Công ước số 95 về Bảo vệ tiền lương năm 1949, tổ chức ILO cũng đưa ra quan điểm của mình về tiền lương1: “Tiền lương là sự trả công và sự thu nhập, bất luận tên gọi, cách tính thế nào, m
Trang 1i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 2ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
HOÀNG THỊ HÒA NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 838 01 07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN BÌNH
HÀ NỘI – 2020
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi là: Hoàng Thị Hòa, học viên lớp ….… khóa 2018 - 2010
Tôi xin cam đoan đây là công trình độc lập của riêng tôi mà không sao chép từ bất kỳ nguồn tài liệu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu sử dụng phân tích trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, có xác nhận của cơ quan cung cấp số liệu Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi được thực hiện một cách khoa học, trung thực, khách quan.Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của các nguồn số liệu cũng như các thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hoàng Thị Hòa
Trang 4
iv
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình và quý báu của TS Nguyễn Văn Bình Nhân dịp này, tác giả xin gửi lời cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Mở Hà Nội, khoa Luật, phòng Đào tạo và Khoa sau Đại học của nhà trường cùng các giảng viên, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong quá trình học tập
Do thời gian có hạn, luận văn của tôi khó tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các Thầy/Cô và quý độc giả
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội,ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hòa
Trang 5v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 6
1.1 Khái quát chung về tiền lương 6
1.1.1 Khái niệm về tiền lương 6
1.1.2 Bản chất của tiền lương 9
1.1.3 Chức năng của tiền lương 10
1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp 12
1.2.1 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về tiền lương 13
1.2.2 Nội dung pháp luật về tiền lương doanh nghiệp 15
1.2.3 Vai trò pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp 21
1.3 Pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm với Việt Nam 23
1.3.1 Pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp một số quốc gia trên thế giới 23
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN 34
2.1 Thực trạng pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp 34
2.1.1 Quy định về tiền lương tối thiểu 34
2.1.2 Quy định về thang lương, bảng lương 39
2.1.3 Phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác 42
2.1.4 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong lĩnh vực tiền lương 44
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật tiền lương tại các doanh nghiệp ở tỉnh Điện Biên 50
2.2.1 Tình hình lao động, việc làm và hoạt động của các DN tỉnh Điện Biên 50
2.2.2 Những kết quả đạt được 54
2.2.3 Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong lĩnh vực trả lương 60
2.3 Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn thực hiện pháp luật về tiền lương tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Điện Biên và nguyên nhân 60
Trang 6vi
2.3.1 Những tồn tại, hạn chế 60
2.3.2 Nguyên nhân 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN CÁC DOANH NGHIỆP Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN 65
3.1 Yêu cầu hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật lao động về tiền lương trong doanh nghiệp 65
3.1.1 Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật lao động về tiền lương trong doanh nghiệp phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập 65 3.1.2 Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật lao động về tiền lương trong doanh nghiệp phải kết hợp hài hòa giữa lợi ích của người sử dụng lao động và người lao động 66
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật lao động về tiền lương phải đảm bảo tối đa quyền tự do thỏa thuận về tiền lương trên cơ sở quy định của pháp luật 66
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật tiền lương trong doanh nghiệp hiện nay 67
3.2.1 Về kết cấu tiền lương và lương tối thiểu 67
3.2.2 Về thang lương, bảng lương, định mức lao động 69
3.2.3 Về chế độ phụ cấp, trợ cấp 70
3.2.4 Về chế độ tiền thưởng 71
3.2.5 Về cơ chế quản lý tiền lương của Nhà nước 72
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật tiền lương tại doanh nghiệp ở tỉnh Điện Biên 74
3.2.1 Nâng cao trách nhiệm của cơ quan hữu quan trong xây dựng, thi hành và áp dụng chính sách tiền lương trong doanh nghiệp 74
3.2.2 Nâng cao trình độ, năng lực, tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ làm công tác lao động – tiền lương 76
3.2.3 Tăng cường giáo dục ý thức, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho người lao động về tiền lương 76
3.3.4 Nâng cao năng lực cho cán bộ công đoàn trong việc tham gia xây dựng và hoàn thiện quy chế trả lương 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói riêng tiền lương luôn là vấn đề được người lao động và người
sử dụng lao động quan tâm hàng đầu Tiền lương có vai trò quan trọng đối với người lao động, là nguồn thu nhập, nguồn sống chủ yếu và điều kiện để người lao động tái sản xuất sức lao động mà họ đã hao phí Còn đối với người sử dụng lao động là các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh vấn đề ưu tiên cao nhất đó là tối đa hóa lợi nhuận, bên cạnh đó áp lực cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh là rất lớn vì vậy tiền lương là giá cả sức lao động có tính cạnh tranh cao, vì tiền lương là đầu vào của chi phí sản xuất được hạch toán trong giá thành sản xuất
Chính sách tiền lương doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản của nền kinh tế, vận hành theo cơ chế thị trường và trong thị trường này, tiền lương, tiền công là giá cả của loại hàng hoá đặc biệt, hàng hoá sức lao động Do vậy, mối quan hệ tương quan giữa giá cả với hàng hoá cùng các quan hệ cung, cầu, cạnh tranh, sự vận động của thị trường hàng hoá sức lao động luôn là mối quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt là chính sách về lao động, việc làm và tiền lương Pháp luật về tiền lương ở nước ta có lịch sử phát triển lâu đời, từ văn bản đầu tiên quy định
về tiền lương vào năm 1946 đến nay Với hơn 60 năm hình thành và phát triển, chế độ tiền lương ở nước ta đã có sự thay đổi đáng kể, trải qua nhiều lần thay đổi, điều chỉnh những quy định, quy tắc về thang lương, bảng lương, bậc lương
Tiền lương là công cụ pháp lý bảo vệ người lao động, bảo vệ quyền lợi công bằng cho người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động; tiền lương
là công cụ để Nhà nước thực hiện điều tiết thu nhập dân cư và bảo đảm công bằng xã hội; tiền lương cũng là cơ sở để các bên thỏa thuận khi giao kết hợp đồng, đồng thời cũng là cơ sở để giải quyết tranh chấp lao động giữa các bên; tiền lương là công cụ và là đòn bẩy tích cực đóng góp vào thu lợi nhuận của doanh nghiệp, là một nguồn thu quan trọng đối với GDP của Nhà nước; tiền lương là công cụ để kích thích người lao động và tích lũy của cải
Trang 82
Chế độ tiền lương được tỉnh Điện Biên áp dụng tương đối đồng bộ và đạt được những kết quả bước đầu khả quan Tiền lương thực sự là một chính sách kinh tế, xã hội quan trọng góp phần thúc đẩy và nâng cao đời sống của người lao động, mang lại những nguồn lợi kinh tế rất lớn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, hệ thống tiền lương nói chung và hệ thống tiền lương trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói riêng vẫn còn một số hạn chế nhất định, việc áp dụng trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn, vẫn còn khoảng cách giữa văn bản pháp luật và thực tế áp dụng Quá trình thực hiện chính sách tiền lương còn nhiều bất cập
Vì vậy, tôi chọn đề tài “Pháp luật về tiền lương và thực tiễn thực hiện tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Điện Biên”, nhằm tìm hiểu các quy
định của pháp luật về tiền lương trong các doanh nghiệp, đánh giá thực tiễn áp dụng tại tỉnh Điện Biên trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về tiền lương trên địa bàn tỉnh Điện Biên
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về tiền lương, phân tích dưới góc độ kinh tế và đi sâu vào những hoạt động quản lý kinh tế Nhà nước về tiền lương, một vài đề tài nghiên cứu hệ thống pháp luật về tiền lương cũng như các hoạt động liên quan tới việc bảo vệ quyền lợi cho người lao động điển hình như:
- Đề tài Nghiên cứu khoa học “Quyền con người trong pháp luật lao động Việt nam”, chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Lê Thị Hoài Thu - Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015;
- Luận án Tiến sĩ kinh tế năm 2011, “Nghiên cứu tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn Hà Nội” của Vũ Hồng
Trang 9Cùng một số bài viết khác như: “Quyền được bảo đảm thu nhập và đời sống của người lao động trong pháp luật lao động Việt Nam” của TS Phạm Thị Thuý Nga (2011); “Đánh giá tác động của lương tối thiểu đến nhu cầu lao động ở doanh nghiệp tại Việt Nam" của tác giả Nguyễn Việt Cường (2012);
“Nghiên cứu mức lương tối thiểu theo giờ” của đồng các tác giả Nguyễn
Huyền Lê, Nguyễn Thị Hương Hiền và Trần Thị Diệu (2012)
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích tổng quát
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề khái quát chung pháp luật tiền lương trong doanh nghiệp, đồng thời nghiên cứu, đánh giá thực trạng và phân tích nguyên nhân của thực trạng áp dụng pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Điện Biên để từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh và đảm bảo thực hiện pháp luật về tiền lương doanh nghiệp ở tỉnh Điện Biên nói riêng và cả nước nói chung
3.2 Mục đích cụ thể
Để đạt được mục tiêu tổng quát nói trên, đề tài đặt ra các mục tiêu
nghiên cứu cụ thể như sau:
Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề có tính khái quát chung về pháp
luật tiền lương doanh nghiệp như khái niệm, bản chất, chức năng tiền lương trong doanh nghiệp; Nguyên tắc, nội dung pháp luật điều chỉnh tiền lương doanh nghiệp; Pháp luật tiền lương doanh nghiệp một số nước và kinh
nghiệm cho Việt Nam…
Thứ hai, nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc thực hiện pháp luật
tiền lương doanh nghiệp: Tiền lương tối thiểu; Thang, bảng lương; Trợ cấp,
Trang 104
phụ cấp, tiền thưởng; Quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ tiền lương; Quản lý nhà nước về tiền lương
Thứ ba, trên cơ sở đánh giá thực trạng việc thực thi pháp luật về tiền
lương doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Điện Biên, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về tiền lương
ở tỉnh Điện Biên nói riêng và cả nước nói chung
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn cần phải giải quyết
các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Phân tích một số vấn đề lý luận về tiền lương trong các doanh nghiệp cũng như các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về tiền lương trong các doanh nghiệp
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về tiền lương các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Điện Biên
- Đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và tiếp tục nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về tiền lương của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Điện Biên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các văn bản pháp luật về tiền lương trong các doanh nghiệp như Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn; luận văn cũng nghiên cứu về thực tiễn thực hiện pháp luật về tiền lương tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong những năm gần đây
4.2 Về phạm vi nghiên cứu
Tiền lương trong các doanh nghiệp là vấn đề có thể được nghiên cứu dưới góc độ khác nhau Trong luận văn này tác giả nghiên cứu tiền lương dưới góc độ luật học và chủ yếu nghiên cứu ở các nội dung như lương tối thiểu, các bộ phận cấu thành tiền lương, quyền và nghĩa vụ của các bên trong lĩnh vực trả lương…Các nội dung như xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp về tiền lương không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 115
Để hoàn thành khóa luận này, luận văn tập trung sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với các phương pháp diễn dịch và phân tích để làm rõ nội dung nghiên cứu:
Phương pháp phân tích: Đây là phương pháp chủ đạo, được sử dụng ở
cả 3 chương nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, đánh giá tính hiệu quả cũng như chỉ rõ những bất cập còn tồn tại trong quy định của pháp luật hiện hành về tiền lương Việc phân tích đánh giá hiệu quả các quy định này được gắn liền với thực tiễn thực hiện pháp luật ở chương 2 và đưa ra kiến nghị ở chương 3 Phương pháp so sánh: Tác giả đã so sánh các yếu tố đặc thù của pháp luật tiền lương với các lĩnh vực pháp luật khác, từ đó rút ra những nhận xét khách quan cho việc xây dựng, áp dụng pháp luật tiền lương trong các doanh nghiệp
Phương pháp trao đổi: Được sử dụng khi gặp gỡ các nhà doanh nghiệp, các cán bộ chuyên trách, quản lý, những người trực tiếp vận dụng quy phạm pháp luật về tiền lương trong hoạt động quản lý doanh nghiệp, các chuyên viên được giao nhiệm vụ xây dựng đề án cải cách tiền lương để tìm hiểu quá trình xây dựng, áp dụng pháp luật và tiếp thu những kinh nghiệm cũng như những bài học thực tiễn về vấn đề tiền lương trong các doanh nghiệp
Ngoài các phương pháp trên trong quá trình nghiên cứu tác giả còn sử dụng phương pháp so sánh, quy nạp, tổng hợp, thống kê để tìm ra những nguyên nhân của vấn đề và các giải pháp thích hợp khắc phục được những hạn chế, từ đó đưa ra những kết luận trong quá trình thực hiện
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương
Chương 1: Khái quát chung về tiền lương và pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp và thực tiễn thi hành trong các doanh nghiệp ở tỉnh Điện Biên
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật lao động về tiền lương trong doanh nghiệp ở Việt Nam từ thực tiễn các doanh nghiệp ở tỉnh Điện Biên
Trang 126
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ TIỀN
LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát chung về tiền lương
1.1.1 Khái niệm về tiền lương
Tiền lương không chỉ là một phạm trù kinh tế mà còn là yếu tố hàng đầu của các chính sách xã hội liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội Để có thể tiến hành sản xuất cần có sự kết hợp của hai yếu tố cơ bản là lao động và vốn Vốn thuộc quyền sở hữu của một bộ phận dân cư trong xã hội, còn một
bộ phận dân cư khác do không có vốn chỉ có sức lao động họ phải đi làm thuê cho những người có vốn, đổi lại họ nhận được một khoản tiền gọi là tiền lương
Nếu như lao động là một phạm trù vĩnh viễn thì tiền lương là một phạm trù lịch sử, ra đời và tồn tại phát triển trong nền kinh tế hàng hóa Hiện nay tồn tại khá nhiều định nghĩa về tiền lương Tiền lương được hiểu là giá cả sức lao động, nó là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động Xét trong mối quan hệ lao động thì tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động
Tiền lương có vai trò rất lớn đối với toàn xã hội, nó luôn gắn với người lao động và là nguồn sống chủ yếu của người lao động cũng như gia đình họ Tiền lương là thước đo giá trị sức lao động của người lao động đồng thời cũng là công cụ, phương tiện cho người sử dụng lao động dùng để kích thích người lao động nâng cao năng lực làm việc của mình, phát huy khả năng thúc đẩy phát triển kinh tế Có thể xem xét khái niệm tiền lương dưới nhiều góc
Trang 137
Như vậy, hiện nay tiền lương không chỉ thuộc phạm trù phân phối mà còn thuộc phạm trù giá trị, phạm trù trao đổi “Tiền công là giá cả của một hàng hóa nhất định của sức lao động Cho nên tiền công cũng được quyết định bởi những quy luật giá cả của tất cả mọi hàng hóa khác”, đó là quy luật giá trị, cung cầu và cạnh tranh Tiền lương cũng sẽ khi lên khi xuống, tùy theo tương quan giữa cung cầu, tùy theo cạnh tranh được hình thành như thế nào giữa người mua sức lao động và người bán sức lao động
Về mặt kinh tế có thể hiểu tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và do người sử dụng lao động trả cho người lao động
- Dưới góc độ xã hội:
Tiền lương là mục đích và động cơ chủ yếu để người lao động tham gia vào quan hệ lao động Cùng với đó, tiền lương là sự thống nhất, ổn định của quan hệ lao động đảm bảo cuộc sống ổn định cho người lao động
- Dưới góc độ pháp lý:
Tiền lương thể hiện sự tương quan giữa người lao động và người sử dụng lao động Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận theo hợp đồng lao động trên cơ sở năng suất lao động, chất lượng là hiệu quả công việc
Tiền lương biểu hiện ở hai khía cạnh cơ bản là tiền lương danh nghĩa
và tiền lương thực tế:
+ Tiền lương danh nghĩa: là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc trong quá trình làm việc
+ Tiền lương thực tế: là số lượng hàng hóa tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền lương danh nghĩa của họ
Như vậy tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào số tiền lương danh nghĩa mà còn phụ thuộc vào giá cả của các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại
Trang 14Công ước số 95 về Bảo vệ tiền lương năm 1949, tổ chức ILO cũng đưa
ra quan điểm của mình về tiền lương1: “Tiền lương là sự trả công và sự thu nhập, bất luận tên gọi, cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt
và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động viết hay bằng miệng, cho một công việc đã được thực hiện hay sẽ phải làm”
Pháp luật lao động hiện hành của nước ta thừa nhận quyền tự do thỏa thuận về tiền lương của người sử dụng lao động và người lao động Khoản 1
Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về tiền lương: “Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định”
Định nghĩa trên đã bao quát tiền lương với các bộ phận cấu thành cơ bản của nó, bao gồm: Lương cơ bản (lương chính), phu cấp lương và tiền thưởng Trong đó, lương cơ bản là phần tính đủ số lượng, chất lượng lao động đạt được trong điều kiện lao động trung bình Phụ cấp lương là khoản bổ sung cho lương cơ bản, bù đắp cho người lao động phải làm việc trong điều kiện lao động không bình thường hoặc phải thực hiện các công việc yêu cầu trách nhiệm cao hơn mức bình thường Tiền thương là phần trả cho những yếu tố
1 Điều 1, Công ước số 95 về Bảo vệ tiền lương năm 1949
Trang 151.1.2 Bản chất của tiền lương
Trong tất cả mọi hình thái kinh tế xã hội, con người luôn đóng vai trò trung tâm chi phối quyết định mọi quá trình sản xuất kinh doanh Để sản xuất
ra của cải vật chất, con người phải hao phí sức lao động Để có thể tái sản xuất và duy trì sức lao động đó, người lao động sẽ nhận được những khoản bù đắp được biểu hiện dưới dạng tiền lương Tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động
Dưới góc độ kinh tế: Tiền lương được hình thành trên cơ sở của sự thỏa thuận trao đổi hàng hóa sức lao động giữa người lao động cung cấp sức lao động của mình trong một khoảng thời gian nào đó và sẽ nhận được một khoản tiền lương thỏa thuận từ người sử dụng lao động ở chừng mực nào đó
Dưới góc độ pháp lí: Tiền lương thể hiện qua tương quan pháp lí giữa người sử dụng lao động và người lao động Tiền lương là khoản tiền mà người lao động có quyền hưởng thụ khi đã thực hiện các nghĩa vụ lao động của mình trên cơ sở pháp luật và sự thỏa thuận hợp pháp giữa hai bên Ngược lại, tiền lương chính là nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với người lao động trong mối quan hệ này Mục đích này tạo động lực để phát triển doanh nghiệp và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật và khả năng lao động của người lao động
Như vậy bản chất của tiền lương chính là giá cả sức lao động, được xác định dựa trên cơ sở giá trị của sức lao động đã hao phí để sản xuất ra của cải vật chất, được người lao động và người sử dụng lao động thoả thuận với nhau
2 Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2018, tr353
Trang 1610
1.1.3 Chức năng của tiền lương
Thứ nhất, chức năng thước đo giá trị sức lao động
Tiền lương biểu hiện giá cả sức lao động, có nghĩa là nó là thước đo để xác định mức tiền lương đối với mỗi loại lao động, là căn cứ để thuê mướn lao động, là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm
Giá trị của việc làm được phản ánh thông qua tiền lương, nếu việc làm
có giá trị càng cao thì mức lương càng lớn Những tiêu chuẩn để đánh giá việc làm là: tính chất kỹ thuật của việc làm; tính chất kinh tế của việc làm; các yếu
tố về năng lực phẩm chất của người lao động
Đồng thời, tiền lương cũng là căn cứ để người sử dụng lao động thuê mướn lao động, tạo ra sự linh hoạt trong việc thuê mướn lao động, với những công việc khác nhau và có mức lương khác nhau Chức năng thước đo giá trị sức lao động được phản ánh thông qua thang lương, bảng lương, bậc lương và
hệ số lương
Giá trị sức lao động được đo bằng giá trị các tư liệu sinh hoạt phục vụ cho cuộc sống của người lao động trước, trong và sau quá trình lao động, trong đó bao gồm giá trị của những chi phí cần thiết cho việc học hành, nâng cao trình độ của của người lao động Ở mỗi người lao động giá trị sức lao động không giống nhau Điều này dẫn đến mức lương cho người lao động có thể khác nhau, đặc biệt là ở những công việc, ngành, nghề điều kiện lao động khác nhau Với tư cách là thước đo giá trị sức lao động một mặt tiền lương phải bù đắp hao phí sức lao động của người lao động trong quá trình lao động, mặt khác phải tính toán đầy đủ các yếu tố về sinh học, kinh tế - xã hội nhằm
bù đắp đảm bảo cho đời sống của người lao động quá trình lao động3
Thứ hai, chức năng tái sản xuất sức lao động, duy trì và phát triển lao
động
Theo C.Mác, tiền lương là biểu hiện giá trị sức lao động, đó là giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của người có sức lao động theo điều kiện kinh tế - xã hội và trình độ văn minh của nhân loại Giá trị sức lao động bao gồm cả yếu tố lịch sử, vật chất và tinh thần Chưa hết, để duy trì và phát triển sức lao động thì người lao động còn phải sinh con
3 Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2018, tr359-360
Trang 1711
(như sức lao động tiềm tàng), như nuôi dưỡng chúng, cho nên những tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất ra sức lao động phải bao gồm cả những tư liệu sinh hoạt cho con cái họ
Theo đó, thu nhập của người lao động dưới hình thức tiền lương được
sử dụng một phần đáng kể vào việc tái sản xuất sức lao động giản đơn, mà họ
đã bỏ ra trong quá trình lao động nhằm mục đích duy trì năng lực làm việc lâu dài và có hiệu quả trong quá trình lao động Tiền lương của người lao động là nguồn sống chủ yếu không chỉ của người lao động, mà còn phải đảm bảo cuộc sống của các thành viên trong gia đình họ Như vậy, tiền lương cần phải bảo đảm cho nhu cầu tái sản xuất mở rộng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động và nâng cao chất lượng lao động Thực hiện tốt chức năng này của tiền lương giúp doanh nghiệp có nguồn lao động ổn định đạt năng suất cao Đây là chức năng cơ bản của tiền lương vì người lao động sau quá trình sử dụng sức lao động tạo ra của cải, vật chất thì họ phải được bù đắp hao phí sức lao động
đã bỏ ra, họ cần có thu nhập bằng tiền lương cộng với các khoản phụ khác (mà tiền lương là chủ yếu) Do vậy, tiền lương là cơ sở giúp người lao động
bù đắp lại sức lao động đã hao phí để họ có thể duy trì tiếp tục lao động trong quá trình sản xuất, kinh doanh
Thứ ba, chức năng kích thích và tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực
Tiền lương là bộ phận thu nhập của chính người lao động nhằm thỏa mãn phần lớn các nhu cầu vật chất và tinh thần của người lao động Do vậy, trả lương một cách hợp lý và khoa học sẽ là đòn bẩy quan trọng hữu ích nhằm kích thích người lao động làm việc một cách hiệu quả Tiền lương là động lực kích thích năng lực sáng tạo, tăng năng suất lao động hiệu quả nhất Bởi vì, tiền lương gắn liền quyền lợi thiết thực nhất đối với người lao động, không chỉ thoả mãn về nhu cầu vật chất, mà còn mang ý nghĩa khẳng định vị thế của người lao động trong doanh nghiệp
Khi người lao động nhận được tiền lương thoả đáng, công bằng, đúng thời hạn sẽ tạo ra động lực thúc đẩy người lao động tăng năng suất lao động góp phần làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên Mặt khác, khi có lợi nhuận tăng thì nguồn phúc lợi dành cho người lao động cũng nhiều hơn Đó
Trang 1812
sẽ là phần bổ sung để tăng thu nhập cho người lao động, đáp ứng lợi ích của bản thân và gia đình người lao động, tăng khả năng gắn kết làm việc, tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, kích thích doanh nghiệp phát triền
và tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực
Thứ tư, chức năng tích lũy
Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo duy trì được cuộc sống hàng ngày trong quá trình làm việc và còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi
họ hết khả năng lao động hay gặp rủi ro
Tiền lương là phần thu nhập chủ yếu trong tổng số thu nhập của người lao động, tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo duy trì được cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc; đồng thời dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hoặc gặp rủi ro Ngoài các chức năng trên, tiền lương còn góp phần vào việc quản lý lao động trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh dễ dàng, ổn định việc làm và cải thiện đời sống, nâng cao trình độ nghề nghiệp, hoàn thiện mối quan hệ xã hội giữa con người với con người trong quá trình lao động Hình thức tích lũy có thể là tiết kiệm cá nhân, tham gia loại hình tiết kiệm qua quỹ tín dụng, đóng (mua) bảo hiểm…
Thứ năm, chức năng thúc đẩy sự phân công lao động
Nâng cao năng suất lao động suy cho cũng là nguồn gốc để tăng thu nhập, tăng khả năng thỏa mãn nhu cầu của người lao động Do vậy, tăng các mức tiền lương phải dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, việc tăng năng suất lao động luôn luôn dẫn đến sự phân công lao động theo quy luật thị trường, theo đó, lao động sẽ bị thu hút vào các khu vực có năng suất cao hơn
để nhận được mức lương cao hơn
Thứ sáu, chức năng xã hội của tiền lương
Tiền lương là yếu tố kích thích để hoàn thiện các mối quan hệ lao động Thực tế cho thấy, việc duy trì các mức tiền lương cao và tăng hay không tăng phải dựa trên cơ sở đó là sự hài hòa các mối quan hệ lao động trong các doanh nghiệp Việc gắn tiền lương với năng suất lao động và hiệu quả của đơn vị, sẽ thức đẩy các mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, nâng cao hiệu quả hoạt động chung của doanh nghiệp
1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp
Trang 1913
1.2.1 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về tiền lương
- Nguyên tắc tiền lương được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động
Nguyên tắc này là một trong những nguyên tắc quan trọng của tiền lương nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động Bởi, trong bất kỳ một nền kinh tế thị trường nào cũng tồn tại quy luật cạnh tranh, đặc biệt trong khu vực sản xuất kinh doanh quy luật cạnh tranh là rõ ràng nhất
Tiền lương phải được trả trên cơ sở thỏa thuận và không trái pháp luật bởi tiền lương là giá cả của sức lao động trong thị trường lao động Do vậy, người sử dụng lao động và người lao động được tự do thỏa thuận mức lương dựa vào năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc của người lao động, trên
cơ sở hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị nhưng mức lương phải được ghi rõ trong hợp đồng lao động và đặc biệt hai bên không được thỏa thuận, thương lượng mức lương thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định Xuất phát từ sự bình đẳng và sự tự do thỏa thuận của hai bên khi ký kết hợp đồng lao động, nguyên tắc này là cơ sở cho các bên khi tham gia ký kết hợp đồng lao động
Trong những trường hợp đặc biệt, để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động, bảo vệ quan hệ của hai bên và lợi ích chung của xã hội, Nhà nước ấn định mức trả lương, không phụ thuộc hoặc phụ thuộc trực tiếp vào sự thỏa thuận của hai bên như trả lương trong thời gian ngừng việc, Trong những trường hợp này, Nhà nước vẫn tôn trọng sự thỏa thuận của hai bên theo hướng có lợi cho người lao động
- Nguyên tắc trả lương hoặc thỏa thuận mức lương không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định
Lương tối thiểu là vấn đề quan tâm của nhiều quốc gia và để bảo vệ cho hàng triệu lao động yếu thế, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã có một số công ước và khuyến nghị về tiền lương, trong đó Công ước số 131 ấn định tiền lương tối thiểu, đặc biệt đối với các nước đang phát triển năm 1970 và Khuyến nghị số 135 về xác định lương tối thiểu, xem xét việc áp dụng đối với các nước đang phát triển, tại hội nghị lần thứ 54 Geneva ngày 22/6/1970
Trang 2014
Đây được coi là nguyên tắc quan trọng nhất của tiền lương nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích của người lao động nhất là trong nền kinh tế thị trường và trong điều kiện sức lao động cung lớn hơn cầu như hiện nay Mức lương tối thiểu mà nhà nước xây dựng trước hết phải căn cứ vào mức sống tối thiểu của từng quốc gia, là mức độ thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của người lao động trong một thời kỳ nhất định Bên cạnh đó lương tối thiểu được nhà nước thường xuyên điều chỉnh cho phù hợp với nền kinh tế đất nước
- Nguyên tắc tiền lương được trả theo năng suất, chất lượng, hiệu quả
và điều kiện lao động, cụ thể:
+ Tiền lương phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động
Thu nhập thông qua tiền lương mà người la động nhận được từ người
sử dụng lao động phải đảm bảo cho họ “Tái sản xuất sức lao động”, bao gồm tái sản xuất sức lao động giản đơn và tái sản xuất sức lao động mở rộng Tiền lương của người lao động phải đảm bảo giá trị thực tế để người lao động có thể chi tiêu duy trì cuộc sống cho mình cũng như có thể tích lũy dành cho cuộc sống khi hết tuổi lao động
+ Trả lương theo năng lực và chất lượng lao động
Theo nguyên tắc này, lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, chất lượng làm việc hiệu quả thì sẽ được trả lương cao và ngược lại Nguyên tắc này vừa phù hợp với đặc điểm thị trường lao động, đồng thời thúc đẩy người lao động nâng cao trình độ cũng như trách nhiệm đối với công việc
Việc trả lương theo nguyên tắc này được thể hiện rõ nét nhất trong việc xây dựng và áp dụng than bảng lương của Nhà nước và các đơn vị sử dụng
lao động
+ Trả lương theo điều kiện lao động
Mỗi một công việc, một khu vực đều có tính chất và điều kiện tự nhiên khác nhau, vì vậy nguyên tắc trả lương theo điều kiện lao động sẽ giúp người lao động cũng như người sử dụng lao động cân bằng được các yếu tố đó Nhằm đảm bảo chế độ tiền lương phù hợp với mọi điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, đáp ứng đủ các yếu tố thuộc về điều kiện lao động thực tế tác động đến người lao động trong quá trình làm việc
Trang 2115
Nguyên tắc trả lương theo điều kiện lao động khuyến khích người lao động làm việc ở những ngành nghề hoặc địa bàn khó khăn Đây cũng là một trong những biện pháp cụ thể để thực hiện chính sách phân công lao động xã hội trong phạm vi ngành, địa phương và toàn quốc
1.2.2 Nội dung pháp luật về tiền lương doanh nghiệp
1.2.2.1 Tiền lương tối thiểu
Tiền lương tối thiểu hay mức lương tối thiểu được hiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động
và gia đình họ
Có thể nói, tiền lương hay tiền công tối thiểu có tác dụng tái sản xuất giản đơn sức lao động, đảm bảo nhu cầu tối thiểu cần thiết về sinh hoạt và xã hội, thông qua việc đáp ứng những chi phí sinh hoạt cần thiết của người lao động và dùng một phần vào tái sản xuất mở rộng sức lao động của người hưởng lương Mức lương tối thiểu phải do Nhà nước quy định, có ý nghĩa bắt buộc đối với cả hai bên trong quan hệ lao động, trong đó có hàm ý rằng mức lương tối thiểu không thể bị hạ thấp bởi cả người sử dụng lao động và người lao động, dù họ có tự nguyện, bằng thỏa thuận cá nhân hay thỏa thuận tập thể, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quy định khác trong trường hợp đặc biệt
Tiền lương tối thiểu có một số đặc trưng như: Được trả cho một lao động ở trình độ giản đơn nhất, cường độ lao động nhẹ nhàng nhất, lao động diễn ra trong điều kiện bình thường; Tuy nhiên, tiền lương tối thiểu phải đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ở mức tối thiểu, cần thiết cho bản thân người lao động
và gia đình họ; tiền lương tối thiểu được xác định theo giá sinh hoạt ở vùng có mức giá sinh hoạt trung bình
Để xác định mức lương tối thiểu, trong khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế nhấn mạnh4: “Trong chừng mực có thể và thích hợp, xét theo thực tiễn và điều kiện quốc gia, những yếu tố cần lưu ý để xác định mức lương tối thiểu gồm: Những nhu cầu của người lao động và gia đình họ, xét
4 Điều 3, Công ước 131về Ấn định lương tối thiểu, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, 1970
Trang 2216
theo mức lương chung trong nước, giá sinh hoạt, các khoản trợ cấp an toàn
xã hội và mức sống so sánh giữa các đối tượng khác nhau; Những nhân tố về kinh tế, kể cả những đòi hỏi của phát triển kinh tế, năng suất lao động và mối quan tâm đạt tới và duy trì một mức sử dụng lao động cao”
Ở đa số các quốc gia, mức tiền lương tối thiểu được áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước Thông thường có hai loại tiền lương tối thiểu là tiền lương tối thiểu vùng và tiền lương tối thiểu ngành
Tiền lương tối thiểu vùng là mức tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định, được áp dụng cho người lao động làm việc ở từng vùng lãnh thổ nhất định Những căn cứ hay yếu tố cơ bản để phân vùng và xác định mức lương tối thiểu vùng là điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, mức sống của người dân địa phương, cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật… Một cơ quan chịu trách nhiệm về vấn đề tiền lương sẽ nghiên cứu và tham mưu, khuyến nghị cho Chính phủ quyết định và công bố mức tiền lương tối thiểu vùng trong từng thời điểm nhất định
Tiền lương tối thiểu ngành là mức tiền lương tối thiểu được áp dụng cho người lao động làm việc trong một hoặc một nhóm ngành nhất định Pháp luật lao động quy định về tiền lương tối thiểu ngành để khuyến khích các đơn
vị sử dụng lao động trong cùng ngành vận dụng vào xây dựng mức lương tối thiểu ngành mình, thông qua con đường thương lượng tập thể ngành và được Nhà nước chính thức hóa Ngoài ra, Nhà nước còn khuyến khích các doanh nghiệp, người sử dụng lao động với tư cách độc lập tự xây dựng và vận dụng mức tiền lương tối thiểu cho người lao động của mình cao hơn mức tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định ở cùng thời điểm
Hầu hết các quốc gia khi ban hành chính sách tiền lương tối thiểu, trong
đó nêu phương pháp xác định về tiền lương tối thiểu đều dựa theo tiêu chí của
Tổ chức Lao động quốc tế5: “Để xác định mức lương tối thiểu, cần xem xét các tiêu chí sau: (a) nhu cầu của người lao động và gia đình họ; (b) mức lương chung trong nước; (c) chi phí cuộc sống và những thay đổi trong đó; (d) trợ cấp an sinh xã hội; (e) mức sống tương đối của các nhóm xã hội khác;
5 Khuyến nghị về ấn định lương tối thiểu số 135, 1970, Mục II Các tiêu chí xác định mức lương tối thiểu
Trang 2317
(f) các yếu tố kinh tế, bao gồm yêu cầu phát triển kinh tế, mức năng suất và
nhu cầu muốn và duy trì được việc làm ở mức cao.”
Tiền lương tối thiểu đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống pháp
luật lao động, thể hiện sự quan tâm sâu sát của Nhà nước tới các chức năng
của tiền lương là chức năng tái sản xuất sức lao động và chức năng tích lũy
Chính vì tầm quan trọng của tiền lương tối thiểu mà gần như tất cả các quốc
gia trên thế giới đều có pháp luật điều chỉnh vấn đề này Cho dù điều kiện
kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa, địa lý có thể khác nhau, song các quốc gia
đều có thiên hướng bảo vệ người lao động trước sức ép lợi nhuận của các
doanh nghiệp, các nhà tư bản, các ông chủ doanh nghiệp Điều đó cũng thể
hiện tinh thần nhân văn, chú trọng giải quyết các vấn đề xã hội Thậm chí có
một số quốc gia còn coi việc quy định mức lương tối thiểu như một loại trợ
cấp xã hội đối với một số người không có khả năng tham gia quan hệ lao
động Thuật ngữ “basic income” ở một số quốc gia còn mang ý nghĩa rất tích
cực trong việc đảm bảo mọi người dân đều có thể được nhận một khoản tiền
tối thiểu đủ để sinh sống khi đáp ứng đủ một số điều kiện nhất định Tư tưởng
tiến bộ về mức lương tối thiểu luôn luôn được thảo luận hàng năm nhằm điều
chỉnh phù hợp với những biến động của đời sống
1.2.2.2 Xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động trong
doanh nghiệp
* Thang lương
Thang lương là tương quan tỉ lệ về tiền lương theo trình độ lành nghề
giữa những người lao động làm việc trong cùng một nghề hoặc một nhóm
nghề có tiêu chuẩn cấp bậc kĩ thuật rõ ràng Thang lương thường được xây
dựng để áp dụng cho người lao động trực tiếp sản xuất trong hệ thống các
ngành nghề có tiêu chuẩn cấp bậc kĩ thuật tương đối phức tạp như luyện kim,
hóa chất, địa chất, dầu khí, cơ khí, điện tử, điện, vận hành máy… Cơ sở để
xây dựng thang lương là tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật, đó là bảng quy định về
mức độ phức tạp của công việc và yêu cầu về trình độ lành nghề của người
lao động ở mỗi bậc nào đó biết, hiểu và làm được Trên thực tế có hai tiêu
chuẩn cấp bậc kỹ thuật là cấp nhà nước và cấp ngành, việc lựa chọn áp dụng
sẽ do các bên lựa chọn và có thể người lao động phải thi để đạt được tiêu
chuẩn đó
Trang 24* Định mức lao động
Định mức lao động là những quy định do doanh nghiệp xây dựng về số lượng, chất lượng sản phẩm tương ứng với một lượng thời gian lao động, áp dụng cho từng nhóm lao động, nhóm công việc nhất định trong phạm vi cụ thể
Định mức lao động là thước đo hao phí lao động để hoàn thành một khối lượng công việc nhất định Vì thế, định mức lao động còn là cơ sở để phân phối theo lao động
Định mức lao động được biểu hiện dưới các hình thức: định mức thời gian, định mức sản lượng, định mức phục vụ Định mức lao động thường được xây dựng theo các phương pháp truyền thống như phương pháp thống
kê – kinh nghiệm, phương pháp phân tích, phương pháp Taylor,
Định mức lao động có căn cứ khoa học là phải tính đến các yếu tố giới hạn tâm sinh lý, sức khỏe của người lao động Khi trả lương, đơn giá tiền lương được xây dựng dựa vào các mức lao động, các mức này càng chính xác
Trang 2519
thì đơn giá tiền lương càng hợp lý, tiền lương càng gắn với giá trị lao động Khi người lao động cảm thấy tiền lương trả cho họ là công bằng, tương xứng với sức lao động mà họ bỏ ra thì tiền lương sẽ có vai trò tạo động lực mạnh
mẽ
Nhìn chung, định mức lao động là cơ sở quan trọng để xây dựng kế hoạch lao động, tổ chức quản lý lao động và tính toán mức trả lương cho người lao động Đây không chỉ là vấn đề mà các đơn vị sử dụng lao động quan tâm chú trọng mà cả Nhà nước cũng quan tâm đặc biệt
1.2.2.3 Phụ cấp lương và các khoản bổ sung có tính chất lương
Phụ cấp lương là khoản tiền bổ sung vào tiền lương cho người lao động nhằm bù đắp những yếu tố không ổn định của điều kiện lao động mà khi xác định tiền lương các bên chưa tính toán được Phụ cấp lương là một bộ phận cấu thành tiền lương, có tác dụng bổ sung, giúp hoàn thiện và hợp lý hơn tiền lương của người lao động Như vậy phụ cấp lương ngoài đảm bảo công bằng, bình đẳng trong trả lương còn có tác dụng động viên, khuyến khích, thu hút người lao động làm việc ở những ngành nghề, địa bàn, điều kiện lao động khó khăn, hay trả cho những lao động có trách nhiệm cao trong sản xuất, điều hành sản xuất Chế độ phụ cấp lương có thể do hai bên thỏa thuận hoặc do người sử dụng lao động ấn định sẵn, được ghi vào hợp đồng lao động cá nhân hoặc trong thỏa ước lao động tập thể Trên thực tế có một số loại phụ cấp như phụ cấp trách nhiệm (chức vụ), phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thâm niên công tác, phụ cấp khu vực
Phụ cấp là một nội dung quan trọng của chính sách pháp luật về tiền lương, đảm bảo những yếu tố như thể hiện sự phân loại lao động hay những
ưu đãi, bồi hoàn nhất định đối với người lao động
1.2.2.4 Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động trong lĩnh vực tiền lương
- Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong lĩnh vực tiền lương
Quan hệ lao động được hình thành và duy trì dưới hình thức hợp đồng lao động, trong đó mọi vấn đề thuộc về quyền và lợi ích của các bên đều do các bên thỏa thuận trên cơ sở pháp luật Tuy nhiên, người sử dụng lao động,
Trang 2620
với tư cách là người sở hữu, đầu tư vốn, tư liệu sản xuất, đồng thời là người thuê lao động, với sức mạnh tư bản của mình, người sử dụng lao động có nhiều quyền quyết định vấn đề phân phối thu nhập trong doanh nghiệp mình, điển hình như: Quyền xây dựng và ban hành hệ thống thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế tiền lương, phụ cấp lương… áp dụng trong doanh nghiệp mình; Quyền lựa chọn các hình thức trả lương phù hợp với tính chất của công việc, ngành nghề và yêu cầu của quá trình sử dụng lao động; Quyền khấu trừ tiền lương theo quy định của pháp luật; Nghĩa vụ trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn; Thực hiện việc nâng bậc lương cho người lao động theo đúng sự thỏa thuận hợp pháp; Thực hiện chế độ phụ cấp lương; trả lương trong những trường hợp đặc biệt trong quá trình sử dụng lao động…
- Quyền và nghĩa vụ của người lao động
Người lao động ký kết hợp đồng lao động vào làm việc cho người sử dụng lao động phải tuân theo quy định và sắp xếp, tổ chức của người sử dụng lao động trong lĩnh vực tiền lương như được xếp vào thang, bảng lương phù hợp trình độ chuyên môn, được giao định mức lao động phù hợp; Được trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn; Được tạm ứng lương theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; Được nâng lương định kỳ theo quy định; Được biết lý do mọi khoản khấu trừ vào tiền lương; Quyền được tạm ứng tiền lương theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật…
Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động trong lĩnh vực tiền lương là một nội dung quan trọng trong lí luận pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp Hai hệ thống quyền và nghĩa vụ của hai thể này là thống nhất, không mâu thuẫn, thể hiện một mối quan hệ lao động hài hòa, hợp
lý, bổ sung lẫn nhau Các bên trong quan hệ lao động có trách nhiệm hợp tác, giúp đỡ nhau một cách thiện chí để cùng tiến tới đạt được lợi ích của mình Trong nhiều trường hợp, người lao động có thể chấp thuận giảm bớt một số yêu cầu, đòi hỏi về tiền lương của mình để giúp đỡ người sử dụng lao động và doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn với mục đích lâu dài là duy trì quan
hệ lao động và việc làm Nhà nước khuyến khích các bên tạo điều kiện giúp
đỡ nhau trong những hoàn cảnh đặc biệt
Trang 2721
1.2.3 Vai trò pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp
1.2.3.1 Pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp bảo vệ quyền được trả lương của người lao động theo thỏa thuận, trả lương đầy đủ, đúng hạn, bình đẳng và không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc
có giá trị như nhau
Tiền lương có ý nghĩa rất lớn đối với người lao động Vì vậy, vấn đề bảo vệ tiền lương cho người lao động là nội dung quan trọng trong nguyên tắc bảo vệ người lao động của luật lao động và để thực hiện mục đích này, pháp luật lao động đã có những quy định bảo vệ tiền lương của người lao động Pháp luật về lương doanh nghiệp là sự đảm bảo tính pháp lý của nhà nước đối với người lao động trong mọi ngành, nghề và khu vực có tồn tại quan hệ lao động, đảm bảo đời sống tối thiểu cho người lao động phù hợp với khả năng của nền kinh tế
Bộ luật lao động quy định: “Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm
khi không được trả lương đầy đủ, đúng thời hạn, pháp luật lao động có quy
định: “Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do
Bên cạnh đó, để bảo vệ người lao động, pháp luật lao động cũng quy định mức bồi thường, trả lương, trả trợ cấp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trong những trường hợp làm việc do rủi ro khách quan hoặc do lỗi của người sử dụng lao động như bị ngừng việc, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải điều trị hoặc bị chấm dứt hợp đồng hay sa thải trái pháp luật… tùy từng trường hợp cụ thể người lao động đều được người sử dụng lao động trả lương phù hợp
1.2.3.2 Pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp góp phần mở rộng
và làm rõ trách nhiệm, quyền tự chủ của đơn vị, doanh nghiệp trong việc xếp lương, trả lương gắn với năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả
6 Khoản 3, Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2012 và 2019
7 Điều 96 Bộ luật Lao động năm 2012; Khoản 4, Điều 97 Bộ luật L 2019
Trang 2822
Việc pháp luật quy định thống nhất cơ chế tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp sẽ góp phần mở rộng quyền tự chủ của doanh nghiệp trong việc xếp lương, trả lương cho người lao động phụ thuộc vào năng suất lao động cá nhân và hiệu quả của sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Hình thành cơ chế đối thoại, thương lượng, thỏa thuận và tự quyết định về tiền lương, thống nhất định mức lao động, đơn giá tiền lương, thang, bảng lương, làm thêm giờ, tiền thưởng, phụ cấp, tiền ăn trong việc xếp lương, trả lương người lao động phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp, xây dựng định mức và đơn giá tiền lương, thang, bảng lương, quy chế trả lương,… theo sự hướng dẫn của nhà nước và được ghi vào hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, quy chế trả lương của doanh nghiệp
Theo định hướng thị trường, thì pháp luật tiền lương trong doanh nghiệp đã góp phần thể hiện quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước, theo đó, để phát triền nền kinh tế thị trường, nhà nước sẽ hạn chế can thiệp vào quan hệ của các bên trong thị trường lao động, đồng thời nhà nước chỉ quy định những nguyên tắc chung để cho các bên trong quan
hệ lao động tự do thỏa thuận; tạo điều kiện để doanh nghiệp có quyền chủ động trong quản trị doanh nghiệp liên quan đến việc xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động trong sản xuất, kinh doanh và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước
1.2.3.3 Pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp là cơ sở ngăn ngừa xung đột, bất đồng và giải quyết những tranh chấp phát sinh trong quan hệ lao động
Trong quan hệ lao động cần phải xây dựng quan hệ lao động bảo đảm
sự hài hòa, ổn định và tiến bộ Người lao động luôn luôn muốn lương càng cao càng tốt, còn người sử dụng lao động thì ngược lại, càng ít chi phí càng tốt Cuối cùng, chắc chắn sẽ phải đi đến một sự thỏa hiệp, nhưng có nguy
cơ không theo đúng quy luật: nếu cung nhiều thì giá sẽ rẻ, cầu nhiều thì giá
sẽ đắt, tức thừa lao động thì lương thấp, thiếu lao động thì lương cao
Những bức xúc về tiền lương, đời sống vật chất và tinh thần của người lao động không đảm bảo, công đoàn cơ sở chưa phát huy vai trò, doanh nghiệp và người lao động thiếu hiểu biết pháp luật… là những
Trang 2923
nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc đình công trên cả nước trong thời gian qua Để ngăn chặn tình trạng này việc quy định cụ thể, rõ ràng và hài hòa các quy định về tiền lương sẽ góp phần ngăn ngừa xung đột, bất đồng xảy
ra trong quan hệ lao động
Phân phối tiền lương phải góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ, giảm thiểu tranh chấp lao động và đình công trên
cơ sở hình thành cơ chế đối thoại, thương lượng, thoả thuận và tự định đoạt
về tiền lương, nhất là tiền lương tối thiểu ở doanh nghiệp, định mức lao động, đơn giá tiền lương, thang, bảng lương, làm thêm giờ, tiền thưởng, phụ cấp, tiền ăn… được ghi vào hợp đồng lao động cá nhân, thoả ước lao động tập thể, quy chế trả lương của doanh nghiệp…
1.3 Pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm với Việt Nam
1.3.1 Pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp một số quốc gia trên thế giới
1.3.1.1 Pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp của Trung Quốc
Pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp của Trung Quốc được quy định trong Luật lao động năm 1994 Cũng giống như Việt Nam, Trung Quốc không ban hành Luật riêng để điều chỉnh về tiền lương tối thiểu, mà tiền lương tối thiểu được quy định 02 điều trong Luật lao động năm 1994 (Điều 48 và Điều 49) Theo quy định tại Điều 48 Luật lao động 1994 của Trung Quốc quy
định: “Nhà nước sẽ thực hiện một hệ thống lương tối thiểu bảo đảm Những tiêu chuẩn tiền lương tối thiểu cụ thể sẽ được quy định bởi chính quyền nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và khu tự trị và báo cáo Hội đồng Nhà nước để đăng ký Người sử dụng lao động phải trả lương cho người lao động không thấp hơn tiêu chuẩn địa phương về tiền lương tối thiểu”
Theo đó, Trung Quốc quy định các tiêu chuẩn lương tối thiểu áp dụng trên toàn quốc và không phân biệt theo vùng, ngành, khu vực kinh tế, hình thức sở hữu Tuy nhiên, do Trung Quốc là quốc gia có diện tích rất rộng, các yếu tố ảnh hưởng đến mức thu nhập và tiêu dùng của dân cư, chênh lệch nhau khá nhiều, nên Luật lao động của Trung Quốc cho phép các cơ quan lao động địa phương phối hợp với công đoàn và tham khảo đại diện người sử dụng lao
Trang 3024
động để đưa ra mức tiền lương tối thiểu, để đề nghị Chính phủ cho phép địa phương ban hành, áp dụng Ngoài ra, các địa phương còn có nhiều bậc lương tối thiểu khác nhau và mức tiền lương cũng khác nhau
Ở Việt Nam theo quy định của Bộ luật lao động năm 2012 thì mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương Quốc gia Đồng thời, Chính phủ không ủy quyền cho các tỉnh, thành phố ban hành hay công bố mức lương riêng như Trung Quốc Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, tường địa phương, Việt Nam cũng cần nghiên cứu học tập kinh nghiệm của Trung Quốc cho phép các địa phương công bố mức lương tối thiểu áp dụng riêng đối với địa phương
Về các căn cứ để xác định tiền lương tối thiểu: theo quy định tại Điều
49 Luật lao động 1994 của Trung Quốc quy định:“Tiêu chuẩn lương tối thiểu
sẽ được ấn định và điều chỉnh lại với sự tham khảo toàn diện các nhân tố sau:
(i) Chi phí sinh hoạt thấp nhất của bản thân những người lao động và những thành viên gia đình mà họ phải nuôi dưỡng;
(ii) Mức lương trung bình của xã hội;
(iii) Năng suất lao động;
(iv) Tình hình việc làm;
(v) Sự khác biệt về mức độ phát triển kinh tế giữa các địa phương”
Theo đó, pháp luật Trung quốc đã quy định rất cụ thể về các căn cứ xác định tiền lương tối thiểu, quy định như vậy là phù hợp với điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội của Trung Quốc Do có nhiều khác biệt về điều kiện kinh tế -
xã hội giữa các vùng, miền; đồng thời, vừa thực hiện được mục tiêu quản lý nhà nước về tiền lương tối thiểu, vừa tạo sự tự chủ cho địa phương, đảm bảo việc áp dụng tiền lương tối thiểu theo vùng
Khác với Trung Quốc, pháp luật Việt Nam quy định tiêu chí xác định còn chung chung: (i) nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; (ii) điều kiện kinh tế - xã hội; và (iii) mức tiền lương trên thị trường, trong
đó quá nhấn “mạnh mức lương tối thiểu phải bảo đảm như cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ”
Trang 3125
Khoản 1 Điều 91 Bộ luật lao động năm 2012 quy định mức lương tối
thiểu phải bảo đảm “nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ” 8 Tuy nhiên, việc xác định nhu cầu sống tối thiểu là rất khó định lượng, bởi sự không rõ ràng về các yếu tố cấu thành nhu cầu tối thiểu của người lao động và gia đình họ và các cơ quan chịu trách nhiệm xác định các yếu tố này Trên thực tế, việc xác định nhu cầu sống tối thiểu còn gây nhiều tranh cãi về phương pháp tính và căn cứ tính
Về tiền lương làm thêm giờ và hình thức trả lương được quy định tại Điều 44, Điều 50 Luật lao động 1994 của Trung Quốc, về quy định này thì pháp luật Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng và giống nhau
về tiền lương làm thêm giờ, hình thức trả lương
1.3.1.2 Pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp của Hàn Quốc
Khác với Trung Quốc, Hàn Quốc lại ban hành luật riêng về tiền lương tối thiểu (Luật Tiền lương tối thiểu năm 1986) Tại Điều 1 Luật tiền lương tối
thiểu năm 1986 của Hàn Quốc quy định: “Mục đích của Luật này là nhằm ổn định cuộc sống của người lao động, nâng cao chất lượng của lực lượng lao động bằng việc đảm bảo cho họ một mức lương tối thiểu nhất định và để thúc đẩy họ đóng góp vào sự phát triển kinh tế đất nước”
Theo đó, mức lương tối thiểu được coi là mức lương thấp nhất do pháp luật quy định như là mức sàn thấp nhất để các doanh nghiệp thỏa thuận, trả lương cho người lao động, pháp luật cũng không quy định mức lương tối thiểu áp dụng cho đối tượng lao động cụ thể nào
Ở Việt Nam, pháp luật lao động quy định: “mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc đơn giản nhất, trong điều kiện lao động bình thường” Theo đó, pháp luật Việt Nam đã quy định cụ thể
đối tượng là người lao động làm công việc đơn giản nhất nên sẽ làm hẹp phạm vi, hạn chế vai trò, chức năng của tiền lương tối thiểu trong nền kinh tế thị trường
- Về các yếu tố xác định mức lương tối thiểu: theo quy định của Luật tiền lương tối thiểu năm 1986 thì các yếu tố làm căn cứ xác định tiền lương
8 Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Lao động năm 2019 sửa thành: Mức sống tối thiểu
Trang 32Theo quy định Luật tiền lương tối thiểu năm 1986 của Hàn Quốc thì mức lương tối thiểu được xác định trên cơ sở một giờ, một ngày, một tuần hoặc một tháng Khi lương tối thiểu được xác định theo ngày, theo tuần hoặc theo tháng thì cũng phải ghi chú mức lương theo giờ Theo đó, mức lương tối thiểu ở Hàn Quốc được xác định rất linh hoạt khi trả lương theo một giờ, một ngày, một tuần hoặc một tháng
Ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật lao động năm
2012 thì mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo vùng, ngành Tuy nhiên, khi quy định tại Nghị định về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, Chính phủ mới chỉ quy định việc xác định lương của các vùng được tính theo tháng
Vì vậy, cũng cần nghiên cứu, học tập kinh nghiệm nêu trên Hàn Quốc để áp dụng vào Việt Nam cho phù hợp
Về kết cấu tiền lương, theo quy định Luật tiền lương tối thiểu năm 1986 của Hàn Quốc thì các yếu tố như phụ cấp, tiền nghỉ phép năm, tiền thưởng, tiền làm thêm giờ, các khoản phụ cấp là các yếu tố không bao gồm trong tiền lương tối thiểu
Ở Việt Nam, Bộ luật lao động năm 2012 đã quy định rõ kết cấu tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác Quy định này đã tạo ra cách hiểu về tiền lương khác
xa so với tinh thần của điều luật trong Bộ luật lao động Mặc dù, khoản 1 của Điều 90 Bộ luật lao động đã xác định tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc, nghĩa là tất cả
9 Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội (2017), Báo cáo nghiên cứu, khảo sát chính sách tiền lương, bảo
hiểm xã hội tại Indonesia và Hàn Quốc, Hà Nội, tr398-399
Trang 3327
các khoản tiền mà người lao động nhận được từ việc thực hiện công việc, nó như là tổng thu nhập của người lao động Tuy nhiên, khi nói đến khái niệm về tiền lương thì doanh nghiệp và người lao động đang hiểu và áp dụng theo hướng, đó không phải là thu nhập của người lao động mà chỉ là một phần thu nhập, tiền lương theo công việc trong thang lương, bảng lương (cao hơn lương tối thiểu vùng nhưng thấp hơn so với thu nhập thực tế)
- Về Hội đồng tiền lương tối thiểu: Theo quy định Luật Tiền lương tối thiểu năm 1986 thì Hội đồng tiền lương tối thiểu ở Hàn Quốc là một cơ quan thường trực thực hiện các cuộc trao đổi về tiền lương tối thiểu cũng như các vấn đề khác có liên quan với tiền lương tối thiểu Hội đồng bao gồm 27 thành viên, gồm đại diện: phía người lao động (9); phía người sử dụng lao động (9);
và phía quản lý nhà nước (9) Có một ban thư ký; và Ủy ban kỹ thuật hỗ trợ các hoạt động của Hội đồng Mỗi thành viên có nhiệm kỳ 03 năm và được chỉ định bởi Tổng thống Hàn Quốc theo đề cử của Bộ trưởng Bộ Việc làm và Lao động Đại diện của người lao động được giới thiệu bởi tổ chức công đoàn và đại điện của người sử dụng theo nhóm được chỉ định bởi Bộ trưởng Bộ Việc làm và Lao động trong số các tổ chức của người sử dụng lao động trên toàn quốc Các thành viên đại diện của các cơ quan quản lý nhà nước cũng được
bổ nhiệm bởi Tổng thống với sự đề cử của Bộ trưởng từ những cán bộ, công chức, giáo sư hoặc các nhà nghiên cứu (đại diện nhóm lợi ích công) có hiểu biết sâu rộng và kinh nghiệm lâu năm về lĩnh vực lao động10
Ở Việt Nam, theo quy định pháp luật lao động thì Hội đồng tiền lương quốc gia có 15 thành viên, bao gồm: 05 thành viên đại diện của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 05 thành viên đại diện của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và 05 thành viên đại diện của tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở Trung ương Tuy nhiên, vai trò nhiệm vụ cơ cấu thành phần của Hội đồng tiền lương Quốc gia còn bất cập, nhất là việc quy định đại diện phía nhà nước chỉ bao gồm các thành viên của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong khi tiền lương tác động đến nhiều khía cạnh, nhiều chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị khác
10 Tài liệu đãdẫn, tr399
Trang 3428
- Để đảm bảo cho những quy định về tiền lương tối thiểu được thực hiện đúng, Luật tiền lương tối thiểu năm 1986 của Hàn Quốc cũng quy định những chế tài rất nghiêm khắc đối với những đối tượng thực hiện không đúng quy định của nhà nước về tiền lương tối thiểu như: Điều 28 Luật tiền lương
tối thiểu năm 1986 của Hàn Quốc quy định: “Bất kỳ ai vi phạm các điều khoản của Điều 6 hoặc sẽ bị phạt tù đến ba năm hoặc bị nộp phạt đến 10 triệu Won hoặc chịu cả 2 hình phạt” Quy định này, rất khác với quy định
pháp luật Việt Nam, ở Việt Nam những vi phạm về Luật lao động chỉ bị xử phạt hành chính và phạt vi phạm bằng tiền chứ không đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (phạt tù) Vì vậy, cũng cần nghiên cứu, học tập kinh nghiệm nêu trên Hàn Quốc để áp dụng vào Việt Nam cho phù hợp
1.3.1.3 Pháp luật tiền lương trong doanh nghiệp của Bồ Đào Nha
- Về tiền lương tối thiểu
Theo quy định của Luật lao động Bồ Đào Nha (Luật số 07/2009 ngày
12 tháng 02 năm 2009), mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định hàng năm sau khi tham vấn các đối tác xã hội11
Chính phủ Bồ Đào Nha đã ban hành Nghị định số 156/2017 ngày 28 tháng 12 năm 2017 quy định về mức lương tối thiểu quy định: (i) mức lương tối thiểu được quy định theo tháng, các công ty sau đó tính ra tiền lương theo giờ để áp dụng đối với các trường hợp làm việc bán thời gian; (ii) khi xác định mức lương tối thiểu, Chính phủ cần nhắc tới nhu cầu của người lao động, lạm phát về năng suất lao động; (iii) lương tối thiểu được áp dụng cho tất cả các công ty và công nhân ở đại lục; (iv) không có đối tượng nào được miễn áp dụng mức lương tối thiểu; (v) theo Luật lao động Bồ Đào Nha, hàng năm Chính phủ quy định mức lương tối thiểu, nhưng Chính phủ cũng có thể quyết định duy trì mức lương tối thiểu của năm trước đó; (vi) hàng quý, Chính phủ
Bồ Đào Nha có một bản báo cáo mở rộng và tác động của việc tăng mức lương tối thiểu; (vii) Luật lao động Bồ Đào Nha quy định người sử dụng lao động không tuân thủ mức lương tối thiểu là vi phạm pháp luật hành chính
11 Tài liệu đã dẫn, tr402
Trang 3529
nghiêm trọng và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính Mức xử phạt được xác lập theo doanh thu và mức độ vi phạm của người sử dụng lao động12
- Quản lý tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước: Bồ Đào Nha có một số doanh nghiệp nhà nước cả ở cấp quốc gia và địa phương Tuy nhiên, pháp luật Bồ Đào Nhà không quy định cơ quan nào làm đại diện chủ sở hữu
Về tiền lương đối với các doanh nghiệp nhà nước có thể được đàm phản ở cấp độ ngành hoặc doanh nghiệp, không áp dụng thang lương, bảng lương của cơ quan hành chính nhà nước Mức lương của người quản lý được
ấn định tại Đại hội đồng cổ đông của doanh nghiệp hoặc theo quy định chung của Chính phủ; người đại diện của nhà nước trong doanh nghiệp là cán bộ quản lý công, được bầu cử hoặc chỉ định bởi Nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng Mức lương của những người đại diện được quy định bởi quy chế quản
lý công, nhưng không bao giờ vượt qua mức lương của Thủ tướng Bồ Đào Nha Tiền lương của người đại diện do ngân sách chi trả và được giám sát bởi
Bộ Tài chính13
Ở Việt Nam, đối với doanh nghiệp nhà nước thì người quản lý doanh nghiệp Nhà nước áp dụng bảng lương do Chính phủ quy định theo 06 hạng gắn với quy mô vốn, lao động, đầu mối quản lý và hiệu quả (mỗi chức vụ gồm 02 bậc lương theo hệ số nhân với mức lương cơ sở) để làm cơ sở xếp lương, đóng (hưởng) bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và thực hiện các chế độ khác theo quy định tại Nghị định số 52/2016/NĐ-CP; nhà nước cử người đại diện vốn nhà nước tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay thì cơ chế quản lý này không còn phù hợp Vì vậy, cần nghiên cứu học tập kinh nghiệm Bồ Bào Nha thực hiện cơ chế quản lý tiền lương đối với các doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế thị trường, giảm dần, tiến tới xóa bỏ sự can thiệp trực tiếp của nhà nước đối với các doanh nghiệp, các doanh nghiệp được tự chủ quyết định chính sách tiền lương (trong
đó, có thang, bảng lương, định mức lao động) và trả lương phù hợp với tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, khả năng của doanh nghiệp
12 Tài liệu đã dẫn, tr458, 459
13 Tài liệu đã dẫn, tr459
Trang 3630
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam trong việc xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp
Qua nghiên cứu kinh nghiệm chính sách tiền lương của Trung Quốc, Hàn Quốc và Bồ Đào Nha cho thấy, có một số nội dung Việt Nam có thể nghiên cứu, học tập trong quá trình hoàn thiện pháp luật tiền lương trong doanh nghiệp, như sau14:
Thứ nhất, về quan niệm tiền lương tối thiểu, đó là mức lương thấp nhất
do pháp luật quy định như là mức sàn thấp nhất để các doanh nghiệp thỏa thuận, trả lương cho người lao động Pháp luật không nên quy định mức lương tối thiểu được áp dụng cho đối tượng lao động cụ thể nào sẽ làm hẹp phạm vi, hạn chế vai trò, chức năng của tiền lương tối thiểu trong nền kinh tế thị trường Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, khảo sát mức sống tối thiểu để làm cơ sở xác định tiền lương tối thiểu cho phù hợp (Hàn Quốc dựa trên lao động độc thân, còn Việt Nam dựa trên lao động chưa qua đào tạo)
Thứ hai, về căn cứ xác định tiền lương tối thiểu, ngoài mức sống của
người lao động thì việc xác định mức lương tối thiểu cần dựa trên các căn cứ khác (như kinh nghiệm của Hàn Quốc và Trung Quốc) như: mức tiền lương của lao động cùng loại; năng suất lao động; chỉ số giá sinh hoạt; mức tăng trưởng kinh tế và tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Tiền lương tối thiểu của Việt Nam hiện đang ở mức thấp, cho nên cần phải xác định lộ trình hợp lý điều chỉnh mức lương tối thiểu để vừa đảm bảo đời sống cho người lao động, nhưng phải phù họp với điều kiện sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, đồng thời cần thiết lập các cơ chế thương lượng hợp lý, linh hoạt để nâng cao tiền lương trung bình cho tất cả người lao động làm công, hưởng lương trong xã hội
Thứ ba, về loại hình tiền lương tối thiểu, nghiên cứu quy định thống
nhất tiền lương tối thiểu theo giờ áp dụng đối với tất cả các công việc trên thị trường lao động (như kinh nghiệm của Hàn Quốc) Đối với lao động làm việc theo tháng thì tiền lương thấp nhất tính theo giờ trong tháng không được thấp hơn mức lương tối thiểu giờ do nhà nước quy định Bên cạnh đó cần nghiên cứu xác định các lao động, công việc đặc thù được áp dụng thấp hơn mức
14 Tài liệu đã dẫn, tr425 đến 427
Trang 3731
lương tối thiểu nhằm khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động này, đồng thời quy định những loại công việc được miễn trừ áp dụng mức lương tối thiểu cho phù hợp với đặc điểm của thị trường lao động
Thứ tư, về các yếu tố xác định trong lương tối thiểu, cần nghiên cứu
quy định rõ các yếu tố không bao gồm trong tiền lương tối thiểu (như kinh nghiệm của Hàn Quốc) như: phụ cấp, tiền nghỉ phép năm, tiền thưởng, các khoản tiền lương trả thêm khi làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, các khoản trợ cấp, nhằm bảo đảm tiền lương của người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, thời gian làm việc bình thường phải cao hơn mức lương tối thiểu
Thứ năm, về Hội đồng tiền lương quốc gia, cần tiếp tục nghiên cứu,
tổng kết để xác định số thành viên trong Hội đồng cho phù hợp, tuy nhiên không nên quá nhiều số thành viên (như trường hợp của Hàn Quốc), cũng có những khó khăn trong quá trình thương lượng tiền lương tối thiểu Để Hội đồng hoạt động có hiệu quả, cần tăng cường thương lượng của các bên, bộ phận kỹ thuật phải tính toán đưa ra các căn cứ xác định cho phía đại diện người sử dụng lao động và phía đại diện người lao động khi xây dựng phương
án tiền lương tối thiểu áp dụng cho năm tiếp theo; thành lập bộ phận thường trực của Hội đồng hoạt động chuyên trách để nâng cao chất lượng tham mưu cho thành viên Hội đồng như trường hợp của Hàn Quốc
Thứ sáu, nghiên cứu về cơ cấu tổ chức, thành phần của Hội đồng tiền
lương quốc gia theo hướng mở rộng số lượng thành viên, bổ sung thành viên đại diện cho phía Nhà nước của Bộ, ngành khác ngoài Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ), bổ sung thành viên là các chuyên gia độc lập có chuyên môn, am hiểu về lĩnh vực lao động, tiền lương
Thứ bảy, về chế tài áp dụng, cần thiết nghiên cứu bổ sung các chế tài xử
lý các vi phạm của doanh nghiệp, theo hướng tăng mức độ xử phạt hành chính, xử lý hình sự (như kinh nghiệm Hàn Quốc); đồng thời phải đền bù cho người lao động một khoản tiền nhất định đủ để răn đe
Thứ tám, thực hiện cơ chế quản lý tiền lương đối với các doanh nghiệp
theo cơ chế thị trường, giảm dần, tiến tới xóa bỏ sự can thiệp trực tiếp của nhà
Trang 3832
nước đối với các doanh nghiệp (như kinh nghiệm của Bồ Đào Nha), các doanh nghiệp được tự chủ quyết định chính sách tiền lương (trong đó, có thang, bảng lương, định mức lao động) và trả lương phù hợp với tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, khả năng của doanh nghiệp
Trang 3933
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là giá cả sức lao động, nó không chỉ bị chi phối bởi quy luật giá trị, mà còn bị chi phối bởi quy luật cung-cầu Tiền lương được coi là giá cả sức lao động và được hình thành trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua ký kết hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể Tiền lương trở thành động lực, đòn bẩy kích thích, khuyến khích người lao động làm công việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, ý thức tuân thủ kỷ luật lao động, đồng thời là phương tiện đảm bảo cuộc sống ngày càng nâng cao
Chương 1 luận văn đã khái quát một số vấn đề về tiền lương và pháp luật về tiền lương tại các doanh nghiệp, cụ thể như sau:
- Khái niệm, bản chất và chức năng của tiền lương tiền lương được nhìn nhận dưới ba góc độ: kinh tế, pháp lý và xã hội
- Sự điều chỉnh của pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp như: Khái niệm các nguyên tắc điều chỉnh tiền lương; nội dung pháp luật tiền lương doanh nghiệp
- Quy định pháp luật tiền lương doanh nghiệp của một số nước và kinh nghiệm với Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của chương 1 là cơ sở để đánh giá thực trạng pháp luật tiền lương doanh nghiệp tại địa bàn nghiên cứu và là căn căn để kiến nghị hoàn thiện pháp luật tiền lương doanh nghiệp
Trang 4034
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở
TỈNH ĐIỆN BIÊN 2.1 Thực trạng pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp
2.1.1 Quy định về tiền lương tối thiểu
Trước hết có thể hiểu: tiền lương tối thiểu chính là mức lương thấp nhất
mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động nhằm duy trì cuộc sống tối thiểu cho bản thân và gia đình người lao động đó Mức lương tối thiểu chính là mức lương nền móng được pháp luật quy định và bắt buộc các người sử dụng lao động phải thực hiện Các hành vi trả lương cho người lao động cho dù là sự thoả thuận của hai bên mà thấp hơn mức lương tối thiểu sẽ
bị coi là bất hợp pháp và phải chịu một chế tài tương ứng
Điều 91 BLLĐ 2012 quy định về tiền lương tối thiểu cụ thể như sau15:
“Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm như cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ
Mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo vùng, ngành.”
* Các loại lương tối thiểu:
Điều 91 BLLĐ 2012 quy định có hai loại tiền lương tối thiểu: Lương tối thiểu vùng và lương tối thiểu ngành
- Lương tối thiểu vùng:
Theo khoản 2 Điều 91 BLLĐ 2012, lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định và áp dụng cho người lao động làm việc ở từng vùng lãnh thổ nhất định Đây là mức lương thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương Trong đó, mức lương trả cho người lao động
15 Điều 91, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “1 Mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức
sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
2 Mức lương tối thiểu được xác lập theo vùng, ấn định theo tháng, giờ.”