Trò chơi vận động là loại hình bài tập phong phú và đa dạng của giáo dục thể chất góp phần phát triển sức bền.. Muốn phát triển phong trào TDTT, thì không thể thiếu được vai trò của giáo
Trang 1CHO HỌC SINH KHỐI 6, KHỐI 7 TRƯỜNG THỰC HÀNH
SƯ PHẠM (THSP) ĐẠI HỌC VINH Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Mã số: 60.14.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN TRÍ LỤC
NGHỆ AN – 2017
Trang 22
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào cùng đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Tác giả luận văn
Văn Đình Tiến
Trang 33
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
CÁC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG TRONG LUẬN VĂN 5
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và các chỉ thị, thông tư liên Bộ về công tác giáo dục thể chất cho học sinh trường học 5
1.2 Phát triển sức bền cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác giáo dục thể chất 11
1.3 Trò chơi vận động là loại hình bài tập phong phú và đa dạng của giáo dục thể chất góp phần phát triển sức bền 14
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý, phân loại và phương pháp giảng dạy trò chơi cho trẻ em 17
1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 12 - 13 và đặc điểm phương pháp giảng dạy thể dục, trò chơi vận động cho trẻ em 12 - 13 tuổi 17
1.4.2 Đặc điểm và phân loại trò chơi: 23
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 32
2.1 Phương pháp nghiên cứu 32
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: 32
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn toạ đàm: 33
2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm: 33
2.1.4 Phương pháp kiểm tra y sinh: 34
2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: 35
2.1.6 Phương pháp toán học thống kê: 37
2.2 Tổ chức nghiên cứu 37
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu: 38
Trang 44
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu: 38
2.2.4 Dụng cụ nghiên cứu: 38
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỨC BỀN CHUNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG ĐỐI VỚI HỌC SINH KHỐI 6; 7 TRƯỜNG THSP ĐẠI HỌC VINH 39
3.1 Đánh giá sức bền chung của học sinh khối 6, khối 7 trường THSP Đại học Vinh 39
3.1.1 Lựa chọn các Test đánh giá trình độ sức bền chung cho học sinh độ tuổi 12 - 13 39
3.1.2 Trình độ sức bền chung của nam học sinh 12 - 13 tuổi: 46
3.1.3 Trình độ sức bền chung của nữ học sinh THCS 12 – 13 47
3.2 Lựa chọn một số trò chơi vận động nhằm phát triển sức bền chung cho học sinh khối 6, khối 7 trường THSP Đại học Vinh 49
3.2.1 Lựa chọn một số trò chơi vận động nhằm phát triển sức bền chung cho học sinh khối 6, khối 7 trường THSP Đại học Vinh 49
3.2.2 Cách thức thực hiện các trò chơi vận động đã được lựa chọn 50
3.3 Nghiên cứu hiệu quả ứng dụng trò chơi vận động phát triển sức bền chung cho học sinh phổ thông THCS 53
3.3.1 Tổ chức nghiên cứu 53
3.3.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
1 Kết luận: 61
2 Kiến nghị: 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 66
Trang 5XHCN Xã hội chủ nghĩa
CÁC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG TRONG LUẬN VĂN
Trang 6- 13 TUỔI 46 BẢNG 3.4 TRÌNH ĐỘ SỨC BỀN CHUNG CỦA NỮ HỌC SINH THCS 12 -
13 TUỔI 47 BẢNG 3.5 KẾT QUẢ PHỎNG VẤN LỰA CHỌN TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN SỨC BỀN CHUNG CHO HỌC SINH KHỐI 6; 7 TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH (n = 30) 49 BẢNG 3.6 TIẾN TRÌNH THỰC NGHIỆM GIẢNG DẠY TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG 55 BẢNG 3.7 KẾT QUẢ TRƯỚC THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM SỨC BỀN CHUNG CỦA NAM HỌC SINH Ở NHÓM ĐỐI CHIẾU VÀ THỰC NGHIỆM 56 BẢNG 3.8 KẾT QUẢ TRƯỚC THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM SỨC BỀN CHUNG CỦA NỮ HỌC SINH Ở NHÓM ĐỐI CHIẾU VÀ THỰC NGHIỆM 57 BẢNG 3.9 KẾT QUẢ SAU THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM SỨC BỀN CHUNG CỦA NAM HỌC SINH Ở NHÓM ĐỐI CHIẾU VÀ THỰC NGHIỆM 58 BẢNG 3.10 KẾT QUẢ SAU THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM SỨC BỀN CHUNG CỦA NỮ HỌC SINH Ở NHÓM ĐỐI CHIẾU VÀ THỰC NGHIỆM 59
Trang 71
PHẦN MỞ ĐẦU
Giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ là một bộ phận cơ bản trong hệ thống giáo dục thể chất nhân dân, trong đó các bài tập thể dục thể thao là một biện pháp quan trọng nhằm đem lại sức khoẻ cho mọi người và thể chất cường tráng cho thế hệ trẻ mai sau Trong dự thảo nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX có đoạn viết “Phát triển mạnh mẽ phong trào TDTT quần chúng cả bề rộng lẫn chiều sâu, làm cho TDTT thực sự trở thành một phương tiện đại chúng, góp phần bảo vệ và tăng cường sức khoẻ cho nhân dân, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước” [30] Muốn phát triển phong trào TDTT, thì không thể thiếu được vai trò của giáo dục thể chất trong nhà trường, từ bậc mẫu giáo, học sinh phổ thông, đến đại học và chuyên nghiệp
Những năm cuối của thế kỷ XX, cách mạng khoa học và công nghệ đạt đến đỉnh cao của sự phát triển, đòi hỏi con người phải có trí tuệ cao Trí tuệ phát triển càng cao, thì càng đòi hỏi thể chất, nền tảng của trí tuệ, cũng được phát triển một cách tương xứng Việc nâng cao sức khoẻ con người, là vấn đề trọng tâm, cốt lõi của mọi mô hình phát triển của các quốc gia, các chế độ chính trị xã hội Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn chú trong đến việc phát triển thế hệ trẻ theo hướng “Cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng vè đạo đức” (Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII)
Đây là quan điểm phát triển con người toàn diện trong giai đoạn cách mạng hiện nay Những năm qua ở nước ta công tác giáo dục thể chất trong các nhà trường đã có nhiều chuyển biến rõ rệt Ở tất cả các cấp học, một chương trình giáo dục thể dục đã được biên soạn thống nhất, với nhiều nội dung cơ bản, đã được đưa vào giảng dạy Đội ngũ giáo viên giảng dạy thể dục đông về số lượng, chất lượng cũng dần được nâng cao Cơ sở vật chất phục vụ cho tập luyện cũng dần được nâng cấp và đổi mới, bao gồm sân bãi tập, nhà tập và dụng
cụ tập luyện Nhận thức về công tác giáo GDTC cho học sinh ngay càng đúng
Trang 82
đắn hơn, từ người tập đến giáo viên các cấp lãnh đạo và các bậc phụ huynh Hàng năm, có hàng trăm giải thi đấu các môn thể thao được tổ chức, từ bậc phổ thông đến đại học, từ phạm vi trường, khu vực, đến toàn quốc, điển hình là các Hội khoẻ Phù đổng lôi cuốn được hàng trăm ngàn học sinh tham gia tập luyện
và thi đấu
Trong nhà trường từ bậc mẫu giáo đến đại học chuyên nghiệp đã hình thành một hệ thống giáo dục thể chất bắt buộc Những năm qua chương trình giáo dục thể chất đã đào tạo cho đất nước hàng triệu thanh niên có đủ sức khoẻ
để học tập, lao động sản xuất và chiến đấu Nhiều thế hệ trẻ học sinh, sinh viên đã góp sức mình vào cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước với hiệu quả cao
Để giáo dục con người toàn diện mỗi học sinh, sinh viên trước hết phải có sức khoẻ Sức khoẻ là cơ sở để tiếp thu khoa học kỹ thuật, sau khi ra trường góp phần phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước, cơ sở của sức khoẻ là việc phát triển các tố chát thể lực Nhiệm vụ của giáo dục thể chất trong các nhà trường, một mặt trang bị cho học sinh, sinh viên những kỹ năng kỹ xảo vận động Song mặt quan trọng hơn là phát triển ở họ những tố chất thể lực cần thiết
Theo quan điểm trước đây giáo dục các tố chất thể lực ở giai đoạn đầu của các cấp học phổ thông là phát triển các tố chất sức nhanh, độ dẻo, sự khéo léo Ở tuổi trưởng thành, vai trò chính mới là phát triển các tố chất sức mạnh và sức bền Tuy nhiên, những năm gần đây theo đánh giá của các nhà khoa học trong
và ngoài nước thì cần thiết phải phát triển tố chất sức bền ngay từ khi học sinh đang ở lứa tuổi thiếu niên Điều này, tưởng như trái với quy luật sinh học phát triển thể chất của học sinh Song, quan điểm trên đã và đang được thực tế thừa nhận Các nhà khoa học Trung Quốc, Mỹ và một số nước khác trong hơn mười năm gần đây, đã chứng minh được trẻ em có khả năng tiếp thu được lượng vận động hợp lý sớm Điều đó đã đặt cơ sở cho việc nâng cao khả năng tiếp thu được lượng vận động trong đó có tố chất sức bền, nâng cao khả năng làm việc của trẻ
Trang 93
em ở lứa tuổi trưởng thành Điều đó, có nghĩa là, nếu được phát triển sức bền sớm thì khi ở tuổi trưởng thành, người tập dễ chịu đựng được lượng vận động sức bền, là tiền đề nâng cao thành tích của nhiều môn thể thao, có khả năng lao động với cường độ và thời gian dài
Gần đây một số công trình nghiên cứu khoa học ở nước ta nhận định trình
độ sức bền ở lứa tuổi học sinh phổ thông đặc biệt là học sinh trung học cơ sở (THCS) là yếu Các tác giả cũng đề nghị nên đưa vào chương trình giáo dục thể chất các bài tập phát triển sức bền sớm từ lứa tuổi học sinh tiểu học trở đi
Gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về việc phát triển sức bền chung cho học sinh các cấp như: Nguyễn Văn Bình(2011), Trần Đức Vinh(2013), Lê Đức Anh(2014) Tuy nhiên ở Nghệ An nói chung và trường Thực hành sư phạm Đại học Vinh nói riêng chưa có tác giả nào nghiên cứu Với thực tế học sinh trường THSP Đại học Vinh được sinh ra và lớn lên ở thành phố nên thực trạng sức bền chung còn rất yếu Chính vì lẽ đó chúng tôi tiến hành:
“Nghiên cứu hiệu quả của bài tập trò chơi vận động nhằm phát triển sức bền chung cho học sinh khối 6, khối 7 trường Thực hành sư phạm (THSP) Đại học Vinh”.
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua cơ sở lý luận, cơ sở thực tế
về trình độ thể lực chung của học sinh khối 6, khối 7 trường THSP Đại học Vinh Từ đó lựa chọn và ứng dụng các bài tập trò chơi vận động thích hợp, có tính khả thi theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, nhằm góp phần nâng cao sức bền chung cho học sinh khối 6, khối 7 trường THSP Đại học Vinh
Trang 104
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nhiệm vụ 1: Đánh giá sức bền chung của học sinh khối 6, khối 7
trường THSP Đại học Vinh
Để giải quyết nhiệm vụ này chúng tôi
- Nhiệm vụ 2: Lựa chọn một số trò chơi vận động và hiệu quả áp dụng
của các trò chơi nhằm phát triển sức bền chung cho học sinh khối 6, khối 7 trường THSP Đại học Vinh
Trang 115
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và các chỉ thị, thông tư liên Bộ
về công tác giáo dục thể chất cho học sinh trường học
Nhiệm vụ cơ bản có tính chiến lược của thể dục thể thao là góp phần bảo
vệ, tăng cường sức khoẻ của nhân dân, đặc biệt là thanh niên, đồng thời góp phần giáo dục đạo đức xây dựng nhân cách, nâng cao dân trí xã hội
Giáo dục thể chất trong nhà trường là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Giáo dục thể chất có tác dụng tích cực đối với sự hoàn thiện cá tính, nhân cách, những phẩm chất cần thiết và hoàn thiện thể chất của học sinh nhằm đào tạo con người mới phát triển, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ vững an ninh, quốc phòng Đó là lớp người “phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần trong sáng về đạo đức” [30]
Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu của giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp là gắn liền và góp phần thực hiện mục tiêu của giáo dục và đào tạo theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ và năng động sáng tạo
Đã từ lâu, Đảng và nhà nước ta, luôn coi trọng vị trí công tác và tác dụng của việc giáo dục thể chất, coi như một mặt trong mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường xã hội chủ nghĩa Giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp, còn giữ vị trí quan trọng và then chốt trong chiến lược phát triển sự nghiệp thể dục thể thao
Giáo dục thể chất là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là một bộ phận quan trọng của nền thể dục thể thao Việt Nam Giáo dục thể chất trong trường học, đang cùng với thể thao thành tích cao, thể
Trang 126
thao cho mọi người và các bộ phận thể dục thể thao khác, đảm bảo cho nền thể dục thể thao phát triển cân đối và đồng bộ, góp phần thực hiện kế hoạch củng
cố, xây dựng và phát triển thể dục thể thao Việt Nam
Đảng và nhà nước ta từ lúc cách mạng thành công 1945, đã quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ phát triển toàn diện Bác Hồ đã dạy: “Dân có cường thì nước mới thịnh”, “Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”
Từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945, đất nước ta bước vào giai đoạn cách mạng mới, Đảng và nhà nước rất coi trọng và quan tâm xây dựng nền TDTT Việt Nam mang tính: Dân tộc, hiện đại, phục vụ đời sống và sức khoẻ nhân dân Sự hình thành và phát triển nền thể thao nước ta, cũng đã trải qua các thời kỳ gắn liền với tình hình chính trị, kinh tế , văn hóa của đất nước
Tháng 03/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục, Người khẳng định vị trí sức khoẻ dưới chế độ mới: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công Mỗi một người dân yếu ớt là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân khoẻ mạnh, tức là góp phần cho cả nước mạnh khoẻ” Vì thế, Người khuyên: “Luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước” [5]
Đã nhiều năm qua, Đảng và nhà nước ta rất coi trọng công tác giáo dục thể chất trường học, nhằm đào tạo những lớp người phát triển toàn diện, kế tục
sự nghiệp cách mạng, xây dựng kinh tế xã hội theo định hướng XHCN và bảo
vệ tổ quốc, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo nói chung, về giáo dục thể chất trong trường học nói riêng, được xuất phát từ những
cơ sở tư tưởng, lý luận của học thuyết Mác - Lê nin về con người và sự phát triển con người toàn diện về giáo dục thế hệ trẻ trong xã hội XHCN, về những
Trang 13- Đại hội Đảng lao động Việt Nam lần thứ III tháng 09/1960, xác định hướng công tác giáo dục và rèn luyện thể chất đối với tuổi trẻ học đường Chủ trương này đã được hội nghị trung ương lần thứ VIII, tháng 04/1963 phát triển lên một bước mới, phù hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác về phát triển con người toàn diện Nghị quyết Đại hội Đảng III viết: “ Công tác giáo dục phải được phát triển theo quy mô lớn, nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ nước nhà, có giác ngộ XHCN, có văn hoá và có khoa học kỹ thuật, có sức khoẻ nhằm phục vụ đắc lực cho việc đào tạo cán bộ và nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân lao động ” [28]
- Đặc biệt về nội dung giáo dục toàn diện, nghị quyết Đại hội Đảng IV,
1976 cũng nêu rõ: “ Cần nâng cao chất lượng toàn diện của nội dung giáo dục, hiện đại hóa chương trình khoa học kỹ thuật, mở rộng kiến thức quản lý kinh tế, tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê nin, đường lối chính sách của Đảng và đạo đức Cách mạng, bồi dưỡng kỹ năng lao động và năng lực nghiên cứu khoa học kỹ thuật, coi trọng đúng mức giáo dục thẩm mỹ, TDTT và tập luyện quân sự
- Bước sang thời kỳ mới, khi đất nước hoàn toàn được giải phóng, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI, đã mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Về TDTT, nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề cập đến các vấn đề mở rộng và nâng cao chất lượng trong các lĩnh vực: TDTT quần chúng, thể thao thành tích cao, giáo dục thể chất trong trường học và phát triển lực
Trang 148
lượng VĐV trẻ Nghị quyết cũng ghi rõ: “ Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng, từng bước đưa việc rèn luyện thành thói quen hàng ngày của đông đảo nhân dân ta, trước hết là thế hệ trẻ, nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong các trường học
- Nghị quyết VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, tháng 06/1991 đã khẳng định: “ Bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường học phổ thông, chuyên nghiệp
và các trường Đại học
- Giáo dục thể chất còn là nội dung bắt buộc đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hiến pháp năm 1992 đã ghi rõ: “ Việc dạy và học TDTT trong trường học là bắt buộc ” (Chương III.Điều 35, 36, 41) [4]
Gần đây, nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII năm
1996 đã khẳng định: “ Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu ” [29]
Để khẳng định vai trò tất yếu của TDTT đối với toàn xã hội, cũng như nhằm thúc đẩy nhanh, mạnh hơn nữa phong trào TDTT quần chúng và phong trào giáo dục thể chất học đường, Đảng ta luôn có những chỉ thị, nghị quyết kịp thời đề ra chủ trương đẩy mạnh tiến trình phát triển Qua những giai đoạn cách mạng tương ứng với những yêu cầu, tình hình và nhiệm vụ cụ thể, Đảng ta đã ban hành các chỉ thị như:
- Chỉ thị 106/CT-TW ngày 02/10/1958 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về công tác TDTT và chỉ thị 180/CT-TW ngày 26/08/1970 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác TDTT trong những năm tiếp theo là một bước phát triển mới, xác định vị trí quan trọng của TDTT, coi TDTT là một nhu cầu của quần chúng, là một mặt của xây dựng CNXH.Chủ trương trên được
cụ thể hoá tới sự phát triển phong trào TDTT trong học sinh, sinh viên
Trang 159
- Chỉ thị 112/CT ngày 09/05/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về công tác TDTT trong những năm trước mắt có ghi: “ Đối với học sinh , sinh viên, trước hết nhà trường phải thực hiện nghiêm túc việc dạy và học môn TDTT theo chương trình quy định, có biện pháp tổ chức, hướng dẫn các hình thức tập luyện
và hoạt động thể thao tự nguyện ngoài giờ học
- Chỉ thị 36/CT-TW ngày 24/03/1994 về công tác TDTT trong giai đoạn mới đã nêu rõ: “Cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết
về cơ sở vật chất, để thực hiện chế độ giáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các trường học
- Tại hội nghị giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông toàn quốc tại Hải Phòng, tháng 8/1996, Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh cũng đã nói: “Ước vọng của chúng ta là mỗi thanh niên Việt Nam cả nam lẫn nữ, đều có cơ thể cường tráng, cùng với tâm hồn trong sáng và trí tuệ phát triển”
- Cũng trong năm 1996, Thủ tướng chính phủ ra chỉ thị 133/TTg ngày 07/03/1996, về việc xây dựng và quy hoạch phát triển ngành TDTT, về giáo dục thể chất trường học đã ghi rõ: “ Bộ Giáo dục - Đào tạo cần đặc biệt coi trọng việc giáo dục thể chất trong nhà trường , cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khóa, ngoại khoá, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh các cấp học, có quy chế bắt buộc đối với các trường
Vì vậy giáo dục thể chất trường học là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục đào tạo và thể dục ngành nghề là một mặt quan trọng trong hệ thống giáo dục thể chất học đường Cùng với thể thao thành tích cao, giáo dục thể chất trường học đã góp phần đảm bảo cho nền TDTT nước nhà phát triển cân đối và đồng bộ, để thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, cùng với thực hiện mục tiêu chiến lược củng cố, xây dựng và phát triển, đưa nền TDTT nước nhà hoà nhập và tranh đua với các nước trong khu vực và thế giới
Trang 1610
Cùng với các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và nhà nước, Bộ giáo dục và Đào tạo đã thực hiện chủ trương, đường lối về công tác giáo dục thể thao nói chung và giáo dục thể chất học đường nói riêng, bằng rất nhiều các văn bản pháp quy, cụ thể như:
- Thông tư liên tịch số 08/LB-DN-TDTT ngày 24/12/1986 về công tác TDTT trong các trường dạy nghề và sư phạm
- Thông tư liên tịch số 04-93/GĐ-ĐT-TDTT ngày 14/07/1993 về việc xây dựng kế hoạch đồng bộ, xác định mục tiêu, nội dung, biện pháp nhằm cải tiến công tác tổ chức quản lý TDTT và giáo dục thể chất trong trường học các cấp
- Thông tư số 11/TT- GDTT ngày 01/08/1994 về việc hướng dẫn chỉ thị 36/CT-TW
- Thông tư số 2896/GDTC ngày 04/05/1995 về việc hướng dẫn chỉ thị 133/TTg
- Chương trình mục tiêu “cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục thể chất, sức khoẻ, phát triển và bồi dưỡng tài năng trẻ thể thao học sinh và sinh viên trong nhà trường các cấp
Giáo dục con người phát triển toàn diện phải “kết hợp hài hoà sự phong phú về tinh thần, sự trong sáng về đạo dức, sự toàn diện về chất” Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người , đồng thời là vốn quý tạo ra sản phẩm trí tuệ và vật chất cho xã hội Vì vậy, chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội nói chung và ngành TDTT nói riêng Đó chính là mục tiêu cơ bản, quan trọng nhất của nền giáo dục TDTT nước ta mà Đảng, Nhà nước và Bác Hồ luôn coi trọng, quan tâm và nhắc nhở
Đến nay hệ thống tổ chức quản lý giáo dục thể chất đã được hình thành
và phát triển trong nhà trường các cấp từ địa phương đến trung ương, khẳng định vị thế quan trọng của công tác giáo dục thể chất trong sự nghiệp giáo dục đào tạo của nước ta
Trang 1711
Có thể thấy rằng lĩnh vực giáo dục thể chất trong trường học nói chung
và giáo dục thể chất trong các trường trung học cơ sở nói riêng, đã và đang thu hút sự chú ý quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, các nhà giáo dục và chuyên môn
Nền văn hoá truyền thống dân tộc, văn hoá gia đình và văn hoá nhà trường, đã tạo nên những bậc thang phát triển tri thức đa dạng Trong đó nền văn hoá nhà trường luôn giữ vai trò chủ đạo Đặc biệt, trong các sản phẩm, giá trị văn hoá đó, với học sinh trung học cơ sở, nhà trường cần phải đạt được mục đích giáo dục và bồi dưỡng cho trẻ vốn tri thức và các giá trị khách quan của nền văn hoá thể chất
1.2 Phát triển sức bền cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác giáo dục thể chất
Sức bền là một tố chất thể lực quan trọng của con người, cũng như các tố chất sức nhanh, sức mạnh thì sức bền chỉ có thể phát triển tốt thông qua quá trình tập luyện thường xuyên, bền bỉ, có phương pháp khoa học ngay từ khi còn nhỏ ở độ tuổi thiếu niên
Ngày nay, có nhiều khái niệm về sức bền, song có thể hiểu chung nhất, sức bền là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể
có thể chịu được [25]
Sức bền luôn liên quan đến mệt mỏi, bởi vì khi hoạt động vận động trong thời gian dài, năng lượng cơ thể bị tiêu hao, làm cho khả năng vận động bị giảm sút, nghĩa là mệt mỏi xuất hiện Vì vậy, năng lực cơ thể chống lại được sự xuất hiện của mệt mỏi để tiếp tục duy trì được hoạt động vận động, chính là sức bền Trong các hoạt động TDTT, sự biểu hiện của mệt mỏi rất đa dạng, song mệt mỏi thể lực do hoạt động cơ bắp gây ra vẫn là chủ yếu
Mệt mỏi được chia thành 2 loại: mệt mỏi chung và mệt mỏi cục bộ Mệt mỏi cục bộ không đòi hỏi sự hoạt động tích cực của hệ tuần hoàn và hô hấp, còn mệt mỏi chung thì ngược lại, nguyên nhân chính là ở các cơ quan bảo đảm năng
Trang 1812
lượng cho hoạt động, nghĩa là do hệ tuần hoàn và hô hấp Khi nói đến sức bền trong hoạt động TDTT, chủ yếu là nói đến sức bền chung, trong đó các bài tập đều đòi hỏi hầu hết các nhóm cơ tham gia, để người tập có thể thực hiện các hoạt động chính, như để chạy, nhảy, ném, thăng bằng, leo, trèo v.v… Ngay trong các loại bài tập kể trên, cơ chế của mệt mỏi và sức bền cũng đa dạng, tùy thuộc vào cường độ thực hiện bài tập (cường độ vận động)
Nhà sinh lý học người Nga V.X Pharơphen dựa trên đặc điểm hoạt động vận động của cơ thể, đã phân chia thành 4 loại cường độ hoạt động, tương ứng với 4 vùng công suất cực đại, dưới cực đại, lớn và trung bình Sự phát hiện này
có ý nghĩa lớn trong thực tiễn tập luyện TDTT, đặc biệt là trong công tác huấn luyện, bởi vì để phân biệt rõ: hoạt động ở các vùng công suất khác nhau thì cơ chế mệt mỏi cũng sẽ khác nhau
Đối với người lao động bình thường, tập luyện TDTT vì mục đích sức khỏe, thì sức bền chung có ý nghĩa quan trọng bởi vì các hoạt động lao động, học tập, nghiên cứu v.v… thường thực hiện với công suất thấp, có sự tham gia của nhiều nhóm cơ lớn, diễn ra trong thời gian dài (1 số giờ liên tục) Do đó, đối với đối tượng này (trong đó có học sinh), tập luyện TDTT phải hướng vào phát triển sức bền chung là chủ yếu
Thời gian duy trì hoạt động là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá sức bền Vì vậy, để đánh giá sức bền chung, có thể đánh giá bằng thời gian chạy các cự ly trung bình và dài, hoặc bằng các thử nghiệm chạy 5 phút, 7 phút tính độ dài quãng đường; chạy 12 phút tính độ dài quãng đường (test cooper); các chỉ số chuyên môn PWC170, chỉ số VO2Max (năng lực hấp thụ oxy tối đa); chỉ số công năng tim HW, ngồi xuống đứng lên 30 lần thời gian 30” v.v…
Sức bền trong hoạt động vận động phụ thuộc vào nhiều nhân tố, nên để phát triển sức bền, phải giải quyết đồng thời một số nhiệm vụ Nâng cao sức bền
về thực chất là một quá trình làm cho cơ thể thích nghi dần dần với lượng vận động ngày càng lớn Điều đó đòi hỏi người tập phải có tính kiên trì, sự bền bỉ, ý
Trang 1913
chí khắc phục khó khăn để chịu được sự mệt mỏi, trong sự lặp lại, nhàm chán đơn điệu của bài tập Mặt khác, để có sức bền đòi hỏi phải có dự tích lũy, thích nghi dần dần và kéo dài liên tục trong một thời gian từ một số tháng đến một vài năm
Nâng cao sức bền chung là cơ sở để nâng cao sức bền chuyên môn và nâng cao năng lực vận động của cơ thể Để phát triển sức bền, phải tập luyện có
hệ thống có phương pháp khoa học
Như đã trình bày ở trên, thời gian hoạt động vận động có liên quan với cường độ vận động Cường độ vận động lớn, thì thời gian duy trì vận động cũng giảm dần Khi thực hiện bài tập có thời gian kéo dài trên 5 - 6 phút, thì công suất hoạt động sẽ ở mức lớn và trung bình, nguồn năng lượng được cung cấp cho hoạt động chủ yếu nhờ các quá trình ưa khí Công suất hoạt động càng cao, cực đại và dưới cực đại, thì thời gian thực hiện vận động càng rút ngắn, vai trò của các quá trình hô hấp càng giảm đi, vai trò của các quá trình yếm khí (hoạt động thiếu dưỡng khí) càng tăng lên, lúc đầu là vai trò của các phản ứng phân hủy glucoza (còn gọi là glucophân, sau đó là vai trò của phản ứng phân hủy phốtphocrêatin
Đối với người tập TDTT thông thường, tập luyện sức bền phải rèn luyện
cả khả năng ưa khí và khả năng yếm khí Các phương pháp chủ yếu được sử dụng để nâng cao khả năng ưa khí của cơ thể là phương pháp đồng đều liên tục được áp dụng khá rộng rãi, nhằm mục đích làm cho hiệu suất hô hấp và tuần hoàn có thể đạt mức tối đa và duy trì mức hấp thụ O2 trong thời gian dài Đó là những bài tập có sự tham gia của nhiều nhóm cơ, cường độ bài tập vừa phải Về thực chất, nâng cao sức bền chung chính là phương pháp nâng cao sức bền ưa khí Nâng cao sức bền ưa khí cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao khả năng yếm khí Tuy nhiên, trong các hoạt động TDTT, ngay cả với người tập luyện vì mục đích sức khỏe (bao gồm cả học sinh phổ thông) nhiều bài tập được thực hiện với cường độ gần mức tới hạn (các bài tập chạy ngắn, trò chơi vận động
Trang 20Trong thực tế, các phương pháp giáo dục sức bền thường được áp dụng mang tính tổng hợp: kết hợp tác động nhằm nâng cao khả năng yếm khí và khả năng ưa khí, vì khả năng ưa khí là cơ sở để phát triển những khả năng yếm khí, còn cơ chế glucô phân là cơ sở phát triển cơ chế phốtphocrêatin
Trong quá trình rèn luyện sức bền, chú ý thực hiện trình tự: trước tiên, cần phát triển khả năng hô hấp (ưa khí), sau đó là khả năng glucô phân và cuối cùng là khả năng sử dụng năng lượng do phản ứng phân hủy phốtphocrêatin Còn trong mỗi buổi tập, thường tiến hành theo trình tự ngược lại
Theo quan điểm của Nguyễn Toán (1990), Phạm Danh Tốn (1994), Lê Anh Thơ (1996) thì cho rằng: Áp dụng các phương pháp trò chơi vận động là một biện pháp rất tốt để phát triển sức bền ưa khí và yếm khí Bởi vì trò chơi vận động vô cùng đa dạng, phong phú, có thể áp dụng cho mọi đối tượng tập luyện, đặc biệt là trẻ em Vấn đề là ở chỗ lựa chọn trò chơi, cách chơi và có hình thức tổ chức chơi hợp lý để đạt được mục đích
1.3 Trò chơi vận động là loại hình bài tập phong phú và đa dạng của giáo dục thể chất góp phần phát triển sức bền
Hệ thống tri thức cơ bản về các phương pháp tập luyện TDTT hiện đại và dân tộc (trò chơi vận động, kỹ thuật TDTT), hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động tự nhiên trong cuộc sống của trẻ cần có
Hệ thống các tri thức cơ bản của tất cả các tác động bài tập, hoạt dộng TDTT, giờ học thể dục ảnh hưởng tới sức khoẻ và phát triển các tố chất vận động cơ thể (sức mạnh, nhanh, bền , khéo léo)
Trang 21Đối với trẻ em, trò chơi là nhu cầu không thể thiếu, là thế giới thu nhỏ của trẻ Thông qua trò chơi, trẻ em được chuẩn bị từng bước để đi vào cuộc sống xã hội, làm chủ xã hội Từ góc độ sư phạm - giáo dục, trò chơi là một nội dung quan trọng để thực hiện chức năng chuẩn bị thế hệ cho mỗi xã hội Do vậy, không thể đối lập hoặc tách rời giữa việc học và chơi của trẻ
Theo nghĩa đó, việc nghiên cứu về trò chơi đã và đang thu hút sự chú ý quan tâm của nhiều nhà khoa học, giáo dục, phụ huynh học sinh Nội dung nghiên cứu về trò chơi của trẻ em có thể chia ra làm 3 vấn đề lớn: Thứ nhất sưu tầm, biên soạn ra các trò chơi thích hợp; thứ hai tạo ra các đồ chơi, và chỗ chơi cho trẻ; thứ ba tổ chức vui chơi cho trẻ ở nhà trường, gia đình và những nơi công cộng Dưới góc độ giáo dục thể chất, vấn đề được chú ý nghiên cứu hơn cả
là sưu tầm, biên soạn những trò chơi vận động phù hợp với đặc điểm tâm sinh
lý, điều kiện thực tiễn và tổ chức tốt quá trình chơi ngay tại trường học, trong các giờ thể dục nội và ngoại khoá
Trên thế giới, hầu như nước nào cũng chú ý quan tâm đến vấn đề chơi của trẻ em Xu hướng chung hiện nay là khai thác, hệ thống hoá và cải tiến những hình thức vui chơi có tính dân tộc, để sử dụng kết hợp với những trò chơi thi đấu hiện đại trong việc giáo dục thể chất cho trẻ em
Ở Việt Nam, từ những năm 1960 đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi trẻ em; Trò chơi vui khoẻ (Quản Tập 1962); Trò chơi cho trẻ trước tuổi đi học và cấp I (Nguyễn Toán 1972 và 1990); Trò chơi vận động cho
Trang 2216
trẻ em ở nhà trẻ (Lê Bửu, Nguyễn Hợp, Đoàn Khắc Hiếu 1977); Một trăm trò chơi khoẻ (Phạm Tiến Bình 1985); Trò chơi cho thiếu niên nhi đồng (Lê Đình Khẩn 1978); Trò chơi rèn luyện (Hoàng Đạo Thuý 1975); Trò chơi vận động cho học sinh cấp I (Trần Trí 1981); Trò chơi thi đấu giải (Trịnh Trung Hiếu, Dương Nghiệp Chí 1986); Trò chơi phân vai theo chủ đề (Lê Minh Thuận 1989); Những trò chơi lý thú và bổ ích dùng cho mẫu giáo (NXB giáo dục 1987); Những chìa khoá để vào nhân cách (NXB giáo dục 1989); Trò chơi trẻ
em (Mai Văn Muôn 1991) Khoảng những năm đầu của thập kỷ 70, một vài khoá trung học và đại học TDTT I Từ Sơn đã được học môn lý luận và phương pháp trò chơi vận động Từ thập kỷ 80 đến nay, trò chơi vận động trở thành môn học chính đối với sinh viên Đại học TDTT
Năm 1995, tác giả Lê Anh Thơ đã nghiên cứu đề tài: “Trò chơi dân gian
và lời hát đồng giao cho trẻ em mẫu giáo ở Việt Nam”, trong đó đã khái quát về vấn đề nghiên cứu trò chơi cho trẻ em ở nước ta Có thể nhận thấy một số vấn đề như sau:
- Đã có nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi áp dụng cho trẻ em các lứa tuổi 7 - 12 (học sinh cấp 1 và 2), cũng như các trò chơi cho lứa tuổi học sinh mẫu giáo lớp 5 - 6 tuổi
- Việc khai thác và áp dụng các loại trò chơi, nhất là trò chơi vận động và dân gian Việt Nam còn chưa đầy đủ và toàn diện đối với việc giáo dục thể chất
và tinh thần cho trẻ em
Từ những nhận định trên, để góp phần thực hiện chiến lược giáo dục thể chất cho học sinh, trước hết là học sinh phổ thông THCS, cần nghiên cứu và vận dụng đa dạng các trò chơi vào các giờ học TDTT, nhằm mục đích phát triển thể chất cho các em
Vui chơi là một hoạt động đặc trưng của trẻ em, vừa là hoạt động mang ý nghĩa giáo dục Ở nước ta, trong những năm qua, việc vui chơi của trẻ em đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội và các lĩnh vực
Trang 2317
khoa học khác nhau Hiện nay, ngành giáo dục đào tạo đang chủ trì chương trình
“lồng ghép” phát triển trẻ thơ v.v Đó là những định hướng chương trình đúng đắn và rất cần thiết
Kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Anh Thơ (1995), đã chỉ rõ: Điều kiện vui chơi giải trí của trẻ em hiện nay còn rất thiếu thốn Trẻ em hầu như không có nơi chơi, chỗ chơi (ngay cả trong trường học) Các trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ vui chơi cũng còn rất hạn hẹp, trẻ em thường chơi tuỳ hứng, ít được hướng dẫn, tổ chức chơi hợp lý Ngoài ra, trẻ em thành phố sống trong điều kiện thiếu thốn về không gian và thời gian, gia đình bố mẹ bận rộn về công việc, nên
sự vui chơi rất hạn chế Ngay cả trong các trò vui chơi trên lớp học, các giáo viên cũng ít sử dụng các trò chơi vận động, hoặc có sử dụng song nội dung cũng nghèo nàn do thiếu kiến thức về trò chơi
Từ thực trạng trên, nghiên cứu ứng dụng các bài tập trò chơi cho trẻ em học sinh trung học cơ sở là một công việc hết sức cần thiết Mục đích của đề tài này là khai thác hiệu quả, nội dung tổ chức các trò chơi vận động, để phát triển sức bền một trong những tố chất vận động cơ bản và quan trọng cho các em cho các em, đa dạng hoá các loại hình hoạt động TDTT trong nhà trường, thực hiện tốt luật bảo vệ về chăm sóc, giáo dục trẻ em của Việt Nam được Quốc hội thông qua tháng 7 năm 1991, để thực hiện chiến lược của con người của Đảng và Nhà
nước, di chúc của Hồ Chủ Tịch: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là
việc làm rất quan trọng và cần thiết”
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý, phân loại và phương pháp giảng dạy trò chơi cho trẻ em
1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 12 - 13 và đặc điểm phương pháp giảng dạy thể dục, trò chơi vận động cho trẻ em 12 - 13 tuổi
1.4.1.1 Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 12 - 13:
Học sinh lớp 6, lớp 7 có độ tuổi 12, 13 là lứa tuổi có diễn biến về tâm sinh
lý rất mạnh mẽ nên việc lựa chọn bài tập thể dục và trò chơi có lượng vận động
Trang 24Hệ xương của các em học sinh ở lứa tuổi trung học cơ sở đang xẩy ra sự
cốt hoá bộ xương (tức là thay thế tổ chức sụn bằng mô xương) Quá trình phát triển xương của các em chủ yếu theo chiều dài và có sự biến đổi thành phần hoá học của xương (tăng thành phần các muối như phốt pho, can xi, ma giê…) tăng
độ bền của xương Cơ quan tạo máu (tuỷ xương) nằm ở trong ống xương phát triển dần theo lứa tuổi Chiều cao của các em phụ thuộc vào mức độ phát triển của xương do chế độ dinh dưỡng và chất vô cơ cần thiết ngoài ra còn phụ thuộc vào yếu tố di truyền
Ở thời kì này mức độ phát dục của các em nữ phát triển hơn các em nam nên các em nam có chiều cao phát triển chậm hơn các em nữ
b, Đặc điểm phát triển hệ cơ học sinh lớp 6;7( 12 - 13 tuổi):
Sự phát triển của xương kéo theo sự phát triển của cơ, cùng với lứa tuổi khối lượng cơ được tăng dần lên Ở lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng mức tăng trưởng của cơ là 9%
Tuy nhiên, sự phát triển của các nhóm cơ không đều Nhóm cơ của các
em tăng nhanh ở cơ chân và cơ duỗi thẳng Các cơ chậm phát triển là cơ tay và các cơ co Do hệ cơ ở lứa tuổi này đang phát triển nên trong giảng dạy, huấn luyện TDTT cần chú ý các đặc điểm sau:
- Phải có kế hoạch rèn luyện các cơ chậm phát triển (các cơ nhỏ) và có tác động tích cực cho việc tiếp tục phát triển các cơ duỗi, nâng cao tính phát triển đồng bộ các nhóm cơ
- Trong tập luyện tránh sử dụng các bài tập có trọng lượng lớn làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xương và dễ gây chấn thương
c, Đặc điểm phát triển hệ thần kinh học sinh lớp 6;7( 12 - 13 tuổi):
Trang 2519
Ở lứa tuổi này, trọng lượng của não tăng lên hơn so với học sinh tiểu học
Vì vậy khả năng làm việc của não được nâng cao do các vùng vỏ não phát triển nhanh Tuy nhiên quá trình hưng phấn chiếm ưu thế, quá trình ức chế sự phối hợp động tác ở lứa tuổi này vẫn còn kém, động tác còn vụng về
Hệ thống tín hiệu thứ hai phát triển mạnh nên khả năng khái quát trìu tượng, liên tưởng, tư duy, suy luận được nâng cao Do quá trình hưng phấn chiếm ưu thế, tính linh hoạt của quá trình thần kinh cao, trao đổi chất ở tế bào thần kinh mạnh, các em lại luôn vận động, ít nghỉ ngơi, vì vậy cơ thể rất chóng mệt mỏi Nhưng quá trình hồi phục cũng diễn ra nhanh
Từ những đặc điểm trên của hệ thần kinh nên khi tiến hành giảng dạy và huấn luyện TDTT cho các em cần chú ý một số vấn đề sau:
- Nội dung dạy học thể dục với hình thức đa dạng phong phú, kết hợp giữa học kỹ thuật với trò chơi, tránh lặp đi lặp lại những động tác đơn điệu
- Lượng vận động, nghỉ ngơi hợp lý, không để hưng phấn quá mức hoặc thời gian tập luyện quá dài
- Phương pháp dạy học nên sử dụng các phương pháp trực quan kết hợp giảng giải theo tinh thần đổi mới phương pháp giảng dạy
d, Đặc điểm phát triển hệ tuần hoàn học sinh lớp 6;7( 12 - 13 tuổi):
Ở lứa tuổi học sinh phổ thông THCS, hệ tim mạnh phát triển chưa hoàn thiện, cơ tim còn yếu, nhịp đập của tim cao hơn so với người lớn
- Tần số co bóp của tim từ 12 - 16 tuổi là 70 - 78 lần/phút
Khi cùng một hoạt động thể lực, tần số co bóp của tim ở các em càng nhỏ
sẽ càng cao hơn Như vậy, hệ tim mạch của cơ thể trẻ em thích nghi với sự tăng công suất hoạt động kém hơn so với người lớn
- Trẻ em từ 12 - 13 tuổi tăng từ 6 - 7 lần/phút
- Người lớn tăng từ 3 - 5 lần/phút
Trang 26Lượng máu của các em trai nhiều hơn lượng máu trong cơ thể các em gái
Sự tạo máu của các em chủ yếu là ở trong ống xương Số lượng hồng cầu trong máu giảm dần theo lứa tuổi Từ 8 - 10 tuổi đạt bằng mức người lớn
Dung tích sống của các em còn nhỏ so với người lớn, song sự trao đổi chất lại diễn ra rất mạnh mẽ, nhu cầu ôxy tăng tương đối lớn Vì vậy, tần số hô hấp cao hơn so với người lớn
Trong hoạt động thể lực, thông khí phổi của các em tăng lên chủ yếu là tăng tần số hô hấp, chứ không tăng độ sâu hô hấp Vì vậy khi vận động, khả năng chịu đựng nợ ôxy ở các em là thấp, nên năng lực yếm khí kém hơn người lớn
Từ đặc điểm trên của hệ hô hấp, khi tổ chức tập luyện cho học sinh phổ thông THCS, cần chú ý cho các em tập luyện TDTT như sau:
- Cường độ tập luyện không nên cao quá và kéo dài thời gian
- Trong tập luyện nên sử dụng các cự li ngắn, trung bình cần chú ý động tác thở sâu nhịp nhàng kết hợp với phối hợp động tác
1.4.1.2 Đặc điểm tâm lý học lứa tuổi 12 - 13:
Tâm lý con người được biểu hiện qua các cử chỉ nói, cười, đi, đứng, vui sướng, căm giận, chán ghét, bực tức, phẫn nộ…
Trang 2721
Biểu hiện tâm lý lứa tuổi thiếu niên là lứa tuổi chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ sang tuổi thiếu niên Đây là giai đoạn có những biến đổi mới và phức tạp về mặt tâm lý và sinh lý trong quá trình phát triển của trẻ Các em thiếu niên không còn
là những em nhỏ nữa, nhưng các em không phải là những người lớn Ở các em, những nét trẻ thơ cùng tồn tại trong ý thức với phẩm chất đặc trưng của thiếu niên
Do phát triển mạnh mẽ về thể lực mà các em thiếu niên đã có nhu cầu chơi thể thao Người giáo viên cần phải bằng mọi cách khuyến khích nhu cầu đó của các em bằng cách tự bản thân các em tham gia chơi những môn thể thao mà các em ưa thích, hướng dẫn các em chơi thể thao Nên hướng các em vào những nhà thể thao có uy tín các em luôn tôn vinh các thần tượng ngôi sao thể thao từ
đó xây dựng cho các em lý tưởng, ước mơ Hoạt động tâm lý ở lứa tuổi thiếu niên còn chịu ảnh hưởng của nhân tố bên trong và bên ngoài:
Nhân tố bên trong thường chịu ảnh hưởng của các yếu tố mà nguyên nhân chủ yếu do hoóc môn tuyến nội tiết tiết tố tăng cường ảnh hưởng đến hẹ thần kinh nên sự cân bằng giữa các quá trình hưng phấn và ức chế ở vỏ bán cầu đại não của các em bị phá vỡ làm cho hành vi các em mất cân đối Những ảnh hưởng mang tính tích cực sẽ tạo ra những yếu tố tích cực như:
- Lòng ham muốn, khát khao, nhu cầu bản năng, nhu cầu sinh tồn
- Ham muốn học tập như người khác là như người lớn
- Các yếu tố tình cảm chung
- Niêm tin và sự hiếu thắng
- Quan điểm về giá trị
Ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài chính là sức cuốn hút môi trường xung quanh, nếu môi trường xung quanh tốt sẽ cuốn hút các em chịu ảnh hưởng tốt và phát triển tốt Ngược lại môi trường xung quanh không tốt sẽ cuốn hút các
em vào những hoạt động xấu, các em sẽ phát triển theo hướng xấu đi Chính vì vậy cần phải chi phối những ảnh hưởng tốt bằng các nhân tố như:
Trang 28Dựa vào các quy luật tâm lý trên, trong quá trình tiến hành giáo dục thể chất chúng ta cần tuân thủ các nguyên tắc giảng dạy, huấn luyện, đồng thời chú
ý tăng cường các mặt sau:
- Tính trực quan cao trong giảng dạy
- Tập trung sự chú ý của học sinh
- Kết hợp học mới ôn cũ
- Chú ý tư duy gợi mở
Chỉ có như vậy, mới đạt được hiệu quả cao đối với giáo dục thể chất
Từ những cơ sở khoa học trên của giáo dục thể chất đối với học sinh các chuyên gia sư phạm TDTT, các nhà lý luận và phương pháp thể thao đã xác định mục đích nhiệm vụ GDTC cho học sinh ở từng bậc học
Mục đích của giáo dục thể chất:
- Góp phần phát triển hài hoà về thể chất, sức khoẻ nâng cao thể lực và kỹ năng vận động tăng cường hiệu quả học tập, lao động sẵn sàng bảo vệ tổ quốc
- Góp phần tạo dựng cuộc sống văn hóa tinh thần lành mạnh hạn chế các
tệ nạn xã hội, đào tạo và bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước
Để thực hiện mục đích trên công tác giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông các cấp phải đảm bảo những nhiệm vụ sau:
- Góp phần phát triển đúng đắn thể chất và củng cố sức khoẻ
- Phát triển các tố chất thể lực
- Hình thành hứng thú bền vững và nhu cầu tập luyện một cách hệ thống
Trang 2923
1.4.2 Đặc điểm và phân loại trò chơi:
Ngày nay, trò chơi trở thành một nội dung, phương tiện, phương pháp giáo dục rèn luyện trẻ em nhanh nhất và có hiệu quả nhất, đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
Hầu hết những trò chơi vận động được sử dụng trong giáo dục thể chất ở trường đã mang sẵn tính mục đích một cách rõ ràng Trong quá trình chơi, học sinh tiếp xúc với nhau, cá nhân phải hoàn thành nhiệm vụ của mình trước tập thể
ở mức độ cao, tập thể có trách nhiệm động viên, giúp đỡ cá nhân hoàn thành nhiệm vụ của mình Vì vậy, tình bạn, lòng nhân ái, tinh thần tập thể được hình thành Cũng trong quá trình chơi, đã xây dụng cho học sinh tác phong khẩn trương, nhanh nhẹn, tính kỷ luật, sự sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao góp phần giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho học sinh
Do vậy, có thể nói trò chơi mang tính giáo dục tư tưởng rất cao
Chơi là một yêu cầu mang tính học sinh của trẻ em Có thể nói, vui chơi cần thiết và quan trọng như ăn, ngủ, học tập trong đời sống thường ngày của các em Chính vì vậy, dù được hướng dẫn hay không hướng dẫn, các em vẫn tìm mọi cách và tranh thủ mọi thời gian và điều kiện để chơi Khi được chơi, các em đã tham gia hết sức tự giác và chủ động, đây là một yếu tố rất quan trọng trong công tác giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ
Trong quá trình tham gia vào trò chơi, các em biểu lộ tình cảm rất rõ ràng, như niềm vui khi thắng lợi và buồn khi thất bại, vui mừng khi thấy đồng đội hoàn thành nhiệm vụ, bản thân thấy có lỗi khi không làm tốt phần việc của mình Vì tập thể mà các em phải khắc phục khó khăn, phấn đấu hết khả năng
để mang lại thắng lợi cho đội trong đó có bản thân mình Đây chính là đặc tính thi đua rất cao của trò chơi vận động
Mỗi trò chơi thường có những quy tắc, luật lệ nhất định, nhưng cách thức
để đạt được đích lại rất đa dạng Trong khi đó, bản thân trò chơi lại mang tính thi đua và tự giác rất cao Vì vậy, khi đã tham gia trò chơi, học sinh thường vận
Trang 30Ngày nay, trò chơi rất phong phú, đa dạng và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt trong giáo dục nói chung, trong đó có giáo dục thể chất học sinh
Do sự đa dạng và phong phú của trò chơi, nên việc phân loại rất phức tạp
và khó khăn Người ta chia toàn bộ trò chơi ra làm ba nhóm chính: Trò chơi sáng tạo, trò chơi vận động và trò chơi thể thao (các môn bóng) Dưới đây, chỉ
đi sâu vào nhóm thứ hai: Trò chơi vận động Riêng ở nhóm trò chơi này cũng rất phong phú, đa dạng Vì vậy, có nhiều cách phân loại khác nhau, căn cứ trên những quan điểm khác nhau Dưới đây, là một số cách phân loại:
- Cách phân loại căn cứ vào những hoạt động tác cơ bản trong quá trình chơi một trò chơi: trò chơi về chạy, trò chơi về nhảy, ném, leo trèo, mang vác
và sử dụng trong việc rèn luyện những kỹ năng vận động cơ bản cho học sinh
- Cách phân loại căn cứ vào sự phát triển các tố chất thể lực trong quá trình chơi, như trò chơi rèn luyện sức nhanh, trò chơi rèn luyện sức bền, trò chơi rèn luyện sức mạnh Tuy nhiên, cách phân loại này đôi khi không được chính xác bởi một trò chơi không chỉ rèn luyện một tố chất cơ bản, mà có khi hai, ba tố chất Do đó, cách phân loại này, thường được dùng để cho các huấn luyện viên trong huấn luyện TDTT
- Cách phân loại căn cứ vào khối lượng vận động như một trò chơi có khối lượng vận động không đáng kể được xếp vào loại trò chơi giải trí, trò chơi
Trang 31- Cách phân loại trò chơi làm hai nhóm chính và một nhóm phụ: Trò chơi chia đôi, không chia đôi và một nhóm chuyển tiếp ở giữa
Trò chơi không chia đôi lại có thể chia ra: loại có người điều khiển và loại không có người điều khiển; trong đó lại có thể chia ra loại toàn bộ số người tham dự cuộc chơi cùng tham gia vào chơi một lúc và loại số người tham gia chơi phải theo lần lượt, thứ tự Đặc điểm của những trò chơi không chia đôi, là người không cùng một đích, mà mỗi người chơi độc lập, cá nhân chịu trách nhiệm về công việc của mình, ví dụ “ Ném trung đích”, “đá cầu”, “nhảy dây”,
Trang 3226
- Cơ của các em giàu tính đàn hồi, nhiều nước ít chất anbumin và muối khoáng hơn của người lớn, mà lực cơ của các em còn yếu Vì vậy các bài tập đòi hỏi sự hoạt động quá căng thẳng là không phù hợp với các em Các bài tập dẻo phải hết sức chú ý đặc điểm phát triển cơ của các em Bởi vì, các bài tập này nếu làm quá mạnh, do còn yếu các cơ, dây chằng nên sẽ dẫn tới làm tư thế cơ thể bị sai lệch
Đối với các em ở lứa tuổi này cần phát triển một cách toàn diện và cân đối các tố chất thể lực Cần đặc biệt chú ý phát triển tố chất nhanh, linh hoạt và sức bền Vì vậy, trong khoảng từ 12 - 13 tuổi cần cho các em nắm thật chắc những
kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản Những kỹ năng kỹ sảo vận động đó không những chỉ có ý nghĩa thực dụng, mà còn có ý nghĩa phát triển chung Đối với các em ở lứa tuổi này cần phải phát triển một cách tuyệt đối các tố chất, cần đặc biệt chú ý phát triển tố chất tốc độ, tính linh hoạt và sức bền Cần nhớ rằng, trương lực chống đối của cơ thể phát triển nhanh sau 12 tuổi Vì vậy, trong khoảng 12 - 15 tuổi, cần cho các em nắm thật chắc những kỹ năng vận động đó không chỉ có ý nghĩa thực dụng mà còn có ý nghĩa phát triển chung
Đối với các em nhỏ, cần giải thích cụ thể và dễ hiểu, nhưng chủ yếu vẫn
là làm mẫu để các em bắt chước Ví dụ: Làm mẫu động tác nhảy xa tại chỗ, thì cần lưu ý các em về tư thế chân trước khi dậm nhảy và tư thế tay trong khi dậm nhảy.Các em thể hiện đặc tính của bài tập và phân biệt được các chi tiết của chúng Các em có một số kinh nghiệm nhất định, nên thông qua nghe giảng dạy
mà các em có thể thực hiện các bài tập cũ, hoặc những bài tập tương tự Khi các
em học các bài tập mới, nhất thiết phải làm mẫu và giải thích
Điều cơ bản trong giảng dạy đối với các em ở lứa tuổi 12 - 13 tuổi, là phải nghiêm chỉnh thực hiện các bài tập theo thứ tự (từ dễ đến khó, đơn giản đến phức tạp), dần dần nâng cao độ khó Khi giảng dạy bài tập khó, phải dạy theo từng phần, sau đó mới tiến tới giảng dạy hoàn chỉnh Có như vậy, các em mới
Trang 33Ở lứa tuổi này việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và không ổn định khi thì làm được, khi thì không làm được Trong mỗi buổi lên lớp nên cho
ôn lại những nội dung đã học từ 6 - 8 lần, mỗi lượt thực hiện 2 - 3 lần
1.4.2.2 Phương pháp giảng dạy trò chơi:
Để giảng dạy cho học sinh một trò chơi, công việc đầu tiên của người giáo viên là chọn trò chơi (trừ những trò chơi cố định trong chương trình và sách hướng dẫn giảng dạy) Muốn chọn trò chơi đúng với quy định cần xác định được mục đích, yêu cầu của trò chơi định chọn Ví dụ, trong một buổi hoạt động ngoại khoá ở ngoài trời, giáo viên có một hoạt động sôi nổi, hấp dẫn có thể lôi cuốn được tất cả học sinh vào hoạt động thi đua giữa tổ này với tổ khác hay lớp này với lớp khác Như vậy, là giáo viên đã xác định được mục đích, yêu cầu để chọn trò chơi, trong trường hợp này, giáo viên có thể chọn trò chơi “Chạy tiếp sức”, hay “tiếp sức chuyển vật” hoặc “lò cò tiếp sức”
Khi chọn trò chơi, giáo viên còn cần phải chú ý đến trình độ và sức khoẻ của học sinh, ví dụ như học sinh lớp 6 thì trình độ tiếp thu cũng như khả năng phối hợp vận động và sức khoẻ còn có hạn, do đó không thể chọn những trò chơi phức tạp hoặc đòi hỏi sức mạnh cao Ngoài ra, giáo viên còn phải chú ý đến đặc điểm giới tính, địa điểm định tổ chức cho học sinh rộng hay hẹp, có bảo đảm
an toàn không, phương tiện tổ chức cho học sinh có đầy đủ để tổ chức được trò chơi đó hay không
Trang 3428
Sau khi đã chọn được trò chơi, giáo viên cần biên soạn thành giáo án giảng dạy từng bước cho các em, từ chỗ chưa biết đến biết, từ chỗ chỉ biết tham gia chơi một cách cầm chừng, thụ động đến biết tham gia chơi một cách hoàn toàn chủ động và có thể sáng tạo được Ví dụ, khi chọn trò chơi “mèo đuổi chuột”, giáo án lúc đầu chỉ làm cho học sinh biết cách chơi; chuột chạy đường nào mèo chạy đường đó, giáo án sau nâng lên cho học sinh biết đọc cách câu đồng dao trước và trong khi chơi, sau đó mức cao hơn nữa có thể đổi một phần cách chơi như không quy định “mèo” cứ phải đuổi đúng theo đường mà “chuột” đã chạy, mà mèo có thể chạy đón đầu
Sau khi chọn được trò chơi, giáo viên nghiên cứu kỹ các quy tắc và luật lệ của trò chơi, sau đó soạn thành giáo án ở những mức độ khác nhau để dần dần tổ chức cho các em biết tham gia chơi một cách thành thục Công việc đầu tiên lúc này là chuẩn bị phương tiện và địa điểm để tổ chức cho các em chơi Về phương tiện cần phải chia ra những phương tiện nào giáo viên cần chuẩn bị và phương tiện nào học sinh phải chuẩn bị Ví dụ: nhảy dây cá nhân, thì học sinh phải tự chuẩn bị dây, muốn vậy giáo viên phải nhắc nhở các em trong giờ học trước để các em chuẩn bị, thậm chí ngày hôm sau đến giờ thể dục, thì hôm trước đó giáo viên lại nhắc lại một lần nữa để các em nhớ và chuẩn bị Đối với giáo viên, thì phương tiện để tổ chức cho học sinh chuẩn bị trước khi đến giờ tổ chức cho học sinh chơi, ví dụ: làm mô hình đầu ngựa, mua bóng và loại thứ hai kẻ vẽ sân chơi để chơi, thì có thể tiến hành chuẩn bị trước nếu kẻ bằng vôi nước, sơn còn nếu vẽ bằng phấn thì đợi đến giờ học mới kẻ vẽ
Về địa điểm, sau khi đã chọn địa điểm, giáo viên cho học sinh thu nhặt các vật gây nguy hiểm và có thể phải quét dọn nơi chơi cho bảo đảm môi trường
sư phạm
Tổ chức đội hình cho học sinh chơi, được quy định trong một số nhiệm vụ sau: tập hợp học sinh theo các đội hình khác nhau và ổn định tổ chức, phân chia đội (nếu trò chơi phải chia đôi), chọn vị trí đứng của giáo viên để giải thích và
Trang 3529
điều khiển trò chơi, chọn đội trưởng cho từng đội hoặc những người tham gia đóng vai của cuộc chơi, ví dụ như “mèo”, “chuột” Tuỳ theo tính chất của trò chơi, giáo viên có thể tổ chức trò chơi theo nhiều đội hình khác nhau: Đội hình hàng dọc, hay hàng ngang, đội hình một hay hai vòng tròn Ở mỗi đội hình như vậy, vị trí đứng của giáo viên để giải thích và điều khiển trò chơi cũng khác nhau Tuy nhiên , có một nguyên tắc phải chú ý là làm sao học sinh phải nghe rõ được lời giáo viên nói, nhìn rõ được giáo viên làm mẫu và giáo viên phải quan sát được toàn bộ học sinh và tiến trình cuộc chơi, nhưng không gây cản trở cuộc chơi của các em
Giới thiệu và giải thích trò chơi có thể tiến hành theo nhiều cách khác nhau, phụ thuộc vào tình hình thực tiễn và sự hiểu biết của đối tượng: Nếu các
em chưa biết trò chơi đó, thì cần giới thiệu, giải thích và làm mẫu tỉ mỉ, nhưng nếu các em đã biết nắm vững trò chơi đó rồi, thì cách giới thiệu và giải thích trò chơi nên tiến hành theo mấy bước sau: Gọi tên trò chơi, luật lệ và cách chơi, yêu cầu về tổ chức kỷ luật, cách đánh giá thắng bại (phân thắng thua) và những điểm cần chú ý khác
Đối với học sinh, khi được tổ chức chơi các em thường được muốn được chơi ngay nhất là những trò chơi mà các em đã biết Sau khi giáo viên gọi tên trò chơi, các em đã biểu lộ tình cảm ngay như reo hưởng ứng hoặc không đồng ý chơi trò chơi đó Dù ở trong trường hợp nào, các em cũng không thích giảng giải dài dòng Vì vậy, khi giải thích trò chơi, giáo viên nên ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, nhưng phải làm sao cho tất cả học sinh đều nghe và nắm được cách chơi
Đối với những trò chơi các em đã hiểu luật lệ chơi, giáo viên không cần giải thích trò chơi nữa, mà nên nêu thêm một số yêu cầu Có thể đưa ra một số yêu cầu cao, chặt chẽ hơn lần chơi trước, đòi hỏi học sinh phải cố gắng mới hoàn thành được Có như vậy, các em mới thấy hào hứng, hăng hái, phát huy hết khả năng sức lực, trí tuệ và óc sáng tạo của mình
Trang 3630
Giới thiệu và giải thích trò chơi hấp dẫn, lôi cuốn được sự chú ý khích lệ được học sinh tham gia chơi một cách thực sự, là nghệ thuật của người điều khiển Vì vậy, mỗi giáo viên cần tích luỹ kinh nghiệm và không nên coi thường khâu giới thiệu và giải thích trò chơi
Khi các em chính thức bước vào chơi, là lúc người điều khiển phải đóng vai trò như một trọng tài trong một trận thi đấu Một tình huống như vi phạm luật, thống kê điểm thắng và điểm thua của từng đội để phân loại thắng thua, giải thích các vấn đề về kiện cáo đều do người điều khiển quyết định
Vì vậy, người điều khiển phải nắm vững tiến trình và theo dõi trò chơi thật chặt chẽ
Theo kinh nghiệm của nhiều nhà sư phạm, lúc cho học sinh chơi trò chơi mới, thì thường cho các em chơi thử một đến hai, ba lần Sau mỗi lần chơi giáo viên cần nhận xét và bổ xung thêm những điều về luật để các em nắm vững luật, sau đó mới tiến hành cho các em chơi chính thức có thi đua
Thông thường, người điều khiển phải làm một số công việc sau:
- Cho học sinh làm một số động tác khởi động (có thể cho học sinh khởi động trước khi tổ chức đội hình chơi)
- Cho các em bắt đầu cuộc chơi
- Theo dõi và nắm vững các hoạt động của từng cá nhân hoặc tập thể những học sinh tham gia chơi
- Điều chỉnh khối lượng vận động của trò chơi
- Đề phòng chấn thương (bảo hiểm) ở những chỗ cần thiết
Khi điều khiển trò chơi, giáo viên có thể điều chỉnh khối lượng vận động cho các em bằng nhiều cách:
- Dùng tiếng vỗ tay, tiếng trống, tiếng reo hò để tăng nhịp điệu trò chơi, rút ngắn hoặc tăng thời gian cuộc chơi
- Thay đổi phạm vi hoạt của trò chơi (rút ngắn tăng cự ly, giảm hoặc tăng trọng vật )
Trang 3731
- Thay đổi số lượng trò chơi
- Thay đổi yêu cầu, mục đích hoặc luật lệ chơi
- Nghỉ giải lao (nếu cần giảm khối lượng vận động)
Khi điều khiển trò chơi, giáo viên phải chú ý bảo hiểm cho các em và tìm các biện pháp phòng ngừa chấn thương có thể xảy ra Cần nhắc nhở và giáo dục
ý thức kỷ luật, vì đây là một trong những biện pháp phòng ngừa chấn thương có hiệu nhất
Sau mỗi lần hoặc một số lần cho học sinh chơi, giáo viên cần nhận xét,đánh giá kết quả cuộc chơi Để đánh giá đúng thực chất của môn chơi,giáo viên phải thống kê được những ưu điểm, khuyết điểm của từng đội, cụ thể: Về thời gian đội nào hoàn thành trước, nhiều hay ít người vi phạm luật lệ, đội hình đội ngũ có trật tự kỷ luật không Dựa vào yêu cầu, nội quy chơi, kết quả cuộc chơi giáo viên đánh giá cuộc chơi và phân loại thắng, thua thật công bằng, rõ ràng Giáo viên phải hết sức lưu ý vấn đề này, vì đôi khi có giáo viên nêu yêu cầu vào luật lệ chơi rất khắt khe, nhưng khi đánh giá kết quả cuộc chơi lại đại khái, không chính xác hoặc không công bằng Vì vậy, đã làm cho học sinh mất phấn khởi, đôi khi các em biểu lộ sự phản đối với sự đánh giá đó và không chấp nhận kết luận của người điều khiển Đây là những điều xảy ra không phải hãn hữu, ngay đến các trò chơi của người lớn như bóng đá, bóng rổ, bóng chuyền chúng ta cũng đã thấy những hiện tượng như vậy Tất nhiên, kết quả của cuộc chơi mà chúng ta tổ chức cho học sinh chơi không được phân định rõ ràng sẽ bị giảm đi nhiều, mất đi ý thức giáo dục và đôi khi dẫn đến sự hiềm khích, hiểu lầm
Có thể nói, điều khiển tiến trình một cuộc chơi (nhất là với học sinh tiểu học các em hiếu động và mức độ hiểu biết còn có hạn) sao cho sôi nổi, sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn được học sinh tham gia chơi một cách thích thú, đó là nghệ thuật của nhà sư phạm Có lẽ chỉ có lòng yêu trẻ, yêu nghề, sự ham học hỏi nghiên cứu, sưu tầm tích luỹ kinh nghiệm thì nghệ thuật đó mới ngày càng phong phú và hoàn thiện