nghiên cứu giúp cho các công ty xây dựng bố trí nguồn lực để kiểm soát các nhân tố quan trọng để công tác dự toán đạt hiệu quả

Trang 19

CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Giới thiệu về phương pháp AHP (Analytic Hierarchy Process)

Phương pháp định lượng AHP được phát triển bởi Satty vào thập niên 70 nhằm

giải quyết những vấn đề không có cấu trúc trong hoạt động kinh tế, xã hội và khoa học quản lí Nó cung cấp một phương pháp ra quyết định đa tiêu chuẩn đơn giản, nhưng có

cơ sở lý thuyết trong việc đánh giá các phương án Nó giúp phân loại mức độ ưu tiên tương đối cho các phương án được đưa ra dựa trên một mức tỉ lệ Mức tỉ lệ này dựa trên phán đoán của người ra quyết định và mức độ quan trọng của các phán đoán đó, cũng như tính nhất quán trong việc so sánh các phương án trong quá trình ra quyết định Ứng dụng của phương pháp AHP có thể tìm thấy trong nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm: hệ thống lựa chọn Nhà thầu, lựa chọn nhà quản lí trong quá trình thực hiện

dự án, quản lý dự án và các vấn đề kỹ thuật

Theo Partovi (1992) AHP là công cụ hỗ trợ ra quyết định cho các quyết định phức tạp không cấu trúc và đa thuộc tính Ny Dick và Hill (1992) miêu tả AHP là một phương pháp xếp hạng các phương án dựa trên phán đoán của người ra quyết định có liên quan đến tầm quan trọng các tiêu chuẩn và mở rộng chúng (tiêu chuẩn) khi nó lập lại trong mỗi phương án

Theo Bevilacqua (2004), AHP là công cụ ra quyết định linh hoạt và đủ sức mạnh để giải quyết những vấn đề phức tạp mà cần xem xét cả khía cạnh định lượng cũng như định tính AHP giúp phân tích để tổ chức những tiêu chuẩn thành một một thứ bậc giống như cấu trúc cây tre

Golden (1989) miêu tả AHP là một phương pháp phân tích sử dụng cấu trúc thứ bậc cho các vấn đề ra quyết định Murahdar (1990) tin rằng phương pháp AHP cung cấp một cách rõ ràng cụ thể cách giải quyết các vấn đề ra quyết định đa tiêu chuẩn

Trang 20

Belton (1986), đã xác nhận phương pháp AHP và phương pháp giá trị đa nhân tố đơn giản (MAV) như là hai phương pháp đa tiêu chuẩn Trong quá trình xem xét các khuyết điểm của MAV một cách có hệ thống, ông đã tìm ra được các ưu điểm của phương pháp AHP

Trong nhiều năm qua, đã có nhiều lời bình phẩm đối với phương pháp AHP, Waste and Freeling (1987) suy luận để suy luận ra các trọng số của các tiêu chuẩn bằng phương tiện dùng một thang đo tỷ lệ, các câu hỏi của phương pháp AHP dường như vô nghĩa: “Tiêu chuẩn nào trong hai tiêu chuẩn này quan trọng hơn cho mục tiêu

?”, “Quan trọng hơn bao nhiêu? ” Trong khi đó, Dyer và Wendel (1987) đã tấn công phương pháp AHP dựa vào biện minh lý lẽ rằng nó thiếu một cơ sở lý thuyết vững chắc Tuy nhiên, nhà toán học người Mỹ đã phản hồi những lời phê bình này bằng cách hiệu chỉnh và đề nghị một mô hình AHP lý tưởng, trong đó mỗi cột của ma trận ra quyết định được chia bằng tổng giá trị các số trong cột Và ngày nay phương pháp AHP đã được nhiều nơi trên thế giới sử dụng vào các lĩnh vực khác nhau và được xem

là một phương pháp ra quyết định đáng tin cậy

3.1.2 Phương pháp định lượng và hướng nghiên cứu

AHP là kỹ thuật ra quyết định dựa trên phương pháp quyết định đa tiêu chuẩn Nó

có xem xét sự phán đoán, kinh nghiệm và cảm giác của con người trong quá trình ra quyết định Nghiên cứu này phát triển mô hình lựa chọn lý thuyết dựa trên phương pháp AHP Nó giúp người ra quyết định lựa chọn kỹ sư định giá thích hợp nhất trong các ứng viên AHP được lựa chọn cho nghiên cứu này với các lý do sau:

- AHP có khả năng thống nhất các nhân tố định tính và định lượng trong 1 hệ thống nhất

- AHP có khả năng giải quyết những vấn đề trong việc ra quyết định hoặc đánh giá trong ngành xây dựng

- Bằng công cụ AHP vấn đề được phân tích một cách logic từ những phần tử lớn đến những phần tử nhỏ hơn dựa trên cơ sở xây dựng cấu trúc thứ bậc phù hợp với từng dạng bài toán và tình huống khác nhau

Trang 21

- AHP làm việc bằng cách tính toán các phán đoán của những người ra quyết định

và đo mức độ nhất quán của những phán đoán này

3.1.3 Ưu điểm của phương pháp AHP

Theo lịch sử phát triển và áp dụng phương pháp AHP để giải quyết các bài toán thực tế; các nhà khoa học đã không ngừng cải tiến và bổ sung những hệ số, công thức tính toán nhằm kiểm soát tính chặc chẽ, tính logic của phương pháp và tạo ra được những ưu điểm như sau:

- Tính đồng nhất: Phương pháp AHP cung cấp một mô hình ra quyết định duy nhất, dễ hiểu và rất uyển chuyển cho một khoảng rộng các vấn đề chưa định hình

- Tính đa dạng: Phương pháp AHP tổng hợp những diễn dịch và cách thức tiếp cận

hệ thống trong việc giải quyết vấn đề

- Tính độc lập: Phương pháp AHP có thể liên quan tới tính độc lập của các yếu tố trong một hệ thống và không dựa trên những suy nghĩ thuần tuý

- Cấu trúc thứ bậc: Phương pháp AHP phản ánh khuynh hướng tự nhiên của con người trong việc lựa chọn những yếu tố của hệ thống thành những mức độ khác nhau và các nhóm tương đồng

- Đo lường: Phương pháp AHP cung cấp một thước đo vô hình và một phương pháp thiết lập những thứ tự ưu tiên

- Tính nhất quán: Phương pháp AHP tuân theo những sự ổn định hợp lý của những

sự đánh giá được dùng trong quyết định ưu tiên

- Tổng hợp: Phương pháp AHP đưa đến một ước lượng tổng quát của từng mục đích thay thế

- Sự thỏa hiệp: Phương pháp AHP cân nhắc đến sự tương quan thứ tự ưu tiên của các yếu tố trong hệ thống và cho phép mọi người lựa chọn thay thế tốt nhất trên mục tiêu của họ

- Sự đánh giá và nhất trí: Phương pháp AHP không phụ thuộc vào sự nhất trí nhưng lại tạo nên một giải pháp chung từ những đánh giá trái ngược

Trang 22

- Quá trình lặp lại: Phương pháp AHP cho phép mọi người tái thiết những khái niệm của mình về một vấn đề và nâng cao nhận thức cũng như khả năng đánh giá thông qua việc lặp lại

Hình 3.1: Ưu điểm của phương pháp AHP

Ngoài ra, phương pháp AHP còn có một số ưu điểm khác:

Có thể chia nhỏ các tiêu chuẩn đánh giá thành nhiều cấp bậc nhỏ hơn, từ đó dể dàng thu thập số liệu cũng như việc so sánh từng cặp sẽ được thực hiện dễ dàng và hiệu quả

Khi thay đổi trọng số của một tiêu chuẩn nào đó, ta có thể thấy được ngay cả sự thay đổi đáp án chọn lựa phương án trên các hổ trợ ra quyết định, vì thế có thể thấy ngay được mức độ ảnh hưởng, tác động của tiêu chuẩn đó đối với việc lựa chọn các phương án

Áp dụng được trong nhiều lĩnh vực và trong nhiều tình huống khác nhau như ra quyết định chọn loại xe để mua, dự đoán giá sản phẩm, bố trí nhân sự, quản lý dự án…

Có thể nhập trực tiếp số liệu vào phần mềm để xử lý hiệu quả mà không mất nhiều thời gian Tuy nhiên các thành viên tham gia phải là những chuyên gia trong lĩnh

Tính đồng nhất Quá trình lặp lại

Đo lường Tính nhất quán

AHP

Trang 23

vực cần ra quyết định và phải có tính khách quan thì kết quả mang lại trong việc lựa chọn sẽ thành công

3.2 Các tiên đề của phương pháp AHP

Việc thiết kế mô hình của phương pháp AHP phải đáp ứng được mục tiêu của việc xây dựng mô hình là cho phép các doanh nghiệp xây dựng cũng như các doanh nghiệp khác có nhu cầu tuyển dụng kỹ sư định giá có thể lựa chọn được các kỹ sư có

đủ năng lực cũng như đáp ứng được tất cả các yêu cầu đề ra của Nhà tuyển dụng Trong đó mô hình AHP giúp chúng ta xây dựng được cấu trúc thứ bậc cho các nhân tố quan trọng và vec tơ trọng số cho từng nhân tố, từng nhóm nhân tố một cách định lượng Các yếu tố của các vấn đề trong nền công nghiệp xây dựng là vô số và mối liên

hệ của chúng là vô cùng phức tạp Tuy nhiên theo Saaty(1980), trong bất kỳ mô hình nào xây dựng bởi mô hình AHP, người xây dựng và sử dụng mô hình cần phải nhận dạng được mục tiêu nghiên cứu và các vấn đề đang phải đối mặt để đạt được mục tiêu

đó Holden (1989) đã đề nghị bốn giả thiết sau, được phát biểu thành những tiên đề (Axióm), giúp cho phương pháp AHP có giá trị trong việc thiết kế mô hình ứng dụng

- Tiên đề 1: Đối với 2 phương án i và j thuộc tập các phương án A cho trước, người ra quyết định phải đưa ra giá trị một sự so sánh cặp, gọi là aij trong số các phương án đối với một tiêu chuẩn c trong tập hợp các tiêu chuẩn dựa trên một thang đo

tỉ lệ thuận nghịch; nghĩa là :

ji ij

a

a  1 , với mọi i, j thuộc tập A

- Tiên đề 2: Khi so sánh bất kỳ 2 phương án i và j thuộc tập các phương án A cho trước, người ra quyết định không bao giờ được đánh giá phương án này quan trọng (hay kém quan trọng) vô hạn so với phương án kia đối với một tiêu chuẩn c, điều đó có nghĩa là aij ≠ ∞, với mọi i, j thuộc tập A

- Tiên đề 3: Vấn đề cần quyết định có thể phân tích thành một cấu trúc thứ bậc

- Tiên đề 4: Tất cả các phương án cho trước và các tiêu chuẩn có tác động ảnh hưởng hay liên quan đến vấn đề cần ra quyết định đều phải được thể hiện trong sơ đồ

Trang 24

thứ bậc Điều này có nghĩa là sự hiểu biết của nhóm người ra quyết định cần phải được thể hiện một cách tiêu biểu (hay loại trừ bớt) các tiêu chuẩn hay các phương án trong

sơ đồ thứ bậc

Những tiên đề này được sử dụng để mô tả những nguyên tắc căn bản nhất của phương pháp định lượng AHP; đó là việc tính toán và giải quyết vấn đề cần ra quyết định thông qua một cấu trúc thứ bậc (tiên đề 3 và 4) và việc suy luận ra ý kiến đánh giá theo một hình thức so sánh từng cặp (tiên đề 1 và 2)

3.3 Nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng mô hình theo phương pháp AHP

Nhà toán học người Mỹ Saaty (1980) đã đưa ra bốn nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng mô hình theo phương pháp AHP bao gồm:

+ Phân tích và thiết lập sơ đồ thứ bậc của vấn đề cần ra quyết định

+ Tính toán các độ ưu tiên

+ Tổng hợp

+ Đo lường không nhất quán

3.3.1 Phân tích và thiết lập cấu trúc thứ bậc

a Phân loại thứ bậc

Có hai loại thứ bậc là thứ bậc theo cấu trúc và thứ bậc theo chức năng

Thứ bậc theo cấu trúc là một hệ thống phức tạp được cấu trúc bởi các thành phần theo thứ tự giảm dần tính chất của cấu trúc như kích thước, hình dáng, màu sắc

Thứ bậc theo chức năng phân tích hệ thống phức tạp thành các thành phần theo các quan hệ cơ bản của nó Cách phân tích thứ bậc theo chức năng sẽ hướng hệ thống đến mục tiêu mong muốn: giải quyết xung đột, đạt hiệu quả trong sự hoàn thành công việc hay sự thỏa mãn của mọi người Do mục tiêu này, phân tích thứ bậc theo chức năng sẽ được tập trung xem xét

Để phản ánh được các vấn đề thực tế phức tạp, việc phân loại thứ bậc cần thiết phải có những đặc điểm sau:

+ Linh hoạt: các cấp phân loại tương quan với nhau theo hình xoắn ốc

Trang 25

+ Thứ bậc hoàn toàn: tất cả các thành phần của một bậc chia sẻ mọi đặc điểm với thứ bậc cao hơn kế tiếp

+ Thứ bậc không hoàn toàn: một số thành phần không chia sẻ toàn bộ các đặc điểm với thứ bậc cao hơn kế tiếp

b Nguyên tắc hình thành cấu trúc thứ bậc

+ Mỗi một loại các thành phần chức năng chiếm một bậc trong thứ bậc

+ Cấp cao nhất chỉ có một thành phần gọi là tiêu điểm, tức là mục tiêu bao trùm

cả cấu trúc hay vấn đề cần giải quyết

+ Các cấp kế tiếp gồm nhiều thành phần hay các tiêu chuẩn chính Mỗi thành phần hay tiêu chuẩn này có thể được phân chia thành các cấp nhỏ hơn hay đúng độc lập là tùy thuộc vào mức độ chi tiết của mô hình Do việc so sánh được thực hiện giữa các thành phần của cùng một thứ bậc với nhau theo tiêu chuẩn của thứ bậc cao hơn, các

thành phần của một thứ bậc phải có cùng một độ lớn hay tầm quan trọng Nếu sự khác

biệt giữa chúng là lớn thì chúng nên được sắp xếp ở các cấp khác nhau

+ Cấp thấp nhất cuối cùng của sơ đồ thứ bậc được gọi là cấp phương án, nó chứa các phương án đặt bên dưới các thành phần hay tiêu chuẩn ở ngay bên trên nó

Vấn đề lựa chọn phương án trong một tập các phương án thì có thể bắt đầu từ cấp thấp nhất là liệt kê các phương án, cấp cao hơn kế tiếp là các tiêu chuẩn để đánh giá các phương án, cấp cao nhất là đánh giá tiêu điểm – mục tiêu cuối cùng mà các tiêu chuẩn có thể được so sánh theo mức độ quan trọng sự đóng góp của chúng

Saaty (1994) đã nhấn mạnh rằng một sơ đồ thứ bậc cung cấp cho ta một cái nhìn tổng thể của những mối quan hệ phức tạp của các tình huống và sự đánh giá Nó cũng cho phép người ra quyết định đánh giá được sự so sánh các ý kiến của cùng một mức

độ quan trọng của các tiêu chuẩn

Ví dụ: Muốn mua một chiếc xe ô tô, vậy các tiêu chí nào bạn quan tâm về chiếc

xe ô tô của bạn? (Hình thành các tiêu chuẩn) Mức độ đánh giá của bạn với các tiêu chí

đó như thế nào, đồng thời bạn cũng nên liệt kê các loại xe dự định mua

Trang 26

Sau khi xem xét, ta đưa ra 8 tiêu chuẩn đưa ra khi lựa chọn xe:

1 Thương hiệu: TOYOTA, FORD, FERRARI

2 Mẫu mã bên ngoài: màu sắc, kiểu dáng,

3 Tiện ích bên trong: hệ thống âm thanh, hệ thống định vị, hệ thống đèn ánh sáng, hệ thống ghế

4 Mức độ an toàn: hệ thống phanh, hệ thống báo động chướng ngại vật, hệ thống chống ngủ

5 Độ bền của xe: tuổi thọ của xe, chất lượng của động cơ

6 Bảo trì, bảo hành: mức độ bảo trì, thời gian bảo hành, số km được bảo hành, thuận tiện của hệ thống đại lý bảo hành bảo trì

7 Tài chính: giá cả, lượng tiền có sẵn, hỗ trợ tài chính từ người bán hoặc ngân hàng

8 Khuyến mãi: giảm giá, khuyến mãi về thủ tục đăng ký trước bạ

3.3.2 Thiết lập độ ưu tiên

Trang 27

Sau khi xây dựng xong sơ đồ thứ bậc của bài toán, bước quan trọng tiếp theo là

phải tính toán và thiết lập độ ưu tiên của mỗi tiêu chuẩn trên các cấp đã được xác định trong sơ đồ thứ bậc Lúc này, người ra quyết định cần đưa ra những ý kiến đánh giá của mình về mức độ quan trọng của mỗi tiêu chuẩn đối với tiêu chuẩn ở cấp cao hơn trong

sơ đồ thứ bậc bằng phương pháp so sánh từng cặp

Các nhà lý thuyết về mô hình, hệ thống cho rằng các mối quan hệ phức tạp luôn luôn có thể được phân tích bằng cách chọn các cặp thành phần và liên hệ chúng thông qua các thuộc tính của chúng Theo Muralidhar (1990), ưu điểm của so sánh cặp là nó cho phép người ra quyết định chỉ tập trung vào sự so sánh hai đối tượng và sự so sánh như vậy ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài

Các bước trong so sánh cặp:

+ So sánh các thành phần theo cặp đối với các tiêu chuẩn đã được xác định + Bắt đầu từ chóp của sơ đồ thứ bậc, chọn một tiêu chuẩn, tiến hành việc so sánh từng cặp các thành phần của bậc kế tiếp theo tiêu chuẩn đã chọn

+ Thiết lập ma trận so sánh cặp

Thông thường, các câu hỏi được đặt ra là: “Nhân tố này có lợi hơn, thỏa mãn hơn, đóng góp nhiều hơn… so với các nhân tố khác như thế nào? Mức độ bao nhiêu? ”Các câu hỏi là quan trọng, nó phản ánh mối liên hệ giữa các thành phần của một cấp với tính chất của cấp thứ bậc cao hơn Việc so sánh từng cặp các tiêu chuẩn với nhau, sẽ đòi hỏi n(n-1)/2 sự đánh giá cần thiết với một mục tiêu có n tiêu chuẩn

Phương pháp AHP sử dụng thang đo 9 mức độ

Trang 28

Mức độ

quan trọng

1 Quan trọng như nhau Hai nhân tố có tính chất như nhau

2 Mức giữa 1 và 3 Cần có sự thỏa hiệp giữa 2 mức nhận

định 1 và 3

3 Tương đối quan trọng hơn Kinh nghiệm và nhận định hơi nghiêng

về một nhân tố hơn nhân tố kia

4 Mức giữa 3 và 5 Cần có sự thỏa hiệp giữa 2 mức nhận

định 3 và 5

5 Quan trọng hơn nhiều

Kinh nghiệm và nhận định nghiêng mạnh hơn về một nhân tố hơn nhân tố kia

6 Mức giữa 5 và 7 Cần có sự thỏa hiệp giữa 2 mức nhận

định 5 và 7

7 Rất quan trọng hơn

Kinh nghiệm và nhận định đựơc ưu tiên rất nhiều hơn thành phần kia và được biểu lộ trong thực hành

8 Mức giữa 7 và 9 Cần có sự thỏa hiệp giữa 2 mức nhận

định 7 và 9

9 Tuyệt đối quan trọng hơn Sự quan trọng hơn hẳn trên mức độ có

thể

Để minh họa cho việc so sánh từng cặp này, ta thực hiện theo các bước sau: Giả

sử chúng ta muốn so sánh một tập gồm n đối tượng, được ký hiệu là A1,A2,…An được diễn tả bởi một ma trận so sánh cặp A kích thước nxn, chứa phần tử aij Nếu như trọng

số các phần tử của ma trận A là aij=

j

i

w w

, thì ma trận sau sẽ thể hiện việc so sánh từng

Trang 29

cặp Trong ma trận so sánh cặp, một giá trị của ma trận so sánh là nghịch đảo của nửa

kia đối xứng qua đường chéo chính của ma trận, tức là aij=

n n

n a a a a

a a a

a a a

A

A A A

3 2 1

2 22 21

1 12 11 2

So sánh cặp giữa các nhân tố được nhóm chuyên gia nhận định bằng một bảng ma trận được đưa ra Nhóm chuyên gia bao gồm 4 thành viên, các chuyên gia này đều có kinh nghiệm lâu năm Các chuyên gia này được tập hợp thành một nhóm để so sánh cặp giữa các nhân tố theo 9 cấp độ

3.3.3 Tổng hợp

Tổng hợp là quá trình hoàn tất những trọng số của các yếu tố có liên quan đối với một yếu tố ở cấp cao hơn Quá trình này cần phải được thực hiện cho tất cả các ma trận được xây dựng từ sự so sánh từng cặp, để tính được trọng số tổng hợp phản ánh đối với những yếu tố chính

Các bước sau đây thể hiện quá trình tổng hợp các ma trận so sánh cặp:

Trang 30

n n

n w w w w

w w w

w w w

A

A A A

3 2 1

2 22 21

1 12 11 2

''

ij ij

a

a w

1

1 Vectơ độ ưu tiên

Ta lấy trung bình theo dòng, tức là giá trị của mỗi hàng trong ma trận chuẩn hoá mới được tính ở bước trên sẽ được lấy tổng và chia cho số cột (số hàng) thể hiện các yếu tố so sánh Véc tơ độ ưu tiên có dạng như sau:

n w n w

w

w w w

n

j nj

n

j j

n

j j

n

1

1 2

1 1

2 1

Ta tính toàn bộ trọng số của các cấp khác nhau của cấu trúc thứ bậc để phục vụ cho việc xếp hạng các phương án ra quyết định nhằm đạt được mục tiêu của bài toán

Trang 31

Véctơ tổng hợp trọng số chính là giá trị véctơ độ ưu tiên trung bình của tất cả các chuyên gia đánh gia sau khi đã đo lường sự không nhất quán (việc kiểm tra nhất quán

sẽ được tiến hành với từng ma trận của mỗi chuyên gia) Kết quả cuối cùng của véc tơ tổng hợp trọng số là các véctơ các wi cho các nhân tố thuộc nhóm nhân tố thứ i, wG

cho tất cả các nhóm

3.3.4 Đo lường sự không nhất quán

Saaty (1995) đã định nghĩa sự nhất quán như sau: “Những cường độ giữa những

ý tưởng hay đối tượng có liên quan nhau dựa trên một tiêu chuẩn cụ thể để hiệu chỉnh lẫn nhau trong cùng một phương pháp so sánh hợp lý”

Sự nhất quán có hai ý nghĩa:

+ Các ý tưởng hay sự vật được gộp thành một nhóm theo sự đồng nhất và có liên quan đến nhau Ví dụ như trong cấu trúc thứ bậc về nhân tố ảnh hưởng năng lực kỹ sư định giá đang nghiên cứu: nhân tố hiểu biết về điều kiện công trường xây dựng và nhân

tố biết cách đọc bản vẽ kỹ thuật có thể so sánh được trong tiêu chuẩn là thuộc nhóm nhân tố kiến thức nhưng không thể so sánh theo tiêu chuẩn là thuộc nhóm nhân tố cá tính

+ Cường độ của sự liên quan của các ý tưởng hay sự vật theo một tiêu chuẩn nào

đó phải tuân theo một thứ tự logic Ví dụ sự nhất quán tuyệt đối là nếu x quan trọng hơn y bởi một nhân tố là 2, y quan trọng hơn z bởi một nhân tố là 3 thì x phải quan trọng hơn z bởi nhân tố đó là 6

Tuy nhiên trong thực tế, không phải lúc nào ta cũng có thành lập được mối quan

hệ bắc cầu trong khi so sánh từng cặp Ví dụ nhân tố A quan trọng hơn nhân tố B, nhân

tố B quan trọng hơn nhân tố C nhưng do bản chất nhận thức, khi có một kinh nghiệm mới thì các chuyên gia người ra quyết định luôn làm thay đổi trật tự trong sự ưa thích của mình và có thể đánh giá nhân tố C quan trọng hơn nhân tố A Hiện tượng này thể

Trang 32

hiện tính thực tiễn của bài toán, ta gọi là sự không nhất quán Sự không nhất quán là thực tế nhưng độ không nhất quán không nên quá nhiều vì khi đó nó thể hiện sự đánh giá không chính xác Do đó, một khi các so sánh cặp vẫn còn sự gắn kết giữa thực tế và kinh nghiệm, không cần thiết phải có sự nhất quán hoàn toàn

Trong thực tế, người ra quyết định chỉ ước lượng duy nhất giá trị đúng của các phần tử trong ma trận so sánh cặp bằng cách gán cho nó một giá trị từ thang đo 9 mức

so sánh (theo bảng bên dưới) Bởi vậy, xấp xỉ giá trị các phần tử của ma trận so sánh cặp, có thể diễn tả theo mối quan hệ sau:

i

j

w w

n

Trong đó max là giá trị đặc trưng cực đại và n là kích thước của ma trận so sánh cặp

Sự sai khác thể hiện qua hiệu (max - n), có thể được sử dụng để đo lường sự không nhất quán Sự nhất quán hoàn toàn xảy ra khi max – n = 0, tuy nhiên trong nhiều trường hợp max ≥ n Giá trị CI càng gần 0 thì những ý kiến đánh giá của người ra quyết định càng nhất quán Các bước xác định CI như sau:

+ Xác định véctơ tổng có trọng số bằng cách nhân ma trận so sánh cặp với véctơ

độ ưu tiên

Trang 33

n n

w w

a a a a

a a a

a a a w A T

T T

2 1

3 2 1

2 22 21

1 12 11 2

w T

w T w T

w T p

p p P

/

2 1 1

CICR=

RITrong đó: n là kích thước của ma trận và RI là chỉ số ngẫu nhiên (nhất quán trung bình) được xác định từ bảng cho sẵn sau:

Chỉ số ngẫu nhiên RI

Trang 34

N 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15

RI 0,0 0,0 0,58 0,90 1,12 1,24 1,32 1,41 1,45 1,49 1,51 1,48 1,56 1,57 1,59

Dyer (1990) đã nhận xét rằng theo phương pháp AHP, người ra quyết định không nên mong đợi một sự nhất quán hoàn hảo nhưng một số phần trăm nhỏ nào đó của tính không nhất quán hay là sự diễn tả sự ưa thích cá nhân thì có thể chấp nhận được

Như vậy, phương pháp AHP đo được sự nhất quán thông qua tỷ số nhất quán CR Dựa trên những nghiên cứu kinh nghiệm, Saaty nhận định rằng giá trị chấp nhận được của CR phải nhỏ hơn hoặc bằng 0,1; nếu điều kiện này không thỏa mãn thì chúng ta phải xem xét sửa đổi lại các so sánh cặp đó Điều này phải được nhấn mạnh, tuy nhiên giá trị chấp nhận của CR không đảm bảo một kết quả lựa chọn tốt cuối cùng, nhưng nó bảo đảm không có sự mâu thuẫn quá mức trong các so sánh đã làm và quyết định là hợp logic, và không phải là kết quả của sự ưu tiên ngẫu nhiên (Saaty và Vargas, 2001)

3.4 Giới thiệu về Bảng câu hỏi

3.4.1 Thiết kế Bảng câu hỏi

Bảng câu hỏi là một trong những công cụ dùng để giải quyết vấn đề của đề tài này Việc thiết lập bảng câu hỏi là nhằm để thu thập những thông tin được chỉ định với

sự chính xác và hoàn hảo tương đối Vì vậy việc xây dựng bảng câu hỏi phải hội tụ cả hai yếu tố: khoa học và nghệ thuật, trong đó kinh nghiệm thực tế giữ vai trò quan trọng Bảng câu hỏi phải sử dụng từ ngữ rõ ràng, câu văn tránh nhầm lẫn, cách bố trí và trình bày các câu hỏi phải rõ ràng để tránh nhầm lẫn trong quá trình trả lời của đối tượng khảo sát Đồng thời bảng câu hỏi phải được viết ra để hấp dẫn người được hỏi, khuyến khích họ điền câu trả lời Việc thiết kế thông qua các bước như sau:

- Bước 1: Xác định cụ thể dữ liệu cần thu thập Ở đây ta cần thu thập các nhân tố quan trọng ảnh hưởng năng lực kỹ sư định giá

Trang 35

- Bước 2: Xác định loại câu hỏi và cách thức triễn khai: gồm câu hỏi có cấu trúc hoặc phi cấu trúc, câu hỏi trực tiếp hoặc gián tiếp và phương pháp triễn khai qua: phỏng vấn trực tiếp, email hoặc điện thoại

- Bước 3: Xác định nội dung của từng câu hỏi – căn cứ vào 2 bước đã thực hiện ở trên, ta cần quan tâm giải quyết các vấn đề sau:

+ Cần một hay nhiều câu hỏi để thu thập một thông tin cần hỏi?

+ Người được hỏi có biết được vấn đề không? Người được hỏi có trả lời không?

- Bước 4: Xác định hình thức trả lời: Dạng câu hỏi mở hay đóng? Bao nhiêu lựa chọn? Dùng thang đo gì?

- Bước 5: Đặc câu chữ cho từng câu hỏi: Nhằm đảm bảo rằng câu hỏi có một ý nghĩa duy nhất, từ ngữ đơn giản, tránh câu hỏi mập mờ, câu hỏi dẫn, câu hỏi hai nội sung, tiếng lóng, viết tắt, biệt ngữ, phủ định hai lần, giả định ngầm…

- Bước 6: Xác định thứ tự câu hỏi: Bắt đầu bằng những câu hỏi đơn giản, gây thích thú, dẫn dắt từ tổng quát đến chi thiết, cận thận với những câu hỏi rẽ nhánh hay điều kiện, các câu hỏi cơ bản, câu hỏi gạn lọc để ở trước và câu hỏi xếp loại, câu hỏi khó, nhạy cảm để ở cuối

- Bước 7: Xác định hình thức cho bảng câu hỏi:

+ Ảnh hưởng đến sự chấp nhận trả lời và sự chính xác của các câu hỏi + Trình bày các phần mục và câu hỏi rõ ràng, dễ theo dõi, không gây nhàm chán Nếu có phần rẽ nhánh hay có điều kiện thì có hướng dẫn cụ thể

+ Hạn chế chiều dài bảng câu hỏi, số câu hỏi và khoảng thời gian để trả lời + Chât lượng giấy, khổ giấy, cỡ chữ, kiểu chữ, chất lượng in/copy và phần giới thiệu, phần hướng dẫn được chuẩn bị cẩn thận

- Bước 8: Triển khai và hoàn chỉnh bảng câu hỏi:

+ Hỏi ý kiến chuyên gia và người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực nghiên cứu thiết kế bảng câu hỏi

Trang 36

+ Triển khai thử một vài người để kiểm tra về từ ngữ sử dụng, ý nghĩa, chiều dài, hình thức trình bày và các hướng trả lời chưa lường trước được Sau đó hoàn chỉnh ra soát lại toàn bộ câu hỏi về sự phù hợp so với mục tiêu, phạm vi nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp phân tích số liệu + Kiểm tra về thang đo, cách dùng từ ngữ, câu văn, kiểm tra thứ tự sắp xếp các câu hỏi cũng như hình thức trình bày bảng câu hỏi

Trong nghiên cứu này Trước hết là thiết kế một bảng câu hỏi thật hoàn chỉnh Sau đó các bảng câu hỏi được gửi đến các đối tượng có liên quan đến nghiên cứu này thông qua việc phát bảng câu hỏi trực tiếp Quy trình thiết kế bảng câu hỏi được thực hiện như sau:

Trang 37

Hình 3.2: Tiến trình thực hiện bảng câu hỏi nghiên cứu

3.4.2 Kích thước mẫu

Ta có thể tăng độ chính xác (giảm độ rộng của khoảng tin cậy) bằng cách đơn giản là tăng kích thước mẫu, tuy nhiên độ chính xác chỉ tăng lên theo tỉ lệ với căn bậc hai của kích thước mẫu Nói cách khác, chi phí lấy mẫu tăng lên với tốc độ nhanh gấp nhiều lần so với tốc độ tăng của độ chính xác

Ta có thể suy ra công thức tính toán kích thước mẫu như sau:

X

Đọc và xem xét các tài liệu (Sách báo, tạp chí, luận văn, …) liên quan các

những nhân tố tác động năng lực kỹ sư định giá

Thiết kế sơ bộ bảng câu hỏi, thảo luận sơ bộ với các chuyên gia, những người có

Hoàn thiện bảng câu hỏi

Sử dụng bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu tìm kiếm câu trả lời cho mục tiêu nghiên cứu

Trang 38

 2

2

).(

E

S Z

S : độ lệch chuẩn của trị trung bình của mẫu

SX : độ lệch chuẩn của mẫu

E : sai số cho phép, khoảng tin cậy;

Z : giá trị của phân phối chuẩn được xác định theo hệ số tin cậy Kích thước mẫu là hàm số phụ thuộc vào mức độ chấp nhận rủi ro (biểu thị bằng giá trị Z), độ biến thiên của đám đông (ước lượng bằng độ lệch chuẩn) và khoảng tin cậy (sai số cho phép)

Trên thực tế, việc tính toán kích thước mẫu phức tạp hơn nhiều so với công thức Trước hết, ta thường không biết độ lệch chuẩn khi chưa thực sự bắt tay vào lấy mẫu Nhưng lại cần biết độ lệch chuẩn đó để quyết định kích thước mẫu trước khi tiến hành khảo sát Thông thường, giá trị độ lệch chuẩn được sử dụng trong công thức trên chỉ là một con số phỏng đoán, đôi khi sử dụng từ các nghiên cứu trước đó, hoặc từ nghiên cứu thí điểm, hay từ việc phỏng vấn thử nghiệm bảng câu hỏi Hoặc có khi ta bắt đầu bằng một kích thước mẫu thử nghiệm, sau khi thu được một số dữ liệu, ta tính độ lệch chuẩn của mẫu ấy, thế giá trị này vào công thức tính ra kích thước mẫu

Nhìn chung, còn khá nhiều vướng mắc trong công thức tính kích thước mẫu, cho nên người ta ít sử dụng chúng nếu như mục tiêu dự án không đòi hỏi quá cao về độ chính xác cho các thông số dự đoán Theo kinh nghiệm thì với 33 nhân tố trong nghiên cứu này thì cần khoảng 165 mẫu

Đề tài nghiên cứu “Phân tích các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực

của kỹ sư định giá và xây dựng mô hình đánh giá, lựa chọn bằng công cụ AHP”

Bản thân người nghiên cứu không thể đánh giá và tự rút ra được các nhân tố ảnh hưởng

Trang 39

đến năng lực của kỹ sư định giá vì như vậy là rất chủ quan và mang tính áp đặc Đề tài được hoàn thành từ những ý kiến thu thập được của những đối tượng có liên quan đến nghiên cứu này

Qui trình nghiên cứu của đề tài này được thể hiện thông qua sơ đồ như sau:

Bước 1 : Thiết kế Bảng câu hỏi khảo sát

XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tham khảo tạp chí,

ý kiến chuyên gia

Xác định các nhân tố trong điều kiện VN

Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát

Thử nghiệm bảng câu hỏi, khảo sát chính thức

Bước 2 : Phân tích thống kê số liệu thu thập

Kiểm tra độ tin cậy

của thang đo

Xếp hạng, phân tích các nhân tố theo trị trung bình

Kiểm định Kruskal-Wallis

và One-way ANOVA

Phân tích nhân

tố PCA

Bước 3 : Xây dựng mô hình đánh giá, lựa chọn kỹ sư định giá bằng công cụ AHP

Cơ sở lý thuyết của

mô hình AHP

Xây dựng mô hình, đánh giá lựa chọn kỹ sư định giá bằng công cụ AHP

NHẬN XÉT, KẾT LUẬN VÀ

KIẾN NGHỊ

Hình 3.3: Sơ đồ qui trình nghiên cứu

Trang 40

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

4.1 Nội dung bảng câu hỏi khảo sát và kết quả thu thập số liệu

4.1.1 Nội dung bảng câu hỏi khảo sát trong nghiên cứu này

Bảng câu hỏi được thiết kế có nội dung như sau:

- Phần đầu: là phần giới thiệu về tên đề tài, mục đích của đề tài nghiên cứu đến với các đối tượng khảo sát

- Phần cuối: bao gồm phần 1 và phần 2

+ Phần 1: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến năng lực của kỹ

sư định giá Đây là phần trọng tâm của bảng câu hỏi

+ Phần 2: Thông tin chung về cá nhân và về công ty của đối tượng khảo sát đang làm việc

(chi tiết về bảng câu hỏi có thể xem ở phần phụ lục)

4.1.2 Kết quả thu thập số liệu

Theo kinh nghiệm thì với 33 nhân tố trong nghiên cứu này thì cần khoảng từ 165 mẫu Như vậy để đạt được lượng mẫu (bảng câu hỏi) cần thiết cho nghiên cứu này (khoảng 165 mẫu)

Tác giả đã gửi trực tiếp cũng như nhờ qua bạn bè đã gửi đến các đối tượng có liên quan đến nghiên cứu này 250 bảng câu hỏi Kết quả thu được 186 bảng câu hỏi (trong

đó có 167 bảng câu hỏi hợp lệ và 19 bảng câu hỏi không hợp lệ)

Tần suất Tỷ lệ % Tỷ lệ tích lũy

Bảng 4.1 : Thống kê kết quả trả lời Bảng câu hỏi

Ngày đăng: 27/01/2021, 13:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w