BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO THÀNH PHẦN SÂU HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN CÂY CÀ CHUA, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA SÂU XANH HẠI CÀ CHUA Helicoverpa armi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ HẢI
LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO
THÀNH PHẦN SÂU HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN CÂY CÀ CHUA, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA SÂU XANH
HẠI CÀ CHUA Helicoverpa armigera (Hubner) VÀ BIỆN
PHÁP PHÒNG CHỐNG TẠI HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH
NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO
THÀNH PHẦN SÂU HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN CÂY CÀ CHUA, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA SÂU XANH
HẠI CÀ CHUA Helicoverpa armigera (Hubner) VÀ BIỆN
PHÁP PHÒNG CHỐNG TẠI DIỄN CHÂU, NGHỆ AN
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS TRƯƠNG XUÂN LAM
NGHỆ AN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Lê Thị Phương Thảo
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nổ lực của bản thân, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình và động viên của các nhà khoa học, các giảng viên khoa Nông Lâm Ngư, ban giám hiệu trường Đại học Vinh và bà con nhân dân xã Diễn Thành, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Trước hết tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trương Xuân Lam Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện thành công đề tài luận văn thạc sĩ này
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Nông - Lâm - Ngư; Ban Giám hiệu Trường Đại học Vinh đã luôn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân xã Diễn Thành, huyện Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An và bà con nông dân đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
và hoàn thành luận văn
Trong thời gian học tập và nghiên cứu tôi cũng đã nhận được sự động viên, đóng góp, quan tâm tận tình của gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp
Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả những sự giúp đỡ quý báu này
Nghệ An, tháng 8 năm 2017
Tác giả
Lê Thị Phương Thảo
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1.CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.2.1 Các nghiên cứu về thành phần sâu hại cà chua 4
1.2.2 Nghiên cứu về sâu xanh hại cà chua (Helicoverpa armigera Hubner) 5
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.3.1 Các nghiên cứu thành phần sâu hại cà chua 11
1.3.2 Các nghiên cứu về sâu xanh hại cà chua (Helicoverpa armigera Hubner) 13
Chương 2.NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 18
2.2 Nội dung nghiên cứu 18
2.3 Phạm vi nghiên cứu 18
2.4 Vật liệu nghiên cứu 18
2.5 Phương pháp thực nghiệm 19
2.5.1 Nghiên cứu ngoài đồng ruộng 19
2.5.2 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 21
2.6 Phương pháp xử lý số liệu 24
Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Thành phần sâu hại và thiên địch của chúng trên cây cà chua vụ Đông Xuân 2016- 2017 tại Diễn Châu, Nghệ An 25
3.1.1 Thành phần sâu hại trên cây cà chua vụ Đông Xuân 2016 – 2017 tại Diễn Châu, Nghệ An 25
Trang 63.1.2 Thành phần thiên địch trên cây cà chua vụ Đông Xuân 2016 - 2017 tại Diễn
Châu, Nghệ An 40
3.2 Đặc điểm sinh học của sâu xanh hại cà chua H armigera 43
3.2.1 Thời gian phát dục các pha và vòng đời của sâu xanh hại cà chua H armigera 43
3.2.2 Khả năng đẻ của trưởng thành cái và và tỷ lệ nở của trứng sâu xanh hại cà chua H armigera 45
3.2.3 Tỷ lệ vũ hoá của nhộng và thời gian phát dục của ấu trùng sâu xanh H armigera 48
3.3 Diễn biến mật độ của một số loài sâu hại chính trên cây cà chua vụ Đông – Xuân 2016 – 2017 tại Diễn Châu, Nghệ An 49
3.3.1 Diễn biến mật độ sâu khoang và sâu xanh hại cà chua vụ Đông xuân 2016 – 2017 tại Diễn Châu, nghệ An 49
3.3.2 Sự phân bố của sâu xanh H armigera ở các bộ phận trên cây cà chua 52
3.3.3 Sự xuất hiện của sâu xanh hại cà chua H armigera trên một số cây trồng khác vụ Đông xuân 2016-2017 tại Diễn Châu, Nghệ an 53
3.4 Đánh giá hiệu lực của một số thuốc hóa học trong phòng trừ sâu xanh hại cà chua H armigera 55
3.4.1 Hiệu lực của một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ H armigera trong phòng thí nghiệm 55
3.4.2 Hiệu lực của một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ sâu xanh H armigera ngoài đồng ruộng 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHẦN PHỤ LỤC 67
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Thành phần sâu hại trên cây cà chua vụ Đông Xuân 2016 – 2017 tại Diễn
Châu, Nghệ An 38
Bảng 3.2 Tỷ lệ số lượng các họ, loài của sâu hại cà chua vụ Đông Xuân 2016 – 2017
tại Diễn Châu, Nghệ An 38
Bảng 3.3 Thành phần thiên địch của sâu hại cà chua vụ Đông xuân năm 2016 - 2017
tại Diễn Châu – Nghệ An 41
Bảng 3.4 Tỷ lệ các họ, loài thiên địch của sâu hại cà chua vụ Đông Xuân 2016 –
2017 tại Diễn Châu, Nghệ An 42
Bảng 3.5 Thời gian phát dục của các pha và vòng đời của của sâu xanh hại cà chua
H armigera 44 Bảng 3.6 Nhịp điệu sinh sản của trưởng thành sâu xanh hại cà chua 46 Bảng 3.7 Tỷ lệ nở của trứng của sâu xanh hại cà chua H armigera trong các điều
kiện phòng thí nghiệm 47
Bảng 3.8 Tỷ lệ vũ hoá của nhộng sâu xanh hại cà chua trong các điều kiện phòng thí
nghiệm 48
Bảng 3.9 Thời gian phát dục của ấu trùng sâu xanh hại cà chua H armigera ở các
loại thức ăn khác nhau 49
Bảng 3.10 Diễn biến mật độ sâu khoang và sâu xanh hại cà chua vụ Đông xuân 2016
- 2017 tại Diễn Châu, Nghệ An 50
Bảng 3.11 Mật độ của sâu xanh hại cà chua H armigera ở các bộ phận của cây vụ
Đông xuân 2016-2017 tại Diễn Châu, Nghệ An 53
Bảng 3.12 Sự xuất hiện của sâu xanh hại cà chua H armigera trên một số cây trồng
khác vụ Đông xuân 2016 - 2017 tại Diễn Châu, Nghệ An 54
Bảng 3.13 Hiệu lực của một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ sâu xanh
H.armigera trong phòng thí nghiệm 56
Bảng 3.14 Hiệu lực của một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ sâu xanh
H.armigera ngoài đồng ruộng 57
Trang 9Hình 3.5 Diễn biến mật độ sâu khoang và sâu xanh hại cà chua vụ Đông xuân 2016
- 2017 tại Diễn Châu – Nghệ An 51
Hình 3.6 Hiệu lực của một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ sâu xanh hại cà
chua H armigera trong phòng thí nghiệm 56
Hình 3.7 Hiệu lực của một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ sâu xanh hại cà
chua H armigera ngoài đồng ruộng 58
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Rau là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao, đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của mỗi người dân Việt Nam cũng như trên thế giới Trong các loại rau thì cây cà chua có giá trị cao cả về dinh dưỡng lẫn kinh tế
Theo số liệu thống kê của FAO (2008) [32], từ năm 1997 đến 2007, diện tích cà chua thế gỉới đã tăng từ 3.260.170 ha lên 4.626.232 ha (tốc độ tăng 14,1% năm), sản lượng 126.246.632 tấn, trong đó, các nước châu Á chiếm 44%, châu Âu 22%, châu Mỹ 15%, châu Phi 12% và các khu vực khác chiếm 7% Bên cạnh giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng, sản xuất cà chua đem lại lợi nhuận tương đối cao
so với các loại cây trồng khác Tại Hoa Kỳ, thu nhập bình quân trên 1 ha trồng cà chua lên tới 4.610 USD, trong khi đó, chỉ thu được 1.740 USD đối với lúa mỳ và 1.027 với lúa nước (FAO, 2006) [31]
Tại Việt Nam, diện tích trồng cà chua khoảng trên 20.000 ha, tập trung chủ yếu tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, ) và Đà Lạt (Lâm Đồng) với năng suất 15-40 tấn/ha (Tổng cục thống kê, 1999-2007) [16] Với các tỉnh miền Bắc, cà chua trồng chủ yếu vào vụ Đông vì lý
do giai đoạn này, điều kiện khí hậu rất phù hợp cho cây cà chua sinh trưởng vả phát triển tốt, đạt năng suất cao Còn tại Đà Lạt, cà chua có thể sản xuất được quanh năm, vì vậy, mỗi năm, hàng trăm ngàn tấn cà chua được vận chuyển từ Đà Lạt tiêu thụ tại thị trường các tỉnh miền Bắc với giá tượng đối cao, có khi tới 15-
20 ngàn đồng/kg
Để khắc phục tình trạng nêu trên, thời gian qua, một số nghiên cứu về giống đã nhập nội, chọn tạo nhiều giống cà chua mới, có khả năng sinh trưởng và phát triển trong điều kiện ẩm độ, nhiệt độ cao, cho năng suất và chất lượng phục
vụ thị trường miền Bắc Tuy nhiên, cà chua vẫn chưa tạo thành vùng sản xuất lớn
vì những khó khăn trong công tác quản lý sâu bệnh hại đã ảnh hưởng tới năng suất
và giá trị thương phẩm sản phẩm, trong đó, nghiêm trọng nhất là sâu xanh
Trang 11(Helicoverpa armigera Hubner), là đối tượng có khả năng gây thiệt hại từ 5 - 70%
năng suất, cá biệt lên tới 100% (Hà Quang Hùng, 2005) [6]
Cho đến nay, tỉnh Nghệ An chưa có biện pháp nghiên cứu, quản lý hiệu quả
loài sâu hại này, công tác chỉ đạo phòng chống sâu xanh Helicoverpa armigera
còn gặp rất nhiều khó khăn Để phòng trừ chúng, biện pháp hoá học đóng vai trò quan trọng, có hiệu quả, hạn chế mức độ gây hại nhanh, đơn giản và thông dụng Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc hoá học phòng chống sâu hại đã làm ô nhiễm môi trường, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng trong nông sản quá mức cho phép, làm giảm chất lượng hàng hoá và ảnh hưởng sức khoẻ con người
Để chủ động phòng chống sâu đục quả cà chua, đặc biệt là sâu xanh
Helicoverpa armigera Hubner và hướng dẫn nông dân sử dụng thuốc BVTV an
toàn và hiệu quả trong sản xuất rau trên địa bàn huyện chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây cà chua, đặc điểm sinh học,
sinh thái của sâu xanh hại cà chua Helicoverpa armigera Hubner và biện pháp
phòng chống tại Diễn Châu Nghệ An.”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được thành phần sâu hại và thiên địch trên cây cà chua, mức độ gây hại, tình hình phát sinh gây hại của một số loài gây hại chính và nghiên cứu
một số đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu xanh hại cà chua Helicoverpa armigera
và đề xuất các biện pháp phòng chống sâu đục quả cà chua có hiệu quả trong sản xuất cà chua tại Diễn Châu tỉnh Nghệ An
3.Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Góp phần bổ sung thêm dữ liệu thông tin về đặc điểm sinh học, sinh thái
của sâu xanh hại cà chua Helicoverpa armigra làm cơ sở cho công tác chỉ đạo
phòng chống sâu hại cà chua có hiệu quả, mang lại giá trị kinh tế cao cho sản xuất
cà chua tại Diễn Châu, Nghệ An
Góp phần chủ động trong công tác bảo vệ thực vật của cơ sở, sử dụng thuốc
an toàn, hiệu quả Xây dựng nền nông nghiệp sinh thái và bền vững
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Theo CAB (2003)[26], cây cà chua có tên khoa học Lycopersicum
esculentum Miller, họ cà Solanaceae Tại Việt Nam, cây cà chua là một trong các
loại rau chính, đem lại hiểu quả kinh tế cao, vào một số thời điểm ở miền Bắc, thu nhập từ sản xuất cà chua lên tới 400 triệu đồng/ha Tuy nhiên, sâu hại nói chung
và sâu xanh H armigera hại cà chua nói riêng luôn là rào cản ảnh hưởng tới sản
xuất và hiệu quả kinh tế của người nông dân Vì vậy, vấn đề đặt ra cho các nghiên cứu phòng trừ sâu xanh hại cà chua có hiệu quả là cần nghiên cứu và hiểu rõ về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu hại, từ đó, định hướng được các nghiên cứu phòng trừ có hiệu quả
Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu xanh Helicoverpa
armigera (Hubner), Họ ngài đêm Noctuidae, Bộ cánh vảy Lepidoptera đã được
nhiều tác giả đề cập, tuy nhiên, việc tập hợp đầy đủ và nghiên cứu một cách hệ thống về loài sâu hại này trên cây cà chua còn nhiều hạn chế Chính vì vậy thông tin về những nghiên cứu trên là cơ sở cho các nghiên cứu của chúng tôi về sâu xanh thu thập tại Nghệ An
Theo Kenedy et al (2000)[41], cây trồng nói chung và cà chua nói riêng
có phản ứng tự vệ với các điều kiện ngoại cảnh cũng như côn trùng gây hại Việc đánh giá các dòng giống đáp ứng các tiêu chí năng suất, chất lượng và kháng được sâu xanh là cơ sở cho công tác nghiên cứu sử dụng giống chống chịu trong công tác phòng trừ
Theo Jayaraj (1982)[39], có mối tương quan rất chặt chẽ giữa mật độ các loài sâu hại với mật độ các loài côn trùng thiên địch, vì vậy, trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, cần nghiên cứu phát huy tối đa hiệu lực và giảm thiểu đến mức thấp nhất việc sử dụng thuốc trừ sâu, lựa chọn các loại thuốc ít ảnh hưởng các loài côn trùng thiên địch
Trang 13Theo tác giả Phạm Hữu Nhượng (1999)[11] , nghiên cứu tập tính phát sinh, phát triển và gây hại của sâu xanh hại cà chua đã cho biết khi trồng xen với một số cây trồng khác hoặc dưới tác động của một số hoormon thực vật, mật độ sâu xanh trên cà chua giảm đi nhanh chóng, nói cách khác, một số cây trồng tự nhiên hoặc các yếu tố nhân tạo đã có tác động dẫn dụ sâu xanh và đây là tập tính cố hữu của nhiều đối tượng côn trùng gây hại và là cơ sở cho những nghiên cứu biện pháp phòng trừ có hiệu quả
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1 Các nghiên cứu về thành phần sâu hại cà chua
Cây cà chua có một đặc điểm điển hình là có ít loài gây hại chủ yếu nhưng lại tồn tại nhiều loài thứ yếu Thành phần các loài sâu hại trong một phạm vi vùng lãnh thổ có thể khác nhau do cơ cấu cây trồng và một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự thay đổi về số lượng loài sâu hại trên cây trồng theo thời gian là sự biến đổi khí hậu, thể hiện ở các yếu tố như: sự tăng nhiệt độ trung bình năm, hạn hán, mưa, bão Thời gian trước, các đối tượng sâu bệnh hại chủ yếu thưởng được đề cập tới trên cà chua là: mốc sương, rệp, nhện đỏ, dòi đục lá và cho đến nay, các đối tượng gây hại lại thuộc về nhóm sâu hại trên hoa, quả như bọ trĩ, bọ xít chích hút quả, bọ phấn, các loài sâu ăn tạp bộ cánh vẩy như sâu đục quả
cà chua Helicoverpa armigera (Hubner), sâu đục quả cà chua thuốc lá Heliothis
armigera Hubner, sâu khoang Spodoptera litura (Lange et al., 1981)[45]
Theo Kenedy et al (2000)[41] , thành phần các loài sâu hại có thể thay đồi
do sự thay đổi ngay bên trong các hệ sinh thái nông nghiệp, bao gồm: cơ cấu cây trồng, kỹ thuật canh tác, những tiến bộ về công nghệ (giống sinh trưởng vô hạn, hữu hạn; gieo thẳng, trồng cây con ) Với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ ít hiệu quả như lúa, khoai sang một số loại rau màu hiệu quả kinh tế cao như cà chua, các loại đậu, hoặc trong kỹ thuật canh tác sự có mặt của các loại màng phủ nông nghiệp đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và làm thay đổi thành phần loài cũng như tác hại của sâu hại, đặc biệt là nhóm côn trùng chích hút, rầy, rệp, bọ trĩ,
bọ phấn,
Trang 14Theo CABI (2011)[25] , trên cây cà chua phát hiện 208 loài côn trùng và
10 loài nhện nhỏ gây hại, trong đó Helicoverpa armigera là loài côn trùng ăn tạp
và phá hoại chủ yếu, gây ra tổn thất năng suất đến 70%;
Theo Tổ chức Nông lương liên hợp quốc (FAO, 2006)[31] , sâu hại cà
chua được xác định có 5 loài gây hại chính, đó là sâu xám (Agrotis ypsilon Rott), sâu đục quả cà chua (Helicoverpa armigera Hubner), bọ phấn (Bemisia tabaci Gennadius), dòi đục lá (Liriomyza sativae Blandchart ) và rệp bột sọc (Ferrisia
virgata Cockerell)
Theo một số tác giả, trong các loài côn trùng và nhện hại cà chua, sâu xanh
hại cà chua (Helicoverpa armigera Hubner) có mức độ gây hại nguy hiểm nhất
Chúng đã xuất hiện và gây hại trên tất cả các vùng trồng cà chua của châu Á Tại Tamil Nadu (miền Nam Ấn Độ), Srinivasan (1959)[54] đã ghi nhận có 40-50% số quả bị hại; còn ở Punjab (miền Bắc Án Độ), Singh et al (1975) )[52] đã ghi nhận được có tới 30% quả cà chua bị sâu đục quả cà chua gây hại Tương tự, tại Philipin, Thái Lan và Đài Loan, Talekar et al (1984))[55] cũng đã ghi nhận mức độ thiệt
hại do sâu đục quả cà chua (Helicoverpa armigera Hubner) lên tới 55-60%
Theo Garcia (2006)[35], trong điều kiện bình thường, rất khó phát hiện sự
phát sinh, phát triển của sâu xanh hại cà chua (helicoverpa armigera Hubner) vì
sâu non tuổi nhỏ đục sâu vào trong quả, thậm chí trong quá trình chế biến, sau khi bóc vỏ, vẫn rất khó nhận biết sâu còn trong quả cà chua, vì vậy, chất lượng nguyên liệu bị ảnh hưởng nghiêm trọng
1.2.2 Nghiên cứu về sâu xanh hại cà chua (Helicoverpa armigera Hubner)
• Vị trí phân loại và phân bố
Sâu xanh có tên khoa học: Helicoverpa armigera Hubner, còn được biết đến với một số tên gọi khác như: Heliothis armigera (Hubner), Chioridea
armigera (Hubner), Heliothis fusca (Cockerell), Heliothis rama (Bhattacherjee &
Gupta), Noctua armigera (Hubner) Ngoài ra, một số tên thường gọi như sau: Old
world (African) bollworm, com eanvorm, cotton bollworm (Wiebe Lammers, 2007)[58]
Trang 15Theo Wiebe Lammers (2007)[58], sâu xanh hại cà chua (Helicoverpa
armigera Hubner) có vị trí phân loại như sau:
- Loài Helicoverpa armigera
Helicoverpa armigera (Hubner) là loài sâu hại phổ biến tại tất cả các vùng
miền trên thế giới và đặc biệt phân bố rộng rãi ở Châu Á, Châu Phi và Châu Đại
Dương Hiện nay, tại châu Âu, H armigera bắt đầu xuất hiện rộng rãi ở các nước
thành viên EU như Bulgaria, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Romania và rất phổ biến ở Tây Ban Nha Tại Síp, Pháp, Hungary và Italia thì ít phổ biến hơn (EPPO, 2006)[30]
• Đặc điểm hình thái
Khi nghiên cứu về kích thước của trứng sâu đục quả cà chua, Neunzig et al.,
(1969)[ 109] đã cho biết chiều cao của trứng H zea và H virescens tương ứng
là 0,51 và 0,55 mm; còn theo Kirkpatrick (1961)[43], trứng của H armigera rất khó phân biệt với trứng cửa H punctigera
Neunzig (1964)[47] khi nghiên cứu giai đoạn sâu non đã cho thấy sâu non mới nở có mầu trắng hơi vàng với những đường sọc màu đậm, đầu màu nâu đen
Theo Jayaraj (1982)[39] sâu non thành thục dài khoảng 35-42mm, màu xanh lục, tuy nhiên, màu sắc của cơ thể có thể biến đổi sang các màu sắc khác như lục tối, vàng rơm, nâu hơi đỏ, thậm chí thành màu đen Ở dọc hai thân có những sọc đứt quãng và có một sọc trên lưng Khắp cơ thể có lông ngắn và những lông dài cứng, màu tối
• Phổ cây chủ chính
Theo Juvik et al (1994)[40], sâu xanh H.armigera có khả năng gây hại
trên tất cả các cây trồng nông nghiệp và là đối tượng sâu hại chính của các cây ngô, kê, cà chua, thuốc lá, bông và đậu bò
Trang 16Theo Zalucki et al (1994)[62], ký chủ của loài này rất rộng gồm cả cây trồng và thực vật hoang dại, có trên 172 loài thuộc 40 họ được ghi nhận là cây chủ của sâu đục quả cà chua tại úc và 200 loài thuộc 30 họ tại Trung Quốc Các cây trồng như bông, ngô và đậu, là những loài thức ăn phù hợp nhất cho sâu xanh phát triển, sinh sản (Fitt, 1989)[33]
Neunzig (1964)[47] khi nghiên cứu tuổi sâu non thường dao động từ 5 đến
7 Đối với H.armigera, thường là 6 tuổi, tuy nhiên, với mùa lạnh ở Nam Rhodesia, sâu non (Helicoverpa armigera Hubner) là 7 tuổi (Pearson et al., 1958)[48]
Theo Bhatt et al (2001 )[24], các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy giai đoạn sâu non kéo dài từ 12 - 36 ngày và trong mùa hè, hoàn thành phát dục trong 14-18 ngày, trong khi đó, phải mất 21 ngày vào mùa thu Lứa sâu non đầu tiên đòi hỏi nhiều thời gian hơn để phát dục (24 - 36 ngày) so với các lứa thứ hai hoặc thứ ba (thường từ 16 - 30 ngày và 19 - 26 ngày tương ứng) Sâu non mới
nở có tỷ lệ tử vong cao với nguyên nhân chủ yếu do sự di chuyển hoặc sự xuất hiện của các loài bắt mồi ăn thịt
Theo Wilcox et al.,(1956)[59], tại California (Hoa Kỳ), trên cùng cây chủ làm thức ăn, giai đoạn sâu non dao động từ 21 - 40 ngày, tuy nhiên, tại Ohio, giai đoạn sâu non lại là 18 - 51 ngày, tại Punjab (Ấn Độ) từ 8 - 12 ngày và ở Nam Phi được ghi nhận là 15- 32 ngày (Jayaraj, 1982)[39]
Trước khi ăn trên cây chủ của mình, sâu non mói nở thường ăn tất cả hoặc một phần của vỏ trứng, sau đó, có thể ăn bề mặt lá hoặc hoa, chúng có khả năng
ăn bên trong hoa và chỉ có thể phát hiện được khi theo dõi thấy sợi tơ mảnh ở lỗ đục vào và phân thải của chúng Sâu non tuồi nhỏ di chuyển trong khoảng cách
Trang 17ngắn trước khi lựa chọn một vị trí thích hợp để gây hại Sâu non tuổi lớn đục vào bên trong cuống hoa hoặc quả non, một phần cơ thể thò ra bên ngoài (King, 1994)[42]
Khi sâu non di chuyển khó khăn, thời gian phát dục có sự thay đổi lớn và khả năng sống sót phụ thuộc vào lựa chọn của trưởng thành cái đẻ trứng (Gu et al., 1999)[36]
Những nghiên cứu của Walt et al (1988)[ 57] cho thấy sâu non tuổi 5 có thể tiêu thụ hết một lượng thức ăn nhiều gấp 3 lần thức ăn được tiêu thụ từ tuổi 1 đến tuổi 4 và gấp 4 lần lượng thức ăn tiêu thụ ở tuổi 4 Khi theo dõi sự lột xác của sâu đục quả cà chua đã cho thấy sâu non thường lột xác ở mặt trên của lá cây trong điều kiện có nắng ấm, vì nó giúp đẩy nhanh quá trình phơi khô của lớp biểu bì
Giai đoạn tiền nhộng kéo dài 1 - 4 ngày và trong thời gian này, sâu xanh hại cà chua giảm hoạt động (King, 1994)[42]
Theo Jayaraj (1982)[39], sâu non H armigera khi đẫy sức thì chui xuống đất ở độ sâu 2,5 - 17,5 cm để làm nhộng, trong điều kiện đất cát thì sâu chui xuống
sâu hơn ở đất thịt; nhộng sâu đục quả cà chua dài từ 14 - 18 mm, màu cánh gián, nhẵn
Trưởng thành sâu xanh hại cà chua có xu hướng đẻ trứng đơn lẻ, vị trí đẻ trứng gần các cuống hoa, thời kỳ cao điểm đẻ trứng thường xảy ra trước hoặc trong
quá trình ra hoa của cây chủ Tùy thuộc vào từng loại cây chủ, H armigera cũng
có thể đẻ trứng trên bề mặt lá và có xu hướng chọn lá bánh tẻ với nhiều lông trên
bề mặt để đẻ trứng hơn bề mặt lá nhẵn (King, 1994)[42]
Cũng theo King (1994)[42] khi nghiên cứu tuổi thọ của trưởng thành đã ghi nhận thời gian này kéo dài khoảng 5 - 36 ngày và tuổi thọ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cả nhộng, trọng lượng, thức ăn (mật hoa), chất lượng thức ăn (hàm lượng sucrose), nhiệt độ, ẩm độ và các loài bắt mồi ăn thịt khác Trong trường hợp không có đầy đủ nguồn thức ăn, trưởng thành có thể chết trong vòng vài ngày Ở điều kiện bất lợi, giảm chất lượng thức ăn hoặc thiếu thức ăn, trưởng thành có thể
di chuyển khoảng cách xa, khoảng 10 km (trong trường hợp không di cư) và lên tới khoảng 250 km (trong trường hợp di cư ) (Casimero et al., 2001)[27]
Trang 18* Một số yếu tố sinh thái ảnh hưởng tới sâu xanh hại cà chua (Helicoverpa
armigera Hubner)
Theo Chang et al (2008)[28], sự phát sinh, phát triển và biến động quần
thể của một loài côn trùng chịu tác động rất lớn bởi yếu tố thời tiết Các kết quả nghiên cứu của Meena et al., (2010)[102] cho thấy phạm vi nhiệt độ 28 - 34°c là
thích hợp cho sự xuất hiện của sâu xanh H armigera Tương tự, Shah et al
(2005a,b)[50][51] cũng xác định được mối tương quan thuận giữa mật độ quần thể
sâu xanh H armigera với nhiệt độ tối đa, tối thiểu và mối quan hệ tương quan
nghịch giữa mật độ quần thể và độ ẩm tương đốỉ
Các tác giả Mehto et al (1985)[46], Yadav et al (2009)[60] cũng phát hiện
ra rằng nhiệt độ trung bình đã có một mối tương quan thuận với mật độ quần thể
của sâu xanh H armigera Tuy nhiên, đối với trường hợp của cây bông, sự biến
động quần thể sâu xanh cũng bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ tối đa và độ ẩm tương đối
nhưng nhiệt độ tối thiểu và trung bình thì không có ảnh hưởng Ngoài ra, Yadav
et al (2009)[60] kết luận rằng có một mổi tương quan thuận giữa quần thế sâu non với nhiệt độ tối thấp và tối cao
Haggis (1982)[37] khi nghiên cứu ảnh hưởng của lượng mưa đến sâu xanh cho thấy lượng mưa ảnh hưởng gián tiếp lên số lượng quần thể sâu xanh thông qua
sự ảnh hưởng của nó lên cây chủ hoặc trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố mật độ trứng Việc dự báo mật độ sâu sẽ thay đổi phụ thuộc nhiều vào tính ổn định của các yếu tố môi trường Theo tác giả Titmarsh (1985)[56], các yếu tố vật lý bất lợi của môi trường có thể gây chết tơi 95% trứng và sâu non sâu xanh tuổi nhỏ ở trên cây bông, thuốc lá và trứng sâu xanh dễ bị mưa, gió lớn làm văng ra khỏi lá
Theo Roach et al (1979)[49], mưa lớn hoặc việc canh tác làm cản trở việc
chui khỏi vỏ nhộng của trưởng thành sâu xanh trên đồng ruộng Các yếu tố vật lý bất thuận của môi trường cản trở sự vũ hoá của trưởng thành sâu xanh và làm tăng
tỷ lệ chết 10-20% (Fitt, 1989)[33]
Như vậy, hầu hết các tác giả cho rằng, trong một giới hạn nhất định, nhiệt
độ cao thì làm sâu xanh gia tăng mật độ nhanh hơn nhiệt độ thấp Mưa cũng là yếu
tố kìm hãm sự phát triển của quần thề sâu xanh hại cà chua
Trang 19Mức độ phù hợp của các loài cây chủ khác nhau đối với sâu hại được thể hiện thông qua các thông số về tỷ lệ sống sót, thời gian phát dục, khả năng sinh sản Thời gian phát dục ngắn, tốc độ sinh sản cao của loài sâu hại trên cây chủ thể hiện sự thích họp rất cao của cây chủ
Trên các cây chủ càng phù hợp thì sâu hại càng có khả năng phát dục nhanh, vòng đời ngắn lại, sinh sản mạnh, bùng phát quần thể nhanh hơn và rút
ngắn thời gian tồn tại của 1 lứa (Singh et al., 1988)[53]
Sự phát triển của sâu non phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ và tiếp đến là chất lượng thức ăn (CAB, 2003, King, 1994 )[26][42]
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn tới trưởng thành sâu xanh, Armes
(1989)[23] thấy rằng ở nhiệt độ 24°C, trưởng thành được ăn thêm đường ngay sau
khi vũ hoá thì bắt đâu đẻ trứng ở ngày thứ 3 sau vũ hoá và đỉnh cao vào ngày thứ
6, nhưng nếu thiếu ăn thêm, thời điểm đẻ trứng bị chậm lại, trường hợp cho trưởng thành ăn thêm đường bắt đầu vào ngày thứ 5 sau khi vũ hoá, thì đỉnh cao của thời điểm đẻ trứng chậm lại 3 ngày Theo Jayaraj (1982)[39] tuổi thọ của trưởng thành sâu xanh hại cà chua chịu ảnh hưởng bởi nguồn thức ăn (ở dạng mật hoặc tương tự) Con cái sẽ nhanh chóng bị suy kiệt và chết trong khoảng từ 3-6 ngày nếu không
ăn thêm Ngoài ra tuổi thọ của sâu xanh trưởng thành còn phụ thuộc vào nhiệt độ
và khối lượng nhộng (Armes, 1989)[23]
Theo một số tác giả thì sự ăn thêm của trưởng thành là điều kiện tiên quyết
và cốt yếu để giao phối và đẻ trứng đối với sâu xanh H.armigera (Hanvick,
1965)[38] Trưởng thành sâu xanh thường ăn đường và các a xít a min ở dạng mật,
có khi còn ăn cả chất thải của rệp trên ngô và cao lương, ăn nước rỉ ra từ vết thương
do nấm bệnh gây hại trên lúa mạch (Akashe et al., 1997)[22]
Trưởng thành vũ hoá ra từ sâu non ăn trên bông và đậu tương có tuổi thọ cao hơn so với trưởng thành vũ hoá ra từ sâu non ăn trên cà chua và ngô Giai đoạn tiền đẻ trứng của trưởng thành từ 2,5-3,4 ngày, giai đoạn đẻ trứng từ 6,5-9,8 ngày Một con cái có thể đẻ từ 500-3.000 trứng, tuỳ thuộc vào cây chủ (Christidis et al., 1955)[29]
Trang 20Theo Zadoks (1993)[61], những yếu tố phá vỡ sự ổn định về sinh thái đồng ruộng, dẫn đến sự phát dịch của sâu bệnh gồm có trồng tập trung thành những khu đồng lớn, tăng mật độ cây chủ, thiếu sự đa dạng cây trồng (tăng độ đồng đều về di truyền), tăng sự chuyên canh, tăng trao đổi quốc tế hại giống và gốc ghép
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.3.1 Các nghiên cứu thành phần sâu hại cà chua
Theo Viện Bảo vệ thực vật (1976)[20], kết quả điều tra cơ bản côn trùng miền Bắc 1967-1968 cho biết có 11 loài sâu hại cà chua, trong đó có một số loài
cây gây hại quan trọng như sâu xám (Agrotis ypsilon Rottemb), bọ phấn (Bemisia
mysicae Kuwayana ), sâu xanh hại cà chua (Helicoverpa armigera Hubner), sâu
khoang (Spodoptera litura Fabr), dê mèn lớn và dế dũi…
Kết quả điều tra cơ bản côn trùng năm 1974-1976 đã cho biết tại miền Bắc
có 13-14 loài sâu hại phổ biến trên cà chua, một trong những loài gây hại nghiêm
trọng cho cây cà chua là sâu xanh hại cà chua H.armigera (Hồ Khắc Tín,
1980)[15]
Các năm 1977-1978, kết quả điều tra tại các tỉnh phía Nam cho thấy có 29
loài côn trùng gây hại, trong đó nhóm sâu đục quả là sâu khoang Spodoptera litura (Fabr), sâu xanh hại cà chua Helicoverpa armigera (Hubner) và sâu đục quả cà chua Helicovecpa assulta là các đối tượng gây hại nguy hiểm, chúng có mặt ở hầu
hết các châu lục trên thế giới và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, chất lượng quả cà chua (Viện Bảo vệ thực vật, 1999)[21]
Thời gian sau, khi nghiên cứu thành phần sâu hại cà chua, các tác giả Hồ Khắc Tín (1980)[15], Nguyễn Đức Khiêm (2005)[7], Nguyễn Văn Đĩnh và cs (2003)[4], Nguyễn Thị Kim Oanh (2003)[5] đã ghi nhận thành phần sâu hại chính
trên cà chua là nhóm sâu đục quả, bao gồm sâu khoang (Spodoptera littura), sâu đục quả cà chua thuốc lá (Helicoverpa assulta) và sâu xanh Helicoverpa armigera, trong đó sâu xanh H.armigera là loài quan trọng, gây thiệt hại lớn, ảnh hưởng tới
năng suất, chất lượng quả cà chua Các nghiên cứu cũng chỉ ra thời điểm phát sinh gây hại chủ yếu sau khi cà chua ra hoa, đậu quả và nêu lên một số đặc điểm sinh học của loài sâu hại này
Trang 21Theo Hoàng Anh Cung và cs (1995)[3], trên cà chua có 5 loài sâu hại chính là sâu xám (Agrotis ypsilon Rott), Bọ phấn (Bemisia tabaci), sâu khoang
(Sopodoptera litura), sâu xanh (Helicoverpa armigera), bọ trĩ (Thripidae); trong
đó chỉ có 2 loài sâu đục quả là sâu xanh và sâu khoang xuất hiện và gây hại thường xuyên hơn trong cả 3 vụ cà chua: sớm, chính vụ và vụ Xuân hè
Theo Nguyễn Văn Đĩnh và cs (2003 )[4], khi nghiên cứu thành phần sâu hại cà chua tại Nương Lỗ (Đông Anh, Hà Nội) vụ xuân 2003 đã nhận xét có 18 loài sâu và 2 loài nhện hại, trong đó, gây hại nặng nhất vẫn là nhóm sâu đục quả, chúng xuất hiện nhiều khi cây ra hoa và càng về cuối vụ càng bị hại nặng, trong
đó sâu xanh H armigera là loài gây hại nặng nhất Các tác giả cho rằng cả 3 loài
sâu xanh đều xuất hiện và gây hại trên cà chua ở cả hai vụ thu đông và xuân hè, tuy nhiên, chúng gây hại nặng hơn cả ở vụ xuân hè 2003 Trong vụ thu đông, sâu
khoang Spodoptera litura gây hại chủ yếu, sang vụ xuân hè chúng xuất hiện và gây hại ít hơn, gây hại nặng hơn cả là sâu xanh Helicoverpa assulta Nhóm nghiên cứu cũng chỉ rõ rằng mật độ của sâu H assulta luôn cao hơn sâu xanh H armigera,
điều đó giúp chúng ta chủ động hơn trong biện pháp phòng chống chúng ở các thời
vụ trồng cà chua khác nhau
Tác giả Mai Phú Quý và cs (2005)[12] khi nghiên cứu về đa dạng côn trùng trong sinh quần rau quả đã cho thấy trên cà chua có các loài sâu gây hại chính
như: rệp Aphis fabae Scopoli, Aulacorthum solani (Kalf), bọ phấn Bemisia
myricae Kuway, sâu xanh H.armigera Hubner, sâu khoang s.litura, chúng gây hại
nghiểm trọng, ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất và chất lượng cây cà chua Tác giả Nguyễn Đức Khiêm (2005)[7] cũng cho biết trong các loài sâu hại chính trên
cà chua, nguy hiểm nhất là nhóm sâu đục quả (sâu xanh H.armigera, sâu xanh
H.assulta, sâu khoang s.litura), chúng gây hại nghiêm trọng tới năng suất chất
lượng cây trồng này
Tác giả Nguyễn Kim Chiến (2005)[1] cho biết: vụ xuân hè 2004 - 2005 trên giống cà chua PT18 trồng tại Viện Nghiên cứu Rau quả (Gia Lâm, Hà Nội) có
3 loài sâu hại chính là bọ phấn, rầy xanh Empoasca sp và sâu xanh H armigera
Trang 221.3.2 Các nghiên cứu về sâu xanh hại cà chua (Helicoverpa armigera Hubner)
* Các nghiên cứu về sinh học, sinh thái học
Ngài hoạt động mạnh từ chập tối, có xu tính với ánh sáng trắng yếu Sau khi giao phối 2 - 3 ngày, ngài đẻ trứng rải rác trên mặt lá non, lá bao của nụ Một con cái có thể đẻ từ 200 - 3000 trứng
Sâu non còn nhỏ thích ăn lá búp các đối tượng cây trồng, mỗi chỗ gặm một
ít, khi lớn, sâu ăn nụ, nhị hoa (ăn hết bộ phận bên trong để lại vỏ rỗng) Khi quả hình thành, sâu đục phần dưới, nửa mình vào trong quả, nửa mình ở ngoài Nụ hoa, quả bị hại không phát triển được, rụng xuống đất
Sâu đẫy sức hóa nhộng trong kén dưới đất
Nhộng thuờng vũ hóa vào ban đêm,
Thời gian phát dục của pha trứng : 2 - 12 ngày
Sâu phá hại nhiều đối tượng cây trồng như ngô, đay, thuốc lá, bông
Để đảm bảo có đủ số lượng sâu và sạch bệnh trong pha chế các chế phẩm virus trừ sâu và các mục đích nghiên cứu khác, việc nhân nuôi sâu hàng loạt bằng thức ăn nhân tạo là một công việc hết sức cần thiết
Nguyễn Minh Tuyên (2000) [18], khi nghiên cứu về đặc điểm sinh học của
sâu xanh Helicoverpa armigera (Hubner) so với kết quả nghiên cứu năm 1981 đã
cho thấy sâu xanh là đối tượng sâu hại nguy hiểm nhất trên cây bông ở các tỉnh
thành phía Nam Theo số liệu thống kê năm 1995, khi nuôi sâu xanh (H.armigera)
ở nhiệt độ trong phòng là 28,7 0C , ẩm độ 78% và thức ăn bằng giống bông L18 thì sâu xanh có vòng đời là 31,01 ngày Pha trứng có thời gian khoảng 2 ngày Thời gian vũ hoá đến đẻ trứng là tương đương nhau Khả năng sinh sản của sâu xanh khá cao, mỗi ngài cái trung bình có thể đẻ được 1.669 trứng Tỷ lệ trứng nở khá cao, đạt 98,6%
Hoàng Thị Việt và cs.(2000) [19] khi nghiên cứu phương pháp nuôi sâu (H
armigera) hàng loạt để sản xuất chế phẩm virus đã cho biết : Việc nuôi sâu xanh
Trang 23trên môi trường thức ăn nhân tạo gồm bột đậu xanh, men bánh, agar, metyl paraben, axit sorbit, caseine, axit ascorbic, multi vitamin, formaline 40% và nước
là tốt hơn cả, đảm bảo sạch bệnh, dễ nuôi, sâu nhộng to, trứng nhiều, có thể sử dụng phương pháp này để nhân nuôi sâu xanh, bên cạnh đó cần nghiên cứu bổ sung một số chất khác cho phù hợp với điều kiện ở Việt Nam Khi tiến hành nuôi
25000 sâu xanh H.armigera để tiến hành sản xuất virus sâu xanh NPV.Ha thì có
16.620 số sâu nhiễm bệnh, trong đó tỷ lệ phần trăm gây sâu chết do virus đạt 77,2% Các tác giả cũng chỉ ra rằng hiệu quả phòng trừ sâu xanh tuổi 2 của chế phẩm NPV.Ha dạng bột bảo quản sau 8 tháng là 95,41% ở nhiệt độ 31,2 0C và ẩm
độ 83,6 %
Tác giả Nguyễn Văn Đĩnh và cs (2003)[5] đã ghi nhận một số đặc điểm
sinh học của sâu xanh H.armigera trên cây cà chua như sau: giai đoạn sâu non có
6 tuổi; ở điều kiện nhiệt độ 25°c, giai đoạn này kéo dài 22,38 ± 0,5ngày; trứng 4,14
± 0,74 ngày; nhộng 13,86 ± 1,28 ngày; trưởng thành 8,00 ± 1,59 ngày Nếu trong điều kiện nhiệt độ 30°c các pha phát dục của sâu H armigera rút ngắn hơn Thời gian phát dục của sâu xanh H armigera nuôi trong phòng phù hợp với diễn biến
gây hại ngoài đồng ruộng của chúng
Trưởng thành sâu xanh H.armigera giao phối từ chập tối đến sáng sớm
hôm sau, sau 2-3 ngày giao phối thì đẻ trứng, trứng đẻ rải rác trên các bộ phận lá non, hoa, nụ của cây ký chủ; trung bình một ngài cái đẻ 200-3000 trứng (tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường và chế độ dinh dưỡng), thời gian đẻ trứng kéo dài 16-26 ngày với 6 tuổi sâu, sâu non đẫy sức chui xuống đất và hoá nhộng cách mặt đất 2,5-17cm; giai đoạn nhộng dài 19-30 ngày Do đặc điểm ngài cái đẻ nhiều trứng
và thời gian đẻ kéo dài nên trên đồng ruộng ở giai đoạn sau khi ra hoa của cây chủ lúc nào chúng ta cũng bắt gặp sâu non, sâu đục quả cà chua gây hại ở các tuổi khác nhau; tuy nhiên mật độ sâu tập trung cao vào vụ hè (tháng 5)( Nguyễn Đức Khiêm, 2005; Hồ Khắc Tín, 1980)[7][15]
Theo Viện Bảo Vệ Thực vật (1999) [21], một số đặc điếm sinh học, sinh
thái của sâu xanh Helicoverpa armigera Hubner đã được đưa ra phục vụ cho công
tác điều tra như sau:
Trang 24Ngài dài 15-17 mm, cánh trước màu vàng sẫm, các vân không rõ rêt, vân ngoài hình lượn sóng, trứng hình bán cầu
Sâu non có 6 tuổi, tuổi 1 có chiều dài 2,3-3,0 mm, tuổi 6 có chiều dài 20-45
mm, màu sắc khác nhau Có 4 loại màu chính: hồng nhạt, trắng vàng, xanh nhạt và xanh
Nhộng màu nâu đen
* Các nghiên cứu về biện pháp phòng chống
Vai trò của biện pháp sinh học cũng đã được nhiều tác giả đề cập tới như
Vũ Quang Côn (1990)[2] và Phạm Văn Lầm (1995) [8] Vì vậy việc duy trì và làm giàu quần thể thiên địch trên đồng hoặc khai thác, nhân và sử dụng chúng trong hệ thống quản lý tổng hợp sẽ giúp bảo vệ môi trường, nhất là khi ta đã thấy
rõ tác hại và những hạn chế của việc sử dụng thuốc hoá học đơn độc trong phòng trừ sâu hại Sau đây là một số kết quả nghiên cứu về tác động của một số biện pháp sinh học trong phòng trừ sâu hại cà chua
Tác giả Phạm Hữu Nhượng (1999)[11] đã so sánh hiệu quả của thuốc hoá học và chế phẩm sinh học (Bt, NPV) trừ sâu non bộ cánh vẩy (sâu đục quả cà chua, sâu khoang, sâu keo da láng ) trên cây đậu năm 1998 tại Đắc Lắc đã cho biết: ở ruộng có sử dụng chế phẩm sinh học thì mật độ sâu hại thấp hơn Tác giả Ngô Trung Sơn (1991)[13] đã nghiên cứu sử dụng chế phẩm NPV trừ sâu xanh
H.armigera đã kết luận loại sâu này rất mẫn cảm với NPV, đặc biệt là sâu non tuổi
nhỏ, biểu hiện ở tỷ lệ chết cao hơn, thời gian ủ bệnh ngắn hơn Vì vậy, cần chủ
động phòng trừ sâu xanh H.armigera ở giai đoạn sâu non tuổi nhỏ mang lại hiệu
quả cao về kinh tế và môi trường
Theo Phạm Văn Lầm (1995)[8] khi nghiên cứu ứng dụng chế phẩm NPV
trừ sâu xanh H.armigera đục quả cà chua tại Hoài Đức (Hà Tây) và Tiên Phong
(Vĩnh Phúc) đã cho biết hiệu lực trừ sâu của chế phẩm đạt 57,7%
Theo Hoàng Thị Việt và cs (2000) [19] khi nghiên cứu, đánh giá hiệu lực trừ sâu khoang S.litura và sâu xanh H.armigera trong phòng thí nghiệm của các chế
phẩm sinh học NPV ở các nồng độ virus khác nhau đã cho biết: hiệu lực của chế
phẩm đạt 100% ở 9 ngày sau phun (NSP) đối với sâu khoang; 100% ở 6 NSP đối
Trang 25với sâu đục quả cà chua; với hỗn hợp V-Bt (vi khuẩn Bacillus thuringiensis + NPV)
thì hiệu lực trừ sâu xanh ở 4-5 NSP đạt 65-100%
Theo Phạm Văn Lầm (1995)[8], khi nghiên cứu thí nghiệm phòng trừ sâu
xanh H.armigera bằng chế phẩm dầu Neem và Bt, hiệu lực trừ sâu ở 6 NSP đạt từ
55-80% và 75-95% với các nồng độ phối trộn khác nhau Do vậy, việc sử dụng
chế phẩm sinh học trừ sâu xanh có ý nghĩa lớn trong công tác BVTV hiện nay
Biện pháp canh tác nhằm tạo ra điều kiện sinh thái thuận lại cho cây trồng
và các thiên địch của dịch hại nhưng không thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển,
tích luỹ và lây lan của dịch hại trên đồng ruộng Đây là nhóm biện pháp đễ áp dụng
trong sản xuất, dễ kết hợp các biện pháp an toàn cho môi trường (Phạm Văn Lầm,
1998) [9] Vì vậy, thời gian qua, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về các biện
pháp phòng chống sâu xanh hại cà chua như sử dụng đặc tính dẫn dụ của cây cà
Solanum viarum (Dunal) (Nguyễn Kim Chiến, 2005)[1]; sử dụng ong mắt đỏ
Trichogramma spp, bẫy bả chua ngọt, và các biện pháp canh tác
áp dụng vào sản xuất đạt kết quả tốt (Nguyễn Minh Tuyên, 2000)[18]
Bên cạnh biện pháp canh tác, một số nghiên cứu khác áp dụng bẫy
Pheromone giới tính (PG) để phòng chống sâu đục quả cà chua H.armigera Dựa
trên đặc điểm chuyên tính cao với sâu hại, an toàn với môi trường, sức khoẻ người
sản xuất và nông sản phẩm, PG được coi là cồng cụ có hiệu quả cao trong công tác
quản lý sâu hại cây trồng
Theo Lê Văn Trịnh và cs (2005) [17] sử dụng bẫy PG trừ sâu đục quả cà
chua đục quả cà chua thu được số lượng trưởng thành vào bẫy trung bình/ngày/bẫy
là 139,2 con, trong đó cao nhất có ngày 462 con/bẫy, và thấp nhất là
23con/bẫy/ngày Hiệu lực của PG kéo dài từ 22,1-24,3 ngày, do vậy, một vụ rau
có thể thay từ 2-3 lần bẫy PG để phòng trừ một sổ đối tượng sâu hại Một số tác
giả khác còn cho biết khi sử dụng PG phòng chống sâu khoang S.litura, sâu xanh
H.armigera có thể giảm 4-5 lần sử dụng thuốc hoá học, tiết kiệm được
20.000đ/ha/vụ, sử dụng bẫy Pheromon giới tính là một trong những biện pháp tiên
tiến trong quản lý tổng hợp các loài sâu hại bộ cánh vảy
Trang 26Một số tác giả như Lê Văn Thuyết và cs (1996)[14] vẫn coi việc sử dụng thuốc hoá học một cách hợp lý là một nhân tố quan trọng trong biện pháp quản lý tổng hợp
Trang 27Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: vụ Đông Xuân 2016 – 2017, từ tháng 10/2016 đến
tháng 2/2017
Địa điểm nghiên cứu:
- Điều tra thực địa tại xã Diễn Thành, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
- Nghiên cứu thực nghiệm tại Trạm Trồng trọt và bảo vệ thực vật huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thành phần sâu hại, mức độ phổ biến của các loài sâu gây hại chính và thiên địch của chúng trên cây cà chua vụ đông xuân 2016 - 2017 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của sâu xanh hại cà chua H armigera
hại cà chua tại điểm nghiên cứu
- Điều tra diễn biến mật độ và tỷ lệ hại của một số loài sâu hại chính (Sâu
khoang, sâu xanh hại cà chua) và mức độ phổ biến của sâu xanh hại cà chua H
armigera trên một số cây trồng vụ đông xuân 2016-2017 tại Diễn Châu, Nghệ An
- Thử nghiệm hiệu lực của một số thuốc hóa học phòng chống sâu xanh hại cà
2.4 Vật liệu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu:
- Cây cà chua trồng tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
- Dụng cụ thu mẫu:
Trang 28+ Vợt côn trùng D = 35 cm, L = 70-80 cm
+ Giá đựng ống nghiệm kích thước 40x30x15 cm
+ Các khay to đựng hộp nuôi
+ ống nghiệm với kích cỡ từ Φ =0.5 tới Φ = 5 cm
+ Đĩa Petri và lọ tam giác nút mài với thể tích V= 70-100cm
+ Các lọ nhựa với đường kính từ 15 cm tới 20 cm và cao từ 20–30 cm + Các loại lọ độc
+ Đệm bông đựng mẫu
+ Các lọ bảo quản mẫu trong cồn 700
+ Panh, kéo, bút lông, kim mổ
+ Các lồng lưới có kích thước 30x30x40 cm, 50x50x100 cm
+ Kính hiển vi, kính lúp 2 mắt và kính lúp cầm tay
+ Nhiệt độ và ẩm kế Trung Quốc
+ Tủ sấy, đèn bàn và tủ lạnh để bảo quản mẫu
+ Các loại bình bơm thuốc bằng tay, ống đong ml và xy lanh
+ Hóa chất : Cồn 70o, axelen, Cloruafukaly, Formandehyt
- Thuốc bvtv: Virtako 40WG hoạt chất Chlorantraniliprole + Thiamethoxam; Regent 80WG hoạt chất Fipronil; Ammate 150 SC hoạt chất indoxacab
Đối tượng nghiên cứu: Sâu xanh Helicoverpa armigera Hubner
2.5 Phương pháp thực nghiệm
2.5.1 Nghiên cứu ngoài đồng ruộng
+ Điều tra thành phần sâu hại chính và thiên địch của chúng trên cà chua vụ Đông Xuân 2016 - 2017 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Tiến hành điều tra theo phương pháp tự do, không cố định điểm dùng vợt, bắt bằng tay những loài sâu hại và thiên địch có trên cây cà chua, đem về phòng thí nghiệm để phân loại, xác định mức độ phổ biến
Ký hiệu mức độ phổ biến của sâu được phân theo tần suất xuất hiện (%)
Kí hiệu Mức độ phổ biến Tần suất xuất hiện (%)
O Không xuất hiện Không có điểm nào có sâu hoặc thiên địch
Trang 29- Rất ít phổ biến <25% điểm điều tra có sâu hoặc thiên địch + Ít phổ biến 25 - 50% điểm điều tra có sâu hoặc thiên địch ++ Phổ biến 51 - 75% điểm điều tra có sâu hoặc thiên địch +++ Rất phổ biến >75% điểm điều tra có sâu hoặc thiên địch + Điều tra diễn biến mật độ và tỷ lệ hại của sâu xanh hại cà chua
Điều tra định kỳ 7 ngày/1lần Điều tra theo QCVN 01-38:2010/BNNPTNT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng, điều tra 10 điểm,1 m2/điểm, tại điểm điều tra quan sát kỹ các bộ phận của cây: thân, lá, búp, nụ, hoa, quả và gốc cây Theo dõi triệu chứng sâu hại để xác định tỷ
lệ bị hại, đếm số lượng sâu hại ở các điểm điều tra Mật độ tính con/ m2
+ Đối với sâu hại: Điều tra 1 m2/điểm
Tổng số con thu được Tính mật độ (con/m2) =
+ Thí nghiệm đánh giá hiệu quả của một số thuốc hóa học trừ sâu xanh H armigera
hại cà chua ngoài đồng ruộng
Thí nghiệm gồm 4 công thức, trong đó 3 công thức thí nghiệm tương ứng với 3 loại thuốc và một công thức đối chứng (phun nước lã) được bố trí theo khối ngẫu nhiên RCB Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 15 m2 Sau đó, theo dõi số sâu sống trước khi xử lý thuốc 1 ngày và sau xử lý thuốc 1 ngày, 3 ngày, 7 ngày, 10 ngày Tính hiệu lực của thuốc theo Henderson-Tilton
Hiệu lực (%) =(1 * )*100
Tb
Cb Ca
Ta
Trong đó:
Ta : mật độ sâu hại ở ô xử lý thuốc sau khi phun
Tb : mật độ sâu hại ở ô xử lý thuốc trước khi phun
Ca : mật độ sâu ở ô đối chứng sau khi phun
Cb : mật độ sâu ở ô đối chứng trước khi phun
Trang 30Công thức 1: Virtako 40WG, liều lượng 60 g/ha
Công thức 2: Ammate 150SC, liều lượng 400 ml/ha
Công thức 3: Regent 800WG, liều lượng 32 g/ha
Công thức 4: Đối chứng phun nước lã
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
2.5.2 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
2.5.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của sâu xanh H.armigera
+ Nhân nuôi nguồn sâu phục vụ thí nghiệm
Thu thập nguồn sâu non H.armigera từ ruộng cà chua đem về phòng thí
nghiệm tiếp tục nuôi bằng lá và quả cà chua cho tới khi hoá nhộng Ghép cặp nhộng
H.armigera cho vào trong ống nhựa acrylic (đường kính 15 cm x dài 30 cm), bổ
sung dung dịch mật ong 10% để cung cấp thức ăn cho trưởng thành vũ hoá Sau khi trưởng thành giao phối, toàn bộ số trứng đẻ ra sau 2 giờ trên được nuôi trong các hộp nhựa Nuôi sâu liên tục để lấy nguồn trứng và sâu non phục vụ nghiên cứu
+ Đặc điểm sinh học của sâu xanh hại cà chua H armigera
Thí nghiệm nghiên cứu đặc điểm sinh học của sâu xanh hại cà chua H
armigera được thực hiện theo phưomg pháp nuôi sinh học cá thể trong phòng, thức
ăn bằng lá và quả cà chua (không phun thuốc trừ sâu), tại phòng thí nghiệm của trạm Trồng trọt và bảo vệ thực vật Diễn Châu Nguồn sâu ban đầu lấy từ nguồn nuôi như đã trình bày ở trên
+ Thời gian phát dục các pha và vòng đời
Sau khi trưởng thành giao phối, toàn bộ số trứng đẻ ra sau 2 giờ trong điều kiện nhiệt độ phòng Theo dõi thời gian phát dục pha trứng 12 giờ một lần Sâu non mới nở được chuyển vào cốc nhựa 18 ml và nuôi bằng lá bánh tẻ cây cà chua Theo dõi 50 sâu non Đối với sâu non tuổi lớn (từ tuổi 3), chúng tôi sử dụng quả non cà chua để nuôi Tiến hành thay thức ăn khi cần thiết Theo dõi thời gian phát
Trang 31dục các pha của sâu non (thông qua số lần lột xác và mảnh cứng đầu), nhộng và trưởng thành Thời gian pha sâu non được tính từ ngày trứng nở đến khi hoá nhộng, thời gian pha nhộng tính từ khi sâu hoá nhộng đến trưởng thành vũ hoá Vòng đờỉ tính từ khi sâu non mới nở cho tới khi chúng đẻ quả trứng đầu tiên, đời được tính
từ khi sâu non mới nở cho tới khi chết sinh lý Thí nghiệm chỉ theo dõi trên các cá thể sống sót tới khi vũ hoá trưởng thành Theo dõi từng cá thể cho đến khi chúng chết
+ Nghiên cứu khả năng sinh sản của sâu xanh hại cà chua H armigera
Chúng tôi tiến hành thu ngẫu nhiên 10 cặp trưởng thành (đực : cái) khỏe mạnh từ nguồn sâu nuôi phục vụ thí nghiệm Ghép mỗi cặp vào ống nhựa acrylic (đường kính 15 cm dài 30 cm), bên trong ống đặt dung dịch nước đường 10% để
bổ sung thức ăn cho trưởng thành Tiến hành theo dõi số trứng đẻ vào mỗi buổi sáng Công việc được tiến hành cho đến khi con trưởng thành chết
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến khả năng phát triển của
sâu non sâu xanh hại cà chua H armigera
Sử dụng nguồn trứng ở trên, nuôi sinh học sâu xanh bằng nguồn thức ăn là
3 loại thức ăn là đậu cô ve, cà chua, ớt cay, trong điều kiện nhiệt độ phòng
Tiến hành thu thập trứng đẻ sau 2 giờ trong cùng một ngày Chia trứng thành 3 nhóm mỗi nhóm 100 trứng đặt vào các đĩa petri đường kính 10 cm được lót giấy thấm giữ ẩm bằng nước cất Theo dõi khi sâu non mới nở thì tách ngẫu nhiên từng cá thể đặt vào các cốc nhựa 15 ml có 1 trong 3 loại thức ăn là đậu cô
ve, cà chua, ớt cay Giai đoạn đầu nuôi bằng lá, giai đoạn tuổi 3 trở đi nuôi bằng quả, thay thức ăn khi cần thiết Theo dõi thời gian phát dục các tuổi sâu non
+ Nghiên cứu tỷ lệ trứng nở:
Những quả trứng được thu được từ 10 cặp trưởng thành thí nghiệm, thu riêng cho vào hộp petri có lót giấy thấm nước giữ ẩm Theo dõi đến khi trứng nở, mỗi lần 300 quả Ghi chép lại điều kiện nhiệt độ, độ ẩm
Tỉ lệ trứng nở (%) :
Trang 32
∑ trứng nở (quả)
Tỉ lệ trứng nở (%) = ——————————
∑ trứng đẻ (quả) + Nghiên cứu tỷ lệ vũ hóa:
Sâu non tuổi lớn cho vào hộp mica nuôi tập thể, đến khi vào nhộng, vũ hóa Ghi chép số liệu để tính tỷ lệ vũ hóa
2.5.2.2 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu xanh hại cà chua H.armigera
+Thí nghiệm đánh giá hiệu quả của một số thuốc trừ sâu xanh hại cà chua H
armigera hại cà chua trong phòng thí nghiệm
Công thức 1: Virtako 40WG, liều lượng 1 gói 1,5 g cho 1 bình 8 lít
Công thức 2: Ammate 150 SC, liều lượng 1 gói 10 ml cho 1 bình 8 lít
Công thức 3: Regent 800 WG, liều lượng 1 gói 1 g cho bình 8 lít
Công thức 4: Đối chứng phun nước lã
Sử dụng gang tay nilon sạch và đeo khẩu trang khi thử nghiệm thuốc sâu
Thực hiện pha thuốc theo liều lượng ghi trên bao bì thuốc
Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại 30 con Sâu thí nghiệm ở tuổi 1,2
Thuốc được phun lên thức ăn, sau đó thả sâu vào hộp có chứa lá cà chua
đã dính thuốc Tính giờ và theo dõi từ khi bắt đầu thả sâu, ghi lại sâu chết sau 1,
6, 24, 48, 72 giờ và tính toán hiệu lực của từng loại thuốc trừ sâu theo công thức Abbott (1925)
Trang 33Ta: số cá thể sâu đục thân ngô sống trong công thức thí nghiệm sau khi xử lý thuốc
- Ngoài đồng được đánh giá hiệu lực theo Henderson-Tilton:
Hiệu lực (%) =(1 * )*100
Tb
Cb Ca
Ta
Trong đó:
Ta : mật độ sâu hại ở ô xử lý thuốc sau khi phun
Tb : mật độ sâu hại ở ô xử lý thuốc trước khi phun
Ca : mật độ sâu ở ô đối chứng sau khi phun
Cb : mật độ sâu ở ô đối chứng trước khi phun
2.6 Phương pháp xử lý số liệu
Phương pháp xử lý sô liệu theo phương pháp thông kê sinh học, phần mềm IRRISTAT 4.0 và EXCEL
Trang 34Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần sâu hại và thiên địch của chúng trên cây cà chua vụ Đông Xuân 2016- 2017 tại Diễn Châu, Nghệ An
3.1.1 Thành phần sâu hại trên cây cà chua vụ Đông Xuân 2016 – 2017 tại Diễn Châu, Nghệ An
Cà chua là cây trồng phổ biến và đã được nhân dân đưa vào cơ cấu cây trồng
từ rất lâu Tuy nhiên, theo kết quả điều tra của chúng tôi tại Diễn Châu – Nghệ An thì đa số người dân đều cho rằng cây cà chua do bệnh hại là chủ yếu, do đó họ thiếu
quan tâm đến các loài sâu hại Điều này đặc biệt nghiêm trọng khi trong thời gian
gần đây các loài sâu hại cà chua đã gây hại ở mức nghiêm trọng hơn, gây thiệt hại
đáng kể tới năng suất và chất lượng cà chua như: sâu xanh (H.armigera), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr), bọ phấn (Bemisia tabaci Gennadlus) … Qua thực
tế điều tra chúng tôi thấy trên cây cà chua ở vụ đông - xuân lại xuất hiện khá nhiều loài sâu hại gây ảnh hưởng đáng kể tới năng suất cà chua Vì vậy việc nghiên cứu thành phần sâu hại và biện pháp phòng trừ chúng là rất quan trọng Bên cạnh đó, việc sử dụng quá nhiều thuốc BVTV với liều lượng và nồng độ cao trên đồng ruộng
đã tạo kiện cho sự gây hại của các loài sâu hại tại mỗi thời điểm có sự khác nhau
Để biết được thành phần loài sâu hại cà chua trong vụ Đông Xuân 2016 - 2017 tại Diễn Châu, chúng tôi tiến hành điều tra và thu được kết quả như Bảng 3.1 và Hình 3.2
Kết quả điều tra cho thấy, chúng tôi xác định được 12 loài sâu hại cà chua Các loài sâu hại cà chua thuộc 7 bộ và 7 họ khác nhau Bộ cánh vảy Lepidoptera có số loài nhiều nhất (5 loài) chiếm tỷ lệ là 41,66% Tiếp theo là bộ cánh tơ Thysanoptera
có 2 loài chiếm 16,66% số loài Các bộ còn lại cánh cứng, cánh đều, cánh thẳng, cánh nửa,cánh vẩy và hai cánh có tỷ lệ loài bằng nhau (1 loài) chiếm 8,33%
Trang 35Bảng 3.1 Thành phần sâu hại trên cây cà chua vụ Đông Xuân 2016 – 2017 tại
Diễn Châu, Nghệ An
Ghi chú:
“ - " Rất ít phổ biến: (Tần suất xuất hiện < 25%);
“+” Ít phổ biến: (Tần suất xuất hiện 25%- 50%);
"+ +" Phổ biến: (Tần suất xuất hiện >50%- 75%);
"+ + +" Rất phổ biến: (Tần suất xuất hiện > 75%)
phổ biến Tên Việt Nam Tên khoa học
Bộ cánh cứng COLEOPTERA
6 Bọ bầu vàng Aulacophora sp Chrysomelidae -
Bộ cánh vẩy LEPIDOPTERA
7 Sâu khoang Spodoptera litura Fabricius Noctuidae +++
8 Sâu xanh hại
cà chua Helicoverpa armigera Hubner Noctuidae +++
9 Sâu xanh Helicoverpa assulta Guenee Noctuidae +
10 Sâu đo xanh Plusia eriosoma
Trang 362017 tại Diễn Châu, Nghệ An STT Tên Việt Nam
Số họ Tỷ lệ
(%) Số loài
Tỷ lệ (%)
trình phát triển của cây cà chua với mật độ thấp
Giai đoạn cây con, chúng tôi đã bắt gặp 4 loài sâu hại, xuất hiện với mức độ ít
và trung bình đó là sâu xám, dế dũi và sâu khoang; xuất hiện nhiều là ruồi đục lá
Liriomyza satiae
Giai đoạn ra chùm nụ đầu (sau trồng 30 ngày) số loài sâu hại tăng lên (7 loài),
nhưng xuất hiện nhiều nhất vẫn là ruồi đục lá sau đó đến sâu khoang (S.litura), sâu xanh hại cà chua (Helicoverpa armigera).
Trang 37Giai đoạn hoa nở rộ (sau trồng 55 đến 60 ngày) trên cà chua có 9 loài sâu hại và gây hại tập trung là bộ cánh vẩy, chiếm 41,66% số loài.
Nhóm sâu đục quả: sâu xanh H.armigera sâu khoang S litura xuất hiện với
mức độ trung bình ở thời kỳ này Ruồi đục lá gây hại từ giai đoạn cây con đến hoa
rộ với mức độ nhiều và thường xuyên hơn
Sâu đo xanh (Plusia eriosoma Doubleday) Sâu xám (Agrotis ypsilon Rott)
Sâu xanh hại cà chua Bọ Phấn (Bemisia tabaci Gennadius)
(Helicoverpa armigera Hubner)
Hình 3.1: Một số loài sâu hại cà chua vụ Đông xuân 2016-2017 tại Diễn Châu,
Nghệ An
Đến giai đoạn quả rộ, sâu khoang S litura xuất hiện ít hơn và bắt gặp chủ yếu là bọ phấn Bemisia tabaci, sâu xanh hại cà chua H armigera và sâu xanh H