1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập thể dục tại nhà phòng té ngã cho người cao tuổi

82 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây té ngã, trong đó yếu tố nội tại như giảm sức mạnh chân, khả năng di chuyển cơ thể, dáng đi, khả năng thăng bằng, phản xạ cơ thể, rối loạn huyết áp, suy giảm c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS HOÀNG THỊ ÁI KHUÊ

NGHỆ AN - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Hoàng Thị Ái Khuê người đã định hướng cho tôi trong việc lựa chọn đề tài, đồng

thời đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin được chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa GDTC, Đại học Vinh và Trung tâm Yoga Ban Mai thành phố Vinh - Nghệ An

đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành được luận văn này

Xin cám ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp, các em sinh viên và người thân trong gia đình đã quan tâm, khích lệ, động viên tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cám ơn!

Nghệ An, tháng 10 tháng 2017

Tác giả

Lê Xuân Ngọ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Thời gian nghiên cứu 3

6 Địa điểm nghiên cứu 3

7 Giả thuyết khoa học 3

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU 4

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 4

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi và tỉ lệ người cao tuổi trên Thế giới và Việt Nam 4

1.1.2 Khái niệm sức khỏe 5

1.1.3 Khái niệm, đăc điểm của một số tố chất vận động liên quan đến té ngã ở người cao tuổi 5

1.1.3.1 Sức mạnh và đặc điểm mạnh ở người cao tuổi 5

1.1.3.2 Sức nhanh và đặc điểm sức nhanh ở người cao tuổi 6

1.1.3.3 Khái niệm và đặc điểm sự thăng bằng ở người cao tuổi 6

1.2 TÌNH HÌNH SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM 7

1.3 THỰC TRẠNG TÉ NGÃ, CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ, HẬU QUẢ CỦA TÉ NGÃ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TÉ NGÃ Ở NGƯỜI CAO TUỔI 9

1.3.1 Thực trạng té ngã 9

1.3.2 Các yếu tố nguy cơ té ngã ở người cao tuổi 9

1.3.2.1 Yếu tố nguy cơ bên ngoài 9

1.3.2.2 Yếu tố nguy cơ nội tại 10

1.3.3 Hậu quả té ngã ở người cao tuổi 10

1.3.4 Các biện pháp phòng ngừa té ngã 13

1.4 NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ THẾ GIỚI LIÊN QUAN ĐẾN TÉ NGÃ Ở NGƯỜI CAO TUỔI 13

Trang 5

1.4.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 13

1.4.2 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 14

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.3 Thiết kế nghiên cứu 26

2.4 Tổ chức nghiên cứu 27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 28

3.1 TỈ LỆ NGÃ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÉ NGÃ Ở NCT 28

3.1.1 Tỉ lệ té ngã ở người cao tuổi 28

3.1.2 Một số yếu tố liên quan đến té ngã ở người cao tuổi 32

3.1.2 Thực trạng một số yếu tố nội tại liên quan đến té ngã người cao tuổi 33

3.1.2.1 Thực trạng sức mạnh chân của người cao tuổi 33

3.1.2.2 Thực trạng sức nhanh của người cao tuổi 34

3.1.2.3 Thực trạng thăng bằng ở người cao tuổi 36

3.1.2.4 Tần số tim và huyết áp ở người cao tuổi 39

3.2 LỰA CHỌN CÁC BÀI TẬP THỂ DỤC TẠI NHÀ NHẰM PHÒNG TÉ NGÃ CHO NGƯỜI CAO TUỔI 44

3.2.1 Cơ sở khoa học của việc lựa chọn bài tập, xây dựng chương trình thể dục tại nhà cho người cao tuổi 44

3.2.2 Lựa chọn bài tập thể dục tại nhà phòng té ngã cho người cao tuổi 48

3.2.3 Chương trình, kế hoạc tập luyện 49

3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA BÀI TẬP PHÒNG TÉ NGÃ LÊN CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ NỘI TẠI PHÒNG TÉ NGÃ CHO NGƯỜI CAO TUỔI 51 3.3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 51

3.3.2 Hiệu quả thực hành bài tập thể dục tại nhà lên một số yếu tố nguy cơ nội sinh và té ngã ở người cao tuổi 52

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 6

6 HATT : Huyết áp tâm thu

7 HATTR : Huyết áp tâm trương

8 HHATT : Hạ huyết áp tư thế

9 ĐC : Đối chứng

10 TN : Thực nghiệm

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Mức điểm của Chair Stand Test trong 30 giây ở người cao tuổi

(Theo R.E Rikli & CJ Jones, năm 2002 22

Bảng 2.2 Số giây thực hiện ở các lứa tuổi 24

Bảng 2.3 Nội dung đánh giá cảm giác lo lắng té ngã ở người cao tuổi theo Tinetti's Falls Efficacy Scale (TFES) 25

Bảng 3.1 Đánh giá cảm giác lo lắng té ngã ở người cao tuổi theo Tinetti's Falls Efficacy Scale (TFES) 28

Bảng 3.2 Số lượng và tỉ lệ người cao tuổi bị té ngã (tính từ 3/2016-3/2017 30

Bảng 3.3 Yếu tố liên quan đến té ngã ở người cao tuổi (n=132) 32

Bảng 3.4 Thực trạng sức mạnh chân của NCT đánh giá theo test ngồi- đứng lên của Jones C.J., Rikli R.E., 2002 - Đơn vị: (lần/30s) 33

Bàng 3.5 Thời gian hoàn thành test ngồi ghế - đứng dậy- đi 8 bước - ngồi ghế ở người cao tuổi (giây) 35

Bàng 3.6 Kết quả đánh giá thăng bằng test đứng 1 chân mở mắt ở người cao tuổi theo Romberg's Test (s) 37

Bàng 3.7 Kết quả đánh giá thăng bằng test đứng 1 chân mở mắt ở người cao tuổi theo Romberg's Test (s) 38

Bảng 3.8 Tần số tim ở người cao tuổi theo lứa tuổi (lần/phút) 40

Bảng 3.9 Huyết áp tâm thu ở người cao tuổi (mmHg) 41

Bảng 3.10 Huyết áp tâm trương ở người cao tuổi (mmHg) 41

Bảng 3.11 Hệ thống bài tập thể dục phòng té ngã cho người cao tuổi (theo NIA và NIH) của Hoa Kỳ 47

Bảng 3.12 Danh mục các bài tập phóng té ngã tại nhà cho người cao tuổi 48

từ 70 trở lên (Theo NIA và NIH) 48

Bảng 3.13 Hệ thống bài tập đã lựa chọn 49

Bảng 3.14 Số buổi tập/tuần, thời gian tập/buổi của người cao tuổi 50

Bảng 3.15 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 52

Bàng 3.16 Một giá chỉ số đánh giá năng lực hoạt động thể chất ở nhóm ĐC vầ nhóm TN trước và sau 3 tháng 53

Bảng 3.17 Theo dõi tần số tim, huyết áp ở nhóm TN và nhóm ĐC trước và sau 3 tháng 57

Bảng 3.18 Tác dụng của tập thể dục lên cảm giác sợ té ngã ở người cao tuổi Lo lắng 58

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 So sánh cảm giác sợ té ngã ở nam và nữ cao tuổi 29

Biểu đồ 3.2 Tần suất té ngã ở người cao tuổi (lần) 31

Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ bị chấn thương sau té ngã ở nam và nữ cao tuổi 31

Biểu đồ 3.4 Thay đổi sức mạnh chân ở NCT theo lứa tuổi 34

Biểu đồ 3.5 Thời gian thực hiện test ngồi ghế- đứng dậy- đi 8 bước - ngồi ghế ở các lứa tuổi của NCT 35

Biểu đồ 3.6 Thay đổi khả năng thăng bằng đánh giá bằng test đứng 1 chân (nhắm mắt) ở người cao tuổi (s) 37

Biểu đồ 3.7 Thời gian thăng bằng (mở mắt) ở người cao tuổi 38

Biểu đồ 3.8 Tỉ lệ hạ huyết áp tư thế ở các lứa tuổi 43

Biểu đồ 3.9 Số lần thực hiện đứng lên - ngồi xuống theo test của trước và sau 3 tháng ở nhóm ĐC và nhóm TN 53

Biểu đồ 3.10 Thời gian thực hiện test ngồi- đứng - đi - ngồi test của trước và sau 3 tháng ở nhóm ĐC và nhóm TN 54

Biểu đồ 3.11 Thời gian thăng bằng bằng test đứng 1 chân mở mắt ở NCT 54

Biểu đồ 3.12 Thời gian thăng bằng đứng 1 chân theo test Romberg (mở mắt) trước và sau 3 tháng ở nhóm ĐC và nhóm TN 55

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, tỉ lệ người cao tuổi ngày càng tăng cao ở tất cả các nước trên Thế giới Theo số liệu của WHO [70], tỉ lệ người cao tuổi (NCT) năm 2015 là 9,1% Tại Việt Nam, theo dự báo dân số của Tổng cục thống kê (2010) thì tỷ lệ người cao tuổi so với tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, dự báo tỷ lệ này là 20,7% vào năm 2040 đến 24,8% vào năm 2049 [4]

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [66] thì có tới 28 - 35% người trên

64 tuổi bị té ngã hằng năm Như vậy tại Việt Nam, ước tính có khoảng 2,0- 2,5 triệu người cao tuổi té ngã mỗi năm Té ngã là một nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và thương tích ở NCT Té ngã thường gây ra những chấn thương nguy hiểm đển tính mạng người cao tuổi như gãy xương hông, tai biến mạch máu, đây là tổn thương cần chi phí cao để điều trị và để lại di chứng cho NCT [26], [58]

Ở Mỹ [21], trong số những người từ 65-74 tuổi, chiếm 48% số thương tích không phải do sơ ý, và 23,4% số thương tích tử vong không chủ

ý Những tỷ lệ này còn cao hơn trong số những người 75 tuổi trở lên, trong đó rơi tạo nên 71,2% các thương tích không tử vong không chủ ý và 39,3% các thương tích gây tử vong không chủ ý Theo thống kê tại Mỹ, có hơn một phần

ba dân số từ 65 tuổi trở lên bị ngã mỗi, và một nửa trong số đó ngã thường xuyên, hơn 71,2% số NCT bị ngã có chấn thương với số ngày nằm viện từ 2-

30 ngày Tổng chi phí điều trị lên đến hàng tỉ đô la Mỹ [21] [22]

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây té ngã, trong đó yếu tố nội tại như giảm sức mạnh chân, khả năng di chuyển cơ thể, dáng đi, khả năng thăng bằng, phản xạ

cơ thể, rối loạn huyết áp, suy giảm chức năng thị giác, tổn thương khớp khớp gối và đặc biệt có liên quan đến cảm giác sợ ngã Sợ té ngã làm cho NCT sợ di chuyển, mất tự tin, mất tự chủ hoặc phụ thuộc vào người khác Sợ

háng-té ngã dẫn đến giảm các hoạt động và giảm tính di động và hoạt động thể dục

Trang 10

thể chất và gia tăng nguy cơ té ngã và chấn thương [61], [62] WHO [67] cũng đã cảnh báo, nguy cơ té ngã và tỉ lệ té ngã gia tăng cao sau 75 tuổi

Té ngã ở NCT gây nên những hậu quả trầm trọng đến sức khỏe như chấn thương Trong đó gãy xương đùi, chỏm xương đùi là một trong những chấn thương chiếm tỉ lệ cao, tiếp đến là chấn thương sọ não Những chấn thương này giảm sút sức khỏe, giảm chất lượng cuộc sống ở NCT, giảm tuổi thọ; Đồng thời gây gánh nặng chi phí Y tế cũng như các dịch vụ chăm sóc khác [26], [58]

Hoạt động thể chất hàng ngày và tập luyện thể dục thể thao với các bài tập phù hợp đã được WHO (World Health Organization), ACSM (American College Sports Medicine) khuyến nghị là biện pháp được lựa chọn đầu tiên để phòng chống té ngã cho NCT [68] Đối với người có độ tuổi từ 75 trở lên và những người cao tuổi nhóm sức khỏe thể chất yếu, WHO [69] đã đưa ra khuyến cáo cần tập luyện các bài tập đơn giản tại nhà với sự hỗ trợ của dụng

cụ để nâng cao sức mạnh, sức bền và độ linh hoạt cơ thể

Nhằm góp phần chăm sóc sức khỏe người cao tuổi nói chung và góp

phần phòng té ngã cho NCT, chúng tôi thực hiện đề tài "Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập thể dục tại nhà phòng té ngã cho người cao tuổi"

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định thực trạng té ngã và các yếu tố nguy cơ gây té ngã ở người cao tuổi tại Thành phố Vinh

- Lựa chọn và đánh giá tác dụng của bài tập tại nhà trong giảm yếu tố nguy cơ té ngã ở người cao tuổi

3 Nội dung nghiên cứu

a Nghiên cứu thực trạng té ngã và các yếu tố nguy cơ gây té ngã ở người cao tuổi

- Điều tra thực trạng té ngã ở người cao tuổi

- Xác định và đánh giá các yếu tố nguy cơ té ngã ở người cao tuổi

- Sử dụng các test và các phương pháp đo lường các yếu tố nguy cơ gây

té ngã ở người cao tuổi như sức mạnh chân, độ linh hoạt cơ thể, khả năng thăng bằng, cảm giác sợ té ngã

Trang 11

b Lựa chọn bài tập và đánh giá tác dụng của bài tập tại nhà làm giảm yếu

tố nguy cơ té ngã cho người cao tuổi

- Nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của việc lựa chọn các bài tập tại nhà cho NCT

- Nghiên cứu xây dựng và đề xuất hệ thống bài tập tại nhà giúp phòng té ngã ở NCT

- Lựa chọn các bài tập tại nhà giảm nguy cơ gây té ngã

- Tổ chức thực nghiệm các bài tập đã lựa chọn trong thời gian 3 tháng + Hướng dẫn NCT tập các bài tập tại Trung tâm Yoga Ban Mai trong 2 tuần + Lên kế hoạch tập các bài tập thể dục tại nhà 10 tuần

- Thu thập số liệu trước và sau thực nghiệm (sức mạnh chân, độ linh hoạt

cơ thể, khả năng thăng bằng, cảm giác sợ té ngã, tần số tim, huyết áp)

4 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng té ngã và các yếu tố nguy cơ gây té ngã ở 400 NCT từ 60-89

Nghiên cứu thực nghiệm chỉ tiến hành ở người cao tuổi có độ tuổi từ

70-80, ở một số phường tại Thành phố Vinh Chỉ đánh giá tác dụng của các bài tập lên các yếu tố nguy cơ té ngã nội tại

5 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 11/2016 đến 08/2017

6 Địa điểm nghiên cứu

Tại Thành phố Vinh và Trường Đại học Vinh, Trung tâm Yoga Ban Mai

7 Giả thuyết khoa học

Nếu bài tập tại nhà có hiệu quả lên sức mạnh chân, khả năng thăng bằng,

độ linh hoạt, chỉ số tuần hoàn và cảm giác sợ té ngã thì sẽ góp phần giảm té ngã ở NCT, từ đó giảm chấn thương, cải thiện sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm chi phí chăm sóc y tế và kéo dài tuổi thọ cho NCT…

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi và tỉ lệ người cao tuổi trên Thế giới và Việt Nam

* Khái niệm người cao tuổi [4] [66], [70]

Điều 1 của pháp lệnh NCT số 23/2000/PL- UBTVQH10 ngày 28/04/2000 quy định mốc tuổi của NCT ở Việt Nam là 60 tuổi cho cả 2 giới [4] Tại nhiều nước Châu Âu và Châu Mỹ, từ 65 tuổi trở lên được xếp vào

nhóm NCT [60]

Liên hiệp quốc cũng quy định người có độ tuổi từ 60 trở lên được xác định là người cao tuổi [65]

* Tỉ lệ người cao tuổi trên Thế giới và Việt Nam [4], [40], [65]

Theo Cơ quan thống kê Eurostat thuộc liên minh châu Âu (EU), khoảng 1/3 dân số EU sẽ ở độ tuổi ngoài 65 vào năm 2050 Năm 2007, tỷ lệ này chỉ là 16,5% Theo dự báo của Eurostat, đến năm 2010, tỷ lệ dân EU trên 65 tuổi sẽ

Trang 13

là 18% và sẽ đạt mức 25% vào năm 2030 Hiện tại, Đức và Italia là những

quốc gia "già" nhất châu Âu, với tỷ lệ dân trên 65 tuổi là 20%

Đến năm 2015, khoảng 1/4 dân số Nhật Bản sẽ ở độ tuổi trên 65 Hiện

nay, tỷ lệ những NCT như vậy ở Nhật Bản là trên 17%

Theo WHO [66], [67], vào năm 2050 thế giới sẽ có khoảng 2 tỷ người ở

độ tuổi từ 60 trở lên, tập trung chủ yếu tại các nước đang phát triển (1,7 tỷ người) Hiện có khoảng 60% số người cao tuổi trên thế giới sống tại các nước đang phát triển và đến năm 2025 tỷ lệ này sẽ là 75%

Tại Việt Nam, theo báo cáo của Ủy ban Quốc gia về dân số cho thấy, tốc

độ lão hóa dân số ở Việt Nam đang tăng nhanh Tỷ lệ NCT năm 1989 là 7,2%

và năm 2003 là 8,65%, 2007 là 9,45% Theo dự báo, Việt Nam sẽ chính thức trở thành quốc gia có dân số già vào năm 2014 (tỉ lệ người trên 60 tuổi lớn hơn 10%), đến năm 2029 con số này có thể lên đến 16,8% [3], [4]

1.1.2 Khái niệm sức khỏe

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO- World Health Organization) [70]: Sức khoẻ là trạng thái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật

1.1.3 Khái niệm, đăc điểm của một số tố chất vận động liên quan đến té ngã ở người cao tuổi

1.1.3.1 Sức mạnh và đặc điểm mạnh ở người cao tuổi [5], [6]

* Khái niệm sức mạnh

- Sức mạnh là khả năng khắc phục trọng tải của cơ thể Sức mạnh chịu ảnh hưởng của các yếu tố như trọng lượng cơ bắp, chiều dài sợi cơ, loại sợi cơ

và điều kiện cơ học của sự co cơ

- Sức mạnh phần dưới cơ thể còn gọi là sức mạnh của chân là khả năng nâng trọng lượng cơ thể di chuyển lên xuống tại chỗ hoặc theo thang bậc

* Đặc điểm hoạt động sức mạnh ở người cao tuổi

Tố chất sức mạnh nói chung và sức mạnh phần dưới nói riêng của người cao tuổi có tốc độ lão hóa tương đối nhanh Cùng với tuổi tác, sự trao đổi chất

Trang 14

ở các tế bào cơ bị giảm sút, khối lượng cơ giảm dần, lực co cơ yếu Từ 70 tuổi trở lên, trung bình mỗi năm, tỉ lệ khối cơ giảm 2%, trong khi đó ở tuổi này, sức mạnh cơ bắp giảm 3 lần so với sự mất khối lượng cơ

Một nguyên nhân chính của giảm sức mạnh và khối lượng cơ bắp trong quá trình lão hóa là sự suy giảm của hormone đồng hóa, giảm quá trình trao đổi chất ở cơ Giảm hormon testosterone, estrogen, androgen, dehydroepiandrosterone, hormone tăng trưởng đóng vai trò chính trong quá trình này [33], [46], [65]

1.1.3.2 Sức nhanh và đặc điểm sức nhanh ở người cao tuổi [5], [6]

* Khái niệm sức nhanh

Sức nhanh là khả năng thực hiện một hoạt động nào đó trong thời gian nhanh nhất Sức nhanh được quyết định bởi thời gian phản ứng và thời kỳ tiềm tàng thần kinh Sức nhanh có 2 dạng: Dạng đơn giản và dạng phức tạp

* Đặc điểm hoạt động sức nhanh ở người cao tuổi

Sức nhanh là tố chất vận động lão hóa sớm nhất ngay sau tuổi 25 Tuổi càng cao, thời gian phản ứng và phối hợp vận động có xu hướng càng chậm lại, làm cơ thể không kịp thích nghi với thay đổi tư thế và hoạt động vận động, do đó cơ thể dễ bị té ngã khi trọng tâm cơ thể bị thay đổi đột ngột

Ở người cao tuổi, tập luyện các bài tập sức nhanh giúp cơ thể phản ứng nhanh và chính xác hơn Khi cảm thấy nhanh nhẹn hơn, NCT sẽ tự tin hơn,

giảm cảm giác lo lắng té ngã Chính vì vậy, sự nhanh nhẹn, linh hoạt cơ thể là

một trong 3 yếu tố quan trọng góp phần hạn chế té ngã ở NCT [47]

1.1.3.3 Khái niệm và đặc điểm sự thăng bằng ở người cao tuổi [5], [6], [60]

* Khái niệm thăng bằng

Thăng bằng là khả năng phân bố trọng lực theo chiều thẳng đứng trên mặt phẳng tiếp đất đều nhau, để tạo được sự vững chắc ổn định cho tư thế Khả năng thăng bằng là việc sau khi cơ thể rơi vào trạng thái mất thăng bằng

và ngay lập tức đưa ra phản ứng của các bộ phận trên cơ thể để tái lập thế thăng bằng

Trang 15

Nguyên nhân NCT giảm sút hay rối loạn về thăng bằng là do hệ thống điều hòa thăng bằng bao gồm: Hệ thống tiền đình, tiểu não và não giữa bị lão hóa Hệ thống tiền đình gồm dây thần kinh tiền đình, nhân tiền đình và các đường liên hệ thần kinh trong cung phản xạ điều chỉnh thăng bằng cơ thể Tiểu não là nơi điều hòa trương lực cơ (khi suy giảm chức năng tiểu não, cơ bị nhược và kèm theo biểu hiện run tay và chân khi vận động) Não giữa là nơi chứa nhân xám trung tâm điều chỉnh tư thế và chỉnh thế Khi giảm chức năng, cơ thể chậm điều chỉnh tạo tư thế đúng và không kịp điều chỉnh tư thế phù hợp với ý đồ và yêu cầu vận động, nên cơ thể sẽ mất thăng bằng và bị té ngã

1.2 TÌNH HÌNH SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM

Theo điều tra của viện nghiên cứu NCT năm 2000 về tình trạng sức khỏe của NCT, có 4,9% NCT hiện nay cảm thấy mình khỏe mạnh, 48% cho là sức khỏe của trung bình và gần 50% cho là sức khỏe yếu Trong đó có sức khỏe yếu hơn nam giới Có 21% số NCT bị ốm 1 đợt/năm, 20% bị ốm 2đợt/năm Trong điều tra năm 2002, trung bình ở NCT ốm 2,4 đợt trong 12 tháng và số ngày ốm trong năm là 17 ngày [4] Các bệnh thường gặp ở NCT nước ta [18],

[19]:

+Bệnh hô hấp: Bệnh viêm họng, viêm phế quản mãn tính, giãn phế quản, tâm phế mãn tính, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính và ung thư phổi là những bệnh gặp khá nhiều ở NCT Đây là những bệnh gây biến chứng cao và có tỉ lệ tử vong cao

+Bệnh tim mạch: Xơ vữa động mạch, bệnh thiểu năng mạch vành, bệnh tăng huyết áp, suy tim, rung nhĩ chiếm một tỷ lệ đáng kể Tăng huyết áp là một bệnh mãn tính, biểu hiện chính là tăng áp lực động mạch, có thể gây ra biến chứng ở nhiều cơ quan như tim, mạch, não, thận và mắt

+ Bệnh tiêu hóa: Viêm loét miệng, viêm loét dạ dày, viêm đại tràng, gan nhiễm mỡ và ung thư gan

Trang 16

+ Bệnh về thần kinh: Phổ biến nhất là chứng tai biến mạch máu não do tắc mạch, lấp mạch gây nhồi máu hoặc thiếu máu não cục bộ, bệnh Parkinson, Alzheimer, trầm cảm và rối loạn giấc ngủ

+ Bệnh về tiết niệu: Viêm bàng quang, ung thư và u xơ tiền liệt tuyến ở nam

+Bệnh về chuyển hóa: Đái tháo đường, gout, rối loạn lipid máu

+ Bệnh về xương khớp: Thường gặp nhất là bệnh loãng xương, thoái hóa xương khớp chủ yếu là các khớp cột sống và khớp chi

+Bệnh về giác quan: Trong các bệnh giác quan ở NCT, bênh thường gặp

là thoái hoá hoàng điểm, đục thuỷ tinh thể, điếc và nghễnh ngãng

Tỷ lệ NCT khi bị ốm đau đến y tế cơ sở khám chữa bệnh là cao nhất 34%, sau đó là ở tuyến trên; Chữa trị tại nhà là 13% và đến y tế tư nhân 6% Năm 2005, một nghiên cứu lớn mang tính điều tra dịch tễ học mô hình bệnh tật-sức khỏe ở nhóm NCT, do viện Lão khoa Quốc Gia tiến hành trên ba vùng Bắc-Trung- Nam cho thấy một số đặc điểm sau [5]:

- Trung bình một NCT có 2,69 bệnh hoặc rối loạn bệnh lý

- Những bệnh lý rối loạn chiếm tỷ lệ cao là tăng huyết áp, thoái khớp, hen suyễn, bệnh lý hệ tiêu hóa, đái tháo đường và giảm thị lực do đục thủy tinh thể

- Những bệnh lý rối loạn đang có xu hướng tăng nhanh như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, trầm cảm, sa sút trí tuệ và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính

Ngành y tế hiện đang đứng trước một gánh nặng kép bệnh tật: Tỷ lệ phần mắc bệnh lý không lây truyền tăng từ 39% (1986) lên 60,61% (2003), 27,44% (2003) nhưng lại dai dẳng với HIV/AIDS, lao, cúm gà, sốt xuất huyết, viêm não nhật bản Bên cạnh đó tai nạn, chấn thương là nguyên nhân của tới 20% tử vong Trong khi đó ngân sách chi cho y tế mới chỉ chiếm 4,21% của GDP (2003) Theo điều tra với gần 1.500 NCT sống tại các vùng khác nhau của viện Lão Khoa [4], [19] cho thấy, Tỷ lệ các cụ bị đục tinh thể là 57,9%, tăng huyết

Trang 17

áp là 45,6%, thoái khớp là 33,9%, suy tĩnh mạch là 16,1% Còn theo nghiên cứu của Viện Chiến lược và chính sách y tế, khoảng 70% người già mắc các bênh mãn tính, 5% có bệnh trầm cảm

1.3 THỰC TRẠNG TÉ NGÃ, CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ, HẬU QUẢ CỦA

TÉ NGÃ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TÉ NGÃ Ở NGƯỜI CAO TUỔI

1.3.1 Thực trạng té ngã [15], [66], [67], [68], [69]

Theo WHO (2010) [69], mỗi năm có 28-35% NCT từ 65 tuổi trở lên bị

té ngã, tỉ lệ té ngã sau tuổi 70 chiếm đến 32-42% Tần suất té tăng theo độ tuổi và mức độ yếu đuối Những người cao tuổi đang sống trong viện dưỡng lão thường bị ngã nhiều hơn những người sống trong cộng đồng Có khoảng 30-50% số người sống trong các cơ sở chăm sóc dài hạn rơi vào mỗi năm, và 40% trong số họ bị ngã thường xuyên

Tỉ lệ ngã cũng khác nhau giữa các quốc gia Ví dụ, một nghiên cứu ở khu vực Đông Nam Á cho thấy ở Trung Quốc có tỉ lệ té ngã ở NCT chiếm 6-31%, trong khi ở Nhật Bản là 20% Một nghiên cứu ở khu vực châu Mỹ (khu vực Latin Caribbean) đã phát hiện tỉ lệ NCT té ngã mỗi năm là 21,6%, ở Chi Lê đến 34% [15]

Cùng với tăng tuổi tác, các thay đổi sinh học diễn ra nhanh, tốc độ lão hóa và giảm sút chức năng là lí do chủ yếu gây té ngã ở NCT từ 80 tuổi trở lên Tuổi càng cao thì hậu quả của té ngã càng gây nên tỉ lệ gãy xương đùi, chấn thương sọ não càng lớn, tỉ lệ tử vong quá cao Trên thực tế, tỷ lệ mắc một số thương tích do ngã, như gãy xương và tổn thương tủy sống, đã tăng lên 131% trong suốt ba thập kỷ qua [15], [36] Nếu các biện pháp phòng ngừa không được thực hiện ngay trong tương lai, số thương tích do té ngã sẽ cao hơn 100% vào năm 2030

1.3.2 Các yếu tố nguy cơ té ngã ở người cao tuổi [51], [55], [67]

Các yếu tố nguy cơ gây té ngã ở NCT được chia thành: Yếu tố nguy cơ bên ngoài và yếu tố nguy cơ bên trong (nội tại)

1.3.2.1 Yếu tố nguy cơ bên ngoài

* Các yếu tố nguy cơ hành vi

Trang 18

Các yếu tố nguy cơ hành vi bao gồm những yếu tố liên quan đến hành động, cảm xúc hoặc sự lựa chọn hàng ngày của con người Ví dụ, hành vi nguy hiểm như uống nhiều loại thuốc, sử dụng rượu quá mức, hút thuốc lá…thói quen lười vận động, mang dày dép không phù hợp kích cỡ hoặc đế trơn trượt

* Các yếu tố nguy cơ về môi trường

Các yếu tố môi trường bao hàm sự tương tác của các điều kiện thể chất của

cá nhân và môi trường xung quanh, bao gồm các mối nguy hiểm từ trong gia đình

và các đặc tính nguy hiểm trong môi trường công cộng Các mối nguy tại nhà bao gồm các bước hẹp, bề mặt trượt của cầu thang, thảm mỏng hơn và ánh sáng không đầy đủ, sàn nhà trơn trượt, các vỉa hè bị rạn nứt hoặc không đồng đều, và sự sét đánh kém ở những nơi công cộng là những nguy cơ đối với những thác bị thương

* Các yếu tố nguy cơ kinh tế xã hội

Các yếu tố này bao gồm: Thu nhập thấp, giáo dục thấp, nhà ở không đầy

đủ, đường sá, phương tiện nghèo nàn, thiếu tương tác xã hội, hạn chế tiếp cận với chăm sóc sức khoẻ và chăm sóc xã hội,

1.3.2.2 Yếu tố nguy cơ nội tại

Là yếu tố nguy cơ nằm trong cơ thể của chúng ta, bao gồm:

- Suy giảm khả năng hoạt động thể chất do thoái hóa tố chất vận động như giảm sức mạnh cơ, thoái hóa sức nhanh, lão hóa thần kinh và trung tâm điều hòa thăng bằng cơ thể; Rối loạn dáng đi

- Do bệnh lý về xương khớp (loãng xương, viêm khớp, thoái hóa khớp), tuần hoàn (Cao huyết áp, thấp huyết áp, hạ huyết áp tư thế), thần kinh (rối loạn hệ tiền đình và tiểu não) và giác quan (thị giác và thính giác)

1.3.3 Hậu quả té ngã ở người cao tuổi [26], [52], [62]

Sau khi ngã, dù không có thương tích, nhưng vẫn để lại hậu quả làm cho NCT sợ di chuyển, sợ vận động, mất tự tin, đời sống thể chất và tinh thần suy giảm mau lẹ, dễ dàng đưa tới mất tự chủ, phải phụ thuộc vào người khác Gãy xương hông sau té ngã xẩy ra khoảng 90% các trường hợp Tại Hoa

Kỳ, hàng năm có đến gần 200,000 người cao tuổi gãy xương hông vì ngã, nhiều người thiệt mạng trong khi điều trị ỏ bệnh viện Tử vong 5 năm sau

Trang 19

thương tích lên khá cao, tới 50%, đặc biệt là ở cụ ông và khi các cụ lại có thêm vài bệnh kinh niên

Tỷ lệ nhập viện vì ngã bệnh ở người ở tuổi 60 và lớn hơn ở Úc, Canada

và Vương quốc Anh và Bắc Ailen (Anh) dao động từ 1,6 đến 3,0 trên 10 000 dân Tỷ lệ thương tích mùa thu dẫn đến các cuộc thăm khám cấp cứu của cùng một nhóm tuổi Ở Tây Úc và ở Anh cao hơn: 5,5-8,9 trên 10 000 dân số Các thương tích sau té ngã là những vấn đề sức khoẻ cộng đồng thường đòi hỏi sự chăm sóc y tế Té ngã dẫn đến 20-30% các thương tích nhẹ đến nặng, và là nguyên nhân của 10-15% cần gọi xe cấp cứu Hơn 50% số trường hợp nhập viện vì thương tích liên quan đến thương tích ở người trên 65 tuổi trở lên Té ngã còn là các nguyên nhân chính gây ra bệnh liên quan đến tuổi già Gãy xương là hậu quả của té ngã và chiếm 21,3% và còn lại là những hậu quả khác Trong đó gãy xương ở nữ giới là 26,4% và nam là 16% Tỉ lệ gãy xương sau té ngã ở NCT thành thị chiếm 29,4% và ở nông thôn (13,4%) Theo Lord SR Castell S and at all (2003) [47], gãy xương hông ở người cao tuổi hầu như luôn là kết quả của ngã Người ta ước tính có gần 1,5 đến 2 triệu người bị thương và mỗi năm ở Ấn Độ số tử vong 1 triệu người mỗi năm Khoảng 28-35% những người ở độ tuổi từ 65 trở lên mỗi năm bị ngã 2-4 lần mỗi năm và tăng lên 32-42% đối với người trên 70 tuổi

Thời gian nằm viện để điều trị thương tích sau ngã, tại Thụy Sĩ, Thụy Điển, USA, Tây Úc là 4-15 ngày Gãy xương hông có thời gian nằm viện kéo dài 2-30 ngày, hoặc phải ở lại bệnh viện đến cuối đời vì sau đó tiếp tục gãy và 20% chết trong vòng một năm bị gãy xương hông

Ngã chiếm 40% tổng số ca tử vong do thương tích Tỷ lệ tử vong ở người

từ 65 tuổi trở lên ở Hoa Kỳ (Mỹ) là 36,8 trên 100 000 dân; Ở Canada là 46,2

ở nam giới và 31,1 đối với phụ nữ Trong đó tỉ lệ tử vong do bị gãy xương hông ở nam cao hơn nữ

Tỷ lệ mắc một số thương tích do ngã, như gãy xương và tổn thương tủy sống, đã tăng lên 131% trong suốt ba thập kỷ qua Nếu các biện pháp ngăn

Trang 20

ngừa không được thực hiện ngay trong tương lai, số lượng thương tích do té ngã được dự báo sẽ cao hơn 100% vào năm 2030

Thời gian nằm viện vì bị ngã thay đổi; Tuy nhiên nó dài hơn nhiều so với các thương tích khác Nó có từ 4 đến 15 ngày ở Thụy Sĩ [20], Thụy Điển , USA, Tây Úc, Tỉnh British Columbia và Quebec ở Canada Trong trường hợp gãy xương hông, thời gian nằm viện kéo dài đến 20 ngày Với sự gia tăng độ tuổi và mức độ yếu đuối, người lớn tuổi có thể vẫn ở trong bệnh viện sau khi

bị thương tích do ngã vào suốt cuộc đời còn lại Sau đó bị ngã, 20% chết trong vòng một năm bị gãy xương hông

Ngoài ra, ngã cũng có thể dẫn đến hội chứng sau ngã bao gồm sự phụ thuộc, mất quyền tự chủ, nhầm lẫn, bất động và trầm cảm, điều này sẽ dẫn đến một sự hạn chế hơn nữa trong các hoạt động hàng ngày

Tỷ lệ tử vong ở nam giới cao hơn tỷ lệ tử vong ở tất cả các nhóm tuổi mặc

dù nam giới ít bị té ngã hơn nữ giới Điều này là do thực tế là nam giới bị nhiều bệnh tật đồng thời hơn phụ nữ cùng tuổi Đặc biệt là nam giới bị gãy xương hông, tai biến mạch máu não Nghiên cứu của Hergedorn DK Holm

E (2010) [43] cho thấy đàn ông cao tuổi có sức khỏe kém làm tăng đáng kể ảnh hưởng của gãy xương hông, và do đó làm tăng nguy cơ tử vong

Trang 21

1.3.4 Các biện pháp phòng ngừa té ngã [38], [40], [43], [49], [51]

- Tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức về nguy cơ và hậu quả của té ngã ở tuổi già để cải thiện các yếu tố hành vi như thói quen uống rượu, uống thuốc không theo kê đơn của bác sĩ, hút thuốc lá, lười vận động và kiến thức

về vệ sinh trong hoạt động vận động

- Loại bỏ các nguy cơ tại nhà khi có người cao tuổi cùng chung sống như chú ý cầu thang, sàn nhà tắm Cần có tay vịn hoặc các dụng cụ hỗ trợ cho người cao tuổi tại các vị trí dốc, gồ ghề; Dẹp bỏ chướng ngại vật trong nhà, tạo lối đi rộng rãi và điều chỉnh ánh sáng phù hợp với thị lực NCT

- Đối với xã hội cần kịp hời sửa chữa các hư hỏng về đường sá và các chế độ sinh hoạt cộng đồng góp phần tăng cường sức khỏe, chất lượng cuộc sống cho NCT

Ngoài các biện pháp loại bỏ các yếu tố nguy cơ từ bên ngoài Theo khuyến cáo của WHO [66], để giảm tỉ lệ té ngã gây nên những hậu quả nghiêm trong về sức khỏe, tự mỗi người cao tuổi phải tìm biện pháp loại bỏ yếu tố nguy cơ nội tại, trong đó tập luyện thể dục thể thao khoa học để nâng cao sức khỏe, thể lực là việc làm quan trọng cần được ưu tiên hàng đầu Bởi tập luyện TDTT không những cải thiện được các sức mạnh, sức nhanh và sự thăng bằng cơ thể mà còn loại bỏ được các yếu tố nguy cơ té ngã khác như bệnh lý xương khớp, bệnh tiền đình và đặc biệt giảm điều trị các loại thuốc có tác dụng phụ gây mất thăng bằng Chính lợi ích của tập luyện thể dục thể thao đối với sức khỏe mà các nhà khoa học Y học thể thao đã có rằng thể dục là phương thuốc tốt nhất để loại bỏ các yếu tố nguy cơ cũng như phòng và chữa bệnh

1.4 NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ THẾ GIỚI LIÊN QUAN ĐẾN

TÉ NGÃ Ở NGƯỜI CAO TUỔI

1.4.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam [2], [3], [4], [10]

Với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, sự phát triển của kinh tế, xã hội, đời sống của con người ngày càng được nâng lên, tuổi thọ trung bình

Trang 22

ngày càng tăng, dân số Việt Nam đang có xu hướng già hoá nhanh cả về tỷ lệ

và số lượng tuyệt đối Đã có nhiều để tài, dự án chăm sóc sức khỏe NCT được triển khai, về lĩnh vực Y học, Dinh dưỡng và các hoạt động cộng đồng Nhưng có rất ít đề tài nghiên cứu nào đánh giá thực trạng té ngã, các biện pháp phòng chống té ngã ở NCT

Nghiên cứu của Trịnh Thị Bản (2014) [2] về tác dụng tập luyện Thái sực quyền (TCQ) lên năng lực hoạt động thể chất của NCT cho thấy sau 6 tháng, các chỉ số đánh giá năng lực hoạt động thể chất như sức mạnh chân, sự nhanh nhẹn, độ linh hoạt và khả năng thăng bằng của NCT được cải thiện có ý nghĩa với p<0.01-0.001

Lê Thị Hải Lý (2015) [10], khi nghiên cứu tác dụng của yoga lên năng lực hoạt động thể chất và chất lượng cuộc sống của NCT đã cho thấy, sau 3 tháng tập yoga, sức mạnh chân được kiểm tra test đứng lên- ngồi xuống trong 30s (lần) tăng từ 13,18 lên 18,53 lần/30s, mức tăng có ý nghĩa với p<0.0 Sức mạnh tay được tính bằng số lần nâng tạ tay/30s cũng tăng lên Sự nhanh nhẹn được đánh giá bằng test 8 foot up and go giảm 1,67s Sự thăng bằng cơ thể trong trường hợp mở mắt đo bằng one stand test của Romberg tăng 14,64s, trường hợp nhắm mắt tăng 6,25s

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Thoan (theo [2]) về tác dụng của Thái cực quyền lên sức mạnh chân bằng Stairs Test, kết quả cho thấy sau 3 tháng tập luyện TCQ 24 thức, sức mạnh chân tăng từ 212,84 watt lên 245,92 watt Các nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở mức ảnh hưởng lên năng lực hoạt động thể chất, chưa nghiên cứu về sự té ngã ở NCT

1.4.2 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới

Theo thống kê của Hiệp hội chăm sóc sức khỏe NCT Quốc tế, có có hàng trăm nhà khoa học với hàng ngàn đề tài nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Trong đó chú trọng tất cả các mặt thể chất, tinh thần, bệnh lý, dinh dưỡng, phục hồi chức năng và thể dục thể thao [23], [24] Trong vài thập niên lại nay, do lão hóa dân số nên nhiều quốc gia trên thế giới, nhiều nhà

Trang 23

khoa học đã đầu tư vào các nghiên cứu về thể dục và sức khỏe của NCT như: Clemson L Fiatarone Singh MA Bundy A Cumming RG Manollaras K

2012 [28] đã tiến hành và báo cáo kết quả của một dự án nghiên cứu lớn tại các nước Bắc Âu gồm Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan trên 1.203 bệnh nhân

từ 75 tuổi trở lên về đánh giá tác dụng của hoạt động thể chất đối với người già đã cho thấy hoạt động thể chất làm giảm nhu cầu điều trị y tế, nhu cầu sử dụng thuốc và nguy cơ tử vong Nghiên cứu của Deschenes MR (2004) [32] cho thấy, hoạt động thể chất có tác dụng làm chậm lão hóa của cơ thể

Thống kê 30 nghiên cứu đánh giá tập thể dục (thái cực quyền và yoga) về huấn luyện cân bằng, sức mạnh và sức đề kháng [71], [73] Các nghiên cứu bao gồm tổng cộng 2878 người tham gia với độ tuổi trung bình từ 68 đến 85 năm Cho thấy: Tỉ lệ NCT trên 65 có cảm giác lo lắng té ngã chiếm 81,16%, còn 18,84% không lo lắng té ngã Trong NCT không lo lắng té ngã chủ yếu tập trung ở tuổi dưới 70 Hàng năm, trong số này có tỉ lệ NCT bị té ngã chiếm đến 38,35% và tần suất té ngã chỉ yếu tập trung cao ở tuổi sau 80 Trong số này, tỉ lệ NCT tập thể dục chỉ chiếm 31,18% Thống kê tỉ lệ sợ té ngã và số lần té ngã ở những người thường xuyên tập luyện TDTT thấp hơn nhiều so với người ít hoặc không tập luyện Hai nghiên cứu của Tinetti, M., D Richman,

et al [60], [61] gồm 386 người tham gia, sau 12 tuần tập thể dục, cảm giác sợ

té ngã giảm từ 67,8% xuống còn 54,7% (p<0.001)

Té ngã là nguyên nhân chính gây ra sự phụ thuộc ở tuổi già và có thể dẫn đến tàn tật lâu dài, mất khả năng di chuyển, giảm chất lượng cuộc sống và thậm chí tử vong (Campbell và cộng sự, 2009) [24] (Tinetti & Williams, 1986) [62] và khoảng 18% số trường hợp nhập viện cấp cứu của người cao tuổi (Carey D, Laffoy M (2005) [25] có ít nhất một trong ba người sống ở cộng đồng từ 65 tuổi trở lên bị té ngã; Con số này tăng cao cùng với tuổi tác Theo thống kê của Nurmi I; Luthje P (2002) [51] ở Thụy Sĩ, Mỹ, Anh về chi phí chăm sóc y tế trực tiếp đáng kể cần thiết để điều trị thương tích do ngã

đã cho thấy hàng năm các quốc gia này đã tốn kém chi phí trực tiếp và gián

Trang 24

tiếp cho việc chăm sóc chữa trị cho NCT sau té ngã Theo World Health Tổ chức, 2007 [67], hàng năm chi phí điều trị sau té ngã của NCT đứng thứ 2 sau điều trị tai nạn giao thông

Sự suy giảm chức năng của các hệ thống cảm ứng động lực có liên quan đến tuổi tác góp phần duy trì sự kiểm soát tư thế (Downton JH, Andrews K (1991) [34], dẫn đến nguy cơ bị sụt tuổi cao Đặc biệt quan trọng là sức mạnh

và sức mạnh của cơ ở chi dưới, thời gian phản ứng và sự cân bằng, tất cả đều

có thể được cải thiện với bài tập thích hợp (Deschenes MR 2004 [32]; Karsten Keller and Martin Engelhardt (2013) [46])

Các thử nghiệm lâm sàng cung cấp bằng chứng mạnh mẽ rằng tập thể dục như là một can thiệp đơn có thể ngăn ngừa tình trạng ngã ở những người

ở cộng đồng lớn tuổi (Clemson L Fiatarone Singh MA Bundy A Cumming

RG Manollaras K O'Loughlin P Black D - 2012 [28], Gardner MM, Robertson MG, Campbell AJ -2000 [39]) Tập thể dục có hiệu quả trong việc làm giảm nguy cơ sụt giảm đối với cả những người sống chung trong cộng đồng (Hagedorn DK Holm E -2010 [43]) và những người có nguy cơ cao bị ngã [23], [25], [28], [29] Tổng quan của Chang JT, Morton SC, Rubenstein

LZ, Mojica WA, Maglione M, Suttorp MJ et al (2004) [26] về các can thiệp nhằm ngăn ngừa tình trạng té ngã trong cộng đồng cư trú của người cao tuổi

đã kết luận rằng: Tập thể dục có thể làm giảm nguy cơ và tỷ lệ ngã ở người cao tuổi từ 15 đến 32% tùy thuộc vào loại chương trình và các biện pháp được

sử dụng để đánh giá hiệu quả

Can thiệp nhiều mặt cũng có thể ngăn ngừa té ngã (Clemson, L., Singh, M.A.F; Bundy, A; Cumming, R.G; Manollaras, K; O’Loughlin, P; & Black,

D (2012) [28]) và nhiều tác giả khác [24], [31], [32], [44], [46] Một số can thiệp đơn lẻ khác cũng có hiệu quả trong việc ngăn ngừa té ngã: Những thay đổi về an toàn tại nhà của những người trước đây đã giảm (Clemson, L; Singh, M.A.F; Bundy, A; Cumming, R.G., Manollaras, K., O’Loughlin, P., &

Trang 25

Black, D (2012) [27], giảm lượng thuốc thần kinh (Campbell AJ, Robertson

MC, Gardner MM, Norton RN, Buchner DM., 2009) [25],

Các biện pháp can thiệp đơn và ngăn ngừa sự sụp đổ có vẻ như có tác động tương tự đối với té ngã (Day L, Fildes B, Gordon I, Fitzharris M, Flamer

H, Lord S, 2002 ) [31] Tuy nhiên, tập thể dục như là một can thiệp đơn giản

là cách tiếp cận hiệu quả hơn (Howe, T.E, Rochester, L., Neil, F., Skelton, D.A., Ballinger, C (2011) [44] Do đó, khi không có chống chỉ định, nên tập thể dục nên được coi là một chiến lược phòng chống nguy cơ chính cho người cao tuổi Những người có các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi khi tập thể dục cũng nên được đưa ra để chăm sóc thích hợp, chẳng hạn như xem xét thuốc hoặc phẫu thuật đục thủy tinh thể chẳng hạn [53], [56], [58]

Stevens JA Sogolow ED ( 2005) [57], Lustosa and et all (2011) [48] đã

tổ chức thực nghiệm các bài tập thể dục tại nhà cho nhóm có nguy cơ té ngã cao, đó là cho người bị Parkinson và đột quỵ Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau 3 tháng thử nghiệm, cảm giác sợ té ngã ở NCT giảm hơn 20%, sức mạnh chân, sự nhanh nhẹn và khả năng thăng bằng được cải thiện rõ rệt

Day L, Fildes B, Gordon I, Fitzharris M, Flamer H, Lord S (2002) [31] thực nghiệm 163 người trên 65 tuổi được xác định là có nguy cơ bị ngã bằng một chương trình thể dục trị liệu tại nhà Các test kiểm tra bao gồm thăng bằng mở mắt và nhắm mắt của Romberg và Chair Stand Test, 8-Foot

Up and Go Test của R.E Rikli & CJ Jones, năm 2002 Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau 23 phiên trị liệu, tỉ lệ té ngã nhóm can thiệp giảm 40% so với nhóm đối chứng

Nghiên cứu của Clemson L Fiatarone Singh MA Bundy A at al (2012) [28] trên NCT có tuổi từ 70 trở lên và đã có ít nhất 2 lần té ngã bằng việc áp dụng 3 phương pháp can thiệp tại nhà: Phương pháp tiếp cận Tập thể dục tích hợp lối sống (n = 107), nhóm được hướng dẫn các nguyên tắc cân bằng và tập luyện sức mạnh và tích hợp các hoạt động đã chọn vào các hoạt động hàng ngày; Phương pháp tập thể dục theo chương trình có cấu trúc (n=105) bao

Trang 26

gồm các bài tập thể dục tăng cường sức mạnh cho chân, bài tập thể dục thăng bằng 3 lần/tuần; Và nhóm đối chứng (n = 1050 được tập thể dục nhẹ nhàng Kết quả thu được sau 12 tháng, số lần té ngã của NCT ở chương trình thể dục tích hợp lối sống là 1,66 lần, ở nhóm tập thể dục theo chương trình thiết kế là 1,90 lần, nhóm đối chứng là 2,38 lần trong 1 năm Từ nghiên cứu các tác giả

đã đưa ra khuyến cáo, để giảm tỉ lệ rơi cần phối hợp tập luyện TDTT khoa học vừa áp dụng lối sống tích cực

Freiberger E Häberle L Spirduso WW Rixt Zijlstra GA (2012) [35] nghiên cứu về tác dụng của tập thể dục lên khả năng đi lại của NCT với sự yếu đuối về thể chất, cho thấy có sự cải tiến trong việc đi bộ của các đối tượng sau thời gian tập luyện thể dục, sự cải thiện có ý nghĩa trong việc đi bộ dao động từ 4% đến 50% Các tác giả đã cho thấy, rối loạn tư thế khi đi bộ là nguyên nhân gây té ngã ở NCT

Freiberger E Häberle L Spirduso WW Rixt Zijlstra GA (2012) [35], cho NCT tập luyện các môn như đi thăng bằng trên một đường thẳng, đứng thăng bằng một chân, bài tập leo cầu thang, bài đứng lên ngồi xuống trên ghế Kết quả cho thấy các bài tập ứng dụng đã cải thiện khả năng thăng bằng cơ thể, sức mạnh chân và sự nhanh nhẹn đặc biệt có ý nghĩa; Tâm lý sợ ngã giảm 35-60% so với nhóm đối chứng

Binder EF (2002) [23], Hagedorn DK Holm E (2010) [43], Lustosa

LP Silva JP Coelho FM (2011) [48], Clemson L Fiatarone Singh MA (2012) [28] cho thấy, sau 3- 12 tháng thể dục, sức mạnh chân của NCT tăng từ 6-60%

Trang 27

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chủ thể nghiên cứu: Ứng dụng một số bài tập thể dục tại nhà phòng té ngã cho người cao tuổi

- Khách thể nghiên cứu: Người cao tuổi tại Thành phố Vinh

+ 400 người cao tuổi được lựa chọn để điều tra thực trạng té ngã và xác định một số yếu tố liên quan đến té ngã

+ 50 người cao tuổi được chia làm 2 nhóm: Nhóm đối chứng (ĐC) có n=25, nhóm thực nghiệm (TN) có n=25

Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng thực nghiệm

Tiêu chuẩn loại trừ

- Không tham gia đầy đủ lịch trình và nội dung tập luyện

- Tổn thương khớp hoặc gãy xương chân

- Bị bệnh Parkinson hoặc suy giảm chức năng Tiểu não

- Suy giảm trí nhớ

2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp hồi cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi tìm kiếm các tài liệu liên quan và hồi cứu

để viết phần tổng quan, cơ sở khoa học của việc lựa chọn bài tập và bàn luận

Trang 28

- Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu điều tra in sẵn để thu thập số

liệu nghiên cứu về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Trang 29

- Phương pháp đánh giá sức mạnh chân

Đánh giá sức mạnh chân bằng Chair Stand Test (Test ngồi ghế - đứng lên) theo Jones C.J., Rikli R.E., 2002 [37]

 Mục đích: Đánh giá sức mạnh phần dưới của cơ thể, cần thiết cho nhiệm vụ như leo cầu thang, đi bộ và đứng lên ngồi xuống ở ghế, bồn tắm hoặc xe hơi Giảm nguy cơ té ngã

 Thiết bị: Một chiếc ghế tựa, một đồng hồ bấm dây

 Cách tiến hành:

- Đối tượng ngồi thẳng lưng ở giữa ghế, bàn chân áp phẳng trên sàn

- Đặt cẳng tay chéo trước ngực sao cho bàn tay áp vai và luôn giữ cho cánh tay vào ngực

- Đứng lên ổn định rồi ngồi xuống Lặp lại trong 30 giây

 Cách đánh giá:

-Thời gian được tính từ khi khẩu lệnh “đứng lên”

- Nếu đối tượng dùng tay để chống đứng lên thì dừng kiểm tra

- Nếu thực hiện đúng và đạt ổn định tư thế ở các lần chuyển trong 30 giây thì ghi số lượng và điểm số

Hình Cách đặt tay, chân và tư thế ngồi (Nguồn internet)

Trang 30

Bảng 2.1 Mức điểm của Chair Stand Test trong 30 giây ở người cao tuổi

(Theo R.E Rikli & CJ Jones, năm 2002

- Phương pháp xác định khả năng thăng bằng (tĩnh): Xác định khả

năng thăng bằng động và tĩnh bằng Romberg Test [59]

+ Đặt quay thành ghế 1 bên người đứng hoặc người đo đứng sau hai tay

để 2 bên cánh tay của người được đo nhưng tay không chạm vào

 Đánh giá bằng thời gian

+ Thời gian được tính từ khi nhấc chân lên và buông tay vịn cho đến khi

tư thế bị nghiêng hoặc nhảy lò cò hoặc chân kia tiếp đất

+ Cho thực hiện 3 lần và lấy lần có thời gian dài nhất

Trang 31

Lặp lại với chân khác

* Đứng 1 chân của (Romberg Test) mở mắt

+ Mắt nhìn vào một điểm ở phía trước

 Đánh giá bằng thời gian

+ Thời gian được tính từ khi nhấc chân lên cho đến khi tư thế bị nghiêng hoặc nhảy lò cò hoặc chân kia tiếp đất

+ Cho thực hiện 3 lần và lấy lần có thời gian dài nhất

Lặp lại với chân khác

- Phương pháp đánh giá độ linh hoạt cơ thể: Bằng Test ngồi ghế- đứng

dậy- đi 8 bước - ngồi ghế (8-Foot Up and Go Test) theo Jones C.J., Rikli R.E.,

2002 [37]

 Mục đích: Đánh giá tốc độ, sự nhanh nhẹn và cân bằng khi di chuyển

Để đánh giá sự nhanh nhẹn cân bằng khi thực hiện các công việc nấu ăn, phòng tắm và trả lời điện thoại

đương 4 bước chân kể

từ chiếc ghế Đường đi

Trang 32

2 chiều có khoảng 2,44m Đánh dấu con đường di chuyển từ ghế qua khối nón

và quay lại ghế Yêu cầu sàn không trơn trượt

Người yếu có thể sử dụng 1 chiếc gậy hoặc khung tập đi bộ

 Cách đo lường: Thời gian được tính từ khi hô khẩu lệnh cho đến khi ngồi xuống ghế Thực hiện hai lần, và lấy điểm số lần đạt tốt nhất

Bảng 2.2 Số giây thực hiện ở các lứa tuổi Tuổi Thời gian thực hiện test ở nữ Thời gian thực hiện test ở nam

Trang 33

Bảng 2.3 Nội dung đánh giá cảm giác lo lắng té ngã ở người cao tuổi theo

Tinetti's Falls Efficacy Scale (TFES) [60]

TT

Không bao giờ

lo lắng

Hơi

lo lắng

Khá

lo lắng

Rất lo lắng

1 Dọn dẹp nhà

2 Mặc quần áo hoặc cởi quần áo

3 Chuẩn bị bữa ăn đơn giản

4 Tắm rửa

5 Đi đến chợ hoặc cửa hang

6 Ngồi xuống ghế và đứng lên rời ghế

7 Đi lên hoặc xuống cầu thang

8 Đi bộ xung quanh trong khu phố

9 Vươn tay lấy đồ vật cao hơn đầu hoặc ở

mặt đất

10 Đi để trả lời điện thoại trước khi đổ chuông

11 Đi bộ trên một bề mặt trơn trượt

12 Đi thăm một người bạn hoặc người thân

13 Đi bộ ở một nơi với đám đông

14 Đi bộ trên một bề mặt gồ ghề

15 Đi bộ lên hoặc xuống một dốc

16 Đi họp khối xóm hoặc sinh hoạt câu lạc bộ

Trang 34

- Phương pháp Y sinh học xác định tần số tim, huyết áp

+ Tần số tim (lần/phút) theo phương pháp bắt mạch quay vùng cổ tay Thời điểm bắt mạch vào sáng sớm, khi chưa ăn uống và chưa vận động mạnh + Đo huyết áp theo phương pháp Korovkoff bằng dụng cụ huyết áp

kế thủy ngân Thời điểm đo vào sáng sớm, khi chưa ăn uống và chưa vận động mạnh

- Phương pháp thực nghiệm

+ Nhóm thực nghiệm

Giai đoạn 1: Hướng dẫn nội dung và kỹ thuật thực hiện các bài tập tại Trung tâm Yoga Ban Mai trong thời gian 2 tuần, mỗi tuần 5 buổi, mỗi buổi 60 phút

Giai đoạn 2: Tự tập luyện tại nhà theo kế hoạch và nội dung bài tập đã được hướng dân, mỗi buổi tập 45-60 phút, tập 5 buổi/ tuần và trong thời gian

10 tuần vào buổi sáng

+ Nhóm đối chứng không tham gia tập luyện bất kỳ một môn tập thể dục nào

- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu được xử lý theo phương pháp

thống kê Y sinh học, với sự hỗ trợ của phần mềm Epi Info 7.0 Với các giá trị: p>0.05 (sự khách biệt không có ý nghĩa), p<0.05 (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê), p<0.01 (sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê), p<0.001 (sự khác biệt đặc biệt có ý nghĩa thống kê)

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang và nghiên cứu trước sau có đối chứng

Trang 35

2.4 Tổ chức nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu

Trang 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 TỈ LỆ NGÃ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÉ NGÃ Ở NCT

3.1.1 Tỉ lệ té ngã ở người cao tuổi

Xác định tỉ lệ té ngã và cảm giác lo lắng té ngã ở NCT bằng phiếu điều tra in sẵn (phụ lục 1) của Tinetti's Falls Efficacy Scale (TFES) [60] Với sự phân loại theo điểm từ 0-10 điểm: Không bao giờ lo lắng; Từ 11-24: hơi lo lắng; Từ 25-40: Khá lo lắng; Từ 41-48: Rất lo lắng Chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 3.1 Đánh giá cảm giác lo lắng té ngã ở người cao tuổi theo

Tinetti's Falls Efficacy Scale (TFES)

Tuổi

Không lo lắng (0-10 điểm)

Hơi lo lắng (11-24 điểm)

Khá lo lắng (25-40 điểm)

Rất lo lắng (41-48 điểm)

65-69 11 16,67 22 33,33 26 39,39 7 10,61 70-74 6 9,09 15 22,73 32 48,48 13 19,70 75-79 0 0,00 11 16,67 31 46,97 24 36,36

Chung 41 10,35 93 23,48 145 36,62 117 29,55

Kết quả khảo sát về cảm giác sợ té ngã NCT ở bảng 3.1 cho thấy:

- Cùng với tuổi tác, tỉ lệ NCT ở mức độ không lo lắng và hơi lo lắng té ngã giảm dần; Còn mức độ rất lo lắng té ngã lại tăng dần;

Trang 37

- Trong số lượng NCT được đánh giá thì mức độ khá lo lắng té ngã chiếm tỉ lệ cao (36,62%), tiếp đến là rất lo lắng té ngã (29,55%), rồi đến hơi lo lắng té ngã (23,48%), cuối cùng không lo lắng té ngã chiếm 10,35 % và số người này chủ yếu ở tuổi 60-69

- Chỉ 10,35% NCT không lo lắng sợ hãi, còn lại 89,65% NCT có cảm giác lo lắng té ngã

Biểu đồ 3.1 So sánh cảm giác sợ té ngã ở nam và nữ cao tuổi

Quan sát biểu đồ ta thấy:

- Ở mức độ không lo lắng té ngã và hơi lo lắng té ngã ở nam có tỉ lệ cao hơn nữ, nhưng ở mức độ khá lo lắng té ngã và rất lo lắng té ngã ở lại có tỉ lệ cao hơn ở nữ

Sự sợ hãi rơi xuống trở nên phổ biến hơn khi người ta già đi, thậm chí trong số những người không bị ngã Nó có thể dẫn người lớn tuổi tránh các hoạt động như đi bộ, mua sắm, hoặc tham gia các hoạt động xã hội

Trang 38

Bảng 3.2 Số lượng và tỉ lệ người cao tuổi bị té ngã (tính từ 3/2016-3/2017

Kết quả thu được ở bảng 3.2 cho thấy:

- Ở cả nam và nữ đều có số lượng và tỉ lệ NCT bị té ngã tăng lên cùng tuổi tác Ở tuổi 60-64, tỉ lệ té ngã ở NCT bị té ngã ít nhất 1 lần trong năm là 18,18%, nhưng lên độ tuổi 85-89, tỉ lệ NCT bị té ngã lên đến 50%

- Ở mọi độ tuổi, tỉ lệ té ngã nữ cao tuổi đều cao hơn so với nam cao tuổi Chung cho tuổi 60-89, tỉ lệ nam cao tuổi bị té ngã 28,79%, còn nữ cao tuổi bị

té ngã chiếm tỉ lệ 37,88%

Kết quả nghiên cứu về tỉ lệ té ngã trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với dự báo của WHO và nhiều tác giả nghiên cứu khác [42], [51], [67] Theo WHO [67] cứ 3 NCT thì có ít nhất 1 người bị ngã trong năm, tỉ lệ này tăng cao sau tuổi 75 Theo quy luật lão hóa, tuổi càng cao, cùng với suy giảm sức khỏe, suy giảm chức năng các cơ quan và sự thoái hóa các tố chất vận động và cơ quan điều khiển, dẫn đến ở NCT có độ tuổi càng cao thì tỉ lệ té ngã càng cao Từ 60 tuổi trở lên, sức khỏe và thể chất của nữ cao tuổi thường kém hơn nam giới Theo nghiên cứu của Liu-Ambrose T, Khan KM, Eng JJ, Janssen PA, Lord SR, McKay HA (2004) [49], cho thấy, tỉ lệ nam cao tuổi bị

té ngã thấp hơn nữ cao tuổi; Nhưng tỉ lệ tử vong do té ngã của nam lại cao hơn nữ

Ngoài điều tra tỉ lệ NCT bị té ngã ít nhất 1 lần trong năm, chúng tôi còn thống kê tần suất té ngã người cao tuổi trong nghiên cứu Kết quả thu được thể hiện ở biểu đồ 3.2

Trang 39

Biểu đồ 3.2 Tần suất té ngã ở người cao tuổi (lần)

Biểu đồ 3.2 cho thấy:

- Tần suất gây té ngã tăng dần theo lứa tuổi Ở lứa tuổi 60-64, tần suất té ngã là 1-1,1 lần, nhưng ở tuổi 85-89, tần suất té ngã lên đến 2,6-2,8 lần

- Trong cùng một lứa tuổi, tần suất té ngã ở nữ cao hơn nam giới

Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ bị chấn thương sau té ngã ở nam và nữ cao tuổi

Trang 40

Quan sát biểu đồ 3.3 ta thấy, sau té ngã, tỉ lệ nam cao tuổi bị chấn thương

là 36,84%, còn nữ giới có tỉ lệ chấn thương 45,53%

3.1.2 Một số yếu tố liên quan đến té ngã ở người cao tuổi

Yếu tố liên quan gây té gã ở NCT được chia làm 2 nhóm: Nhóm yếu tố ngoại vi và nhóm yếu tố nội tại Kết quả điều tra số NCT về nguyên nhân gây

té ngã thể hiện ở bảng 3.3

Bảng 3.3 Yếu tố liên quan đến té ngã ở người cao tuổi (n=132)

Số liệu bảng 3.3 cho thấy, tỉ lệ té ngã có liên quan đến các yếu tố ngoại

vi thấp, điều này cho thấy các gia đình đã chú ý đến việc phòng té ngã cho NCT Trong yếu tố ngoại vi, có 38 NCT bị té ngã có liên quan đến rượu và chủ yếu là nam giới NCT bị té ngã có liên quan đến các yếu tố nội tại chiếm

Ngày đăng: 27/01/2021, 11:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w