Có được bản luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới trường Đại học Vinh, khoa GDTC, phòng Đào tạo sau đại học, trường Thực hành Sư phạm Đại học
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN NGỌC VIỆT
NGHỆ AN – 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp cao học được hoàn thành tại trường Đại học Vinh
Có được bản luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới trường Đại học Vinh, khoa GDTC, phòng Đào tạo sau đại học, trường Thực hành Sư phạm Đại học Vinh và đặc biệt là TS.Nguyễn Ngọc Việt đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề
tài: “Thực trạng và một số giải pháp giáo dục tư thế đi cơ bản cho học sinh tiểu học ở Thành phố Vinh Tỉnh Nghệ An”
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo – Các nhà khoa học đã trực tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành giáo dục thể chất cho bản thân tác giả trong suốt những năm tháng qua
Xin gửi tới nhà trường Thực hành Sư phạm Đại học Vinh, các em học sinh lớp 2D lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả thu thập số liệu cũng như tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề tài luận văn
Xin ghi nhận công sức và những đóng góp quý báu và nhiệt tình của các bạn học viên trong lớp đã đóng góp ý kiến và giúp đỡ cùng tác giả triển khai, điều tra số liệu nghiên cứu Có thể khẳng định sự thành công của luận văn này,trước hết thuộc về công lao của tập thể, của nhà trường, cơ quan xã hội Đặc biệt là quan tâm động viên khuyến khích cũng như sự thông cảm của gia đình Nhân đây tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn các đơn vị và các cá nhân
đã hết lòng quan tâm tới sự nghiệp đào tạo đội ngũ cán bộ ngành Giáo dục thể chất Tác giả rất mong sự đóng góp, phê bình của quý thầy cô, các nhà khoa học, độc giả và các đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan ngoài những nội dung đã được trích dẫn và liệt kê trong phần Tài liệu tham khảo, công trình nghiên cứu này là của riêng tôi, các
số liệu nghiên cứu là trung thực, chưa có ai công bố và chưa được xuất bản
dưới bất kỳ hình thức nào
Tác giả
Cao Xuân An
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC HÌNH
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ đề tài 3
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Giả thiết khoa học 3
5 Kết cấu đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ GIÁO DỤCTƯ THẾ ĐI CƠ BẢN 4
1.1 KHÁI NIỆM ĐI CƠ BẢN 4
1.2 TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ ĐI CƠ BẢN 6
1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐI CƠ BẢN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CON NGƯỜI 6
1.3.1 Tư thế đi đúng ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao 6
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đi cơ bản 7
1.3.3 Ảnh hưởng của sai lệch các tư thế (đi, đứng, ngồi) [4] 8
1.3.3.1 Cong vẹo cột sống (biến dạng cột sống) 8
1.3.3 2 Tác hại của cong vẹo cột sống 8
1.3.3.3 Nguyên nhân dẫn đến cong vẹo cột sống 9
1.3.3.4 Các biện pháp phòng chống cong vẹo cột sống 9
1.4 GIÁO DỤC TƯ THẾ ĐI CƠ BẢN 10
1.4.1 Giáo dục tư thế đi cơ bản ở ngoài nước[1] 10
1.4.1.1 Giáo dục thể chất cho học sinh tiểu học 10
Trang 61.4.1.2 Giáo dục tư thế đi cơ bản (Đi thường) 20
1.4.2 Giáo dục tư thế đi cơ bản ở Việt Nam 22
1.4.2.1 Trong nhà trường 22
1.4.2.2 Ngoài xã hội 44
1.5 PHÂN LOẠI DÁNG ĐI 44
1.5.1 Dáng đi tư nhiên 44
1.5.2 Dáng đi giáo dục rèn luyện 45
1.6 PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ĐỂ CÓ TƯ THẾ ĐI CƠ BẢN 46
1.7 ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ LỨA TUỔI TIỂU HỌC 47
1.7.1 Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học 47
1.7.2 Đặc điểm sinh lý học sinh tiểu học 50
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 53
2.2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 53
2.2.1 Cách tiếp cận 53
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 53
2.2.2.1 Phương pháp đọc và phân tích tổng hợp tài liệu 53
2.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn và khảo sát 55
2.2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 56
2.2.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 57
2.2.2.5 Phương pháp toán học thống kê 59
2.2.3 Tổ chức nghiên cứu 60
2.2.4 Kế hoạch nghiên cứu 61
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 63
3.1 Thực trạng giáo dục tư thế đi cơ bản cho học sinh tiểu học 63
3.1.1 Thực trạng về nội dung nội dung giáo dục tư thế đi cơ bản cho học sinh tiểu học 63
3.1.2 Thực trang đội ngũ giáo viên giảng dạy môn giáo dục thể chất cho học sinh tiểu học ở Thành phố Vinh Tỉnh Nghệ An 63
Trang 73.1.3 Thực trạng về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy môn giáo dục thể
chất ở Thành phố Vinh Tỉnh Nghệ An 65
3.1.4 Thực trạng về giáo dục tư thế đi cơ bản của học sinh tiểu học ở Thành phố Vinh Tỉnh Nghệ An 67
3.1.5 Thực trạng về đi cơ bản của học sinh tiểu học ở Thành phố Vinh Tỉnh Nghệ An 69
3.2 Nghiên cứu một số giải pháp về giáo dục tư thế đi cơ bản cho học sinh tiểu học 69
3.2.1 Giải pháp về Nhà trường 69
3.2.2 Giải pháp về Gia đình phụ huynh 69
3.2.3 Giải pháp về Học sinh 69
3.2.4 Giải pháp về chuyên môn 69
3.2.4.1 Nghiên cứu một số bài tập giáo dục tư thế đi cơ bản cho học sinh tiểu học 69
3.2.4.2 Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tư thế đi cơ bản cho học sinh tiểu học 74
3.2.4.3 Tổ chức thực hiện các giải pháp về giáo dục tư thế đi cơ bản cho học sinh tiểu học ở Thành phố Vinh Tỉnh Nghệ An 77
3.2.4.4 Xây dựng tiến trình tập luyện cho học sinh tiểu học lớp 2D trường thực hành sư phạm đại học Vinh trên cơ sở hệ thống các bài tập đã lựa chọn 77
3.2.4.5 Kết quả sau 02 tháng tập luyện về tư thế đi cơ bản cho lớp 2D trường thực hành sư phạm đại học Vinh 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
I KẾT LUẬN 82
II KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 85
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CLB : Câu lạc bộ
HSTH : Học sinh tiểu học GDTC : Giáo dục Thể chất
GV : Giáo viên NCKH : Nghiên cứu khoa học NXB GD : Nhà xuất bản Giáo Dục
TD : Thể dục TDTT : Thể dục thể thao
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kế hoạch nghiên cứu 61 Bảng 3.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên dạy thể dục các trường tiểu
học ở Thành phố Vinh 63 Bảng 3.2: Cở sở vật chất phục vụ học môn thể dục ở các trường tiểu
học trên địa bàn thành phố vinh 65 Bảng 3.3: Thực trạng giáo dục tư thế đi cơ bản các trường tiểu học ở
Thành phố Vinh 67 Bảng 3.4: Phỏng vấn chuyên gia về mức độ các giải pháp giao dục tư
thế đi cơ bản cho HS TH ở thành phố Vinh 75 Bảng 3.5: Kết quả kiểm tra tư thế đi cơ bản trước 2 tháng thực nghiệm 78 Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra tư thế đi cơ bản sau 2 tháng thực nghiệm 79 Bảng 3.7: Kết quả tổng hợp kiểm tra tư thế đi cơ bản của lớp 2D trước
và sau TN 81
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Đối tượng được phỏng vấn 76 Biểu đồ 3.2: Trình độ chuyên môn đối tượng được phỏng vấn 76 Biểu đồ 3.3: Thâm niên công tác đối tượng được phỏng vấn 76
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Tư thế đi cơ bản 4
Hình 1.2: Kỹ thuật đi bộ [3] 5
Hình 1.3: Cách đặt bàn chân 5
Hình 1.4: Tư thế đi cơ bản 6
Hình 1.5: Học sinh tham gia vào Hội khỏe của trường 10
Hình 1.6: Học sinh Nhật Bản trực nhật sau giờ học 12
Hình 1.7: Học sinh Nhật Bản trong giờ ra chơi 13
Hình 1.8: Đội bóng đá mini tại một trường tiểu học ở "xứ sở mặt trời mọc" 14
Hình 1.9: Sinh viên Nhật Bản 17
Hình 1.10: Học sinh Nhật Bản tự mình đi bộ đến trường 19
Hình 1.11: Tư thế đi cơ bản 20
Hình 1.12: Kỹ thuật đi bộ [3] 20
Hình 1.13: Cách đặt bàn chân.[3] 21
Hình 1.14: Đi theo vạch kẻ thẳng 25
Hình 1.15: Đi nhanh chuyển sang chạy 26
Hình 1.16: Đi vượt chướng ngại vật 31
Hình 1.17: Đi chuyển hướng phải trái 32
Hình 1.18: Phối hợp chạy nhảy 37
Hình 1.19: Phối hợp chạy, mang vác 37
Hình 1.20: Phối hợp chạy, nhảy, mang vác 38
Hình 1.21: Trong thời gian nghỉ dưỡng tại Vũng Tàu, sáng sáng Đại tướng đi bộ rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe 46
Hình 3.1: Tư thế đứng nghiêm của học sinh 70
Hình 3.2: Tư thế đứng nghiêm trong quân đội 70
Hình 3.3: Hình ảnh cho động tác đánh tay 71
Trang 12Hình 3.4: Khi đi bộ không nên vung tay, chân quá mạnh 72
Hình 3.5: Cách đặt bàn chân 72
Hình 3.6: Tư thế đi cơ bản 73
Hình 3.7: Tư thế đi cơ bản 73
Hình 3.8: Đi theo vạch kẻ thẳng có cự ly 10m 74
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục thể chất trong nhà trường là nhằm mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh về thể chất, tinh thần và nhân cách, đạo đức lối sống lành mạnh Đối với thế hệ trẻ, GDTC và thể thao lại càng quan trọng hơn bao giờ hết Vì đây là thời kỳ nhạy cảm nhất để phát triển và hoàn thiện thể chất, nhân cách trong cuộc đời của con người Giáo dục thể chất là quá trình trang bị kiến thức
về vận động cơ bản và phát triển thể lực cho con người và làm thay đổi thể chất cho thế hệ trẻ hôm nay và cả tương lai của dân tộc GDTC cần được thực hiện xuyên suốt ngay từ tuổi đi học cho tới suốt cả cuộc đời của mỗi một con người Một trong những nội dung của giáo dục thể chất đó là trang bị kỹ năng
về hoạt động vận động cơ bản Hoạt động vận động cơ bản của con người bao gồm: đi, đứng, ngồi, chạy, nhảy, leo trèo, mang vác, bơi…đều ảnh hưởng đến sức khỏe con người Trong những hoạt động cơ bản “đi” chiếm nhiều thời gian trong ngày có tầm ảnh hưởng đến tư thế, dáng vóc và thẩm mỹ của con người Hoạt động đi cũng được xem như là hoạt động tự nhiên của con người chính vì thế con người sinh ra đều biết đi, mặc dù chưa có chỉ dẫn vẫn có thể
tự biết đi Chính vì là hoạt động tự nhiên nên dẫn tới có sai lệch mà nhiều quan điểm cho rằng sự sai lệch do di truyền hoặc do tính cách tạo nên Hoạt động đi tự nhiên thường gặp như đi “chữ bát”, đi “lắc đảo”, đi “ có tiếng dội”,
“đi thẳng”, đi “xung phong”, đi “song song”, đi “vừa đi vừa xem”, đi “treo chân” … nhìn chung các dáng đi tự nhiên dẫn đến có sai lệch về tư thế, trọng tâm cơ thể dẫn tới mắc bệnh cong vẹo cột sống, làm giảm phát triển chiều cao, ảnh hưởng đến thẩm mỹ, sức khỏe và sức lao động của con người Ngoài dáng đi tư nhiên các tư thế đi được giáo dục rèn luyện trong sinh hoạt của con người còn có:
Đi đều (trong diễu hành), đi trình diễn cho người mẫu, đi bộ thể thao, đi
cơ bản (đi thường)
Trang 14Trong đời sống sinh hoạt của con người thì dáng đi, dáng đứng, dáng ngồi…rất quan trọng nếu sai lệch sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và phát triển chiều cao của con người Nhiều công trình nghiên cứu trên Thế giới đã nêu rõ tầm quan trọng của tư thế hoạt động cũng như tác hại về sai lệch tư thế về đi, đứng, ngồi Ở các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Úc… rất chú trọng trang
bị cho học sinh ngay từ nhỏ hình thành tư thế đi, đứng, ngồi và tạo được thói quen cho lớp trẻ sớm hình thành tư thế đi, đứng, ngồi đúng Còn ở Việt Nam
về vấn đề giáo dục tư thế đi đều, đi bộ thể thao, đi theo kiểu người mẫu đã được chú trọng và được giáo dục rèn luyện Còn giáo dục đi cơ bản (đi thường) cho học sinh tiểu nói chung chưa được chú trọng dẫn tới chưa đạt yêu cầu Việc tư thế đi sai lệch sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển chiều cao, thẩm mỹ, giảm năng suất chất lượng lao động gây thiệt hại kinh tế xã hội Theo khảo sát chưa đầy đủ cho thấy các công trình nghiên cứu khoa học
về tư thế đi cho học sinh chưa được thực hiện Chương trình đào giáo viên dạy thể dục còn thiếu về hướng dẫn kỹ thuật đi cơ bản (đi thường) cho sinh viên đây là đội ngũ giáo viên giảng dạy nay mai ở các trường học phổ thông các cấp Đội ngũ giáo viên dạy thể dục cho học sinh cấp tiểu học là chủ yếu kiêm nhiệm Theo điều tra sơ bộ các trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Vinh, Nghệ An (29 trường) cho thấy Trong những năm gần đây các trường tiểu học mới có biên chế giáo viên dạy thể dục (1GV TD/trường/20 lớp), số lượng giáo viên còn ít so với số lớp Qua trao đổi về kiến thức giáo dục tư thế
đi cơ bản cho học sinh tiểu học cả giáo viên kiêm nhiệm và giáo viên chuyên trách dạy thể dục đều cho biết chưa nắm vững về kiến thức dạy đi cơ bản cho học sinh tiểu học có trong chương trình lớp 2 môn thể dục Từ đó học sinh tiểu học thiếu kỹ năng hình thành tư thế đi đúng dẫn tới hình thành thói quen
đi sai và từ đó đi sai cho đến tuổi trưởng thành Vấn đề này nếu được khắc phục thì học sinh tiểu học sẽ có tư thế đi đúng góp phần phát triển thể chất nâng cao sức khỏe và cải thiện chiều cao cho lứa tuổi dậy thì của học sinh
Trang 15Từ những vấn đề nêu trên tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và một giải pháp giáo dục tư thế đi cơ bản cho học sinh tiểu học ở Thành phố Vinh Tỉnh Nghệ An”
- Các trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Vinh- Nghệ An
- Tài liệu giáo dục thể chất cho học sinh tiểu học
- Tài liệu về giáo dục tư thế đi cơ bản trong nước và nước ngoài
- Một số giải pháp giáo dục tư thế đi có bản cho học sinh tiểu học ở thành phố Vinh - Nghệ An
4 Giả thiết khoa học
Những giải pháp để tài nghiên cứu được triển khai cho học sinh tiểu học
ở thành phố Vinh sẽ góp phần cải thiện được tư thế đi cơ bản góp phần phòng chống bệnh cong vẹo cột sống, tăng thể lực và thúc đẩy phát triển chiều cao cho học sinh
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan các vấn đề về giáo dục tư thế đi cơ bản
Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ GIÁO DỤC
TƯ THẾ ĐI CƠ BẢN
1.1 KHÁI NIỆM ĐI CƠ BẢN
Đi bộ là hình thức di chuyển căn bản đơn giản: đi bộ khi làm việc (nội trợ, văn phòng, đi kiểm tra, bốc xếp ); đi bộ khi hành quân (bộ đội); và đi bộ thể dục (đi bộ thư giãn thông thường, hay đi khi đánh golf)
- Đi bộ được phân loại thành 2 nhóm chính:
+ Đi bộ tự nhiên: Không được giáo dục
+ Đi bộ được giáo dục: Đi đều trong quân đôi, đi đều trong trường học,
đi người mẫu, đi bộ thể thao, đi cơ bản…
Theo tài liệu hướng dẫn đi cơ bản (Nhật Bản) [1]
Hình 1.1: Tư thế đi cơ bản
Trang 17Theo nguyên cứu mới nhất của Trường Đại học Colorado (Mỹ) vừa được công bố năm 2012 về kỹ thuật đi bộ[12]
Hình 1.2: Kỹ thuật đi bộ [3]
Hình 1.3: Cách đặt bàn chân
Khái niệm đi cơ bản: (kỹ thuật đi bộ)
Đi cơ bản đúng cách là tạo bước đi thật tự nhiên sao cho mặt lòng bàn chân không va chạm mạnh xuống mặt đất Đầu tiên gót chân đặt xuống đất trước rồi mới đến ngón chân cái mũi chân thẳng hướng Đầu thân cân đối mắt nhìn thẳng, hai vai thăng bằng Tay đánh tự nhiên
Trang 181.2 TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ ĐI CƠ BẢN
Dựa theo tài liệu hướng dẫn đi cơ bản (Nhật Bản) [1]
Hình 1.4: Tư thế đi cơ bản
Tiêu chuẩn đánh giá đi cơ bản đúng:
1 Tư thế thân (đầu, thân thẳng, hai vai thăng bằng trong lúc đi)
2 Động tác tay (tay đánh trước sau theo biên độ vừa phải không quá cao hoặc quá thấp)
3 Động tác chân (đặt từ gót chân đến cả bàn chân, mũi chân thẳng hướng)
4 Phối hợp (kĩ thuật tay, chân và thân phối hợp nhịp nhàng)
1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐI CƠ BẢN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CON NGƯỜI
1.3.1 Tư thế đi đúng ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao
Cơ sở khoa học về vật lý học (lực hấp dẫn)
Mọi vật đều hút nhau bởi một lực hấp dẫn Tư thế người đi lại không nằm ngoài lực hút đó Chính nhờ có lực hút của trái đất mọi vật mới tạm đứng yên, nêu không có lực hút tất cả sẽ bay lơ lửng (chân không) Trong tư thế đi đúng thì lực hút đúng trọng tâm cơ thể luôn rơi thẳng đến gót chân (từ đầu, thân đến gót
Trang 19chân) Ngược lại tư thế đi sai tức lệch trọng tâm tạo nên nhiều điểm hút ở trọng tâm khác nhau Ví dụ người có tư thế đi hơi cúi về trước thì ngoài bị lực hút ở gót bàn chân còn bị lực hút theo hình chiếu của đầu Lực hút trái đất tỷ lệ thuận với trọng tâm cơ thể, càng đi lệch trọng tâm càng có nhiều lực hút[2]
Tư thế đi ảnh hưởng tốt đến phát triển chiều cao
- Tư thế đi đứng:
Rõ ràng tư thế đi đúng là tạo ra sự cân đối của tư thế khi đi đồng nghĩa là lực hút rơi đúng trọng tâm của tư thế cân đối Điều này rất quan trọng cho sự phát triển chiều cao của học sinh, bởi vì tư thế đi cân đối tạo nên hướng phát triển chiều cao thuận lợi giảm lực hút bất lợi về phát triển chiều cao Tư thế đi đúng ảnh hưởng tích cực đến tư thế ngồi, tư thế đứng và các tư thế khác[2]
- Tư thế đi sai lệch
Lực hút của trái đất xem như lực kéo của tư thế, sự lệch về tư thế càng nhiều đồng nghĩa càng lực kéo của tư thế càng nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng về chiều cao của con người Chính vì vậy tư thế đi sai lệch trọng tâm
sẽ có nhiều lực kéo khác nhau, như lực kéo vị trí đầu, thân và chân Do đó học sinh lứa tuổi đang phát triển mà tư thế đi sai lệch trọng tâm thì bị ảnh hưởng rất lớn làm cho sự phát triển chiều cao chậm và khó đạt được như mong muốn[2]
Tư thế đi sai lệch đã làm giảm chiểu cao
Thực tế nêu con người đi sai lệch tư thế đi đã làm giảm chiều cao ngay
cả khi đã hết tuổi phát triển chiều cao
Thí dụ: một người đi có trọng tâm lệch về trước đo được trong lúc đi là 1m 65cm; cũng là người đó nếu đi tư thế đúng sẽ đo được 1m 66, thấp hơn 1cm
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đi cơ bản
- Yếu tố tự nhiên: Đi cơ bản nếu không được giáo dục sẽ dẫn tới đi sai và
đi sai cho đến khi trưởng thành, nó làm giảm chiều cao và gây ra các bệnh nghiêm trọng về cột sống
- Yếu tố giáo dục: Nếu được giáo dục đúng cách về đi cơ bản, con người
Trang 201.3.3 Ảnh hưởng của sai lệch các tư thế (đi, đứng, ngồi) [4]
Sự sai lệch tư thế của con người trong đi, đứng, ngồi sẽ dẫn tới:
1.3.3.1 Cong vẹo cột sống (biến dạng cột sống)
Là tình trạng cột sống bị uốn cong về bên trái hoặc bên phải (vẹo cột sống) hoặc bị cong quá mức về phía trước hay phía sau, do đó không còn giữ được các đoạn cong sinh lý như bình thường (cong cột sống)
Trong trường hợp bị vẹo cột sống, nếu đỉnh đường cong hướng về bên phải thì cột sống có hình chữ C ngược, nếu đỉnh đường cong hướng về bên
trái thì cột sống có hình chữ C thuận Nếu cột sống có 2 cung uốn cong đối
xứng nhau thì nó sẽ có hình chữ S thuận hoặc chữ S ngược (còn gọi là vẹo cột sống bù trừ)
Trong trường hợp cong cột sống, nếu đoạn cột sống ngực uốn cong quá nhiều về phía sau thì gọi là vai so, nếu cả đoạn ngực và đoạn thắt lưng uốn cong quá mức thì gọi là gù, nếu đoạn cột sống thắt lưng uốn cong quá nhiều
về phía trước thì gọi là ưỡn, nếu độ cong sinh lý của toàn bộ cột sống giảm thì gọi là bẹt Nếu đoạn cột sống thắt lưng mất độ cong sinh lý thì gọi là còng, trường hợp này thường xuất hiện ở những người già
Theo các nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tỷ lệ học sinh bị mắc cong vẹo cột sống khá cao Một số nước đã triển khai những chương trình kiểm soát cong vẹo cột sống trong trường học (như Mỹ, Singapo) Ở Việt Nam, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có nhiều biện pháp nhằm giảm tỷ lệ cong vẹo cột sống trong học sinh Một trong những nội dung của
Dự án mục tiêu về Y tế trường học của Bộ Y tế là phòng chống cong vẹo cột sống trong trường học
1.3.3 2 Tác hại của cong vẹo cột sống
Cong vẹo cột sống mức nhẹ thường ít gây ra những hậu
quả nghiêm trọng Tuy nhiên, nếu không được điều trị sớm,
cong vẹo cột sống có thể tiến triển nặng và gây ảnh hưởng đến
sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống sau này Cong vẹo
Trang 21cột sống là một trong những nguyên nhân gây ra chứng đau lưng; hạn chế vận động của hệ thống cơ xương Trường hợp bệnh nặng có thể gây rối loạn tư thế, dị dạng thân hình, tác động xấu đến tâm lý của trẻ, hạn chế khả năng hòa nhập cộng đồng; ảnh hưởng đến chức năng của tim, phổi (giảm dung tích sống của phổi); gây biến dạng xương chậu, ảnh hưởng đến quá trình sinh đẻ của trẻ em nữ khi trưởng thành
Một số nghiên cứu trên thế giới còn cho thấy, cong vẹo cột sống có thể ảnh hưởng đến tuổi thọ của người bệnh Tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân bị cong vẹo cột sống tăng 100% (2 lần) so với quần thể Nếu chỉ tính riêng vẹo cột sống vùng ngực, tỷ lệ tử vong tăng cao gấp 4 lần, 37% bệnh nhân bị đau lưng, 14% bị các triệu chứng về tim phổi, 37% bị tàn tật với những biến dạng khác
1.3.3.3 Nguyên nhân dẫn đến cong vẹo cột sống
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cong vẹo cột sống, trong đó 90% trường hợp cong vẹo cột sống là không rõ nguyên nhân Các nhà khoa học đã xác định được 1 số nguyên nhân gây cong vẹo cột sống là do bệnh cơ, do bệnh thần kinh, do những bất thường bẩm sinh của đốt sống và cột sống, do loạn dưỡng xương, do chấn thương v.v…
Cong vẹo cột sống ở trường học thường phát sinh do sự sai lệch tư thế đi, đứng, ngồi không đúng tư thế (ngồi học với bàn ghế không phù hợp với chiều cao của học sinh, mang cặp sách quá nặng về một bên tay, vai; chiếu sáng kém, bắt buộc học sinh phải cúi đầu khi đọc, viết hoặc học nghề); do các tư thế xấu; cường độ lao động không thích hợp với lứa tuổi…Ngoài ra, cong vẹo cột sống còn có thể do trẻ mắc các bệnh liên quan đến cột sống, thể trạng học sinh kém do ít hoạt động thể thao, suy dinh dưỡng (còi xương) hoặc do ngồi, đi đứng quá sớm
1.3.3.4 Các biện pháp phòng chống cong vẹo cột sống
Bàn ghế, chiếu sáng nơi học tập, cặp sách các em học sinh mang hàng
Trang 22Đặc biệt ngay từ khi mới đi học (mẫu giáo, tiểu học), thầy cô giáo, gia đình cần nhắc nhở để tạo thói quen ngồi, đi, đứng đúng tư thế cho các em Nếu không tạo thành thói quen đúng ngay từ những ngày đầu đi học sau này rất khó sửa chữa sau này Tư thế sai lệch không chỉ gây ra cong vẹo cột sống mà có thể dẫn đến những rối loạn cơ xương khác và nguy cơ mắc tật cận thị cao
Học sinh không mang cặp quá nặng, trọng lượng cặp sách không nên vượt quá 15% trọng lượng cơ thể Cặp phải có 2 quai, khi sử dụng học sinh đeo đều hai vai, tránh đeo lệch về 1 phía
1.4 GIÁO DỤC TƯ THẾ ĐI CƠ BẢN
1.4.1 Giáo dục tư thế đi cơ bản ở ngoài nước[1]
1.4.1.1 Giáo dục thể chất cho học sinh tiểu học
Giáo dục Nhật Bản có những nét khác biệt so với Việt Nam Nếu ở Việt Nam thực hiện theo mô hình 5-4-3-4 (nghĩa là 5 năm tiểu học, 4 năm trung học cơ sở, 3 năm trung học và 4 năm đại học) thì ở Nhật Bản là 6-3-3-4 Học sinh tiểu học bắt đầu đi học từ lúc 7 tuổi thay vì 6 tuổi như Việt Nam và năm học mới bắt đầu từ tháng tư hàng năm (học sinh sẽ được nghỉ Hè, nghỉ Đông
và nghỉ Xuân)
Hình 1.5: Học sinh tham gia vào Hội khỏe của trường
Trang 23Nhật Bản là nước luôn có những chính sách nhằm cải cách nền giáo dục một cách toàn diện Mỗi thời kỳ đều gắn giáo dục với trách nhiệm của đất nước
Năm 1872 Nhật Bản ban bố, bắt đầu một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử nền giáo dục Nhật Triều đình cho du học sinh sang các nước phương Tây (phần lớn là Anh, Đức, Mỹ), học về hệ thống chính trị, quân sự và kinh tế
ở những nước này Sau khi về cố quốc, những học sinh giỏi nhất trong số đó
sẽ tham gia vào việc giúp vua dựng nước Những điều mới lạ mà các du học sinh được từ nước ngoài sẽ được Thiên Hoàng và các cố vấn phân tích, chọn lọc, áp dụng trong nhiều lĩnh vực Năm 1889, triều đình Minh Trị ban bố sắc lệnh giáo dục
Theo sắc lệnh giáo dục, nền giáo dục mới nhằm đem lại những giá trị tinh thần tiến bộ Bên cạnh đó, cũng trong sắc lệnh này, triều đình khuyến khích nhân dân không được quên nền tảng Nho giáo xưa, tuyên dương tinh thần thượng võ cổ truyền vốn có của người Nhật, nhưng cũng học hỏi văn hoá các nước phương Tây Dưới thời Minh Trị, có lẽ không có một tầng lớp nhân dân nào, thậm chí phụ nữ, không được học hành Không những giáo dục lý luận, triều đình còn chú trọng tới giáo dục kỹ thuật thực nghiệm, giáo dục về
có những trường mẫu giáo, tiểu học, trung học, đại học, hay những cơ sở phục
vụ việc giáo dục được khai trương Thiếu nhi - chủ yếu là những đứa bé từ 6 đến 14 tuổi - đều bị bắt buộc phải học tập Đối với cấp học của họ, triều đình không ngần ngại chịu trách nhiệm chi trả các khoản chi phí
Trang 24Song song với việc đào tạo tri thức và đạo đức Nhật Bản đặc biệt quan tâm tới giáo dục thể chất để thế hệ mầm non tương lai có thể phát triển toàn diện
Hình 1.6: Học sinh Nhật Bản trực nhật sau giờ học
Học sinh Nhật Bản từ tiểu học đã được giáo dục thể chất một cách kỹ lưỡng Việc này vừa tăng cường vận động thể chất, vừa giáo dục kỹ năng sống Sau giờ học, các em dù là học sinh lớp 1, thường được phân công thành từng nhóm để trực nhật Các em sẽ tự lau bàn, lau sàn lớp học, tham gia vệ sinh toàn trường vào ngày quy định Hàng ngày đều có một tiết thể dục Dù trời nắng hay tuyết rơi (trừ những ngày mưa bão, tuyết rơi nhiều), các em đều phải mặc bộ thể thao ra sân tập
Trang 25Hình 1.7: Học sinh Nhật Bản trong giờ ra chơi
Trẻ em Nhật Bản được khuyến khích vận động trong giờ vui chơi, chứ không ngồi tại lớp Điều này giúp các em học sinh rèn luyện thân thể, hướng tới nâng cao thể chất, tính tự lập ngay từ nhỏ, hay nói cách khác ngay từ khi
có ý niệm về cuộc sống
Trẻ nhỏ Nhật Bản được khuyến khích vận động trong giờ vui chơi chứ không ngồi tại lớp học Những giờ nghỉ giải lao giữa các tiết học kéo dài 10 phút tuy nhiên cũng có nhiều trường cho nghỉ đến 20 phút Những ngày giá lạnh, các em học sinh vẫn được tham gia nhiều hoạt động để rèn luyện thân thể, tăng cường sức đề kháng với môi trường Các thầy cô giáo thể dục ở Nhật luôn tổ chức nhiều hoạt động, trò chơi vận động và theo sát các học sinh Phương pháp giáo dục đan xen trong lớp và ngoài thực tế giúp trẻ không
có cảm giác nhàm chán trong giờ học đồng thời giúp trẻ năng động và ham học hỏi hơn
Trang 26Kết quả là học sinh Nhật rất thích tham gia các hoạt động ngoại khóa Đây thực sự là chính sách giáo dục rất tốt, giúp trẻ em được rèn luyện sức khỏe ngay từ khi còn bé để sau này có sức khỏe làm việc, cống hiến cho đất nước Nếu ghé thăm những trường tiểu học hay trung học ở Nhật các bạn sẽ
dễ dàng bắt gặp hình ảnh đội bóng đá mini tại một trường tiểu học ở đất nước mặt trời mọc, học sinh ở đây rất chăm chỉ Nền giáo dục Nhật Bản hướng tới giáo dục thể chất thông qua các trò chơi giúp các em nhỏ phát triển toàn diện
cả về sức khỏe lẫn trí tuệ
Hình 1.8: Đội bóng đá mini tại một trường tiểu học ở "xứ sở mặt trời mọc"
Cả thầy cô lẫn học sinh đều say mê tham gia một lớp dạy nhảy sau giờ học chính khóa Điều này giúp học sinh và thầy cô gần gũi hơn, tạo khả năng chia sẻ và kết nối giữa học sinh và giáo viên Học sinh cũng sẽ có tinh thần học tập và biết phấn đấu hơn, giáo viên cũng nắm bắt được tâm lý của từng học sinh để có cách dạy bảo tốt hơn
Thông qua các hoạt động này, người Nhật luôn muốn nâng cao tinh thần đồng đội và làm việc nhóm, tinh thần làm việc hết mình vì một tập thể hơn là một cá nhân
Trang 27Ở Nhật Bản, mầm non không phải là lò luyện thiên tài hay trí thông minh, cũng không phải là nơi để nhồi nhét học chữ học số sớm Trẻ em đến trường chủ yếu để vui chơi, trải nghiệm và sống trong tập thể
Các nhà giáo dục Nhật Bản cho rằng để trẻ có thể tiếp thu kiến thức tốt,
ở giai đoạn đầu đời trẻ cần một cơ thể khỏe mạnh, sinh hoạt đúng giờ giấc, tâm hồn phong phú, ham học hỏi Việc chơi với chữ số, chữ cái, làm quen với ngoại ngữ, rèn luyện phản xạ của bộ não, rèn luyện vận động cũng là hoạt động quan trọng được lồng ghép trong các trò chơi… nhưng không phải là mục đích chính của trường mẫu giáo
Những năm 80 của thế kỷ XX, kinh tế Nhật Bản đạt được những thành tựu làm cả thế giới kinh ngạc Cùng với việc nghiên cứu phát triển kinh tế và chính trị, giáo dục trở thành điểm nóng không thể bỏ qua Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, ở khắp nơi trên đất nước Nhật Bản, người ta đua nhau bàn tới một vấn đề - đó là "đầu tư giáo dục"
Những đứa bé Nhật ngay từ thơ bé đã được rèn luyện tính chịu đựng trước khó khăn và phải tự lập chủ động trong mọi biến cố có thể xảy ra Tính
tự lực và tự giác luôn được những ông bố bà mẹ Nhật Bản đưa vào phương pháp giáo dục con cái của mình Qua những bài rèn luyện thể chất này, ở Nhật rất ít trẻ em mắc bệnh về đường hô hấp như sổ mũi, viêm họng do thay đổi thời tiết Ở Nhật, trẻ con luôn phải mặc quần soóc vào mùa đông, lạnh không hề hấn gì với chúng Quan điểm của bậc phụ huynh là: “Lý do chúng tôi đưa bọn trẻ tới trường mầm non là để chúng ốm mà!”
Đối với các bậc phu huynh Nhật Bản, ngay từ khi trẻ em từ 2-3 tuổi đã phải bước vào giai đoạn tự lập Một trong những cách thức này như sau: “Trẻ
2 tuổi muốn hoạt động, luôn luôn có nhu cầu vận động chân tay, cơ thể Nếu
đè nén ý muốn này trẻ em sẽ bị ức chế Còn nếu biết phát huy ý muốn này, trẻ
sẽ trở thành người có khả năng vận động rất tốt
Trang 28Vì vậy hãy để trẻ đi bộ thật tốt khi được 2 tuổi Đi bộ coi như bài rèn luyện hàng ngày, cũng là cách để trẻ có đầu óc thông minh hơn Tuy nhiên, nếu chỉ đi bộ trên đường bằng phẳng thì chưa hoàn hảo Phải cho trẻ đi cả đường dốc, gập ghềnh, cầu một thanh, treo bậc thang lên xuống, trẻo bậc, nhảy bậc…”
Hiện nay các bậc phụ huynh Nhật Bản cho rằng: “Chỉ trong vui chơi con người mới có khả năng tìm được niềm vui cũng như hứng thú Khi vui chơi, con người ta không bị câu thúc bởi các lễ nghi hoặc chịu tác động bởi những thói quen tập quán, vì thế người ta đạt được tinh thần vô cùng tự do Vui chơi tuy chưa thể gọi là một hành vi nhiều tính sáng tạo nhưng lại mang tính thể nghiệm lớn Đối với con trẻ, chính vui chơi là môi trường đem lại nhiều sự học hành hơn cả”
Phong cách sống trong tập thể được vun xới thêm ở bậc tiểu học và trung học Ngoài việc học tập các môn học theo chương trình của bộ giáo dục Nhật, các em được khuyến khích gia nhập một hoặc hai câu lạc bộ(CLB) gồm các CLB thể dục thể thao như bơi lội, bóng chày, bóng đá, thể dục thẩm mỹ, quyền anh, Karate, Nhu đạo… và các CLB khác như CLB nói tiếng Anh, tiếng Pháp, CLB cờ tướng Nhật, cờ vây, CLB khiêu vũ, CLB tranh biện Các CLB thể thao này là lò luyện các tuyển thủ quốc gia ở Nhật
Ngay từ những năm ở trường mầm non, trẻ em Nhật Bản đã tham gia các CLB trong đó có CLB TDTT ngay từ hồi mầm non đã giúp người Nhật làm việc có hiệu quả cao hơn vì họ đã quen đặt quyền lợi của tập thể lên trên quyền lợi riêng tư, sẵn sàng hợp tác trong sinh hoạt CLB
Phong cách sống trong tập thể được vun xới thêm ở bậc tiểu học và trung học Ngoài việc học tập các môn học theo chương trình của bộ giáo dục Nhật, các em được khuyến khích gia nhập một hoặc hai câu lạc bộ(CLB) gồm các CLB thể dục thể thao như bơi lội, bóng chày, bóng đá, thể dục thẩm mỹ, quyền Anh, Karate, Nhu đạo… và CLB khiêu vũ, CLB tranh biện Các CLB thể thao này là lò luyện các tuyển thủ quốc gia ở Nhật
Trang 29Ngay từ những năm ở trường mầm non, trẻ em Nhật Bản đã bắt đầu học tập phong cách sống tập thể, biết tôn trọng kỷ luật và pháp luật Việc tham gia các CLB ngay từ hồi mầm non đã giúp người Nhật làm việc có hiệu quả cao hơn vì họ đã quen đặt quyền lợi của tập thể lên trên quyền lợi riêng tư, sẵn sàng hợp tác với đồng liêu, y như họ đã hợp tác với đồng đội trong sinh hoạt CLB xưa kia Và tinh thần đồng đội này đã được hun đúc ngay từ bé và từ những việc nhỏ nhặt nhất
Cách mạng phát triển chiều cao của Nhật Bản
Trong 40 năm, Chính phủ Nhật Bản đã nâng chiều cao trung bình của người dân lên 10cm, đạt mức 172cm với nam và 157cm với nữ
Đối với người Nhật, chiều cao không chỉ phục vụ việc nhìn cho đẹp, mà
nó đại diện cho cả tinh thần, thể diện của quốc gia Từ “Nhật lùn”, được dùng
ở những năm 50 của thế kỷ trước, giờ hầu như biến mất khi Chính phủ đầu tư
và quyết tâm nâng tầm chiều cao trung bình của người dân lên 10cm trong 40 năm, đạt mức 172cm với nam và 157cm với nữ, chỉ thua kém chiều cao trung bình thế giới 5cm Vậy, bí quyết tăng chiều cao của người Nhật là gì?
Trang 30Thứ nhất, họ coi yếu tố con người là trung tâm, đề cao giáo dục Chính phủ đã tuyên truyền và làm cho người dân nhận ra việc chiều cao không chỉ là vấn đề cá nhân, mà là vấn đề liên quan đến tự tôn của cả dân tộc
Thứ hai, áp dụng chế độ dinh dưỡng của phương Tây Kế hoạch “một ly sữa làm mạnh một dân tộc” đã bổ sung vào khẩu phần ăn của giới trẻ Nhật Bản Những nỗ lực của Nhật được thể hiện rõ nhất sau khi thế chiến thứ II kết thúc Mặc dù nền kinh tế kiệt quệ nhưng chính sách cải thiện tầm vóc cho thế
hệ tương lai không ngừng được thực hiện
Thứ ba, Chính phủ Nhật đã khuyến khích những người trí thức nên sinh nhiều con hơn, để có thể lưu truyền những gen tốt cho thế hệ sau
Ở Nhật, phong trào thể thao và các câu lạc bộ thể thao học đường rất mạnh, thanh niên được ăn uống tập luyện đầy đủ Thanh niên Nhật cũng rất thích chơi thể thao và cao ráo, từ 1,7m trở lên, 1,8m cũng không phải quá hiếm Về dinh dưỡng, ngoài sữa, các bà mẹ khi mang thai còn được khuyến khích tăng cường bổ sung canxi để đảm bảo cung cấp đủ canxi cho việc phát triển khung xương của trẻ cũng như phòng ngừa việc thiếu canxi cho bà mẹ Việc dùng thuốc bổ sung canxi này đối với trẻ được tiếp tục kéo dài từ khi ra đời đến lúc chiều cao không còn phát triển nữa, dưới sự theo dõi của bác sĩ Những kiến thức về dinh dưỡng này được phổ biến rất rộng rãi Hầu như bà
mẹ nào cũng biết hoặc được bác sĩ tư vấn
Trẻ con Nhật Bản có thể thoải mái đi lại, vui chơi một mình mà không cần sự giám sát của người lớn Điều này đã trở thành một đặc trưng trong cách nuôi dạy con của họ Ở xứ sở hoa anh đào, bạn có thể dễ dàng nhìn thấy một đám trẻ con đi lon ton trên đường một mình và tự mình làm mọi chuyện Trong bộ đồng phục ngộ nghĩnh đáng yêu, chúng tự đi đến trường học, tự lên tàu điện hoặc bến xe, tự đi mua đồ ăn, tự trả tiền và nhận tiền thừa Trong khi nghiên cứu của Đại học Westminster đã chỉ ra rằng chỉ 25% trẻ em tiểu học phương Tây tự mình đi bộ về nhà thì ở Nhật, con số đó gần như là tuyệt đối Nhiều khi người ta phải nói vui rằng Nhật Bản đang “thả rông" lũ trẻ con ngoài đường, để chúng phải đối mặt với nguy hiểm, nhưng tại sao người Nhật
Trang 31lại mạo hiểm cho con mình tuột khỏi tầm tay như vậy ngay từ lúc bé thì đó lại
là một câu chuyện mang tính đầu tư con người
Hình 1.10: Học sinh Nhật Bản tự mình đi bộ đến trường
Để tránh việc trẻ bị lạc hay lường trước nguy hiểm có thể xảy đến với trẻ, trên mỗi con đường ở Nhật Bản rất dễ có thể tìm thấy những ngôi nhà an toàn dành cho trẻ có gắn bảng Kodomo 110 ban Đây thực chất là những nhà dân phối hợp với chính quyền, trường học và các gia đình trong khu vực để bảo vệ trẻ em khỏi bất cứ nguy hiểm nào Một khi gặp phải người lạ hay có nguy cơ gặp chuyện không lành, trẻ em có thể bấm chuông xin vào nhà có gắn bảng Kodomo 110 ban để được trú ẩn và nhận sự bảo vệ từ người lớn trong nhà Vậy lý do gì để người dân Nhật Bản lại để con mình tự đi khắp thành phố mà không có người lớn hộ tống bên cạnh? Đầu tiên, tỉ lệ tội phạm
Trang 32tại Nhật rất thấp, gần như thấp nhất thế giới Cũng vì thế mà cha mẹ Nhật cũng yên tâm hơn khi để con cái ra ngoài một mình
1.4.1.2 Giáo dục tư thế đi cơ bản (Đi thường)
Ở các nước phát triển trên Thế Giới như Nhật bản, Mỹ người ta rất chú trọng việc giáo dục đi cơ bản cho học sinh tiểu học
Tài liệu hướng dẫn đi cơ bản (Nhật Bản) [1]
Hình 1.11: Tư thế đi cơ bản
Theo nguyên cứu mới nhất của Trường Đại học Colorado (Mỹ) vừa được công bố năm 2012 về kỹ thuật đi bộ
Hình 1.12: Kỹ thuật đi bộ [3]
Trang 33Hình 1.13: Cách đặt bàn chân [3]
Kỹ thuật đi bộ
Đi bộ đúng cách là tạo bước đi thật tự nhiên sao cho mặt lòng bàn chân không va chạm mạnh xuống mặt đất Đầu tiên gót chân đặt xuống đất trước rồi mới đến ngón chân cái Người tiến về trước theo phương ngang do khi một chân bước tới thì chân kia mới chuẩn bị rời khỏi mặt đất, luôn luôn có một chân bám đất giữ cân bằng trọng tâm cơ thể ở giữa
Không nên vung chân, vung tay quá mạnh
Nhiều người cho rằng vung tay thoải mái giúp họ đi bộ được nhanh hơn
và nhiều hơn nhưng như thế là phản khoa học Nếu bạn vung tay quá mạnh cả
về phía trước và phía sau, chân sải dài làm bạn tiêu hao năng lượng nhanh chóng dẫn đến bị mệt mỏi làm bạn phải dừng cuộc đi bộ lại trước dự kiến Không những thế, việc vung tay chân mạnh này còn làm bạn bị đau khớp vai, khớp chân khiến bạn phải nghỉ tập Điều này thật không tốt chút nào
Không nên ngẩng đầu quá cao hoặc cúi quá thấp
Nhiều người sau khi đi bộ thường kêu là họ bị đau hay mỏi cổ, mỏi gáy Nguyên nhân cơ bản là khi đi bộ họ đã cúi đầu quá thấp hoặc ngẩng đầu quá cao Tốt nhất nên đảm bảo đầu và vai luôn ở tư thế thư giãn nhất
Không mang đồ trên tay
Trong quá trình đi bộ, nếu tay phải thường xuyên cầm thứ gì sẽ ảnh hưởng đến tư thế đi bộ Một vài nghiên cứu cho thấy nếu tay bạn thường
Trang 341.4.2 Giáo dục tư thế đi cơ bản ở Việt Nam
1.4.2.1 Trong nhà trường
- Học sinh tiểu học trong nhà trường được hướng dẫn đi đều
- Học sinh tiểu học trong nhà trường được hướng dẫn về đi cơ bản (đi thường)Tài liệu sách giáo khoa thể dục ở cấp tiểu học NXBGD, 2004, Phần nội dung hướng dẫn đi cơ bản còn thiếu và không được nhấn mạnh trong chương trình
- Giáo viên kiêm nhiệm và giáo viên thể dục ở các trường tiểu học chưa nắm rõ kỹ thuật đi cơ bản Ngay cả trong chương trình đào tạo giáo viên dạy thể dục cũng chưa đề cập đến vấn đề đi cơ bản
Nội dung chương trình sách giáo khoa thể dục ở cấp tiểu học:
A Chương trình thể dục ở lớp 1[7]
Mục tiêu, yêu cầu của chương trình thể dục ở lớp 1
a, Mục tiêu: chương trình học Thể dục ở lớp 1 giúp cho học sinh biết được một số kiến thức, kỹ năng sơ đẳng nhất để để vui chơi và tập luyện, giữ gìn sức khỏe; làm quen một số quy định về nền nếp kỷ luật, tác phong trong giờ học thể dục; biết vận dụng nhất định những điều đã học khi sinh hoạt ở trường và tự chơi, tự tập hằng ngày
b, Yêu cầu
- Về kiến thức: biết cách thực hiện một số kĩ năng đội hình đội ngũ, thể dục rèn luyện tư thế cơ bản, bài thể dục phát triển chung và một số trò chơi vận động; biết tự tập dưới dạng tự chơi ở mức nhất định
- Về kỹ năng: thực hiện được kĩ năng đội hình đội ngũ, thể dục rèn luyện tư thế cơ bản, bài thể dục phát triển chung ở mức cơ bản đúng; biết tham gia vào các trò chơi ở mức tương đối chủ động
c, Thái độ, hành vi: tích cực học giờ thể dục và tham gia các hoạt động TDTT; có hành vi đúng đối với bạn trong học tập và khi chơi trò chơi
Trang 35Nội dung chương trình thể dục ở lớp 1
a, Nội dung đội hình đội ngũ
- Yêu cầu về học đội hình đội ngũ
- Nội dung đội hình đội ngũ
- Phương pháp giảng dạy đội hình đội ngũ
b, Nội dung rèn luyện tư thế cơ bản
- Yêu cầu: biết các tư thế đứng cơ bản; thực hiện được các động tác tương đối chính xác và hoàn thiện động tác; biết vận dụng để tự tập ngoài giờ nhằm rèn luyện tư thế và sức khỏe
c, Bài thể dục phát triển chung
- Yêu cầu về bài thể dục phát triển chung
- Nội dung bài thể dục phát triển chung
- Phương pháp giảng dạy bài thể dục phát triển chung
d, Trò chơi vận động
- Yêu cầu về trò chơi vận động
- Nội dung trò chơi vận động
- Phương pháp giảng dạy trò chơi vận động
Quy định chương trình dạy thể dục ở lớp 1
- Học đội hình đội ngũ: 6 tiết
- Học thể dục rèn luyện tư thế và kĩ năng vận động cơ bản: 6 tiết
- Bài thể dục phát triển chung: 8 tiết
- Trò chơi vân động: 15 tiết
Tổng cộng: 35 tiết
B Chương trình thể dục ở lớp 2[8]
Mục tiêu, yêu cầu của chương trình thể dục ở lớp 2
a, Mục tiêu: từ nền tảng của chương trình thể dục lớp 1, chương trình học Thể dục ở lớp 2 giúp cho học sinh rèn luyện các kĩ năng vận động cơ bản
Trang 36động với các bài tập tương đối phức tạp; biết được một số kiến thức, kĩ năng
để tập luyện giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực; rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, kỷ luật, thói quen tự giác tập luyện TDTT, giữ gìn vệ sinh và nếp sống lành mạnh; biết vận dụng ở mức nhất định những điều đã học vào nếp sinh hoạt ở trường và ngoài trường
- Về kỹ năng: thực hiện tương đối chính xác, chủ động một số kĩ năng
và trò chới vận động đã học ở lớp 1; thực hiện tương đối những kĩ năng và trò chơi mới học ở lớp 2
c, Thái độ, hành vi: tích cực học giờ thể dục và tham gia các hoạt động TDTT; có hành vi đúng đối với bạn trong học tập và khi chơi trò chơi; có tác phong nhanh nhẹn, kỉ luật
Nội dung chương trình thể dục ở lớp 2
a, Nội dung đội hình đội ngũ
- Yêu cầu về học đội hình đội ngũ
- Nội dung đội hình đội ngũ
- Phương pháp giảng dạy đội hình đội ngũ
b, Bài thể dục phát triển chung
- Yêu cầu về bài thể dục phát triển chung
- Nội dung bài thể dục phát triển chung
- Phương pháp giảng dạy bài thể dục phát triển chung
c, Bài tập rèn luyện tư thế và kĩ năng vận động cơ bản
- Nội dung rèn luyện tư thế và kĩ năng vận động cơ bản
Trang 37+ Ôn tập một số nội dung đã học ở lớp 1
Đứng đưa hai tay ra trước( dang ngang, lên cao chếch chữ V)
Đứng kiễng gót, hai tay chống hông (dang ngang)
Đứng đưa một chân ra trước (sang ngang, ra sau)
Đứng hai chân rộng bằng vai (hai bàn chân thẳng hướng phía trước), hai tay đưa ra trước (dang ngang, chếch chữ V)
+ Nội dung mới
* Đi theo vạch kẻ thẳng, hai tay chống hông
TTCB: Đứng chân trước vạch xuất phát, chân sau kiễng gót, hai tay chống hông (hai ngón cái hướng ra sau lưng), kiễng gót, hai tay buông tự nhiên
Động tác: Khi có lệnh, đi thường theo vạch kẻ thẳng (hai tay chống hông) đến đích Khi đi thân người thẳng, mắt nhìn cách chân 3-4m (cách đặt bàn chân như đi thường theo vạch kẻ thẳng)
* Đi theo vạch kẻ thẳng, hai tay dang ngang
Trang 38Động tác: Tương tự như trên, nhưng đi ở tư thế hai tay dang ngang
* Đi kiễng gót, hai tay chống hông
TTCB: Đứng chân trước vạch xuất phát,hai chân kiễng gót, hai tay chống hông (hai ngón cái hướng ra sau lưng)
Động tác: Khi có lệnh, đi thường theo vạch kẻ thẳng (gót chân không được chạm đất cố gắng giữ thăng bằng) đến đích
* Đi nhanh chuyển sang chạy
TTCB: Đứng chân trước vạch xuất phát, chân sau kiễng gót, thân người hơi ngả ra trước, hai tay buông tự nhiên hoặc hơi co
Động tác: Khi có lệnh, đi tăng tốc độ khoảng 4-5m rồi chuyển sang chạy khoảng 10-15m Khi chạy không đặt gót bàn chân chạm đất mà đặt nửa trên của bàn chân chạm đất một cách nhẹ nhàng, thẳng với hướng chạy, hai tay phối hợp tự nhiên Sau khi qua đích giảm tốc độ, sau đi thường theo một hàng dọc về tập hợp ở cuối hàng
Hình 1.15: Đi nhanh chuyển sang chạy
- Phương pháp giảng dạy
Khi giảng dạy cho HS các bài tập rèn luyện tư thế cơ bản, GV cần chú
ý thực hiện:
+ Nêu tên động tác
+ Làm mẫu kết hợp với giải thích động tác (khi dạy động tác mới)
+ GV làm mẫu cho học sinh tập theo: từng thao tác lẻ, toàn bộ động tác với nhịp độ chậm sau đó tăng dần đến nhịp độ cần thiết Xen kẽ giữa các lần tập, GV nhận xét them sao cho HS biết cách thực hiện động tác
Trang 39+ Chia tổ tập luyện, GV giúp đỡ
+ Cho một số HS hoặc từng tổ lên trình diễn báo cáo kết quả tập luyện,
Gv cùng với HS khác quan sát, nhận xét
+ Có thể tổ chức tập luyện dưới dạng trò chơi hoặc thi đua xem tổ nào thực hiện động tác đúng và nhanh trong mỗi lần tập một cách sinh động, vui, nhẹ nhàng
Khi cho HS thực hiện động tác, GV cần có lệnh, ví dụ “Hàng thứ nhất… bắt đầu!” hoặc “Động tác đi kiễng gót hai tay chống hông… bắt đầu!” hoặc thổi còi v.v… để HS đồng loạt bắt đầu thực hiện động tác, như vậy sẽ có
kỉ luật và đảm bảo an toàn Tuy nhiên không để hang thứ nhất tập xong mới cho hàng thứ hai bắt đầu (trừ bài tập đi nhanh chuyển sang chạy), khi hàng thứ nhất đi được khoảng 5-6m, có thể cho hàng thứ hai xuất phát (theo lệnh) liên tục như vậy HS đỡ phải chờ lâu GV có thể sử dụng cán sự điều khiển, để
có điều kiện uốn nắn động tác cho HS
- Một số sai thường mắc và cách sửa
+ Sai:
+ Khi đi và chạy, đặt bàn chân không thẳng hướng
+Khi chạy, chân chạm đất bằng gót bàn chân
Khi thực hiện các động tác đi, thường cúi hoặc quay đầu sang bên, động tác gò bó thiếu tự nhiên
Không giữ được thằng bằng
Trang 40 Tập các động tác với tốc độ chậm đến khi các em thực hiện đúng động tác mới cho tập với tốc độ cao hơn
Tập nhiều lần tư thế của tay, tư thế của chân, sau đó tập kết hợp (tại chỗ, di chuyển) triển chung
d, Trò chơi vận động
- Yêu cầu về trò chơi vận động
- Nội dung trò chơi vận động
- Phương pháp giảng dạy trò chơi vận động
Một số chú ý khi sử dụng sách
- Một tiết dạy thể dục là 35 phút và có thể chia thời gian cho từng phần như: Mở đầu 7-10 phút; phần cơ bản từ 18-20 phút; phần kết thúc từ 5-6 phút Qua khảo sát chương trình dạy thể dục cho học sinh tiểu học cho thấy:
- Nội dung chương trình môn giáo dục thể chất cho tiểu học đầy đủ; từ sách giáo khoa, phân phối chương trình từ lớp 1 đến lớp 5 đến hồ sơ giáo án giảng dạy nhìn chung là đầy đủ Tuy nhiên phần nội dung dạy về tư thế đi thường cho học sinh được thực hiện ở lớp 2, phần nội dung này rất sơ qua không hướng dẫn một cách cụ thể để người học năm được kiến thức đi cho đúng Bài tập đi thường chỉ có trong lớp 2 còn các lớp khác không có
- Về hình thành thói quen đi cơ bản cần trang bị sớm ở lớp 1 và nội dung bài tập phải cụ thể để học sinh dễ tập và hình thành thói quen Bên cạnh đó cần có bài kiểm tra tư thế đi cơ bản cho học sinh để uốn nắn, sửa chữa sai phạm để học sinh đi đúng