Với nghị định 40/NĐ-CP ngày 07/02/1980 của Chính phủ về quy định một số chính sách và biện pháp khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu, từ chỗ chỉ có một vài doanh nghiệp lớnthuộc Bộ Ngoại
Trang 1CÁC CHÍNH SÁCH BIÊN PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
VÀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
1986- 2000
I CÁC CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP MÀ NHÀ NƯỚC TA ĐÃ VÀ ĐANG SỬ DỤNG.
1 Quá trình đổi mới cơ chế chính sách xuất khẩu
Với nghị định 40/NĐ-CP ngày 07/02/1980 của Chính phủ về quy định một số chính sách
và biện pháp khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu, từ chỗ chỉ có một vài doanh nghiệp lớnthuộc Bộ Ngoại thương độc quyền xuất khẩu đã mở rộng hoạt động xuất khẩu đến các DN quốcdoanh thuộc các tỉnh, thành phố trọng điểm và các Bộ khác ngoài Bộ Ngoại thương lúc bấy giờ.Cho đến năm 1989, với nghị định 64/NĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Chính phủ),ngày 10/06/1989 đã thực sự bắt đầu thời kỳ đổi mới toàn diện cơ chế chính sách xuất khẩu từ cơchế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, lần đầu tiên cácdoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được quyền xuất khẩu trực tiếp các sản phẩm domình làm ra
Trong quá trình thực hiện, Nhà nước không ngừng xây dựng và hoàn thiện cơ chế chínhsách xuất khẩu làm cho nó ngày càng thông thoáng và phù hợp dần với thông lệ quốc tế
- Ngày 07/04/1992 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 114/NĐ-HĐBT đã mởrộng đến tất cả các doanh nghiệp sản xuất thuộc mọi thành phần kinh tế, không phân biệt quy môsản xuất được quyền xuất khẩu các sản phẩm do mình sản xuất ra Còn các DN kinh doanh thuầntúy nếu có đủ vốn lưu động từ 200 ngàn USD trở lên và lãnh đạo DN đáp ứng tiêu chuẩn quyđịnh cũng được quyền xuất khẩu hàng hóa
Nếu như Nghị định 64 là bước “ đột phá ” đổi mới cơ chế chính sách điều hành hoạt
động xuất khẩu thì Nghị định 57/1998/NĐ-CP ra ngày 31/07/1998 của Chính phủ quy định chitiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với
nước ngoài là bước “ ngoặt lịch sử ” chuyển sang cơ chế thị trường của hoạt động xuất khẩu.
Điểm nổi bật của sự đổi mới là mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu thuộc mọi thành phần kinh
tế, khuyến khích mạnh mẽ sản xuất hàng xuất khẩu và xuất khẩu thông qua các chính sách thuế,tín dụng ưu đãi
Trang 2Từ chỗ chỉ có 50 doanh nghiệp Nhà nước được Nhà nước chỉ định nắm độc quyền kinhdoanh xuất nhập khẩu năm 1986 đến cuối tháng 7/1998 (trước nghị định 57/NĐ-CP) toàn quốc
đã có 2.250 doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu theo nghị định114/NĐ-HĐBT, trong đó có 654 doanh nghiệp dân doanh và 1.596 doanh nghiệp Nhà nước.Theo nghị định 57/NĐ-CP thì tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thànhlập theo quy định của pháp luật đều được phép xuất nhập khẩu hàng hóa theo ngành nghề đãđăng ký trong giấy chứng nhận đưng ký kinh doanh và trước khi tiến hành hoạt động xuất nhậpkhẩu chỉ cần đăng ký mã số doanh nghiệp kinh doanh tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố nớidoanh nghiệp đóng trụ sở Nhờ vậy mà số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩutăng lên nhanh chóng Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan thì đến hết tháng 11/2000 đã có 10ngàn doanh nghiệp đăng ký mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩu, chiếm gần 20% tổng doanhnghiệp của cả nước Trong đó có 4.500 doanh nghiệp Nhà nước, chiếm gần 90% số doanhnghiệp Nhà nước hiện có và có 5.500 doanh nghiệp dân doanh, chiếm hơn 12% tổng số doanhnghiệp dân doanh
Có thể nói cùng các văn bản pháp quy hướng dẫn của các Bộ, ngành có liên quan như BộTài chính, Bộ Thương mại, Tổng cục Hải quan đến nay, hệ thống cơ chế chính sách điều hànhhoạt động xuất khẩu nói riêng và xuất nhập khẩu nói chung đã được hình thành khá đồng bộ,thông thoáng và phù hợp dần với các thông lệ quốc tế
2 Các chính sách và biện pháp cụ thể đã được sử dụng:
2.1 Cơ chế quản lý: nói chung chính sách thương mại của Việt Nam mang tính bảo hộ
khá cao qua việc thực hiện nhiều biện pháp phi thuế quan như cấm nhập khẩu tạm thời, hạn chế
số lượng, hạn chế hạn ngạch nhập khẩu và điều chỉnh tỷ giá hối đoái Và tỷ lệ thuế nhập khẩutrung bình trong ba năm gần đây đã tăng 0,8% Mặc dù, thông qua các chính sách bảo hộ đã giúpbảo vệ trực tiếp các nhà sản xuất Việt Nam.trong việc cạnh tranh với các nhà sản xuất nướcngoài và phát triển, chiếm lĩnh thị trường trong nước nhưng do còn mang tính bảo hộ khá cao vàhơn nữa là sự kéo dài việc thực hiện bảo hộ đã là nguyên nhân gây ra tác động xấu cho nhiềulĩnh vực của nền kinh tế, như:
* Thứ nhất, người tiêu dùng bao gồm những người tiêu dùng cho các sản phẩm chịu thua
lỗ do việc họ phải mua hàng hóa với mức giá cao hơn giá thế giới
* Hai là, chính sách bảo hộ thương mại làm tăng chi phí của các sản phẩm được làm từcác nguyên liệu trong nước.Ví dụ giá cả đắt như sắt, thép, xi măng làm tăng chi phí của các
Trang 3công trình và sản phẩm xây dựng Chính sách bảo hộ thương mại gây bất lợi cho ngành côngnghiệp chế biến của Việt Nam mà ngành này là đặc trưng của một đất nước công nghiệp hóa vàhiện đại hóa
* Hầu hết các nhà đầu tư bao gồm cả các nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam cũng muốnđược bảo vệ và có khuynh hướng đầu tư vào những ngành công nghiệp được bảo hộ cao vì vậy
họ quan tâm đến chính sách thay thé nhập khẩu và không quan tâm đến sự cạnh tranh sản phẩmcủa họ với doanh nghiệp nước ngoài
* Lợi thế so sánh của Việt Nam của các hàng hóa chủ lực bị giảm sút, vì thực tế do giá cảcủa chúng, nếu so với giá trung bình của thế giới khá đắt từ 30% đến trên 2 lần
2.2 Quyền kinh doanh xuất khẩu: để nhận được giấy phép kinh doanh xuất khẩu một
doanh nghiệp phải có ít nhất một khoản vốn bảo đảm 200.000 USD (theo nghị định 114/HĐBT4/1992) Từ đầu năm 1993 điều kiện vốn đã được nới lỏng, vì vậy số doanh nghiệp kinh doanhxuất nhập khẩu đã tăng lên Khoản vốn bảo đảm 200.000 USD quả thực là một khó khăn đối vớicác doanh nghiệp trong khu vực tư nhân Bên cạnh đó các doanh nghiệp chỉ có thể xuất khẩunhững hàng hóa được đăng ký trong giấy phép của họ Có thể nói trước năm 1998 thương mạiquốc tế của Việt Nam chịu sự độc quyền của khu vực nhà nước Về phần các doanh nghiệp xuấtnhập khẩu tư nhân, Nhà nước có thể huỷ bỏ giấy phép kinh doanh của họ bất cứ lúc nào Điềunày, vì vậy, tạo nên môi trường kinh doanh không ổn định và không công bằng Luật thương mạiđược thông qua vào đầu năm 1997 dẫn đến việc thay đổi một số thay đổi trong cơ chế quản lýhoạt động xuất khẩu của Việt Nam.cụ thể ;
Đến năm 1998, theo nghị định 55/QĐ- TTg của Thủ tướng chính phủ 3/1998, tất cả cácdoanh nghiệp có thể tham gia trực tiếp vào hoạt động xuất nhập khẩu mà không cần phải có bất
cứ điều kiện nào, trừ việc đăng ký mã mặt hàng kinh doanh tại cơ quan Hải quan Từ 7/1998 sựđiều chỉnh này đã được áp dụng cho hàng xuất, nhập khẩu theo nghị định 57/1998/NĐ-CP củaThủ tướng chính phủ, cung cấp chỉ dẫn, quy định chi tiết thi hành luật Thương mại Theo nghịđịnh này các doanh nghiệp Việt Nam được phép hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóatheo ngành nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sau khi đã đăng ký mã số tạiCục Hải quan tỉnh, thành phố và không phải xin giấy phép từ Bộ trưởng Bộ Thương mại, thủ tụccũng được rút gọn và việc cấp giấy phép cho các sản phẩm gia công đã được bãi bỏ Sự thay đổi
rõ ràng trong quyền xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài,
Trang 4Theo nghị định 10/1998/NĐ-CP của Chính phủ (23/01/1998) về một số biện pháp khuyếnkhích và bảo đảm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài có thể xuất khẩu và thực hiện việc xuất khẩu các hàng hóa không phải do họ sảnxuất ra, loại trừ 12 loại hàng hóa trong sự điều chỉnh của Nhà nước (xuất khẩu theo đúng với cácgiấy phép đầu tư)
Theo nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và kinh doanh chứng khoán, người nướcngoài được phép có đến 30% cổ phần trong công ty Việt Nam nhất định Điều này đã tạo nênloại công ty kinh doanh xuất khẩu khác với vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp
Với những sự sửa đổi trên về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu là cở sở tạo ra nhữngđiều kiện thuận lợi cho việc đàm phán các hiệp định thương mại với các nước và việc gia nhập tổchức thương mại thế giới (WTO)
2.3 Giấy phép xuất khẩu, hạn chế số lượng và hạn chế hạn ngạch.
Trong suốt thời kỳ trước năm 1991 hạn ngạch xuất khẩu được phân bổ cho 100 mặt hàng
Từ tháng 4/1991, hạn ngạch được chỉ áp dụng cho 4 mặt hàng xuất khẩu (gạo, cà phê, cao su vàgỗ) và từ năm 1992 gạo là mặt hàng duy nhất cần hạn ngạch xuất khẩu Một số điều khoản đưa
ra cho hạn ngạch và giấy phép xuất khẩu giảm đột ngột vào năm 1998 sau khi có quyết định11/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
2.4 Các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu: xuất khẩu, trong phạm vi hội nhập thế giới, không chỉ
được giới hạn trong việc kinh doanh hàng hóa hữu hình qua biên giới quốc gia mà còn bao gồm
cả việc thực hiện các dịch vụ thông qua các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài Để pháttriển xuất nhập khẩu và để tăng khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp có khuynh hướng sửdụng ngày càng nhiều dịch vụ hỗ trợ Các dịch vụ đó là đòn bẩy quan trọng làm tăng giá trị củahàng hóa hữu hình xuất khẩu của các doanh nghiệp Cho đến bây giờ, có các hình thức hỗ trợxuất khẩu khác nhau ở Việt Nam Bao gồm:
* Dịch vụ cung cấp thông tin: cung cấp cho các công ty thông tin về thị trường, giá cả,
đối thủ cạnh tranh, xu hướng của thị trường và các hoạt động xúc tiến thương mại (quảng cáo,xúc tiến bán, tuyên truyền, bán hàng cá nhân) Dịch vụ này đã ra đời được một vài năm nhưng nóvẫn chưa có sự phát triển một cách mạnh mẽ và chủ yếu do các tổ chức của Nhà nước (một số
Bộ, các ngành công nghiệp trung tâm và địa phương), đại diện thương mại của Việt Nam ở nướcngoài và một số tổ chức phi Chính phủ khác (NGOs) như Phòng thương mại và công nghiệp ViệtNam Nói chung, các doanh nghiệp phải tìm kiếm thông tin trên thị trường, về đối thủ cạnh
Trang 5tranh thông qua phương tiện thông tin đại chúng, sách báo Còn đại diện thương mại của ViệtNam và cơ quan đại diện và chi nhánh của các doanh nghiệp ở nước ngoài vẫn chưa thể hiệnđược vai trò của mình trong việc thúc đẩy xuất khẩu Hiện nay, thông tin thương mại từ Phòngthương mại và công nghiệp Việt Nam có lẽ là nguồn cung cấp quan trọng của các doanh nghiệp.
* Dịch vụ quảng cáo và triển lãm: nhằm giúp giới thiệu về các doanh nghiệp và sản phẩm
của họ, cung cấp cho các đối tác nước ngoài thông tin về các doanh nghiệp và sản phẩm của họ,
vì vậy làm tăng sự hợp tác buôn bán và mở rộng thị trường xuất khẩu Vào năm 1995, Việt Nam
có khoảng 15 tổ chức thực hiện dịch vụ triển lãm, 55 đơn vị dịch vụ quảng cáo và 15 cơ quannước ngoài đang làm hoạt động quảng cáo Có khoảng 20 đại diện thương mại Việt Nam ở nướcngoài và một số tổ chức hợp tác quốc tế, thông tin quan trọng thuộc về 18 Bộ, ngành, cơ quantrung ương và địa phương Thông qua các tổ chức đó các doanh nghiệp Việt Nam có thể nhậnđược các dịch vụ như: trưng bày sản phẩm ở các hội chợ thương mại, trao đổi thông tin ở các hộinghị thương mại, tìm kiếm cơ hội để thúc đẩy buôn bán, đầu tư được dễ dàng và tham gia các dự
án kinh doanh
Nhưng cho đến nay, các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tự quảng cáo bằng việc in các
tờ rơi để giới thiệu các sản phẩm của họ hay bằng các nhân viên marketing hay ở các phòngtrưng bày của họ Hình thức khác của quảng cáo như: phương tiện thông tin đại chúng, panô,
áp phích quảng cáo hay đang được quảng cáo bởi các tổ chức và các công ty khác mà đã từng
ít được sử dụng
Hiện nay, vẫn có một lượng lớn các doanh nghiệp mà không sử dụng dịch vụ quảng cáo,triển lãm hay hội chợ thương mại để cải thiện hoạt động xuất khẩu Đối với các doanh nghiệp đó,chi phí cho các dịch vụ đó quá cao Những lí do khác có thể là các doanh nghiệp vẫn chưa tìmđược các dịch vụ thích hợp
* Các dịch vụ tài chính và bảo hiểm: các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng sử dụng các
dịch vụ tài chính và bảo hiểm để hướng dẫn các hoạt động tài chính và thanh toán, để được trợgiúp tài chính và bảo hiểm cho sản phẩm và hoạt động xuất khẩu Hiện nay Việt Nam có khoảng4.200 tổ chức tín dụng và tài chính trong đó: 10 công ty bảo hiểm, 18 công ty kiểm toán và 4công ty mua và bán tài chính Nhưng, việc sản xuất cho xuất khẩu và các doanh nghiệp thựchiện xuất khẩu phần lớn được giúp đỡ tài chính bởi các Ngân hàng thương mại Nhà nước Trongthời hạn tín dụng các doanh nghiệp đó có thể hưởng các chính sách ưu đãi như:
- Vay vốn (cả vay trung và dài hạn)
Trang 6- Lãi suất thấp (lãi suất ngắn hạn cho các doanh nghiệp thường xuyên thấp hơn khoảng20-25% hơn so với các dự án kinh doanh khác.
Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu chủ yếu thực hiện bởi 2 loại: một là để mua quyềnbảo hiểm sau một thời gian mở thư tín dụng (L/C) và thứ hai là để ký hợp đồng của cả gói bảohiểm hàng năm hay cho hàng hóa lớn được vận chuyển trong nhiều chuyến
Các doanh nghiệp có thể có quyền lựa chọn trong việc mua bảo hiểm: bảo hiểm mọi rủi
ro, bảo hiểm đặc biệt, bảo hiểm chỉ những rủi ro chính Các doanh nghiệp Việt Nam thườngmua hàng hóa với giá CIF và bán với giá FOB, chỉ 30% doanh thu nhập khẩu và 5% doanh thuxuất khẩu được bảo hiểm
* Dịch vụ nghiên cứu và kiểm định: dịch vụ này được thực hiện bởi các công ty kiểm
định nhất định để cấp phát giấy chứng nhận hàng hóa và chứng nhận về nguồn gốc Công việcnày nhằm cung cấp các bản điều tra, nghiên cứu để đáp ứng các mong muốn của đối tác kinhdoanh về chất lượng, số lượng, sự nhận biết, bao bì, mất mát của hàng hóa Sự giám sát, kiểmđịnh hoạt động xuất nhập khẩu bao gồm kiểm định cả hàng hóa và phi hàng hóa mà trước đây làdịch vụ cung cấp chủ yếu của các cơ quan kiểm định của Việt Nam (chiếm khoảng 70% thu nhậpcủa họ) trong khi gần đây bao gồm cả khảo sát, kiểm định biển, xây dựng và hệ thống máy móc(khoảng 30% doanh thu)
Trình độ giám sát, kiểm định xuất nhập khẩu của Việt Nam còn thấp so với thế giới, cònnhiều điểm yếu, cả trong công việc giám sát, kiểm định trước và sau sản xuất và các trang thiết bịgiám sát, kiểm định nghèo nàn Bởi vì những yếu kém đó, trong một vài trường hợp hàng hóaxuất khẩu của Việt Nam bị phụ thuộc vào các đối tác nước ngoài
Cho đến nay, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam và một vài cơ quan giám sát,kiểm định khác của nhà nước đã quan tâm đến cấp giấy chứng nhận hàng hóa và giấy chứngnhận nguồn gốc Liên quan đến các bản điều tra, có 7 tổ chức (3 là của Nhà nước) thực hiện loạidịch vụ này
* Dịch vụ giao hàng và vận chuyển hàng: chỉ 20% hàng hóa của các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu Việt Nam được vận chuyển do các công ty Việt Nam trong khi phần còn lại được làmbởi các công ty nước ngoài Lý do chính là các đội tàu Việt Nam yếu, kém phá triển, chi phí cao
và sức cạnh tranh kém Hầu hết các doanh nghiệp thường mua với giá CIF và bán với giá FOB vìtheo phương thức mua bán theo hai điều kiện thương mại này thì các doanh nghiệp Việt Nam sẽkhông phải thuê tàu chuyên chở mà phần trách nhiệm này thuộc về các đối tác của các doanh
Trang 7nghiệp Việt Nam, như vậy các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không chỉ không phải thuê tàu, màtheo hai điều kiện thương mại này thì họ cũng được bảo đảm về quyền lợi trong việc mua, bánhàng hóa
Hiện nay, có khoảng 20 công ty Việt Nam thực hiện kinh doanh vận chuyển và giaohàng, bao gồm các hàng hóa nhập xuất khẩu bình thường, hàng hóa trưng bày, vật liệu xây dựng,hàng hóa EMS và theo kiểu door-to-door thông qua các đại lý gửi hàng, đóng gói, kiểm tra vàbốc dỡ, bảo quản hàng hóa; hoàn thành thủ tục hải quan cho các hàng hóa của họ, mua bảo hiểm
và thực hiện các thủ tục khác có liên quan đến giao hàng và vận chuyển hàng
* Dịch vụ tư vấn pháp luật: bao gồm các các dịch vụ về hòa giải, thương lượng cung
cấp các thông tin chính xác về thuế, ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm, hải quan các chỉ dẫn đểlàm các hợp đồng kinh tế, hợp đồng nhập xuất khẩu, lựa chọn và chuyển giao công nghệ và giúp
đỡ các doanh nghiệp trong các cuộc tranh chấp và bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp tại cáctoà án và trọng tài kinh tế
Cho đến nay ở Việt Nam có 25 công ty pháp luật và trên 200 phòng và trung tâm tư vấn,
25 công ty nước ngoài và 45 chi nhánh của các công ty pháp luật nước ngoài đang hoạt động
Mặc dù đã có những cố gắng nhưng về chất lượng, số lượng và kinh nghiệm của các công
ty tư vấn pháp luật vẫn còn rất kém Vì vậy mà dịch vụ này ít được sử dụng trong các doanhnghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
Kết quả của nhiều cuộc nghiên cứu gần đây trong các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhậpkhẩu chỉ ra rằng hầu hết các doanh nghiệp được phỏng vấn ít hay nhiều đều muốn và cần sửdụng các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu Các dịch vụ đó theo ước lượng của họ có thể chỉ đáp ứng mộtphần nhu cầu của họ hay ở mức dưới trung bình Các dịch vụ bưu điện, phương tiện truyền hình,phương tiện vận chuyển được đánh giá là các dịch vụ cung cấp tốt trong khi ngân hàng và lĩnhvực thông tin thì còn kém
Chí phí cho việc sử dụng các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu trong các doanh nghiệp còn thấp,
vì thiếu vốn, hầu hết các chi phí được dùng cho các dịch vụ bắt buộc phải làm, không thể tránhkhỏi như phương tiện vận chuyển, ngân hàng và dịch vụ thanh toán Việc sử dụng các dịch vụmới như: nghiên cứu, thực nghiệm (R&D), chuyển giao công nghệ, marketing, thông tin thịtrường và dịch vụ bảo hiểm với một quy mô vừa phải
Hiện nay, hệ thống các dịch vụ xuất khẩu được chiếm phần lớn bởi các công ty và cơquan nhà nước do khả năng vốn, các mối quan hệ và kinh nghiệm của họ Nhưng có thể nói
Trang 8rằng các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu nên là “ mảnh đất ” của khu vực tư nhân vì các doanh nghiệp
tư nhân mặc dù không có lợi thế về vốn và các mối quan hệ với các bạn hàng và kinh nghiệmbằng các doanh nghiệp Nhà nước nhưng do các doanh nghiệp này tự đứng ra để hoạt động nênkhả năng năng động, nhanh nhậy với sự phát triển và thay đổi của thị trường, chủ động đón trướccác sự thay đổi đó để có thể đáp ứng được các nhu cầu trên thị trường thế giới, nhưng hiện nay
sự hạn chế của hệ thống luật pháp của VIệt Nam vẫn chưa thể hiện được năng lực của chúng
2.5 Các chính sách khuyến khích xuất khẩu: để làm giảm bớt tác động của cuộc khủng
hoảng khu vực và đặc biệt là để khuyến khích các doanh nghiệp trong việc sản xuất phục vụ xuấtkhẩu Chính phủ Việt Nam đã ban hành một số chính sách để khuyến khích xuất khẩu, bên cạnhcác biện pháp mở rộng quyền kinh doanh để khai thác các khả năng của tất cả các khu vực kinh
tế Bao gồm:
a Khuyến khích xuất khẩu thông qua thuế: Việc sửa đổi Luật khuyến khích đầu tư trong
nước năm 1998, tạo ra sự ưu đãi cho các ngành sản xuất hàng hóa xuất khẩu chủ lực Theo Luậtnày thuế ưu đãi đưa ra cho sản phẩm xuất khẩu và đầu tư kinh doanh là:
* Các doanh nghiệp sản xuất các hàng hóa xuất khẩu chủ lực thuộc sự giúp đỡ dặc biệtcủa Luật có thể được hưởng thuế ưu đãi như giảm hay miễn thuế thu nhập (từ 2 đến 4 năm miễnthuế và từ 2 đến 7 năm giảm thuế, tùy thuộc vào từng trường hợp)
* Hơn nữa, các doanh nghiệp đó có thể được hưởng một trong các sự ưu đãi cho thuếthu nhập xuất khẩu như:
- Giảm 50% thuế thu nhập trong các trường hợp:
+ Trong năm đầu tiên thực hiện xuất khẩu trực tiếp
+ Xuất khẩu các sản phẩm mới của công nghệ kinh tế riêng khác với các sản phẩmxuất khẩu trước
+ Xuất khẩu các sản phẩm đến các nước và khu vực mới, khác với các thị trườngtrước
- Giảm 50% thuế thu nhập từ thu nhập thêm của các doanh nghiệp trong trường hợpthu nhập xuất khẩu của một năm cao hơn năm trước
- Giảm 20% thuế thu nhập từ các thu nhập thêm của các doanh nghiệp trong các trườnghợp:
+ Thu nhập xuất khẩu tăng thêm của các doanh nghiệp đạt được nhiều hơn 50%tổng thu nhập
Trang 9+ Doanh nghiệp có thể làm ổn định thị trường xuất khẩu và giá trị xuất khẩu trong
ba năm liên tiếp
- Giảm 25% thuế thu nhập nếu doanh nghiệp đưa ra quá trình hoạt động các kế hoạchđầu tư của mình trong các khu vực kinh tế - xã hội khó khăn như trong điều khoản 1, 2, 3 củaLuật khuyến khích đầu tư trong nước (danh sách B )
- Được miễn thuế thu nhập nếu doanh nghiệp thực hiện các kế hoạch đầu tư của mìnhtrong các khu vực kinh tế - xã hội khó khăn như trong điều khoản 1, 2, 3 của Luật khuyến khíchđầu tư trong nước ( danh sách C )
- Hoàn lại thuế giá trị gia tăng cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu thô, phụhay bán thành phẩm để sản xuất các hàng hóa
- Hoãn thu thuế nhập khẩu cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu thô đẻ sản xuất(hiện nay trong thời gian là 9 tháng)
- Miễn thuế cũng được áp dụng cho các hàng hóa tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu đểkhuyến khích dịch vụ loại này
c Thành lập Quỹ thưởng xuất khẩu:
Quỹ thưởng xuất khẩu được thành lập và hoạt động theo quyết định 764/QĐ-TTg24/08/1998 của Thủ tướng Chính phủ Mục tiêu của quỹ thưởng này bao gồm các doanh nghiệpthuộc các thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật: doanh nghiệp Nhànước, Công ty cổ phần, Hợp tác xã, Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân và cảcác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để khuyến khích họ tham gia vào quá trình thay đổicủa kết cấu xuất khẩu của nước ta Các phần thưởng cho các doanh nghiệp được dựa theo 5 tiêuchuẩn sau:
* Xuất khẩu mặt hàng (hoặc một chủng loại của mặt hàng) sản xuất tại Việt Nam mà lầnđầu tiên được tiêu thụ ở thị trường nước ngoài, và/ hoặc lần đầu tiên tiêu thụ dc ở thị trường mới
có hiệu ủa ( xuất khẩu thu được vốn, có lãi) với kim ngạch đạt từ 100.000 USD/năm trở lên
* Mở rộng thị trường xuất khẩu đã có hoặc mở thêm các thị trường mới, có hiệu quả vớimức kim ngạch xuất khẩu tăng trên 20%.so với năm trước, đối với các hàng hóa trong danh sáchcác sản phẩm được khuyến khích xuất khẩu theo hướng dẫn hàng năm của Bộ thương mại
* Các mặt hàng xuất khẩu có chất lượng cao đạt huy chương tại các triển lãm - hội chợquốc tế tổ chức ở nước ngoài hoặc được các tổ chức quốc tế về chất lượng hnàg hóa được cấpchứng chỉ hoặc xác nhận bằng văn bản
Trang 10* Xuất khẩu các hàng hóa được gia công - chế biến bằng các nguyên vật liệu trong nướcchiếm 60% trị giá trở lên hoặc xuất khẩu các mặt hàng thu hút nhiều lao động trong nước, như:hàng thủ công mỹ nghệ, hàng nông lâm thủy hải sản chế biến (như tương ớt, chuối sấy, thức ănchế biến sẵn ), hàng may mặc (không kể hàng xuất theo hạn ngạch) với mức kim ngạch xuấtkhẩu đạt từ 10 triệu USD/ năm trở lên, riêng đối với các sản phẩm mỹ nghệ là từ 5 triệuUSD/năm trở lên
* Xuất khẩu các hàng hóa không thuộc danh sách có hạn ngạch xuất khẩu hay nằm ngoàinhững mục tiêu kế hoạch được phân giao đạt kim ngạch từ 50 triệu USD mỗi năm
- Thực tiễn và sự hoạt động của Quỹ thưởng xuất khẩu: thuận chiều với sự gia tăng củaxuất khẩu, số doanh nghiệp được thưởng về xuất khẩu ngày một nhiều
Năm Số DN được khen thưởng Tổng số tiền (tỷ đồng)
Nguồn: Bộ Thương mại
5 tiêu chuẩn đặt ra xét thưởng đều có doanh nghiệp đạt được Đó là 42 trường hợp đượcthưởng theo tiêu chuẩn 1: có mặt hàng mới, thị trường mới; 124 trường hợp được thưởng theotiêu chuẩn 2: về tốc độ tăng trưởng; 5 đơn vị được thưởng theo tiêu chuẩn 3: hàng xuất khẩu đạtchất lượng xuất sắc; 49 trường hợp thưởng về tiêu chuẩn 4: xuất khẩu các mặt hàng đặc biệtkhuyến khích; và tiêu chuẩn 5 về quy mô lớn có 10 doanh nghiệp đạt được
Theo mật độ đạt được các tiêu chuẩn, dẫn đầu là Công ty sản xuất xuất nhập khẩu Tổnghợp Hà Nội đạt cả 5 tiêu chuẩn, mức thưởng cao nhất Xí nghiệp chế biến thủy sản súc sản xuấtkhẩu Cần Thơ dạt 4 tiêu chuẩn, 15 đạt 3 tiêu chuẩn, 35 doanh nghiệp đạt 2 tiêu chuẩn và 106doanh nghiệp đạt 1 tiêu chuẩn
Bắt đầu từ năm 1999, có quy chế khen thưởng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài (FDI), năm 2000 cũng có 8 doanh nghiệp thuộc loại hinh này được thưởng
Kinh nghiệm của các doanh nghiệp được thưởng là trên mặt trận xuất khẩu ở nước ta, bêncạnh các doanh nghiệp lớn, có truyền thống là khá đông các doanh nghiệp với số vốn không lớn,quy mô vừa phải, kinh nghiệm chưa nhiều, thị phần khiêm tốn, nhưng nếu biết tìm tòi sáng tácmẫu mã mới, mạnh dạn đầu tư đúng hướng, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình sản xuất, kiểm địnhnghiệm thu sản phẩm, sôi sục tìm bạn hàng, khai phá thị trường xa, thiết lập quan hệ tín nhiệm,bền vững sẽ biến cơ hội thành hiện thực
Trang 11d Hỗ trợ xuất khẩu bằng tín dụng, lãi suất.
Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực và các doanh nghiệp thưong mại có thể được hỗ trọ từquỹ Hỗ trợ xuất khẩu, quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, các quỹ đầu tư phát triển: cung cấp các tíndụng ưu đãi hay bảo đảm tín dụng xuất khẩu để hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc phát triển cácsản phẩm, việc kinh doanh và các thị trường Giới hạn tín dụng ưu đãi và bảo đảm tín dụng ápdụng cho các sản phẩm xuất khẩu chủ lực và kế hoạch, dự án mua bán được đề cập rõ ràng trongnghị định 7/1998/NĐ-CP (15/01/1998) quy định chi tiết thi hành Luật khuyến khích đầu tư trongnước (sửa đổi):
- Doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được quyền trực tiếp xuất khẩu hàng hoá domình sản xuất Mức vốn lưu động tối thiểu quy định cho các doanh nghiệp chuyên kinh doanhxuất nhập khẩu đăng ký hoạt động tại các vùng thuộc Danh mục B hoặc Danh mục C được giảm50% so với mức vốn lưu động chung
- Cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu hoặc sản xuất nguyên liệu, phụ liệu trực tiếp làm hàngxuất khẩu thuộc diện ưu đãi đầu tư theo Danh mục A hoặc B hoặc C thì được Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển và các ngân hàng thương mại quốc doanh bảo lãnh hoặc cho vay tín dụng xuấtkhẩu, kể cả cho vay mua hàng xuất khẩu và cho vay đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất hàng xuấtkhẩu Nếu các ngân hàng này không đủ vốn để cho vay thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cótrách nhiệm cho các ngân hàng nói trên vay tái cấp vốn theo quy định hiện hành của Ngân hàngNhà nước Việt Nam
Riêng đối với một số mặt hàng xuất khẩu quan trọng thuộc diện ưu tiên phát triển theodanh mục do Chính phủ quy định, trong trường hợp giá thị trường thế giới xuống tháp hoặc giáthị trường trong nước đối với các nguyên liệu, vật tư để sản xuất hàng xuất khẩu đó lên cao gâythua lỗ lớn cho các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu, thì Nhà nước sẽ xem xét trợ giúp thông quaQuỹ bình ổn giá
- Doanh nghiệp có dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầngcủa các khu công nghiệp hoặc khu chế xuất, khu công nghệ cao được giảm 50% tiền thuê đấtcủa Nhà nước trong thời hạn 5 năm kể từ ngày ký hợp đồng thuê
- Các dự án đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu hoặc sản xuất nguyên liệu, phụ jiệu trực tiếplàm hàng xuất khẩu thay thế hàng nhập khẩu được:
+ Các ngân hàng thương mại quốc doanh cho vay tín dụng xuất khẩu với lãi xuất ưu đãi; + Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia bảo lãnh cho các khoản tín dụng xuất khẩu;
Trang 12+ Rút ngắn 50% thời gian khấu hao tài sản cố định được sử dụng vào sản xuất, chế biếnhoặc lắp ráp hàng xuất khẩu.
Nói tóm lại, nếu các nhà đầu tư tiến hành xuất khẩu trực tiếp thì họ có thể được giúp đỡ
cả từ quỹ của Nhà nước để khuyến khích đầu tư và Quỹ hỗ trợ xuất khẩu về những hoạt động vềsau sẽ có thể được cung cấp tín dụng xuất khẩu với lãi suất ưu đãi, lãi suất mà có thể thỏa mãn70% nhu cầu tín dụng xuất khẩu của hợp đồng Hơn nữa, Quỹ hỗ trợ xuất khẩu có thể bảo đảm ,sau khi cân nhắc, khoảng 80% tín dụng quy định cho việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Trong khi Quỹ hỗ trợ tín dụng vẫn chưa được thành lập, Bộ trưởng Bộ Thương mại đềnghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xin sự chấp nhận của chính phủ cho việc sử dụng Quỹ bình
ổn giá để hỗ trợ các sản phẩm xuất khẩu chủ lực và các doanh nghiệp thương mại
2.6 Quỹ hỗ trợ xuất khẩu: mọi thành phần kinh tế đều được vay.
Quỹ hỗ trợ xuất khẩu có ý nghĩa rất quan trọng, là một trong các công cụ của Chính phủnhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trong năm nay và các năm sau Theo số liệu thống kê, xuất khẩuđóng góp đến 45% GDP Mặt khác nếu không xuất khẩu, không chen chân vào thị trường thếgiới thì khi hội nhập Việt Nam sẽ ở thế bị động, trở thành thị trường của các nước Với tinh thần
đó, Quỹ hỗ trợ phát triển phối hợp với Bộ tài chính, xây dựng Quy chế hỗ trợ tín dụng xuất khẩuvới nội dung đề cập tương đối toàn diện các hoạt động tín dụng nói chung Cụ thể là Quỹ hỗ trợtín dụng xuất khẩu có 3 hình thức tín dụng hỗ trợ xuất khẩu chính là: cho vay ưu đãi, bao gồmcho vay chung và dài hạn đối với chủ đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu; hỗ trợ lãi suất sau đầu tư;bảo lãnh tín dụng, bao gồm cả bảo lãnh tín dụng đầu tư, bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiệnhợp đồng
Phạm vi, đối tượng cho vay của Quỹ hỗ trợ tín dụng xuất khẩu cũng sẽ được mở rộng hơn
so với các chính sách tín dụng ưu đãi hiện hành Quỹ cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư ,bảo lãnh tín dụng đầu tư đối với các dự án đầu tư phát triển sản xuất, chế biến, gia công, dịch vụxuất khẩu
Đối với cho vay đầu tư, không chỉ dừng ở việc cho vay vốn đầu tư trung dài hạn mà thựchiện cả cho vay vốn lưu động, kể cả cho vay đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng thanh toánchậm Phạm vi tín dụng cũng được mở rộng, ngoài việc cho vay, hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh tíndụngđầu tư cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất, chế biến, gia công, kinh doanh hàng xuấtkhẩu, Quỹ cũng được mở rộng việc cho vay đối với cả các hoạt động dịch vụ được coi là xuất
Trang 13khẩu tại chỗ như các lĩnh vực xuất khẩu có nguồn thu ngoại tệ lớn như du lịch, đóng tàu vận tảihàng hóa
Đối tượng được hỗ trợ từ Quỹ là tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tếđều được vay vốn, hỗ trợ tín dụng Bao gồm: doanh nghiệp Nhà nước, kể cả doanh nghiệp Nhànước đã cổ phần hóa, công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanhnghiệp tư nhân, hợp tác xã và cả các thương nhân là doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân và tổhợp tác có đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu Đơn vị xuất khẩu có các dự án đầu tư sản xuất,gia công, chế biến, dịch vụ thuộc các lĩnh vực mà phương án tiêu thụ sản phẩm của dự án đạtkim ngạch xuất khẩu ít nhất bằng 30% doanh thu hàng năm được vay vốn từ Quỹ
cả nước mới có bốn mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt kim ngạch từ 100 triệu USD/mặt hàng trởlên thì, đến nay đã có hàng trăm mặt hàng xuất khẩu, với 12 mặt hàng chủ lực, trong đó có nămmặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu ở mức một tỷ USD trở lên Thị trường truyền thống tạm thờigặp khó khăn thì cả nước phát triển, tìm kiếm thêm thị trường mới, trước hết là các nước trongkhu vực châu Á, kế đến là châu Mỹ, châu Phi Và đến nay, cả thị trường EU và các thị trườngmới, cùng phát triển gắn liền với các đối tác nước ngoài, cùng cạnh tranh và hợp tác làm ăn trong
xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu Nhờ vậy, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng đều qua cácnăm Riêng xuất khẩu hàng hóa năm 2000 đạt 14,3 tỷ USD, tăng sáu lần so với 10 năm trước đó.Nhập siêu cơ bản được khống chế ở mức hợp lý, loại trừ được những tác động xấu do cuộckhủng hoảng kinh tế tài chính khu vực dội tới Kinh tế không những đã ra khỏi tình trạng bị baovây cô lập mà còn mở rộng, phát triển đáng mừng Hiện Việt Nam có quan hệ thương mại với
165 nước và vùng lãnh thổ, có hiệp định thương mại với hơn 70 nước Đồng thời, Việt Nam đãbước đầu hội nhập với các thể chế thương mại khu vực và thế giới, với việc tham gia: Hiệp hộicác quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức dầu mỏ thế giới (APEC) và Diễn đàn hợp tác Á -
Âu (ASEM), xúc tiến đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Trang 141 Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng khá nhanh (xem bảng 1), năm 1986 đạt 789,1
triệu USD, đến năm 2000 đạt 14,3 tỷ USD Tốc độ gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng năm bìnhquân đạt 23,92% Giai đoạn 1986-1996 (trừ năm 1991) tỷ trọng xuất khẩu tăng mạnh, từ năm
1997 đến nay có xu hướng tăng chậm lại
Giai đoạn 1975-1985, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng năm chỉ là 10%, tổngkim ngạch xuất khẩu quá nhỏ, đạt thấp, bình quân mỗi năm chiếm 26% tổng kim ngạch xuấtnhập khẩu, cán cân thương mại luôn bị thâm hụt trầm trọng
Giai đoạn 1986-1990, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 7,0317 tỷ Rúp - USD Tốc độ tăngtrưởng xuất khẩu bình quân hàng năm là 30,74% (trong khi tốc độ tăng GDP bình quân là4,35%/năm), giữa các năm tốc độ tăng trưởng không đều, xuất khẩu chỉ bù đắp được một phầncho nhập khẩu Giai đoạn 1991-1996, giá trị tổng kim ngạch xuất khảu đạt 24,4 tỷ USD, tốc độtăng trung bình là 21,60% (trong khi tốc độ tăng GDP bình quân là 8,4%/năm) tốc độ tăngtrưởng này đã góp phần cân đối nguồn ngoại tệ cho nhu cầu nhập khẩu vật tư, nguyên liệu, thiết
bị, hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, hạn chế lạmphát, bình ổn giá cả Từ năm 1997 đến nay, kim ngạch xuất khẩu dao động với biên độ lớn, năm
1997 tốc độ tăng 26,6%, năm 1998 tốc độ tăng là 1,9% đến năm 1999 là 23,1% (nguyên nhânchủ yếu của tình hình này là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu Á;đồng thời do giá cả của các nguyên liệu và sản phẩm thô dành cho xuất khẩu trên thị trường thếgiới rất bất lợi)
Tuy nhiên, năm 1999 lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vượt qua mốc
10 tỷ USD (11,52 tỷ USD), tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cao gấp 5 lần tốc độ tăng trưởng
kinh tế Kết quả này, một mặt, do xuất khẩu được đầu tư đúng mức, mặt khác, kinh tế khu vựcchâu Á đã có sự phục hồi, tạo ra môi trường thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam
Và tổng giá trị xuất khẩu của cả nước trong 7 tháng đầu năm 2001 ước đạt 9.585 triệuUSD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước trong đó phần của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài đạt khoảng 1.681 triệu USD (không kể dầu thô), tăng 6,4%
Mặc dù mức gia tăng kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 1986 - 2000 chưa cao bằngĐài Loan, Hàn Quốc ở giai đoạn đầu khi họ tiến hành công nghiệp hóa, nhưng cũng khá cao
so với một số đang phát triển khác Tốc độ gia tăng xuất khẩu bình quân hàng năm vượt xa tốc
độ gia tăng nhập khẩu (23,9%/15,70%), so với tốc độ tăng GDP
Trang 15hàng năm (6,49%) thì tốc độ gia tăng xuất khẩu cao gấp 3,68 lần Kim ngạch xuất khẩu bìnhquân trên đầu người tăng nhanh trong những năm gần đây Mức xuất khẩu trên đầu người đãtăng từ 31 USD/ người (năm 1991), 96 USD/ người (năm 1996), 150 USD/ người (năm 1999)(trong khi con số tương ứng ở các năm 1996 và 1999 của Thái Lan là 930 USD/ người và 943USD/ người; Philippin là 285 USD/ người và 344 USD/ người).
BẢNG 1: GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
1985 - 2000.
Đơn vị : triệu USD
Trang 16BIỂU ĐỒ 1: TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG XUẤT KHẨU GIAI ĐOẠN 1986 - 2000
Đơn vị tính: %
Nguồn: số liệu bảng 1
2 Thị trường xuất khẩu đã có những thay đổi khá lớn (bảng 2) trong đó kim ngạch xuất
khẩu sang các nước châu Á tăng nhanh
Giai đoạn 1986-1990 tỷ trọng hàng xuất khẩu của Việt Nam sang các nước trong hệthống xã hội chủ nghĩa vẫn chiếm ưu thế lớn như: thị trường Liên Xô chiếm từ 64 - 78% kimngạch xuất khẩu, tiếp theo là Đức, Tiệp Khắc Đối với khu vực tiền tệ chuyển đổi tự do, thịtrường xuất khẩu chủ yếu là Nhật Bản chiếm từ 10 - 15% kim ngạch xuất khẩu, sau đó làSingapore Tỷ trọng hàng xuất khẩu sang thị trường châu Á đã tăng từ 43% năm 1990 lên 77%vào năm 1991 và luôn dao động trong khoảng 72 - 73% suốt thời kỳ 1992 - 1996
Đến năm 1996, thị trường châu Á chiếm 70,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó NhậtBản chiếm 21,3%, ASEAN: 24,5%, NIEs Đông Á (trừ Singapore): 19%, Trung Quốc: 4,7% Tỷtrọng xuất khẩu sang các thị trường châu Âu mà chủ yếu là thị trường Tây Âu (từ 17,1% năm
1991 lên 27,7% năm 1998), châu Mỹ (từ 0,16% năm 1991 lên 4,4% năm 1996), châu Úc (từ0,3% năm 1991 lên 1% năm 1996)