1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ SẢN XUẤT TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ TÂY

23 348 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nhằm Mở Rộng Tín Dụng Phát Triển Kinh Tế Hộ Sản Xuất Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Hà Tây
Trường học Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài Luận
Thành phố Hà Tây
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 32,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặcthù của các hộ là sản xuất kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhiều ngànhnghề khác nhau và chính sự khác nhau về chu kì sản xuất kinh doanh của các hộgia đình đòi hỏi Ngân hàng ph

Trang 1

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ

HỘ SẢN XUẤT TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG

THÔN HÀ TÂY

I Quan điểm và phương hướng mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản

xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây

Đầu tư vốn phát triển kinh tế hộ sản xuất là con đường ngắn nhất để tiếnhành CNH_HĐH nông nghiệp nông thôn, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, rútbớt lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp Đây là một trong những chủ trương lớncủa Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế và trong tiếntrình thực hiện đổi mới ấy Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đóngmột vai trò hết sức quan trọng Là đơn vị cung cấp vốn để thành phần kinh tế cáthể mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng gia sản xuất, khôi phục ngành nghề truyềnthống, phát triển ngành nghề mới, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

đã và đang đóng góp tích cực vào sự thay đổi diện mạo nông thôn trong thời gianqua Đồng vốn của Ngân hàng đã từng bước giúp nông dân từng bước xoá đóigiảm nghèo, cải thiện đời sống, tiến tới làm giàu, xây dựng một cuộc sống ấm nohạnh phúc Trình độ văn hoá, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân khôngngừng được cải thiện và nâng cao

Khu vực kinh tế hộ, cá thể trên địa bàn Hà Tây bao gồm tổng số khoảng530.000 hộ, trong đó hộ giàu 53.000 hộ chiếm khoảng 10%, hộ khá 144.160 hộchiếm khoảng 27,2%, hộ trung bình 298.920 hộ chiếm 56,4%, còn lại là hộ nghèochiếm 9,6% khu vực kinh tế này, trong những năm gần đây, hoạt động có xuhướng phát triển tốt, đã biết sản xuất kinh doanh với thị trường, sử dụng vốn cóhiệu quả, nhiều hộ qua tích luỹ đã thành lập được doanh nghiệp Đây là khu vực cónhiều tiềm năng để Ngân hàng mở rộng quan hệ trên nhiều lĩnh vực

Trang 2

Quan điểm của NHNo&PTNT Hà Tây trong thời gian tới là tiếp tục mở rộng

và phát triển tín dụng đối với thành phần kinh tế này Mở rộng tín dụng đối vớikinh tế hộ sản xuất cũng là biện pháp mở rộng khách hàng, mở rộng kinh doanh,tăng lợi nhuận và đa dạng hoá rủi ro, thực hiện kinh doanh theo phương châm “Antoàn – Phát triển – Hiệu quả”

II Một số giải pháp nhằm mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thônHà Tây 1.Giải pháp về qui trình, nghiệp vụ.

1.1 Cải tiến thủ tục tín dụng

Thủ tục tín dụng nên được cải tiến cho gọn nhẹ và hợp lý hơn mà vẫn đảmbảo tính pháp lý cần thiết của qui trình tín dụng Cần cải tiến bộ hồ sơ vay vốn rútbớt hoặc gộp một số giấy tờ còn chồng chéo, trùng lắp làm một để tạo việc thuậnlợi cho việc quản lý hồ sơ và các công đoạn trở nên gọn nhẹ đối với các kháchhàng Ngân hàng nên gộp tờ khai tài sản thế chấp, biên bản định giá tài sản, giấy

uỷ quyền phát mại tài sản vào cùng một hợp đồng thế chấp vì các thông tin ở cácgiấy tờ này có tính trùng lắp ở nhiều điều khoản Trong hợp đồng thế chấp, cầm cốtài sản của các khoản vay đối với hộ sản xuất có thể không cần dấu và chữ kí của

cơ quan công chứng Trên thực tế theo các cán bộ tín dụng dày dạn kinh nghiệmthì không có một mối liên quan có ý nghĩa nào giữa có hay không có thủ tục côngchứng trong hồ sơ vay vốn đối với nợ quá hạn đối với dư nợ hộ sản xuất

Ngân hàng nên lập và sử dụng sổ vay vốn đối với làng nghề Theo cách nàythì cả Ngân hàng và khách hàng đều có nhiều thuận lợi trong thời gian quan hệ tíndụng, có thể vay trả thường xuyên như sổ tiết kiệm và chỉ phải làm thủ tục lần đầu

Trang 3

Các lần vay sau khách hàng chỉ cần làm đơn xin vay, khế ước nhậ nợ và hợp đồngthế chấp nếu cần thiết

1.2 Xác định mức cho vay và thời hạn hợp lý.

Về mức mức cho vay:

Trong thực tế Ngân hàng thường chỉ cho vay khoảng 70-80% số vốn cầnthiết mà khách hàng yêu cầu để tiến hành sản xuất kinh doanh Chính cái tiền lệnày đã dẫn đến việc lập hồ sơ khi vay vốn Ngân hàng các khách hàng thường nângcao qui mô nguồn vốn lên để có thể vay được đủ số tiền cần thiết Điều này gâykhó khăn hơn cho Ngân hàng trong công tác thẩm định dự án, khó khăn trongcông tác quản lý việc sử dụng vốn đúng mục đích, về khả năng quản lý, thịtrường của các sản phẩm của dự án Vì vậy Ngân hàng nên đáp ứng 100% số vốntheo yêu cầu của khách hàng nếu xét thấy dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả

Số vốn Ngân hàng cho vay = Tổng vốn dự án – vốn tự có

Nên cho vay bằng 100% giá trị tài sản đảm bảo thế chấp là quyền sử dụngđất bởi vì trong thực tế khung giá đất theo qui định của Chính phủ thấp hơn nhiều

so với giá thị trường Hơn nữa thực tế cho thấy giá đất hầu như có xu hướng biếnđộng lên, và nếu khi biến động xuống thì thực tế giá thị trường vẫn cao hơn giátheo khung giá qui định

Về thời hạn cho vay:

Một thực tế hiện nay là có khá nhiều các khoản vay của hộ sản xuất phải rahạn nợ và điều chỉnh kì hạn nợ, nhất là các món vay của hộ nghèo Qua kiểm trathực tế cho thấy rất nhiều trường hợp hộ vay xin gia hạn nợ và Ngân hàng đồng ýxét duyệt cho gia hạn nợ không phải do nguyên nhân khách quan như chế độ quiđịnh, mà thực chất là do thời hạn cho vay của Ngân hàng chưa phù hợp với chu kìsản xuất kinh doanh, thời hạn sinh trưởng, phát triển thực tế của cây trồng vật nuôi

Trang 4

Do đó điều kiện tiên quyết để cho đồng vốn của Ngân hàng thực sự phát huy hiệuquả thì cần phải xác định cho được một thời hạn cho vay hợp lý và khoa học Đặcthù của các hộ là sản xuất kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhiều ngànhnghề khác nhau và chính sự khác nhau về chu kì sản xuất kinh doanh của các hộgia đình đòi hỏi Ngân hàng phải có những kì hạn cho vay phù hợp với từng hộ.

Một điều đáng lưu ý là trong thực tế có thể thời gian sản xuất ngắn song thờigian tiêu thụ lại kéo dài Ví dụ: Một hộ sản xuất lụa ở Vạn Phúc –Hà Đông thì chu

kì sản xuất bắt đầu từ mua tơ, quay tơ, dệt lụa, chuồi, nhuộm cho đến sản phẩmcuối cùng là tấm lụa thành phẩm mất khoảng chừng một tháng song thời gian tiêuthụ thì lại không như vậy, có thể kéo dài đến một năm (tuỳ theo hợp đồng hoặctính mùa vụ của sản phẩm, như lụa thì thường tiêu thụ mạnh vào mùa hè thu songsản xuất thì lại quanh năm) Chính vì vậy Ngân hàng cần nhìn nhận chu kì sản xuấtkinh doanh của hộ sản xuất một cách toàn diện và chi tiết, áp dụng thời hạn chovay đối với từng hộ một cách linh hoạt và phù hợp

Bên cạnh việc xác định một thời hạn cho vay linh hoạt Ngân hàng cần xemxét đến kế hoạch thu nợ một cách phù hợp Kế hoạch thu nợ này không những dựavào chu kì sản xuất kinh doanh của khách hàng mà còn phải căn cứ vào tình hìnhtài chính và ngân quĩ của từng khách hàng Tuỳ từng đối tượng mà Ngân hàng cóthể xác định kế hoạch thu nợ một lần hay nhiều lần Trong thực tế với những mónvay lớn Ngân hàng thường áp dụng hình thức thu nợ nhiều lần để giảm bớt áp lựctrả nợ cho khách hàng Đối với các món vay nhỏ thì áp dụng thu nợ một lần đểgiảm thiểu chi phí đi lại, giấy tờ, thời gian

Thời hạn cho vay phù hợp nhất đối với các hộ sản xuất là phải >= chu kỳ sảnxuất kinh doanh của khách hàng Tuy nhiên trên thực tế cho thấy để đồng vốn củaNgân hàng thực sự phát huy hiệu quả thì việc xác định khoảng thời gian ân hạn củakhoản tín dụng một cách phù hợp là một điều vô cùng quan trọng

Trang 5

Cách 1: Thời gian ân hạn được tính từ lúc Ngân hàng Ngân hàng giải ngân

món vay cho đến khi khách hàng tiêu thụ được sản phẩm, có tiền trả Ngân hàng,tức là khi khách hàng kết thúc chu kỳ sản xuất kinh doanh Thời gian ân hạn nàynên áp dụng đối với các khoản tín dụng nhỏ hoặc đối với các khách hàng có tiền sửtín dụng tốt

Cách 2: Thời gian ân hạn được tính từ lúc bắt đầu tiến hành giải ngân cho

đến khi khách hàng thu được kết quả sản xuất (có doanh thu) Ngân hàng áp dụngcách này đối với các khoản vay lớn và Ngân hàng thường tiến hành thu nợ nhiềulần

Như vậy để có được thời gian ân hạn hợp lý nhất Ngân hàng nên vận dụnglinh hoạt cả hai cách trên

Thời hạn cho vay của khoản tín dụng phải dựa trên chu kì sản xuất kinhdoanh của khách hàng và Ngân hàng chỉ thu nợ khi khách hàng bắt đầu có thunhập hình thành từ vốn vay Nếu đối tượng sử dụng của vốn vay chỉ tham gia vàomột chu kì thì Ngân hàng có thể áp dụng cách thứ nhất Còn nếu khách hàng hoạtđộng trong nhiều chu kì gối nhau thì nên áp dụng cách thứ hai

Thông qua việc xác định thời hạn cho vay linh hoạt và hợp lý đồng vốn củaNgân hàng sẽ phát huy tác dụng đối với khách hàng và điều đó đảm bảo Ngânhàng có thể thu hồi được nợ và mở rộng được dư nợ tín dụng, đặc biệt là dư nợtrung và dài hạn

1.3 Xác định mức lãi suất linh hoạt và phù hợp.

Trong thực tế mỗi một món vay hàm chứa một mức độ rủi ro tín dụng khácnhau, do đó Ngân hàng không nên áp dụng một mức lãi suất cứng nhắc cho mọiđối tượng mà nên áp dụng nhiều mức lãi suất khác nhau dựa trên đánh giá về mức

độ rủi ro của các món vay Ngân hàng chỉ nên qui định một khung lãi suất giao

Trang 6

động trong một khoảng nào đó đối với một nhóm khách hàng, giao cho cán bộ tíndụng quyết định mức lãi suất nhưng phải phù hợp với khung lãi suất đã qui định.

Thực tế cho thấy đối với các khách hàng là các hộ sản xuất trên địa bàn HàTây thì nhu cầu về dịch vụ kèm theo như thanh toán, ngân quĩ, chuyển tiền là rất

ít Chính vì vậy đối với nhóm khách hàng là các hộ sản xuất, lãi suất là nhân tố cósức cạnh tranh rất lớn và là nhân tố mang tính quyết định trong chiến lược mở rộngthị phần của Ngân hàng đối với khách hàng là hộ sản xuất Các hộ sản xuất quantâm đến mức lãi suất nhiều hơn là các dịch vụ tiện ích Do đó Ngân hàng cần xâydựng và vận hành một cơ chế chính sách lãi suất phù hợp và có tính cạnh tranh Đểthực thi được điều này ngoài việc tiết kiệm các chi phí hoạt động Ngân hàng cònphải có các chính sách thu hút những nguồn vốn có chi phí thấp để tài trợ cho việc

hạ lãi suất Những nguồn vốn này gồm tiền gửi không kì hạn, tiền gửi thanh toán,các nguồn vốn uỷ thác, vốn từ các chương trình của Chính phủ, của tỉnh

Có nhiều cách khác nhau mà Ngân hàng có thể áp dụng trong việc thiết lậpmột cơ chế lãi suất linh hoạt

Dựa trên phân loại khách hàng vay vốn:

+ Với các khách hàng có tiền sử tín dụng tốt, có phương án sản xuất kinhdoanh hiệu quả cao Ngân hàng cho vay với mức lãi suất thấp hơn lãi suất cho vaytrung bình do hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, rủi ro tín dụng thấp

+ Với các khách hàng khác đủ điều kiện vay vốn thì cho vay với lãi suất caohơn do khả năng rủi ro lớn hơn

Như vậy điểm mấu chốt của căn cứ này là dựa trên phân loại khách hàng,lựa chọn khách hàng vay vốn của Ngân hàng Ngân hàng cần xây dựng được cáctiêu chí phân loại khách hàng khoa học, hợp lý, phù hợp với tình hình thực tiễn

Trang 7

Dựa vào nguồn huy động để cho vay

+ Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước theo các chương trình tín dụng chỉđịnh:

Do không mất phí huy động, Ngân hàng có thể cho vay với lãi suất ưu đãicho các đối tượng theo yêu cầu của bên cung cấp vốn

+ Nguồn vốn uỷ thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước:

Đối với nguồn vốn này Ngân hàng phải cho vay đúng đối tượng theo lãi suấtđược uỷ thác để giữ uy tín với đối tác cho vay Mức lãi suất uỷ thác thường thấphơn so với lãi suất huy động của Ngân hàng Tuy khó có thể hạ quá thấp mức lãisuất cho vay từ nguồn vốn này vì thực chất Ngân hàng cũng phải trả phí cho nguồnvốn này nhưng nhìn chung đây là một nguồn vốn tốt, chi phí thấp và qui mô khálớn

+ Nguồn vốn huy động của Ngân hàng:

Nguồn vốn này Ngân hàng phải trả lãi suất huy động bằng với lãi suất huyđộng trên thị trường, nhìn chung khó có thể dùng nguồn vốn này để cho vay với lãisuất ưu đãi Ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn huy động này để cho vay các hộsản xuất với lãi suất thương mại nhưng nên thấp hơn lãi suất cho vay của các Ngânhàng khác cùng cho vay hộ sản xuất nếu có thể Do đó Ngân hàng cần tiết kiệm chiphí hoạt động để có thể thực hiện được mục tiêu hạ lãi suất

Sử dụng lãi suất cho vay biến đổi

Lãi suất cho vay đối với các khoản tín dụng trung và dài hạn Ngân hàng nên

áp dụng mức lãi suất biến đổi Do giá cả thị trường có những biến đổi khó có thểlường trước được và lãi suất cũng giao động và thay đổi theo Bên cạnh đó hiệnnay chúng ta đang phải đối mặt với nguy cơ của lạm phát và thực tế cho thấy lạmphát có tác dụng thúc đẩy kinh tế phát triển nếu lạm phát dừng ở mức độ vừa phải

Trang 8

Do đó lạm phát là điều tất yếu sẽ xảy ra đối với bất kì nền kinh tế nào trong cơ chếthị trường song chúng ta lại không biết nó xảy ra ở mức độ như thế nào, với tỉ lệbao nhiêu phần trăm Vì vậy Ngân hàng nên thống nhất với khách hàng mức lãisuất biến đổi theo thời gian, có thể đó là mức lãi suất thị trường vào thời điểm đó.Qui định như vậy sẽ là khách quan và hợp lý cho cả khách hàng và Ngân hàng bởi

vì do thời gian vay trung hạn và dài hạn dài cho nên nếu qui định một mức lãi suất

cố định thì sẽ có một lúc nào đó khách hàng phải chịu mức lãi sất cao hơn lãi suấtthực tế trên thị trường và có một lúc nào đó lãi suất cho vay của Ngân hàng khôngđáp ứng đủ chi phí huy động và chi phí hoạt động của Ngân hàng Như vậy quiđịnh một mức lãi suất biến đổi sẽ làm cho cả Ngân hàng và khách hàng giảm bớtđược rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình

1.4 Mở rộng cho vay theo hạn mức.

Trong thực tế cho vay các hộ sản xuất hiện nay NHNo&PTNT Hà Tây chủyếu cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức rất ít Tuy nhiên trong hoạt động, khánhiều hộ sản xuất có nhu cầu vốn thường xuyên song mức vốn mỗi lần không lớnlắm, đặc biệt là các hộ trong các làng nghề và các hộ kinh doanh dịch vụ thươngmại Chính vì vậy nếu như cho vay từng lần với một khối lượng lớn cho cả chu kìhoạt động sẽ dẫn đến tình trạng một bộ phận vốn của Ngân hàng mà khách hàngvay về tạm thời Ngân hàng không sử dụng đến gây lãng phí nguồn vốn và tăng chiphí đầu vào cho khách hàng Bên cạnh đó nếu như khách hàng chỉ vay vốn đủ chonhu cầu của một lần thì khách hàng phải tiến hành làm nhiều bộ hồ sơ vay do mỗilần vay khách hàng lại phải làm một bộ hồ sơ vay vốn Như vậy sẽ rất mất thờigian và chi phí liên quan cho cả Ngân hàng và khách hàng

Để khắc phục tình trạng trên, Ngân hàng nên áp dụng rộng rãi hơn hình thứccho vay theo hạn mức tín dụng đối với các hộ sản xuất có nhu cầu mà Ngân hàngthấy rằng hợp lý Hạn mức có thể là 6 tháng, 1 năm và nên qui định số dư hạn mức

Trang 9

vào cuối thời gian của cho vay hạn mức Tuy nhiên để có thể thực hiện tốt và hiệuquả cho vay theo hạn mức, các cán bộ tín dụng phải thường xuyên theo dõi việc sửdụng tiền vay của khách hàng xem có đúng như cam kết trong hợp đồng vay vốnhay không Ngân hàng cũng nên có một cơ chế mềm mỏng hơn để có thể xem xétđiều chỉnh hạn mức cho vay, thời hạn vay nếu xét thấy điều này là cần thiết và hợp

lý cho khách hàng

1.5 Mở rộng tín dụng gián tiếp

Các món vay của đa số hộ sản xuất hiện nay có khối lượng tín dụng nhỏ vàxảy ra trên địa bàn trải rộng, dẫn đến chi phí quản lý món vay tăng cao, gây bất lợicho cả hai phía Hơn nữa do các món vay nhỏ song khối lượng các món vay lại lớnnên mỗi một cán bộ tín dụng phải phụ trách nhiều món vay, dẫn đến tình trạngquản lý các khoản vay của các cán bộ tín dụng không được sát sao, là nguyên nhânchủ yếu dẫn đến tình trạng nợ quá hạn của hộ sản xuất Để khắc phục tình trạngtrên Ngân hàng nên tìm một hình thức tín dụng hiệu quả mà ít tốn kém hơn, đóchính là tín dụng gián tiếp Có nhiều cách cho vay gián tiếp đối với các hộ sản xuất

Thứ nhất: Cho vay thông qua tổ nhóm hợp tác.

Cho vay thông qua tổ nhóm là một hình thức mới xuất hiện song nó đã tỏ rõ

ưu thế đặc biệt khi cho vay các hộ sản xuất Tổ nhóm tín dụng hợp tác là một tổchức bao gồm các thành viên cùng sinh sống trong một làng, xã tự nguyện tậphợp với nhau thành một tổ, có tổ trưởng, tổ phó và kế toán (hoặc thư kí) được cácthành viên trong tổ tự bầu, hoạt động theo qui chế nội bộ, được các tổ chức đoànthể, hội cấp trên quản lý trực tiếp hoặc được UBND xã, phường thừa nhận và liênđới chịu trách nhiệm trong việc vay vốn Ngân hàng

Các hộ này cùng kí chung một hợp đồng tín dụng đối với Ngân hàng, khivay vốn nếu một hộ thành viên nào đó không đáp ứng được các điều kiện của Ngân

Trang 10

hàng thì tổ nhóm sẽ đứng ra bảo lãnh tín chấp cho thành viên đó và tổ nhóm cótrách nhiệm cùng với Ngân hàng quản lý khoản vay đó Trước khi nộp hồ sơ vayvốn, tổ nhóm hợp tác cần cùng nhau xem xét xin vay bao nhiêu là phù hợp với nhucầu khả năng của từng hộ và của cả tổ Khi nhận tiền vay mỗi hộ có thể để lại một

số vốn để gửi vào tài khoản ở Ngân hàng để dự phòng trong trường hợp có hộkhông trả được nợ thì sẽ trích số tiền đó để trả nợ thay Như vậy mô hình cho vaythông qua tổ nhóm đã san sẻ một phần khâu giám sát khoản vốn vay của Ngânhàng tới các thành viên trong tổ, đồng thời các thành viên trong tổ còn phải giúp đỡlẫn nhau trong quá trình sử dụng tiền vay để mở rộng sản xuất phát triển kinh tế,hạn chế rủi ro

Ngoài ra các thành viên trong các tổ nhóm là các thành viên ưu tú và có uytín đối với xóm làng cho nên đay cũng đã là một cách sàng lọc, lựa chọn kháchhàng một cách hiệu quả và chính xác, chọn ra được những khách hàng có tư cáchtín dụng tốt cho Ngân hàng

Thứ hai: Cho vay thông qua các tổ chức chính trị - xã hội

Thứ hai: Cho vay thông qua các tổ chức chính trị - xã hội.

Đó là các tổ chức như Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Côngđoàn Ngân hàng cần có mối liên kết hết sức chặt chẽ đối với các tổ chức này Các

tổ chức này có thể xây dựng những chương trình, dự án kinh tế để thực hiện triểnkhai trong phạm vi hoạt động của hội mình Ngân hàng xem xét, thẩm định dự ánxem có hiệu quả hay không để tiến hành giải ngân Các tổ chức này phải có tráchnhiệm sàng lọc, lựa chọn các hộ có đủ tiêu chuẩn thực hiện dự án và phải sát saoquản lý nguồn vốn vay cùng với Ngân hàng Các tổ chức chính trị này sẽ là cầu nốitrung chuyển, là trung gian quan hệ giữa Ngân hàng và các hộ Việc thu nợ gốc,thu lãi vay Ngân hàng có thể bàn giao một phần nào đó cho các tổ chức này

Trang 11

Thứ ba: Cho vay thông qua hệ thống Quĩ tín dụng nhân dân.

Mặc dù hiện nay NHNo&PTNT Hà Tây có một mạng lưới chi nhánh tươngđối rộng khắp các huyện, thị nhưng một số làng nghề, một số vùng thì lại không cóchi nhánh của Ngân hàng, nên các khách hàng buộc phải tìm đến các tổ chức tíndụng khác đặc biệt là hệ thống các Quĩ tín dụng nhân dân Song thực tế hiện nay làrất nhiều Quĩ tín dụng nhân dân bị thiếu vốn nhất là vốn trung và dài hạn Chính vìvậy NHNo&PTNT Hà Tây có thể phối hợp với các quĩ tín dụng nhân dân để kíhợp đồng uỷ thác cho vay qua hệ thống quĩ tín dụng này để cho vay các hộ sảnxuất

Đối với cho vay uỷ thác, NHNo&PTNT Hà Tây cần phải nghiên cứu kĩ tìnhhình tài chính của các quĩ tín dụng trước khi giao vốn cho họ và thường xuyên theodõi tiến độ cho vay của các quĩ này

Với việc mở rộng tín dụng uỷ thác thông qua hệ thống Quĩ tín dụng nhândân, NHNo&PTNT Hà Tây cũng có thể dần mở rộng cung cấp dịch vụ thông qua

hệ thống này như các dịch vụ chuyển tiền, chi trả kiều hối và thậm chí cả một sốnghiệp vụ thanh toán khi thấy phù hợp

2 Giải pháp về tổ chức mạng lưới, xây dựng cơ sở hạ tầng

Do đặc thù của tín dụng nông nghiệp nông thôn là hoạt động trên địa bànrộng lớn phân tán nên Ngân hàng cần có một tổ chức mạng lưới rộng khắp để đápứng một cách đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn của các tổ chức và cá nhân Hiện nay,

hệ thống chi nhánh của NHNo&PTNT Hà Tây gần như bao phủ địa bàn toàn tỉnh,tuy nhiên do sự phát triển kinh tế của một số vùng trong tỉnh là không đồng đều,một số vùng đang phát triển với tốc độ cao nên thực tế hệ thống chi nhánh củaNHNo&PTNT Hà Tây vẫn chưa thực sự đến gần được với người nông dân

Ngày đăng: 30/10/2013, 09:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w