Số máy móc thiết bị của xí nghiệp khi đó như sau: Bảng 1: Số máy móc thiết bị của công ty may Thanh Hoá năm 1974 ị Số lượng 1 Máy may công nghiệp của Liên Xô k22 Cái 200 Nguồn: Số thống
Trang 1PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐỊNH MỨC LAO
ĐỘNG TẠI CÔNG TY MAY THANH HOÁ.
II VAI TRÒ VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY MAY THANH HOÁ.
1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
- Công ty may Thanh Hoá là doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước chịu sự quản
lý Nhà nước của Sở công nghiệp Thanh Hoá
- Cũng như các doanh nghiệp khác, công ty may Thanh Hoá là đơn vị hạch toánkinh doanh độc lập chịu sự quản lý Nhà nước của sở công nghiệp quản lý vốn củaCục quản lý vốn và tài sản của Nhà nước tỉnh Thanh Hoá
- Từ xí nghiệp may cắt gia công thị xã thành lập theo Quyết định số 889- UB/THngày 26.5.1974 của UBND tỉnh Thanh Hoá trên cơ sở sát nhập 3 đơn vị:
- Xí nghiệp may Bà Triệu
- Văn phòng công ty may dệt, nhuộm
- Trạm may cắt gia công thị xã Thanh Hoá
Xí nghiệp bắt đầu hoạt động từ ngày 06/07/1974 với tổng số 618 cán bộcông nhân viên Số máy móc thiết bị của xí nghiệp khi đó như sau:
Bảng 1: Số máy móc thiết bị của công ty may Thanh Hoá năm 1974
ị
Số lượng
1 Máy may công nghiệp của Liên Xô k22 Cái 200
Nguồn: Số thống kê trang thiết bị (của phòng kỹ thuật)
- Tổng diện tích nhà xưởng: 2.450m2
- Sản phẩm chủ yếu: Quần áo bảo hộ lao động
- Khách hàng chủ yếu của xí nghiệp là Công ty công nghệ phẩm Thanh Hoá
và Công ty bảo hộ lao động miền Bắc
Trang 2Ngày 14/11/1987 Hội đồng bộ trưởng ra quyết định 217/HĐBT giaoquyền
tự chủ cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp tự hạch toánkinh tế trên cơ sở quan hệ hàng hoá tiền tệ, quan hệ cung cầu phải tính đúng tính
đủ vào giá thành sản phẩm Đồng thời, cùng với sự xuất hiện của nhiều thành phầnkinh tế khách hàng của Công ty không còn nữa Xí nghiệp chuyển hướng sản xuấtkinh doanh từ kinh doanh hàng nội địa sang kinh doanh hàng xuất khẩu
Được UBND tỉnh cho phép Quyết định số 1489 tài chính/ UBTH đổi tên xínghiệp may cắt gia công thành xí nghiệp may mặc giày da xuất khẩu Thanh Hoá
Sản phẩm của xí nghiệp thời kỳ này là:
- Quần áo bảo hộ lao động xuất khẩu
- Mũ, giầy xuất khẩu
Thị trường tiêu thụ: Liên Xô, Cộng Hoà Dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan.Năm 1991 -1992, trước sự biến động về chính trị của Liên Xô và các nướcĐông Âu, Công ty lại bị mất thị trường tiêu thụ sản phẩm Giai đoạn này xí nghiệpthiếu việc làm nên xắp xếp lại cơ cấu tổ chức sản xuất bằng cách giảm từ 618 côngnhân xuống còn 310 người, số dôi ra phải giải quyết cho nghỉ hưu và về thôi việc
Ngày 27/6/1992, Xí nghiệp may và sản xuất dép thêu xuất khẩu Hoằng Hoáđược sát nhập với xí nghiệp may mặc giầy da xuất khẩu Thanh Hoá theo Quyếtđịnh số 898/ UBTH của UBND tỉnh Thanh Hoá và lấy tên là xí nghiệp may xuấtkhẩu Thanh Hoá Đồng thời xí nghiệp chuyển hướng sang gia công hàng may mặcxuất khẩu cho các nước Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc
Căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh đồng thời để phù hợp với nền kinh
tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Tháng 10năm 1992 xí nghiệp may xuất khẩu được Bộ công nghiệp nhẹ và UBND tỉnhThanh Hoá cấp giấy phép thanh lập doanh nghiệp Nhà nước giấy phép số 1352 vớingành nghề kinh doanh chủ yếu may công nghiệp và đổi tên thành Công ty mayThanh Hoá
Từ đó đến nay, Công ty may Thanh Hoá luôn đầu tư mở rộng sản xuất Từchỗ chỉ có một phân xưởng may đến nay đã có 3 phân xưởng may lớn Nhà xưởngkhang trang, máy móc trang thiết bị hiện đại, sản xuất sản phẩm đảm bảo chấtlượng cao và sản phẩm của công ty đã được tiêu thụ rộng khắp trong nước và ngay
Trang 3cả tại các thị trường đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm như: Thụy sỹ, Pháp, Áo,Đức…
Từ chỗ giao hàng phải xuất khẩu uỷ Thanh Hoá qua đơn vị bạn đến nayCông ty đã được cấp giấy phép xuất khẩu trực tiếp và hàng năm được Bộ ThươngMại phân bổ Quota (hạn ngạch xuất khẩu) sang thị trường EU
Bảng 2: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty
Nguồn: Sổ kế toán <Phòng kế toán Công ty may Thanh Hoá>
2 Đặc điểm Công ty
Trang 4Diện tích sử dụng của Công ty: 11768 m2
Trong đó: - Trụ sở chính (cơ sở 1): 9768 m2
- Thị trấn Bút Sơn(cơ sở 2): 2000m2
2.2 Đặc điểm bộ máy quản lý
- Cơ cấu tổ chức của Công ty may Thanh Hoá theo kiểu trực tuyến chứcnăng Ban giám đốc gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc Giám đốc công ty làngười điều hành chung chịu trách nhiệm cao nhất trước nhà nước về kết quả hoạtđộng kinh doanh của công ty Các phó giám đốc có nhiệm vụ giúp việc cho giámđốc phụ trách từng phần công việc theo sự phân công của giám đốc Tiếp đến làcác phòng ban phân xưởng sản xuất
Các phòng ban chức năng của công ty gồm:
+ Ban cơ điện
+ Phân xưởng trải cắt
+ Phân xưởng may I với 6 tổ sản xuất
+ Phân xưởng may II với 6 tổ sản xuất
+ Phân xưởng may III với 2 tổ sản xuất
Để thấy rõ hơn về cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty may Thanh Hoáchúng ta xem sơ đồ sau:
Trang 5GIÁM ĐỐC
Phó giám đốc sản xuất Phó giám đốc đầu tư xây dựng cơ bản
Tổ trải cắtBan cơ điệnPhòng kỹ thuậtPhòng kế hoạch vật tư Ban đào tạo Phòng tổ chức bảo vệ Phòng tài vụ
Tổ1 Tổ2 Tổ3 Tổ4 Tổ5 Tổ6 Tổ1 Tổ2 Tổ1 Tổ2 Tổ3 Tổ4 Tổ5 Tổ6
Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức Công ty may Thanh Hoá
2.3 Đặc điểm về máy móc thiết bị công nghệ
* Máy móc thiết bị
Do yêu cầu sản xuất, Công ty thường xuyên đầu tư nâng cao năng lực sảnxuất, đổi mới dây chuyền thiết bị công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất cũngnhư yêu cầu về sự phát triển tiến bộ của khoa học công nghệ Đến nay công ty đã
Trang 6có các loại máy móc đáp ứng yêu cầu công nghệ may, thoả mãn đòi hỏi của kháchhàng về mặt kỹ thuật
Những loại máy móc thiết bị mà công ty có thể hiện tại bảng sau:
Bảng 3: Bảng tổng hợp về máy móc thiết bị.
ST
T Tên thiết bị
Nướcsảnxuất
Số lượng thiết bị
Năm sửdụng
Hiệncó
Huy độngsản xuất
Chờthanh lý
5 Máy thùa khuyết đơn
Nguồn: Phòng kỹ thuật công nghệ Công ty may Thanh HoáQua số liệu bảng trên ta thấy về máy may băng 1 kim là tương đối nhiều
320 máy Nhưng máy chuyên dùng 2 kim di động và cố định so với máy 1 kim làquá ít Công ty bố trí 14 tuyến sản xuất mỗi tuyến chỉ có 1 máy 2 kim trong khi yêu
Trang 7cầu sản xuất đòi hỏi phải có 2 máy cho mỗi tuyến sản xuất Điều này sẽ ảnh hưởngđến năng suất lao động và việc hoàn thành mức của người lao động cũng như việcxây dựng mức của bộ phận chuyên trách đặc biệt là khi có sự thay đổi về chủngloại sản phẩm hoặc việc rút ngắn thời hạn giao hàng do bên khách hàng yêu cầu
Về bàn là hơi, 3 phân xưởng sản xuất chỉ có 2 bộ với 6 vòi là trong khi đóthực tế đòi hỏi cứ 3 tuyến sản xuất phải có một bộ bàn là hơi Điều này không cânđối với sản xuất ảnh hưởng đến chất lượng sản xuất do phải là nhanh cho kịp tiến
độ của sản xuất và nó cũng ảnh hưởng tới năng suát lao động và việc hoàn thànhmức của mỗi công nhân trong mỗi dây chuyền sản xuất do bộ phận kế tiếp sau bộphận là phải chờ đợi
Một số máy chuyên dùng khác: Di bọ, thùa khuyết đầu tròn cũng chỉ có 2đến 3 chiếc chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng Điều này cũng gây ách tắccho sản xuất Thực tế khảo sát tại cá bộ phận là Di bọ, thùa khuyết tại các phânxưởng sản xuất đều phải bố trí làm thêm giờ mới đáp ứng được yêu cầu sản xuất
- Dây chuyền công nghệ sản xuất
Công ty may Thanh Hoá với phương thức kinh doanh là ký hợp đồng giacông đối tác khách hàng trong và ngoài nước sau ddó nhận nguyên vật liệu, phụliệu của họ kèm theo mẫu quần áo, về tổ chức sản xuất thành sản phẩm sau đó giaocho khách hàng một số mã hàng nước ngoài mà công ty nhận nguyên phụ liệu như:Peter, Blexlon, júngun
Bởi kinh doanh theo phương thức ký kết hợp đồng thì công ty mới tiếnhành sản xuất Thêm vào đó, việc sản xuất không chỉ tập trung vào một loại sảnphẩm nhất định nào đó mà luôn thay đổi theo cá đơn đặt hàng Do vậy, cứ mỗi lầnthay đổi sản phẩm thì việc áp dụng mức lại không chính xác nữa bởi vì với mỗiloại nguyênvật liệu khác nhau hay sản phẩm khác nhau thì mức độ hoàn thành lạikhác nhau Cho nên, đây là điểm ảnh hưởng rất lớn công tác xây dựng và áp dụngmức lao động
Trang 8Xây dựng bản vẽ, các thông số tiêu chuẩn kỹ thuật
May mẫu Xây dựng đường truyền công nghệ
Hướng dẫn thực hiện đường truyền công nghệ
Cắt bán thành phẩm
Đánh số
Là chi tiết và là thành phẩm May hoàn chỉnh áo theo đường truyền công nghệ
Kiểm tra sản phẩm
Đóng gói sản phẩm
Nhập kho Nguyên liệu - phụ liệu
Quy trình sản xuất thể hiện như sau:
Trang 9Yêu cầu của sản phẩm do khách hàng đặt ra dẫn đến tính chủ động trong côngnghệ sản xuất rất thấp Có nhiều mã hàng đang trong quá trình sản xuất khách hànglại thay đổi, bổ sung một số chi tiết cho sản phẩm Điều này làm ảnh hưởng đếnviệc hoàn thành mức của người lao động cũng như đến việc áp dụng mức và điềuchỉnh mức của bộ phận làm công tác định mức
2.4 Đặc điểm thị trường và khả năng cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là yếu tố không thể thiếu đối vớidoanh nghiệp sản xuất kinh doanh để duy trì và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sảnphẩm Để tăng khả năng chiếm lĩnh thị trường đòi hỏi sản phẩm phải đạt chấtlượng cao đồng thời giá cả phải chăng phù hợp với túi tiền của người tiêu dùng.Thị trường của công ty là một số nước trong khu vực Châu á và Châu Âu như: ĐàiLoan, Hàn Quốc, Các nước EU, Nhật Bản… Do công ty có hạn chế trong khả năngtiếp xúc trực tiếp với khách hàng ở nước ngoài cho nên để xuất hàng ra nước ngoàiCông ty phải xuất qua bên trung gian đó là các đơn vị sản xuất kinh doanh có đơnđặt hàng của kháh nước ngoài Công ty sẽ ký hợp đồng với họ sau đó sẽ tiến hành
tổ chức sản xuất sản phẩm cung cấp cho họ, khả năng cạnh tranh của công ty chưacao bởi cơ sỏ hạ tầng trang thiết bị còn chưa tốt, tay nghề đội ngũ công nhân cònthấp kém Trong khi đó khách hàng tiêu thụ sản phẩm lại có yêu càu đòi hỏi sản
Trang 10phẩm phải có chất lượng cao và giá rẻ do vậy trong năm vẫn có những ngày công
ty không ký được hợp đồng dẫn đến phải ngừng sản xuất cụ thể như trong tháng 4
-2000 Công ty phải ngừng sản xuất từ ngày 18 đến ngày 23 Do khả năng cạnhtranh và đặc điểm thị trường đòi hỏi công tác định mức sao cho phù hợp với đặcđiểm lao động của công ty đồng thời vừa phải tính mức sao cho chi phí đơn giátiền lương theo mức phù hợp nhất nhằm làm giảm chi phí trong giá thành sảnphẩm Đây là công việc khó khăn đối với công tác định mức lao động bởi để đạtđược điều này thì lại khó thực hiện được điều kia
2.5 Đặc điểm về lao động
Trực tiếp làm ra sản phẩm ở Công ty may Thanh Hoá gồm công nhân ở 3phân xưởng may gần 700 người Ở mỗi phân xưởng sản xuất được bố trí thành cácdây truyền sản xuất (ttỏ sản xuất ) với biên chế mỗi tuyến là 42 - 45 lao động quản
lý tổ có tổ trưởng và 2 kỹ thuật viên Ngoài thợ may trong tổ còn được bố trí 2 thựthùa, là, đính đảm bảo sản xuất khép kín, hoàn thành sản phẩm ngay trong tổ sảnxuất
Ưu điểm của việc bố trí lao động theo tổ là gắn kết quả hoạt động của cánhân với kết quả chung của tập thể, kích thích tập thể, cá nhân nâng cao năng suấtlao động hoàn thanh mức lao động đây cũng là đặc điểm thuận lợi cho cho việcxây dựng và áp dụng các mức lao động Bởi mức có thể được xây dựng thông quamột tổ nào đó sau đó đem áp dụng cho các tổ khác thực hiện Điều này làm giảmbớt được nhiều những hao phí cho công tác định mức như giảm thời gian xây dựngmức
Song song với việc đầu tư trang thiết bị máy móc, cải tạo nhà xưởng, mởrộng sản xuất đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật tại công ty cũng ngàycàng được bổ sung cả về số lượng cũng như chất lượng Điều này được thể hiệnqua các biểu sau:
Bảng 4: Đặc điểm về lao động của Công ty may Thanh Hoá
Trang 11STT Chỉ tiêu
Sốlượng
Tỷtrọng
Sốlượng
Tỷtrọng
Sốlượng
Tỷtrọng
Nguồn: Sổ theo dõi nhân lực
Biểu đồ: Sự thay đổi cơ cấu lao động gián tiếp.
NĂM 1997
16,4
38,2 45,5
Qu¶n lý kü thuËt Qu¶n lý hµnh chÝnh - b¶o vÖ Qu¶n lý kinh tÕ
Qu¶n lý kü thuËt Qu¶n lý hµnh chÝnh - b¶o vÖ Qu¶n lý kinh tÕ
Trang 12Qua biểu 4 ta thấy rằng tổng số lao động của công ty tăng lên qua các nămđặc biệt là số lượng lao động gián tiếp tăng lên rất nhanh Năm 1997 mới chỉ có 55người thì đến năm 1999 là 100 người
Trong khi đó chúng ta thấy số lượng công nhân sản xuất không tăng mà lạicòn có xu hướng giảm nhưng số lượng giảm cũng không đáng kể
Sự biến động nhỏ này là do những vị trí sản xuất ở các phân xưởng gần như
có biên chế cố định số vị trí làm việc tại các tuyến sản xuất không tăng cho nên sốlượng công nhân không tăng
Nguyên nhân dẫn đến việc lao động gián tiếp tăng nhanh là:
Trang 13- Do đòi hỏi của quá trình sản xuất của khách hàng về chất lượng sản phẩm
và sự tồn tại phát triển của công ty dẫn đến việc sản lượng lao động quản lý kỹthuật tăng nhanh Năm 1997 mới chỉ có 21 người thì năm 1998 là 47 người tăng123,8% Khách hàng của công ty là khách nước ngoài do vậy sản phẩm đòi hỏiphải đảm bảo chất lượng cao, sai hỏng ít nên cần phải tăng cường lượng lao độngquản lý kỹ thuật
- Do tại các phòng ban của công ty không được bố trí máy móc thiết bị để
xử lý số liệu (máy vi tính) mà việc xử lý số liệu vẫn do con người thực hiện chonên mất nhiều thời gian và công sức của các cán bộ quản lý ảnh hưởng đến việcthực hiện đày đủ các chức năng các nhiệm vụ của cán bộ quản lý Vì vậy mà sốlượng lao động gián tiếp, mà chủ yếu là những nhân viên giúp việc, tăng lên rấtnhanh
- Xét theo nguyên nhân dẫn đến việc số lượng lao động gián tiếp tăngnhanh thì chúng ta thấy nó là hợp lý Tuy nhiên nếu xét theo tỷ lệ giữa lao độnggián tiếp và lao động trực tiếp tại công ty thì có thể thấy nó chưa hợp lý Năm 1997
tỷ lệ giữa lao động gián tiếp và lao động trực tiếp là 1:12 thì năm 1999 tỷ lệ nàynày là 1: 6 Đây là một tỷ lệ không hợp lý bởi có quá nhiều lao động gián tiếp Đó
là đặc điểm về mặt số lượng còn về mặt chất lượng thì sao?
Biểu số 5: Chất lượng lao động quản lý.
ST
Tổng số (người)
(% so với tổng số) Trình độ
Thâm niên nghề (năm) Đại
học
Trung cấp
Sơ cấp <10 10÷ 20 >20
Trang 14Về chất lượng đội ngũ công nhân được thể hiện qua bảng sau:
Biểu số 6: Cơ cấu ngành nghề bậc thợ
Nguồn: Sổ theo dõi nhân lực
Cơ cấu bậc thợ của ngành may khác với ngành khác bởi trình độ bậc thợcao nhất chỉ là bậc VI không như một số ngành khác có cả bậc VII hoặc có ngành
có bậc ít hơn
Trang 15Nhìn vào số liệu ở bảng trên điều đầu tiên chúng ta có thể nhận xét mộtcách toàn diện rằng trình độ bậc thợ của công ty là thấp với bậc thợ bình quân là2,125
Bậc thợ bình quân cao nhất của công ty là của công nhân sửa chữa với bậcthợ bình quân là 4,83 tuy nhiên đây không phải là ngành nghề chính của công ty.Ngành nghề chính của công ty là nghề may với 600 công nhân (chiếm số lượngđông nhất) nhưng lại có bậc thợ bình quân thấp nhất chỉ là 1,86 Trong số 600 côngnhân may thì số công nhân bậc I chiếm hơn một nửa 55%, công nhân bậc II chiếm18,7% công nhân bậc IV chiếm 16,7% Số công nhân may có tay nghề khá giỏicòn ít chỉ chiếm 9,6%
Với công nhân là bậc thợ bình quân cũng không cao chỉ là 2,3 điều này là
do số lượng công nhân là có tay nghề bậc II đã chiếm tới 74,2 % còn lại là côngnhân bậc III chiếm 25,8% không có công nhân có bậc thợ cao hơn bậc III
Khâu trải cắt là một khâu quan trọng trong quá trình tạo ra sản phẩm bởi nó
có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm Nếu như cắt sai, cắt lệch nó dẫn đếnviệc sản phẩm làm ra không đạt tiêu chuẩn, gây lãng phí cho các công đoạn saunhư: may, thùa, là … Tuy vậy bậc thợ bình quân của công nhân trải cắt cũng chưaphải là cao Số công nhân trải cắt có bậc II, III còn nhiều chiếm tới 67% trong khi
số công nhân có bậc IV, V chỉ chiếm 33%
Với bậc thợ bình quân thấp như vậy sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến khảnăng hoàn thanh mức lao động của công nhân và gây ra những khó khăn nhất địnhcho công tác định mức lao động nó cũng đồng nghĩa với việc sản xuất kinh doanh
sẽ giảm sút do chất lượng hàng hoá không đảm bảo Bởi trình độ thấp cho nên cácthao tác động tác sẽ chậm chạp, kém chính xác dẫn đến năng suất lao động khôngcao, chất lượng sản phẩm thấp do sản phẩm hỏng và lỗi nhiều
Cơ cấu bậc thợ giữa những ngành nghề cũng chưa được cân đối Với côngnhân may thì bậc thợ chủ yếu vẫn là bậc I trong khi công nhân là bậc thợ chủ yếu
là bậc II và công nhân trải cắt bậc thợ chủ yếu là II, III Sự chênh lệch này gây nênnhững khó khăn cho việc xây dựng mức trong các dây chuyền sản xuất Bởi vớimột công nhân có trình độ khác nhau thì tốc độ hoàn thành khác nhau
Trang 16II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY MAY THANH HOÁ
1 Các loại mức đang áp dụng tại công ty
Hiện nay Công ty đang áp dụng 2 loại mức đó là mức thời gian và mứcbiên chế (số lượng người cần thiết để hoàn thành một khối lượng công việc nhấtđịnh theo đúng tiêu chuẩn chất lượng trong điều kiện sản xuất nhất định) Tuy mứchtời gian trong thực tế là cơ sở xuất phát để tính các loại mức khácvì thời gian làmviệc là thước đo lao động nói chung và về nguyên tắc định mức lao động là xácđịnh hao phí thời gian cần thiết đẻe hoàn thành công việc này hay công việc khácnhưng nó chưa được áp dụng thường xuyên trong Công ty
2 Tổng khối lượng công việc của Công ty
Khối lượng công việc ở công ty được chia thành 2 nhóm:
- Khối lượng công việc của lao động quản lý
- Khối lượng công việc cuae công nhân sản xuất
Trong đó công việc của lao động quản lý bao gồm công việc tại các phongban như:
+ Phòng tổ chức
+ Phòng tài vụ
+ Phòng kế hoạch vật tư
+ Phòng kỹ thuật
Khối lượng công việc của công nhân sản xuất bao gồm:
+ Công việc trải cắt
+ Công việc giác mẫu
+ May
+ Là
+ Thùa, đính
Sửa chữa cơ, điện
Trong tổng số công việc ở trên chỉ có một số công việc đã được định mức
đó là: