Dấu hiệu nhận biết hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại Các yêu cầu đảm bảo cho một hợp đồng có hiệu lực bao gồm: nguyên tắc giao kết hợp đồng, nội dung, các quy định về hình t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN VĂN HÂN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS BÙI NGỌC CƯỜNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn tốt nghiệp của tôi với đề tài: “Hợp đồng
vô hiệu trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại - Liên hệ từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,
không sao chép của bất cứ ai
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này hoàn toàn trung thực
và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc Tôi cam đoan và sẽ chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình./
Hà Nội, ngày 25 tháng 9 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại trường Đại học Mở Hà Nội Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của các thầy cô giáo trường Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến toàn thể các thầy cô giáo của trường Đại học Mở Hà Nội Đặc biệt là Tiến sĩ Bùi Ngọc Cường, người đã giúp đỡ và hướng dẫn tận tình để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Hà Nội, ngày 25 tháng 9 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hân
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KDTM Kinh doanh thương mại
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐÔNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI 5 1.1 Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại 5
1.1.1 Khái niệm 5 1.1.2 Dấu hiệu nhận biết và căn cứ xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại 7 1.1.2.1 Dấu hiệu nhận biết hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại 7 1.1.2.2 Xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại 10 1.1.3 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại 14 1.1.4 Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại 16
1.2 Pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại 18
1.2.1 Nội dung cơ bản của pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại 19 1.2.2 Nguồn luật và vấn đề áp dụng pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại 19 1.2.3 Pháp luật một số nước về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN XÉT
XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM 29 2.1 Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại 29
2.1.1 Quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng 29 2.1.2 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại 33 2.1.3 Quy định về xử lý hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại 43 2.1.4 Một số quy định khác 50
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thượng mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam 54
2.2.1 Công tác xét xử các vụ án kinh doanh, thương mại giai đoạn năm
2016 - 2020 54
2.2.2 Một số nhận xét, đánh giá về pháp luật hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại được rút ra từ thực tiễn xét xử tại tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam (chỉ xem xét những mặt còn hạn chế) 55
2.2.2.1 Hạn chế, vướng mắc trong các quy định của pháp luật chuyên
ngành 55 2.2.2.2 Hạn chế vướng mắc trong các quy định của Bộ luật Dân sự 2015
Trang 6CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU……… 70 3.1 Quan điểm hoàn thiện……… 70 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vô hiệu………….72
3.2.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan đến Hợp đồng ……… ………72 3.2.2 Sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về giao
dịch vô hiệu 75 KẾT LUẬN 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Pháp luật hợp đồng là nơi chứa đựng nhiều kỹ thuật pháp lý nhất trong khoa học pháp Hợp đồng là phương tiện quan trọng giúp con người đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của mình thông qua việc trao đổi các sản phẩm, dịch vụ và các lợi ích khác Vì vậy các quy định về hợp đồng luôn luôn chiếm đa phần trong các đạo luật thuộc lĩnh vực luật tư Để một hợp đồng phát huy được giá trị của nó thì hợp đồng đó phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực Nói cách khác là hợp đồng phải có hiệu lực pháp lý cũng tức là hợp đồng đó không bị vô hiệu Chính vì vậy, vấn đề hiệu lực pháp lý của hợp đồng luôn là vấn đề có ý nghĩa không chỉ về phương diện
lý luận trong khoa học pháp lý mà còn có ý nghĩa trong thực tiễn đối với các bên tham gia hợp đồng trong kinh doanh, thương mại
Với nhận thức đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Hợp đồng vô hiệu trong
lĩnh vực kinh doanh, thương mại - liên hệ từ thực tiễn xét xử tại tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam” làm luận văn tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về hợp đồng vô hiệu, việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu nói chung, đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung, vấn đề này đã được đề cập tới trong Giáo trình về Luật Thương mại, Luật Dân sự ở các cơ sở đào tạo luật
ở Việt Nam Các vấn đề liên quan đến hợp đồng vô hiệu, còn được đề cập trong một số công trình nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ luật học với đề tài:
“Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu”
của tác giả Lê Thị Bích Thọ năm 2002, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp
luật; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Cường: “Giao dịch dân sự vô hiệu và
việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu” năm 2014,
Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn
Trang 82015, Trường đại học Luật Hà Nội; Luận văn thạc sỹ của Cao Thị Thùy
Dương: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xử lý hợp đồng vô hiệu ở Việt
Nam” năm 2016, Trường Đại học Luật Hà Nội Bên cạnh đó, cũng có nhiều
bài viết của các tác giả được đăng trên các Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân hay Tạp chí Kiểm sát
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại từ thực tiễn xét xử tại tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu làm rõ một số khái niệm như: hợp đồng trong kinh doanh, thương mại, hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại, dấu hiệu nhận biết, điều kiện để xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại Đánh giá thực tế áp dụng pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại từ thực tiễn xét xử tại tòa án nhân dân tỉnh Hà nam
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:
- Các quy định pháp luật về hợp đồng vô hiệu nói chung qua đó làm rõ hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại Bởi lẽ hiện nay pháp luật không phân biệt hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh doanh thương mại
- Thực tiễn xét xử về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại tại tòa án nhân dân tỉnh Hà nam
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là:
- Trong luận văn này tác giả tập trung tìm hiểu, nghiên cứu các quy định
Trang 9thương mại, tập trung chủ yếu ở BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 và thực tiễn xét xử tại tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam từ năm 2016 đến năm 2019
4 Các phương pháp nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Trong đó, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể đó là:
- Phương pháp phân tích: Được sử dụng để làm rõ những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu;
- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để khái quát hóa nội dung cần nghiên cứu, đưa ra hướng nghiên cứu logic để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu;
- Phương pháp so sánh: Sử dụng để so sánh các quy định của pháp luật giai đoạn trước với pháp luật hiện hành từ đó cho thấy sự hoàn thiện của các quy định pháp luật qua từng giai đoạn;
- Phương pháp thống kê: Thống kê các số liệu có liên quan đến vấn
đề cần nghiên cứu, từ đó, phân tích, tổng hợp và đánh giá số liệu để đưa ra nhận định phù hợp làm cơ sở thực hiện cho việc đưa ra các kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật;
Một số phương pháp khác như: Diễn giải, quy nạp, bình luận cũng được tác giả kết hợp sử dụng để hoàn thiện luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Dưới góc độ khoa học, những kết quả nghiên cứu mới của luận văn sẽ làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật từ đó cung cấp thêm những luận cứ để tiếp tục hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này
Dưới góc độ thực tiễn, luận văn cung cấp một số vấn đề về tình hình áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng vô hiệu tại TAND
Trang 10tỉnh Hà Nam Luận văn là tài liệu tham khảo cho những người làm công tác thực tiễn pháp luật
6 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại và pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam
Chương 3: Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐÔNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU
TRONG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
1.1 Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại
1.1.1 Khái niệm hợp đồng trong kinh doanh, thương mại
Căn cứ vào định nghĩa về hợp đồng trong BLDS năm 2015 và định nghĩa
về kinh doanh trong LDN 2014, cũng như định nghĩa về hoạt động thương mại trong LTM năm 2005, chúng ta có thể hiểu :Hợp đồng trong KDTM là sự thỏa thuận giữa các bên (ít nhất một trong các bên phải có tư cách thương nhân) về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động KDTM Đây là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự
Thuật ngữ GD/HĐ dân sự vô hiệu được sử dụng tương đối rộng rãi, nhưng khi nghiên cứu thì tác giả chưa thấy tài liệu nào nêu ra khái niệm khoa học chính thức và cụ thể thế nào là GDDS vô hiệu Kéo theo đó, thuật ngữ hợp đồng vô hiệu hay hợp đồng vô hiệu trong KDTM cũng chưa có một khái niệm hoàn chỉnh và thống nhất Trong khi đó, vấn đề vô hiệu của hợp đồng trong KDTM có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng Bởi, nhìn chung hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh hiệu lực pháp luật mà các bên mong muốn Trên thế giới hiện nay, phần lớn các nhà lập pháp cũng không đưa ra các khái niệm chung về hợp đồng vô hiệu mà chủ yếu đi sâu quy định các tiêu chí để xác định một giao dịch vô hiệu Ví dụ: Điều 113 BLDS và
Thương mại Thái Lan quy định: “Một hành vi pháp lý bị vô hiệu nếu mục tiêu
của nó rõ ràng bị pháp luật ngăn cấm hoặc không thể thực hiện được, hoặc trái với trật tự công cộng hoặc trái với đạo đức” Chính vì vậy, pháp luật
hiện hành của Việt Nam không đưa ra định nghĩa về giao dịch vô hiệu cũng như định nghĩa hợp đồng vô hiệu trong KDTM
Trang 12Vô hiệu theo nghĩa thông thường là "không có hiệu lực, không có hiệu
quả” 1 Từ đó có thể suy ra, hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không tồn tại theo
quy định của pháp luật, không có hiệu lực pháp lý Mặc dù một hợp đồng nào
đó được xác lập, các bên có thể chưa thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện xong các quyền, nghĩa vụ như cam kết, nhưng khi xác định đó là hợp đồng vô hiệu thì mọi cam kết, thỏa thuận (đang, đã thực hiện) đều không phải
là các quyền, nghĩa vụ được pháp luật bảo hộ Thông thường các nước trên thế giới đều căn cứ vào các điều khoản chủ yếu, mang tính chất quyết định của hợp đồng để xác định một hợp đồng vô hiệu Các điều khoản chủ yếu này dựa vào đặc điểm, tính chất của hợp đồng, đồng thời phải căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội của đất nước đó trong từng giai đoạn
Trong khoa học pháp lý, hợp đồng vô hiệu dùng để chỉ tình trạng một hợp đồng trái với ý chí của các bên hoặc trái với điều kiện có hiệu lực của pháp luật Khi một hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu có nghĩa hợp đồng không có giá trị ngay từ thời điểm giao kết Như trên đã nói hợp đồng trong lĩnh vực KDTM là một loại hợp đồng dân sự đặc thù, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Những thuộc tính vốn có của hợp đồng dân sự được biểu hiện cụ thể ở hợp đồng trong KDTM, đồng thời hợp đồng trong KDTM cũng
có những đặc thù riêng của nó Ở Việt Nam, BLDS được coi là “luật gốc” điều chỉnh những vấn đề chung nhất trong dân sự, kinh doanh thương mại Trong khi đó, hiện nay các luật chuyên ngành không có quy định về vấn đề này do vậy, để xác định hợp đồng vô hiệu trong KDTM, chúng ta phải căn cứ vào quy định tại Điều 117 và Điều 122 BLDS 2015 Theo đó, có thể hiểu hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không tuân thủ đầy đủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Khi hợp đồng vi phạm một hay nhiều điều kiện có hiệu lực của giao dich dân sự thì hợp đồng đó bị coi là vô hiệu
Tóm lại, hợp đồng vô hiệu trong KDTM là những hợp đồng trong KDTM mà các chủ thể tham gia hợp đồng không tuân thủ các điều kiện có
1
Trang 13hiệu lực do pháp luật quy định về giao dịch trong hoạt động kinh doanh, thương mại Hậu quả là hợp đồng không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập hợp đồng
1.1.2 Dấu hiệu nhận biết và căn cứ xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại
1.1.2.1 Dấu hiệu nhận biết hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại
Các yêu cầu đảm bảo cho một hợp đồng có hiệu lực bao gồm: nguyên tắc giao kết hợp đồng, nội dung, các quy định về hình thức, các hành vi pháp luật cấm, yêu cầu về chủ thể và năng lực chủ thể, yêu cầu về cấp phép hoạt động (trong một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện) Trên phương diện
lý luận và thực tiễn, khi tham gia vào hợp đồng các bên đều mong muốn đạt mục đích nhất định và pháp luật bảo hộ cũng như tạo điều kiện cho mục đích
đó trở thành hiện thực Để được pháp luật thừa nhận vào bảo vệ, thì các bên tham gia hợp đồng phải tuân theo các điều kiện mà pháp luật quy định Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong hợp đồng cũng như việc bảo vệ lợi ích chung của xã hội
Đặc điểm chung của hợp đồng vô hiệu là không đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật Khi hợp đồng bị vô hiệu các bên tham gia hợp đồng phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định có thể bất lợi về vật chất và phi vật chất, như không đạt được mục đích đã được xác định, nếu đang thực hiện thì phải chấm dứt việc thực hiện đó để quay lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Nhìn chung, hợp đồng vô hiệu thường có những dấu hiệu sau:
Thứ nhất, không đáp ứng một trong các điều kiện theo quy định của
pháp luật đối với hợp đồng có hiệu lực, bao gồm:
i) Điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng Bản chất của hợp đồng
là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể trong hợp đồng nhưng không phải bất cứ ai cũng có quyền tham gia vào bất kỳ hợp đồng nào mà chỉ có các chủ thể được pháp luật cho phép mới có thể tham gia
Trang 14Khi các chủ thể tham gia hợp đồng thì phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng được xác lập Đồng thời,
về mặt ý chí, chủ thể tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, đe dọa hay lừa dối
ii) Mục đích và nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội Mặc dù, khi tham gia các bên chủ thể hoàn toàn được tự do thể hiện ý chí của mình, tự do trong việc quyết định nội dung, hình thức của hợp đồng, tự do lựa chọn đối tác Nhưng sự tự do đó không mang tính tuyệt đối mà bị ràng buộc trong khuôn khổ pháp luật cho phép Sự ràng buộc này chính là sự hạn chế tự do của các chủ thể khi tham gia thiết lập giao dịch, nếu chủ thể tham gia không tuân thủ các quy định hạn chế đó sẽ dẫn tới giao dịch bị vô hiệu - điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 Quy định này cũng hoàn toàn giống với quy định pháp luật của đa số các nước trên thế giới
Sở dĩ pháp luật có sự hạn chế này bởi lẽ về bản chất, pháp luật là công cụ bảo
vệ cho lợi ích chung của cộng đồng Để bảo vệ trật tự công cộng, bảo vệ các giá trị đạo đức xã hội, bảo vệ quyền tự do và lợi ích của người khác, do đó mà
hệ thống pháp luật nào cũng có những quy định cấm một số hành vi nhất định Đó là những điều cấm của pháp luật, những điều mà các chủ thể không được làm Tuy nhiên, thế nào là vi phạm đạo đức xã hội? Đạo đức xã hội là một phạm trù trừu tượng có độ “co giãn” , nó phụ thuộc vào từng thời điểm kinh tế - chính trị nhất định, phụ thuộc các yếu tố văn hóa, lịch sử Đây là câu hỏi mà hầu hết các hệ thống pháp luật không có giải thích chính thức về vấn đề này Quy định tại Điều 123 BLDS 2015 thì đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng Quy định này chưa được hướng dẫn hay giải thích cụ thể, chi tiết, vậy nên, thực tế áp dụng các thẩm phán, trọng tài viên thường căn cứ vào án
lệ hoặc tư duy theo logic của mình để giải thích và áp dụng
Ví dụ: A thuê thiết kế sửa nhà mình có cửa nhà vệ sinh hướng thẳng
vào cửa chính, nơi đặt bàn thờ của gia đình nhà hàng xóm vì muốn gia đình
Trang 15hàng xóm mở cửa chính sang hướng khác cho nhà A đẹp hơn Khi này hợp đồng thuê thiết kế sửa nhà không có hiệu lực vì mục đích của hợp đồng vi phạm đạo đức xã hội
iii) Chủ thể tham gia hợp đồng không tự nguyện Sự tự nguyện tham gia hợp đồng là một yếu tố cơ bản và không thể thiếu được trong hợp đồng
Vì vậy, các chủ thể tham gia hợp đồng phải thể hiện ý chí đích thực của mình Mọi thỏa thuận không phản ánh đúng ý chí của các bên đều có thể dẫn đến sự
vô hiệu của hợp đồng Pháp luật của phần lớn các nước trên thế giới đều đòi hỏi khi tham gia hợp đồng phải thể hiện ý chí đích thực Ý chí đích thực trong hợp đồng thể hiện là, khi tham gia hợp đồng các chủ thể có quyền thể hiện mong muốn của mình ra bên ngoài trong khuôn khổ pháp luật cho phép mà không bị sự ép buộc của bất kỳ một yếu tố nào khác, ở một số nước như: Nhật Bản, Đức hay Pháp vẫn thừa nhận hiệu lực của hợp đồng khi có sự nhầm lẫn đơn phương, việc ghi nhận này để hạn chế các trường hợp vô hiệu gây ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của các chủ thể tham gia hợp đồng cũng như lợi ích công cộng2 Theo đó, hợp đồng chỉ vô hiệu trong trường hợp tất cả các bên biết trước sự sai lệch ý chí đích thực của các bên so với những gì mà các bên thể hiện hoặc buộc các bên phải biết theo quy định của pháp luật thì sẽ dẫn tới hợp đồng vô hiệu như: bị lừa dối, đe dọa
Ví dụ: Công ty cổ phần M ký hợp đồng mua bán cừu với hộ kinh
doanh của ông bà Bảy Thời Đàn cừu gồm có 44 con và được ông Bảy cam đoan đàn cừu là cừu cái giống đuôi ngắn loại tốt, sinh sản một năm hai lần
Sau khi Công ty M nhận cừu về, kiểm tra phát hiện trong số 44 con cừu cái
giống chỉ có 06 con là giống cụt đuôi loại tốt, 38 con còn lại là cừu cái giống cừu Thái Lan, là loại cừu dài đuôi, giống xấu, giá thấp nhưng bị bên bán chặt cụt đuôi Hợp đồng mua bán nói trên bị vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí
tự nguyện của chủ thể (bên mua bị bên bán lừa dối)
Trang 16
iv) Hình thức của hợp đồng không đúng với quy định của pháp luật Thông qua hợp đồng các chủ thể cũng như những người khác có thể biết được nội dung của hợp đồng giữa các bên Việc quy định một số loại hợp đồng phải tuân thủ các quy định về hình thức dựa trên cơ sở là đối tượng của các loại
HĐ này có giá trị lớn hoặc có tính năng đặc biệt, nên hình thức của hợp đồng
là căn cứ xác định chính xác nội dung các cam kết, thỏa thuận của các bên Mặt khác, những quy định đó còn là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát việc chuyển dịch các tài sản này
Thứ hai, các bên tham gia hợp đồng phải gánh chịu hậu quả pháp lý
nhất định Khi hợp đồng vô hiệu, các bên phải quay lại tình trạng ban đầu, các bên tham gia hợp đồng hoàn lại cho nhau những gì đã nhận, về mặt lý thuyết, đây là sự tổn thất của các bên, vì các bên không đạt được mục đích như đã mong muốn mà quay lại tình trạng như trước khi tham gia hợp đồng Tuy nhiên, về mặt thực tế có trường hợp khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu, có bên được hưởng lợi, có bên bị thiệt hại, có thể nói đây là vấn đề phức tạp nhất khi giải quyết hậu quả pháp lý hợp đồng vô hiệu trong thực tế
1.1.2.2 Xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại
Về nguyên tắc, để một hợp đồng phát sinh hiệu lực pháp lý thì hợp đồng đó phải thỏa mãn các điều kiện do luật định BLDS đưa ra những điều kiện chung nhất về điều kiện có hiệu lực của các GDDS, trên cơ sở đó luật chuyên ngành có thể có những quy định bổ sung cụ thể hóa về điều kiện có hiệu lực đối với từng loại hợp đồng cụ thể Theo đó, những hợp đồng phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực chung theo quy định của BLDS, khi luật chuyên ngành không quy định hoặc quy định không rõ ràng, đầy đủ Tất cả những hợp đồng không tuân thủ một trong các điều kiện có hiệu lực đó thì sẽ
bị coi là vô hiệu
Điều 116 BLDS 2015 quy định: “GDDS là hợp đồng, hoặc , nghĩa vụ
dân sự” Như vậy, HĐ (dân sự) trong mọi trường hợp được coi là GDDS Do
vậy điều kiện có hiệu lực của GDDS cũng là điều kiện có hiệu lực của HĐ,
Trang 17những quy định về điều kiện có hiệu lực của GDDS sẽ được áp dụng khi giao kết và thực hiện hợp đồng Cũng từ đó, khi xem xét hiệu lực của hợp đồng trong KDTM - một loại hợp đồng dân sự đặc thù, ta cũng áp dụng các điều kiện có hiệu lực của GDDS, bởi luật chuyên ngành không có quy định về vấn
đề này Theo đó, các điều kiện dẫn đến sự vô hiệu của HĐ trong KDTM, đó
là - dựa theo Điều 117 BLDS 2015:
Thứ nhất, chủ thể không có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành
vi dân sự phù hợp với HĐ được xác lập
Để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật HĐ, khi quy định về các loại
HĐ cụ thể trong lĩnh vực KDTM, LTM năm 2005 và các luật chuyên ngành khác không lặp lại những quy định chung về HĐ đã được ghi nhận trong BLDS Quy định về từng loại HĐ cụ thể trong lĩnh vực thương mại, LTM và các luật chuyên ngành tập trung quy định về tính chất, chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ trong từng quan hệ HĐ cụ thể Đây cũng là đặc điểm chung nhất của LTM và các luật chuyên ngành về vấn đề này Do đó, để xác định tư cách chủ thể tham gia HĐ trong KDTM, các bên cần nghiên cứu kỹ các quy định có liên quan của luật chuyên ngành
Ví dụ: Luật thương mại xác định chủ thể tham gia từng quan hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại thông qua việc xác định tư cách pháp lý của thương nhân khi thực hiện một hoạt động thương mại cụ thể Như quy định
tại Điều 167 LTM năm 2005: “1 Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng
hóa cho đại lý bán 2 Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hóa để làm đại
lý bán ” Từ đó các chủ thể nhận thức rằng chỉ có thương nhân mới được
thực hiện đại lý thương mại và các chủ thể tham gia quan hệ HĐ đại lý thương mại phải đều phải là thương nhân Nếu một trong các bên không phải
là thương nhân hay không được thương nhân ủy quyền hợp pháp tham gia quan hệ này, HĐ lập tức vô hiệu do vi phạm yếu tố chủ thể HĐ
Trang 18Thứ hai, chủ thể tham gia HĐ không tự nguyện Tự nguyện được hiểu là
“tự mình muốn làm, không phải bị thúc ép, bắt buộc”3
Tính tự nguyện trong HĐ
là khả năng về ý chí và biểu lộ ý chí ra bên ngoài của các chủ thể khi tham gia
HĐ, là phạm trù chủ quan thuộc khả năng xử sự của quyền chủ thể được pháp luật công nhận và cho phép Yếu tố tự nguyện đóng vai trò rất quan trọng và có thể coi là yếu tố đặc trưng của pháp luật dân sự nói chung và HĐ nói riêng Để xác định một chủ thể tham gia HĐ có hoàn toàn tự nguyện hay không, điều kiện cần là được pháp luật cho phép tham gia HĐ và điều kiện đủ là hành vi tham gia
HĐ của các chủ thể tham gia phải là thể hiện ý chí đích thực của họ trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm đạt được mục đích nhất định
Thứ ba, mục đích và nội dung của HĐ vi phạm điều cấm của pháp
luật, trái đạo đức xã hội “Mục đích” hiểu theo nghĩa thông thường là “cái vạch ra làm đích nhằm đạt cho được” - Từ điển Tiếng Việt Theo pháp luật dân sự Việt Nam thì mục đích của HĐ được hiểu là lợi ích mà các bên đã vạch ra sẵn trong ý nghĩ của mình và mong muốn đạt được khi tham gia HĐ Nội dung, theo nghĩa thông thường là mặt bên trong của sự vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện Nội dung được hiểu theo nghĩa rộng, là tất cả các điều kiện có liên quan đến giao dịch như điều kiện về chủ thể, về đối tượng, số lượng, về HĐ có điều kiện hoặc các nguyên tắc của HĐ Theo nghĩa hẹp thì nội dung gồm tổng hợp các điều khoản mà các bên thỏa thuận hoặc tuyên bố nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Mục đích, nội dung của HĐ là sự thể hiện hành vi có ý thức của con người khi xác lập, thực hiện HĐ và được pháp luật công nhận và bảo vệ Do vậy, nó là điều kiện cần và đủ của mọi GDDS cũng như của HĐ hay HĐ trong KDTM Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trực tiếp tham gia HĐ, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, lợi ích Nhà nước cũng như lợi ích chung của cộng đồng, pháp luật quy định những hành vi nhất định mà các chủ thể không được thực hiện - điều cấm của luật Do vậy các
Trang 19bên khi tham gia HĐ cần tôn trọng và tuân thủ Bên cạnh các quy định cấm của luật thì những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng các bên cũng phải tôn trọng và thực hiện đúng để tránh sự vô hiệu cho HĐ đã xác lập
Thứ tƣ, hình thức HĐ không đúng quy định trong trường hợp pháp luật
quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực của HĐ Để bảo vệ cho trật tự an toàn xã hội, lợi ích của Nhà nước và sự an toàn của chủ thể tham gia HĐ, ngoài việc các chủ thể tham gia HĐ phải hoàn toàn tự nguyện thì còn phải tuân thủ theo các quy định về hình thức đối với một số HĐ nhất định Theo
Từ điển Tiếng Việt, hình thức thông thường được hiểu là “toàn thể nói chung những gì làm thành mặt bề ngoài của sự vật, cái chứa đựng biểu hiện nội dung” Theo đó, hình thức của HĐ là cách thức biểu hiện ra bên ngoài, là phương thức thể hiện ý chí của các chủ thể trong HĐ Hình thức của hợp đồng nói chung có thể được thể hiện dưới dạng lời nói, hành vi hoặc văn bản Những quy định cụ thể về hình thức này (nếu có) phần lớn là được quy định tại các luật chuyên ngành Chính vì vậy, để HĐ không bị vô hiệu về mặt hình thức thì các bên cần tìm hiểu các quy định cụ thể có liên quan của luật chuyên ngành và tuân theo đúng các quy định đó Trường hợp luật không có quy định điều kiện về hình thức, các bên sẽ có thể tùy nghi lựa chọn hình thức cho HĐ
mà mình tham gia
Ví dụ: Quy định tại Điều 110 LTM 2005 về Hợp đồng dịch vụ quảng
cáo thương mại, theo đó, hợp đồng này phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Hay căn cứ quy định ở các Điều 138 (khoản 2), Điều 148 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp phải được lập thành văn bản và chỉ
có hiệu lực khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu trí tuệ
Ngoài ra, đối với HĐ thương mại quốc tế, các quy định điều chỉnh quan
hệ HĐ này còn được ghi nhận trong các điều ước quốc tế song phương và đa
Trang 20phương mà Việt Nam tham gia với tư cách thành viên Chẳng hạn như: Hiệp định thương mại Việt Nam - Hòa Kỳ (BTA), Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO (GATS), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (FTA), Công ước Viên năm 1980 về HĐ MBHH quốc tế (CISG) Những quy định trong các điều ước quốc tế trực tiếp hoặc gián tiếp điều chỉnh các quan hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại nói chung và HĐ thương mại quốc tế nói riêng Do đó, khi đánh giá hiệu lực pháp lý của những
HĐ này phải lưu ý quan tâm đến các văn bản pháp luật có liên quan đó
Tóm lại, các điều kiện có hiệu lực của HĐ được quy định trong BLDS
là những điều kiện cơ bản, bắt buộc đối với các chủ thể khi xác lập, thực hiện hợp đồng Các điều kiện nêu trên là một thể thống nhất, hoàn chỉnh và khi xem xét không được xem nhẹ điều kiện nào Căn cứ vào nội dung của từng điều kiện cụ thể có thể thấy: điều kiện có hiệu lực của giao dịch đều là ý chí của Nhà nước kết hợp với ý chí của chủ thể trong hợp đồng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các chủ thể Vì vậy, nếu thiếu một hoặc các điều kiện này thì HĐ có thể bị tuyên bố là vô hiệu Trong một HĐ, các điều kiện này có mối liên hệ gắn bó với nhau và bổ trợ cho nhau Do đó, khi xem xét, đánh giá một HĐ về nguyên tắc không được tách các điều kiện đó ra mà phải đặt chúng trong mối quan hệ biện chứng với nhau để giúp ta thấy được tính hợp pháp hay không hợp pháp của HĐ Trên cơ sở đó, ta xác định được HĐ
vô hiệu hay hợp pháp
1.1.3 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại
Thứ nhất, hợp đồng vô hiệu do có mục đích, nội dung vi phạm điều
cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội: Mục đích là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập HĐ Nội dung của HĐ là toàn bộ các thỏa thuận, giao kết của các bên khi tham gia ký kết HĐ được thể hiện dưới dạng các điều khoản Khi HĐ trong KDTM vô hiệu với lý do này thì bị xem là vô hiệu tuyệt đối Theo quy định tại Điều 123 của BLDS năm 2015, thì điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực
Trang 21hiện những hành vi nhất định Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng
Để xác định nội dung của HĐ có vi phạm điều cấm của pháp luật hay không, cần lưu ý các quy phạm cấm đoán trong các văn bản luật như: LTM
2005, Luật Đầu tư 2014 và tham khảo các nghị định hướng dẫn thi hành các luật này của Chính phủ Quy định chi tiết LTM về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh và kinh doanh có điều kiện; Nghị định về Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu để có được những hướng dẫn hoặc giải thích cụ thể từ các quy định của luật và lưu
ý, khi áp dụng điều kiện này phải trích dẫn cụ thể điều luật cấm đoán được quy định trong luật, trường hợp luật không cấm mà các văn bản hướng dẫn hoặc văn bản không phải là luật có quy định cấm thì không được áp dụng Đảm bảo đối tượng của HĐ là những hàng hóa mà pháp luật không cấm, không trái đạo đức xã hội
Thứ hai, hợp đồng vô hiệu do giả tạo: Khi các bên giao kết HĐ một
cách giả tạo nhằm che giấu một HĐ khác thì HĐ giả tạo vô hiệu còn HĐ bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp HĐ bị che giấu cũng vô hiệu theo quy định của pháp luật Trường hợp xác lập HĐ giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa
vụ với người thứ ba thì HĐ đó vô hiệu
Thứ ba, hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn: Trường hợp HĐ được xác lập
có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập HĐ thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố HĐ vô hiệu, trừ trường hợp mục đích xác lập HĐ của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập HĐ vẫn đạt được
Thứ tƣ, hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép: Như đã đề
cập, khi tham gia HĐ các bên phải trên tinh thần tự do, tự nguyện, trung thực trong quá trình xác lập, thực hiện HĐ nhằm đạt được những lợi ích nhất định, không bên nào được lừa dối, ép buộc bên nào Vì vậy, khi một bên tham gia
Trang 22hợp đồng không tự nguyện do bên kia hay người thứ ba thì họ có quyền yêu cầu TA tuyên bố HĐ đó là vô hiệu Bởi, HĐ mất đi yếu tố tự nguyện, dẫn đến những nội dung được thể hiện trong HĐ không phải là ý chí thực của họ thì pháp luật không bảo hộ cho HĐ đó
Thứ năm, hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức:
Các quy định về hình thức của HĐ được pháp luật chuyên ngành có quy định tương đối cụ thể Theo đó, đối với các loại HĐ pháp luật có quy định thì các bên cần phải tuân thủ theo đúng các quy định đó nếu không sẽ bị vô hiệu (trừ trường hợp quy định tại Điều 129 BLDS 2015 - Các bên có thể tính đến việc thỏa thuận rõ cách tính “hai phần ba nghĩa vụ trong GD” trong HĐ, để tránh việc bị vô hiệu vì lý do này)
Thứ sáu, hợp đồng vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm
chủ được hành vi của mình Đây là trường hợp người có năng lực hành vi dân
sự nhưng đã xác lập HĐ vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, thì có quyền yêu cầu TA tuyên bố HĐ đó vô hiệu Nghĩa vụ chứng minh việc ký HĐ vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi thuộc về người có yêu cầu/người đã xác lập HĐ
Bên cạnh đó còn có các trường hợp HĐ vô hiệu khác như: HĐ vô hiệu
do có đối tượng không thể thực hiện được; HĐ vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện hay một số HĐ theo quy định của LDN 2014, phải tuân thủ theo các trình tự nhất định thì các HĐ mới có hiệu lực (các trường hợp HĐ ký kết giữa công ty với một số đối tượng: Điều 67, 86, 162 LDN 2014) Theo đó, các bên cần phải có cái nhìn thận trọng các trường hợp vô hiệu của HĐ để tránh rủi ro cho quan hệ HĐ của mình
1.1.4 Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại
Hậu quả theo nghĩa thông thường là kết quả không hay về sau Hậu quả dùng để chỉ những hành vi, sự kiện gây ra bất lợi cho cá nhân, tổ chức hay
Trang 23cho cả nhân loại Mặc dù khái niệm hậu quả pháp lý được sử dụng một cách rộng rãi trong khoa học pháp lý, nhưng hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra một khái niệm cụ thể, các nhà lập pháp cũng chỉ đi sâu vào quy định nội dung của hậu quả pháp lý
Theo quy định tại Điều 131 BLDS năm 2015 quy định về hậu quả của GDDS vô hiệu, theo đó GDDS vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm GD được xác lập Khi GDDS vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường Việc giải quyết hậu quả của GDDS vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do BLDS hay luật khác có liên quan quy định
Về nguyên tắc, hậu quả pháp lý của HĐ vô hiệu là không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự đối với các bên từ thời điểm xác lập Điều này cho thấy các nhà làm luật đã khẳng định tính nhất quán trong việc xử lý một HĐ (nếu đã được xác lập) là vô hiệu và nhằm phòng ngừa trường hợp các bên có ý định cùng nhau xác lập HĐ Khi HĐ vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và họ phải hoàn trả cho nhau những gì
đã nhận, nói cách khác, đó là khôi phục lại tình trạng ban đầu, trước thời điểm xác lập HĐ Việc không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ khi HĐ vô hiệu chỉ là cách thức quy định của nhà làm luật (xác định tính nguyên tắc, không nên hiểu và áp dụng một cách máy móc), còn thực tế khi TA giải quyết vụ việc xin tuyên bố HĐ vô hiệu thì thường là trường hợp các bên đã thực hiện toàn bộ hoặc một phần những gì mà họ đã thỏa thuận với nhau
Do vậy, rất ít trường hợp khi TA tuyên bố HĐ vô hiệu có thể khắc phục hậu quả đúng như nhà làm luật quy định
Trang 24Về phương diện lý thuyết, khi các bên tham gia HĐ nhằm thiết lập một quan hệ mà ở đó mỗi bên đều đạt được một mục đích nhất định Từ mục đích
đó, các bên tham gia HĐ sẵn sàng gánh chịu những trách nhiệm và được hưởng những quyền lợi nhất định, nhưng vì HĐ vô hiệu không xác lập quyền
và nghĩa vụ của các bên, nếu các bên chưa thực hiện, thì các bên không được tiếp tục thực hiện; nếu đang được thực hiện, các bên không được tiếp tục thực hiện và giải quyết hậu quả pháp lý của HĐ vô hiệu; trường hợp các bên đã thực hiện xong những gì đã thỏa thuận thì cũng giải quyết hậu quả của HĐ vô hiệu Giải quyết hậu quả pháp lý của HĐ vô hiệu là buộc các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, trong trường hợp các bên không trả cho nhau bằng hiện vật thì hoàn trả cho nhau bằng tiền, bên
có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường do pháp luật quy định hoặc các bên có thỏa thuận trước về hậu quả, như phạt, phạt cọc khi một bên có lỗi và phải chịu thiệt hại tương ứng với lỗi của họ gây ra Do đó, HĐ vô hiệu chỉ có thể làm phát sinh hậu quả về trách nhiệm dân sự hoặc BTTH ngoài HĐ Đây cũng chính là tính chất đặc trưng của chế tài trong quan hệ pháp luật dân sự
Tóm lại, khi hợp đồng vô hiệu thì không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm HĐ được xác lập Khi
HĐ vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường Việc giải quyết hậu quả của GD dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định
1.2 Pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại
Pháp luật điều chỉnh HĐ trong lĩnh vực kinh doanh thương mại được hiểu là tổng thể quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại Chế định hợp đồng vô hiệu
Trang 25là bộ phận quan trọng của pháp luật hợp đồng Theo đó, pháp luật về HĐ vô
hiệu trong KDTM bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ về HĐ vô hiệu phát sinh trong
hoạt động KDTM Hiện nay các quy định về hợp đồng vô hiệu trong kinh
doanh thương mại ở nước ta được quy định chung tại BLDS năm 2015, Luật
thương mại năm 2005, đồng thời được quy định ở các luật chuyên ngành
1.2.1 Nội dung cơ bản của pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh
doanh, thương mại
Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật điều chỉnh quan hệ HĐ được quy định
trong nhiều văn bản khác nhau Ngoài những quy định về HĐ trong BLDS,
LTM, còn có thể tìm thấy nhiều quy định liên quan đến HĐ trong các văn bản
pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực trong KDTM như: tín dụng, ngân hàng, bảo
hiểm, xây dựng, vận chuyển, đầu tư, đất đai Nội dung cơ bản của pháp luật
điều chỉnh hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại bao gồm:
-Những quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
- Quy định về các trường hợp hợp đồng vô hiệu
- Quy định về xử lý hợp đồng vô hiệu
- Quy định về thẩm quyền và thời hiệu xử lý hợp đồng vô hiệu
1.2.2 Nguồn luật và vấn đề áp dụng pháp luật về hợp đồng vô hiệu
trong kinh doanh, thương mại
Thứ nhất, áp dụng pháp luật quốc gia
Các quy định về HĐ vô hiệu trong KDTM phần lớn được quy định tại
BLDS 2015 Còn các luật chuyên ngành quy định các vấn đề liên quan khác
như: chủ thể tham gia HĐ, hình thức hợp đồng, đối tượng HĐ Do vậy, để
xem xét vấn đề hiệu lực của HĐ trong KDTM thì chúng ta luôn luôn phải
nghiên cứu các quy định của pháp luật chuyên ngành trước sau đó là các quy
định của BLDS
Ví dụ: Xem xét hiệu lực của HĐ Đại diện cho thương nhân Tìm hiểu
và nghiên cứu các quy định của pháp luật về hoạt động trung gian thương mại
Trang 26là đại diện cho thương nhân, nhận thấy chủ thể của loại HĐ này đều phải là thương nhân - Điều 141 LTM 2005 Như vậy, khi xem xét điều kiện về chủ thể và năng lực chủ thể, ta xem xét xem hai bên chủ thể (bên đại diện và bên giao đại diện) có là thương nhân hay không Nếu một trong các bên không phải là thương nhân thì không đáp ứng điều kiện về chủ thể theo LTM Khi này sẽ nghiên cứu đến BLDS 2015 - điểm a khoản 1 Điều 117, ta sẽ xác định được căn cứ để tuyên HĐ Đại diện cho thương nhân vô hiệu là do không tuân thủ điều kiện về chủ thể
Xuất phát từ mối quan hệ giữa HĐ và HĐ trong KDTM là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng cũng như sự thống nhất trong điều chỉnh quan hệ
HĐ ở Việt Nam hiện nay, việc áp dụng quy định pháp luật để điều chỉnh quan
hệ HĐ trong KDTM được thực hiện theo nguyên tắc chung, đó là: những quy định về HĐ dân sự trong BLDS là căn cứ chung, mang tính nguyên tắc cho
HĐ KDTM; những quy định về HĐ trong KDTM ở các văn bản pháp luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng trước BLDS Như vậy, khi điều chỉnh các quan hệ HĐ trong KDTM, trước hết dùng luật chuyên ngành, trong trường hợp nội dung cần điều chỉnh nào đó mà luật chuyên ngành không quy định thì
áp dụng các quy định của BLDS năm 2015
Ví dụ: HĐ mua bán căn hộ chung cư từ các chủ đầu tư nhà ở thương mại
Các bên sẽ phải căn cứ vào các luật chuyên ngành (Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở ) khi xác định các vấn đề về đối tượng của HĐ (điều kiện để căn hộ chung cư được đưa vào chào bán, hình thức của HĐ mua bán ) Còn các quy định về HĐ vô hiệu thì các bên sử dụng BLDS để áp dụng
Tóm lại, BLDS là văn bản “gốc” điều chỉnh HĐ vô hiệu nói chung và
HĐ vô hiệu trong KDTM nói riêng BLDS quy định các vấn đề mang tính nguyên tắc, điều chỉnh các quan hệ HĐ (không phân biệt HĐ dân sự hay HĐ trong KDTM) LTM là nguồn luật quan trọng điều chỉnh các GD thương mại giữa các nhà kinh doanh với nhau và với các bên liên quan nhằm triển khai hoạt động KDTM Bên cạnh BLDS, LTM thì còn có một số HĐ đặc thù trong
Trang 27thương mại còn được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành khác Để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật HĐ, khi quy định về các loại hợp đồng cụ thể trong lĩnh vực thương mại, LTM năm 2005 và các luật chuyên ngành khác không lặp lại những quy định chung về HĐ đã được ghi nhận trong BLDS mà quy định về từng loại HĐ cụ thể trong lĩnh vực tương ứng thuộc phạm vi điều chỉnh: tập trung quy định về tính chất, chủ thể, hình thức, nội dung cơ bản, quyền và nghĩa vụ trong từng quan hệ hợp đồng Thông thường các quy định tại văn bản luật này được ưu tiên áp dụng trước Trường hợp LTM hay luật chuyên ngành không có quy định thì sẽ áp dụng BLDS để điều chỉnh
Thứ hai, áp dụng điều ước quốc tế
Hiện nay, trong quan hệ thương mại hàng hóa quốc tế, khi đề cập đến tập quán thương mại cần đặc biệt quan tâm đến Các điều kiện thương mại quốc tế, gọi tắt là Incoterms (International Commercial Terms), Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (Uniform Customs and Practise for Documentary Credit- UCP) do Phòng Thương mại quốc tế tập hợp và phát hành Việc áp dụng Điều ước quốc tế tại Việt Nam dựa trên các nguyên tắc quy định trong BLDS, LTM và các luật chuyên ngành Khi áp dụng điều ước quốc tế đối với các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, cần phân biệt hai trường hợp:
i) Đối với những Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên, nếu điều ước đó có quy định khác với pháp luật Việt Nam, thì áp dụng theo quy định của Điều ước quốc tế - khoản 1 Điều 5 LTM năm 2005
ii) Đối với những điều ước quốc tế mà Việt Nam chưa là thành viên, thì các bên trong HĐ có quyền thỏa thuận áp dụng những nội dung không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
Thứ ba, áp dụng thói quen thương mại
Thói quen thương mại cũng là nguồn quy phạm điều chỉnh quan hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại Theo LTM, khoản 3 Điều 3 thì thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành
Trang 28và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐ thương mại Cũng theo quy định tại Điều 12 Luật này về Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên thì trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật Như vậy, trường hợp các bên ký kết HĐ không thỏa thuận cụ thể thì có thể áp dụng theo thói quen trong hoạt động thương mại đã hình thành giữa các bên
Thứ tƣ, áp dụng tập quán thương mại
Tập quán thương mại là nguồn luật rất quan trọng điều chỉnh các quan
hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là trong thương mại quốc tế Theo LTM năm 2005, tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hoạt động thương mại - khoản 4 Điều 3 Tập quán thương mại thường được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại, khi các mối quan hệ này không được điều chỉnh bởi pháp luật giữa các bên hoặc điều ước quốc tế
Trong mối quan hệ với HĐ, tập quán được áp dụng theo nguyên tắc: nếu pháp luật quốc gia không có quy định, các bên không có thỏa thuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì tập quán được áp dụng nhưng không trái với những nguyên tắc của pháp luật
Thứ năm, áp dụng án lệ
Như phần trước đã đề cập, việc án lệ được công nhận và áp dụng tại Việt Nam là một điểm mới rất tiến bộ và đáng ghi nhận của BLDS 2015
Theo đó, Điều 6 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc
phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng
Trang 29quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự” “Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì
áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của
Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng” Như vậy, án lệ được áp dụng khi không thể
áp dụng tương tự pháp luật theo khoản 1 Điều 6 BLDS 2015 Khi pháp luật không quy định cụ thể, nội dung trong quan hệ đó các chủ thể không có cam kết, thoả thuận cụ thể và đồng thời không áp dụng được tương tự pháp luật thì
áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ và lẽ công bằng Hiện nay, đã có 16 án lệ được công bố và áp dụng, trong số đó có 04 án lệ liên quan đến hợp đồng KDTM (Án lệ số 08, 09/2016; Án lệ số 11, 13/2017);
có 07 dự thảo án lệ đã được thông qua, trong đó có 03 án lệ liên quan đến HĐ KDTM Theo quy định này, những án sẽ xét xử tại Toà án không được trái với án lệ đã được công bố
1.2.3 Pháp luật một số nước về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại
HĐ trong KDTM hay HĐ thương mại là chế định có lịch sử phát triển lâu đời trong khoa học pháp lý nhân loại và thời gian gần đây, dưới sự tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa, chế định HĐ thương mại của các quốc gia đã có nhiều nét tương đồng Bên cạnh đó, với những truyền thống pháp luật khác nhau, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, tập quán kinh doanh không đồng nhất, chế định HĐ thương mại của các nước còn phản ánh nhiều
sự khác biệt, cả về quan niệm, nguồn điều chỉnh quan hệ HĐ cũng như một số nội dung cụ thể của chế định này
Thứ nhất, hệ thống các nước theo truyền thống luật Châu Âu lục địa - Civil Law
Pháp luật các nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa như Pháp, Đức và các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật này (Bỉ, Tây Ban Nha, một số nước ở châu Mỹ Latin ) Ở hệ thống các nước này phân biệt khá rõ ràng GDDS và GD thương mại nhưng chỉ coi hành vi thương
Trang 30mại là một dạng đặc biệt của hành vi dân sự4 Theo đó, mọi GD gắn liền với thương nhân được coi là GD thương mại và chịu sự điều chỉnh riêng của pháp luật thương mại (thường là Bộ LTM như ở Đức, Pháp, Ba Lan, Séc, Nhật Bản hay LTM như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha) Chính sự phân biệt này nên dẫn đến hệ quả là trong hệ thống pháp luật Civil Law, những vấn đề liên quan đến
HĐ thương mại sẽ được ưu tiên áp dụng các quy định trong Bộ LTM hoặc LTM Đối với những vấn đề không được quy định trong Bộ LTM hay LTM thì áp dụng các quy định chung trong BLDS
Thứ hai, hệ thống các nước theo truyền thống thông luật/pháp luật Anh - Mỹ/Common law
Các nước theo truyền thống thông luật như Anh, Mỹ, Úc, các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật này và một số nước châu Âu như Italia,
Hà Lan, Thụy Sĩ Ở hệ thống pháp luật này, không có sự phân biệt pháp luật dân sự và pháp luật thương mại, cũng không phân biệt hành vi thương mại với hành vi dân sự Do vậy các văn bản pháp luật, án lệ, tập quán thương mại được áp dụng chung cho mọi HĐ mà không phân biệt HĐ đó được ký kết vì mục đích kinh doanh hay vì mục đích sinh hoạt, tiêu dùng BLDS của Thụy
Sỹ có nhiều quy định về mua bán thương mại hay BLDS 1942 của Italia cũng
có nhiều quy định về HĐ giao kết vì mục đích kinh doanh5 Như vậy, có thể thấy trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, phần lớn các quan hệ HĐ được điều chỉnh thống nhất trong BLDS - Văn bản “gốc” điều chỉnh vấn đề này
Thứ ba, các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Liên bang Nga, Trung Quốc
Khoa học pháp lý Xô - Viết trước đây phân biệt khá rõ Luật Kinh tế với Luật Dân sự và coi Luật Kinh tế là ngành luật độc lập Trong giai đoạn 1920 -
1950, Liên xô ban hành Bộ luật Kinh tế tồn tại song song với BLDS Sau khi Liên Xô tan rã, Cộng hòa Liên bang Nga đã ban hành BLDS mới năm 1994,
4
đàm phán, soạn thảo, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.25
Trang 31điều chỉnh thống nhất các quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trước đây tồn tại 3 đạo luật quy định về HĐ: Luật HĐ kinh tế 1993, Luật HĐ kinh tế đối ngoại 1985 và Luật HĐ kỹ thuật 1987 Tuy nhiên, đến năm 1999 Trung Quốc đã thông qua Luật HĐ, thống nhất điều chỉnh mọi loại HĐ cho dù chúng phát sinh từ hoạt động tiêu dùng, sinh hoạt hay hoạt động kinh doanh
Như vậy là ở các nước có nền kinh tế chuyến đổi, cũng đã có sự thống nhất pháp luật điều chỉnh quan hệ HĐ Đây là xu thế phát triển tất yếu của hệ thống pháp luật về HĐ bởi các HĐ không có sự khác biệt về bản chất, cho dù nó được giao kết phục vụ hoạt động KDTM hay đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng
Tìm hiểu các quy định cụ thể liên quan đến HĐ vô hiệu của hệ thống pháp luật này tác giả nhận thấy cũng có sự khác nhau giữa các quốc gia về mặt tên gọi Xét các quy định về HĐ vô hiệu đương nhiên/tuyệt đối, ở BLDS Cộng hòa Pháp ghi nhận loại HĐ này dưới tên gọi HĐ đương nhiên vô hiệu hoặc trong BLDS Đức, BLDS Nhật Bản, Luật HĐ của Trung Quốc sử dụng khái niệm vô hiệu (void) Trong khi đó, luật HĐ các nước theo hệ thống Common law ghi nhận loại HĐ này là “HĐ không thể thực thi” (unenforceable) Mặc dù về tên gọi có sự khác nhau nhưng
về bản chất vẫn là giống nhau
Xét các quy định về HĐ thương mại vô hiệu tương đối mà các yếu tố dẫn đến sự vô hiệu như: bị lừa dối, đe dọa hay nhầm lẫn thì chúng cũng được gọi dưới những tên gọi không giống nhau Ví dụ, theo BLDS Pháp thì loại HĐ này là “HĐ vô hiệu có điều kiện”, hay “HĐ có thể vô hiệu - voidable (ở một số nước theo Common law)
Về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại vô hiệu do bị đe dọa, pháp luật của chúng ta không phân biệt rõ hành vi đe dọa xảy ra vào lúc nào và mức độ như thế nào thì HĐ thương mại bị coi là vô hiệu Do đó, nếu đe dọa ở giai
Trang 32đoạn thực hiện HĐ để buộc bên kia phải thực hiện nghĩa vụ HĐ thì HĐ thương mại lúc này có bị vô hiệu hay không? Giải quyết vấn đề này, luật của Pháp có khái niệm “đe dọa không chính đáng” để phân biệt với khái niệm
“gây sức ép chính đáng”, là sự đe dọa không dẫn đến khả năng vô hiệu hóa các HĐ Một trong những trường hợp gây sức ép chính đáng là việc thực hiện một quyền hợp pháp kèm theo yêu cầu đánh đổi quyền này với sự ưng thuận của người bị đe dọa trong việc xác lập HĐ với những điều kiện hoàn toàn bình thường Chính đáng bởi vì: i) Việc gây sức ép không bao gồm một dự tính trái pháp luật; ii) Người gây sức ép không thu nhận các lợi ích bất thường, lợi ích quá đáng từ HĐ và người bị gây sức ép cũng không bị thiệt hại
do việc thực hiện HĐ đó
Về điều kiện có hiệu lực của HĐ, theo luật án lệ của Hoa Kỳ, HĐ có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện sau: 1) Có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên một cách tự nguyện; 2) Các bên có năng lực ký kết HĐ; 3) Có nghĩa vụ đối ứng - consideration, trừ một số trường hợp ngoại lệ; 4) Mục đích của HĐ phải hợp pháp hoặc không trái với chính sách công; 5) Hình thức HĐ phải phù hợp với quy định pháp luật6
Như vậy về cơ bản, trừ điều kiện về nghĩa vụ đối ứng thì các điều kiện
HĐ có hiệu lực của Hoa Kỳ và Việt Nam khá tương đồng với nhau Nói về nghĩa vụ đối ứng - consideration, đây là một trong những điểm khác biệt giữa luật Việt Nam và họ pháp luật Anh - Mỹ Trong luật Anh, yêu cầu có
“consideration” trước khi HĐ ràng buộc pháp lý Theo thông luật,
“consideration” hiểu là sự trả giá cho một người khi người này thực hiện một hành vi nhất định Consideration bao gồm sự trao đi, đổi lại các quyền và lợi ích giữa các bên giao kết HĐ Trong sự trao đổi đó, điều gì là lợi ích của bên
đề nghị giao kết HĐ sẽ là sự hy sinh của bên chấp nhận đề nghị giao kết HĐ
và ngược lại
Trang 33
Ví dụ: Lauren đang là chủ một công ty thời trang rất thịnh vượng và rất
thích thú với công việc cũng như cuộc sống một mình hiện tại Sau lời đề nghị
về sống chung để chăm sóc từ người mẹ của cô, cô đồng ý về quê sống cùng
mẹ Nhằm thể hiện sự biết ơn với con gái, mẹ Lauren hứa sẽ cho cô toàn bộ
số cổ phần của bà tại Công ty mà bà đang đầu tư Không văn bản nào được ký kết, sau khi mẹ Lauren chết, các anh chị của Lauren phản đối Tòa án nhìn nhận: i) Lauren chăm sóc mẹ trên cơ sở đề nghị của mẹ cô và ii) việc cô từ bỏ công việc kinh doanh đang thịnh vượng của mình đã cấu thành nên
“consideration” và theo đó lời hứa phải được thực thi
Một số hình thức “consideration” như: Cam kết làm từ thiện, Hứa không kiện Với cách hiếu của người Hoa Kỳ về “consideration”, không có khái niệm nào trong pháp luật dân sự của Việt Nam có ý nghĩa tương tự Tuy nhiên, thực tế cho thấy ở Việt Nam cũng đã có các “consideration” nhưng
chưa được pháp luật công nhận chính thức Ví dụ: Trên thực tế, các vụ va
chạm giao thông ở Việt Nam dẫn đến thỏa thuận “Hứa không kiện” là không hiếm Xét về mặt pháp lý thì không tòa án nào công nhận hiệu lực của các
“consideration” đó, nhưng thực tế nó vẫn ràng buộc các bên trong vụ va chạm giao thông
Liên quan đến vấn đề hiệu lực của HĐ, pháp luật Hoa Kỳ chia thành 3 loại: i) HĐ vô hiệu - void; ii) HĐ có thể vô hiệu - voidable; iii) HĐ không thể thực thi - unenforceable Theo đó, HĐ vô hiệu là HĐ bị coi là không tồn tại, không được tòa án công nhận và không được thực thi - giống với HĐ vô hiệu tuyệt đối theo pháp luật Việt Nam Hợp đồng có thể bị vô hiệu là HĐ mà một bên có quyền lựa chọn chấm dứt HĐ, ví dụ hợp đồng ký không đúng thẩm quyền Hợp đồng không thể thực thi là HĐ mà không bên nào có thể thực thi nghĩa vụ HĐ (giống với HĐ không thể thực hiện được vì lý do bất khả kháng trong pháp luật Việt Nam)
Nhìn chung xu hướng chung trên thế giới và Việt Nam hiện nay là không phân biệt rạch ròi HĐ thương mại với HĐ (dân sự) trong các văn bản
Trang 34pháp luật (các khái niệm HĐ thương mại với HĐ dân sự chỉ mang tính học thuật chứ không phải là thuật ngữ chính thức được sử dụng trong pháp luật thực định) Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là không nghiên cứu về nó và trên thực tế ngày càng nhiều các nhà luật học đã và đang bắt đầu có những nghiên cứu chuyên biệt về loại HĐ này nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của toàn xã hội nói chung và các nhà kinh doanh nói riêng
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA
ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
2.1 Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại
2.1.1 Quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Về nguyên tắc, để một HĐ phát sinh hiệu lực pháp lý thì HĐ đó phải thỏa mãn các điều kiện do luật định BLDS 2015 đưa ra những quy định chung nhất về điều kiện có hiệu lực của các GDDS, trên cơ sở đó luật chuyên ngành có thể có những quy định bổ sung cụ thể hóa về điều kiện có hiệu lực đối với loại HĐ cụ thể, ví dụ LTM 2005 quy định về một số HĐ như HĐ đại
lý thương mại, HĐ đại diện cho thương nhân là những loại HĐ yêu cầu hai bên chủ thể đều phải là thương nhân Hay Luật Nhà ở 2014, Luật Đất đai
2013 có quy định cụ thể về điều kiện có hiệu lực về hình thức đối với HĐ chuyển nhượng QSDĐ/nhà ở Chính vì vậy, các chủ thể tham gia HĐ trong KDTM cần lưu ý các quy định của pháp luật chuyên ngành đối với từng loại
HĐ cụ thể mà mình sẽ giao kết để phòng tránh các rủi ro từ HĐ vô hiệu
Căn cứ theo Điều 117 BLDS năm 2015 và các quy định liên quan khác,
có thể xác định HĐ trong KDTM có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, chủ thể tham gia HĐ phải có năng lực chủ thể để thực hiện
các nghĩa vụ theo HĐ Năng lực chủ thể ở đây bao gồm cả năng lực pháp luật
và năng lực hành vi phù hợp với loại HĐ được xác lập
Về năng lực pháp luật của cá nhân, đây là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự có được từ khi cá nhân sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết Bao gồm: Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản; Quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản, quyền thừa kế và Quyền tham gia vào quan hệ dân sự và có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ đó
Trang 36Quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân, căn cứ vào BLDS
2015 thì người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên và người thành niên
là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Trong trường hợp người đã đủ 18 tuổi nhưng lại mắc bệnh như bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác gây ra tình trạng mất năng lực hành vi thì cũng không được tự mình giao kết GD/HĐ
mà phải có đại diện pháp luật
Về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân Theo quy định tại khoản 2 Điều 86 BLDS 2015 thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân
sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào số đăng ký
Năng lực hành vi dân sự của pháp nhân, về nguyên tắc, thời điểm tổ chức, doanh nghiệp hay pháp nhân được coi là có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ phải căn cứ vào quy định của pháp luật Pháp luật doanh nghiệp được coi
là nguồn pháp lý chủ yếu điều chỉnh/quy định năng lực hành vi dân sự của doanh nghiệp/pháp nhân Bên cạnh đó, doanh nghiệp/pháp nhân hoạt động trong lĩnh vực nào thì sẽ chịu thêm sự điều chỉnh của văn bản pháp luật của lĩnh vực đó, ví dụ pháp luật về doanh nghiệp, thương mại, đầu tư, ngân hàng tín dụng, bảo hiểm v.v Thông thường năng lực hành vi của pháp nhân hay
tổ chức được tính kể từ thời điểm doanh nghiệp đó được thành lập về mặt pháp lý/thừa nhận sự tồn tại về mặt pháp lý, ví dụ như kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cấp giấy phép thành lập hoặc ngày
mà pháp luật quy định phải khai trương hoặc phải đăng ký thì mới được coi là
đã thành lập Và chỉ khi đó các doanh nghiệp, tổ chức hoặc pháp nhân được coi là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Như vậy, năng lực pháp luật và năng lực hành vi là hai yếu tố của chủ thể khi tham gia quan hệ HĐ, chúng có nội hàm khác nhau, ảnh hưởng đến tính có hiệu lực của HĐ là rất khác nhau
Trang 37Thứ hai, chủ thể tham gia HĐ hoàn toàn tự nguyện Ý chí của chủ thể,
sự tự do tự nguyện tham gia HĐ là rất quan trọng, nó vừa là quyền con người, quyền công dân vừa là một điều kiện quan trọng để HĐ có hiệu lực pháp lý
Có thể thấy các quy định tại Điều 126, Điều 127 BLDS 2015 là biểu hiện của trường hợp vô hiệu do vi phạm điều kiện này
Thứ ba, mục đích và nội dung của HĐ không vi phạm điều cấm của
luật, không trái đạo đức xã hội Điều cấm của luật là những quy định không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Còn chuẩn mực xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng Như vậy, xuất phát từ lợi ích công cộng mà pháp luật sẽ có các quy định cụ thể liên quan đến việc cấm các chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự, quan hệ kinh doanh, thương mại được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định hoặc đưa ra những quy định xác định cụ thể tài sản nào không thể là đối tượng của HĐ Tùy thuộc vào chính sách của nhà nước nhằm quản lý kinh tế, trật tự xã hội ở từng thời kỳ nhất định mà đối tượng kinh doanh được quy định khác nhau (có thể bị hạn chế hoặc bị cấm) Điều kiện này chứa đựng hai cặp yếu tố:
i) Cặp yếu tố “mục đích và nội dung của GDDS” là cặp yếu tố có tính cốt
lõi của GD Mục đích là cái mà các bên trong GD hướng tới và Điều 118 đã định
nghĩa rất cụ thể: “Mục đích của GDDS là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được
khi xác lập GD đó” Còn nội dung của GD chính là thỏa thuận của các bên về
quyền, nghĩa vụ trong GD mà các bên phải thực hiện hoặc quyền của những chủ thể tham gia nhằm đạt được mục đích khi xác lập, tham gia GD
ii) Cặp yếu tố thứ hai được quy định rõ ràng, dứt khoát nhằm xác định, chỉ dẫn một hành lang pháp lý để các bên xử sự trong quá trình xác lập, thực
hiện GD, đó là GD “không vi phạm điều cấm của luật So với BLDS 2005
thì Bộ luật 2015 đã có sự sửa đổi quan trọng, dù chỉ bỏ một chữ “pháp” trong thuật ngữ “pháp luật” tại Điều 123 của Bộ luật, điều này đem đến một nội hàm mới về cả pháp lý và thực tiễn
Trang 38Dưới góc độ pháp lý thì những vấn đề có ý nghĩa quan trọng phải được luật điều chỉnh và tư duy này đã được thể hiện nhất quán trong rất nhiều điều luật Theo đó, kể từ thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực, chỉ những điều cấm quy định trong văn bản luật chứ không phải văn bản dưới luật (nghị định, thông tư ) mới là căn cứ pháp lý để xác định GD có vi phạm điều kiện này hay không
Dưới góc độ thực tiễn thì lợi ích của người dân nói chung, lợi ích chính đáng của các bên trong HĐ nói riêng phải được bảo đảm một cách chắc chắn bởi cơ quan quyền lực cao nhất, có như vậy mới không còn nguy cơ bị méo mó bởi những văn bản dưới luật của cơ quan hành pháp hoặc cơ quan tư pháp, có tác dụng tăng niềm tin khi các bên tham gia HĐ, góp phần thúc đẩy quan hệ HĐ
Một dạng vi phạm tiêu biểu điều cấm của luật là HĐ vô hiệu do giả tạo (dựa trên Điều 124 BLDS 2015) Tuy nhiên, không nên cho rằng, phạm vi điều cấm của luật chỉ nằm trong Điều 124 Khi xem xét HĐ trong KDTM có
vi phạm điều cấm của luật hay không phải xem xét loại HĐ cụ thế đó bị chi phối bởi luật chuyên ngành nào để đối chiếu, xem xét
Đây là một trong những điều kiện quan trọng, có thể coi là quan trọng nhất Bởi lẽ, mục đích, nội dung của HĐ chính là “linh hồn” của HĐ, nó không chỉ tác động trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia HĐ mà có thể ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể khác, dù họ không tham gia HĐ, nếu các bên tham gia HĐ không lấy pháp luật, đạo đức xã hội làm chuẩn, làm cơ
sở trong quá trình xác lập HĐ
Thứ tƣ, hình thức của HĐ là điều kiện có hiệu lực của HĐ trong
trường hợp luật có quy định Hình thức của HĐ trong KDTM phải phù hợp với quy định của luật Đối với một số HĐ trong KDTM đặc biệt mà luật quy định phải được lập thành văn bản mới có hiệu lực pháp luật (HĐ MBHH quốc
tế, HĐ quảng cáo, HĐ tín dụng ) hoặc công chứng, chứng thực hay đăng ký (HĐ bảo lãnh, HĐ thế chấp QSDĐ ) thì việc lập HĐ bằng văn bản và công chứng, chứng thực hay đăng ký là điều bắt buộc
Trang 39Đối với điều kiện này, BLDS 2015 đã bỏ chữ “pháp” trong thuật ngữ
“pháp luật” so với BLDS 2005 - khoản 2 Điều 119, còn những nội dung khác BLDS 2015 vẫn giữ nguyên Đồng thời tại Điều 119 của BLDS 2015 đã liệt
kê các hình thức của GD Như vậy, hình thức của HĐ chỉ khi có luật định, khi
đó nó mới trở thành điều kiện bắt buộc về hình thức của HĐ Quy định này đã
thể hiện rõ hơn triết lý “việc dân sự cốt ở hai bên”, nội dung của HĐ, sự tự
nguyện của các chủ thể mới là yếu tố quan trọng, còn hình thức của HĐ chỉ
có ý nghĩa trong một chừng mực nhất định
Ngoài ra, HĐ trong KDTM khi được giao kết phải đảm bảo các nguyên tắc về quyền tự do, bình đẳng, tự nguyện, thiện chí, hợp tác và trung thực
2.1.2 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh, thương mại
Tại Điều 122 BLDS 2015 đã quy định như sau: "GDDS không có một
trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác" Đây là một quy định có tính
khẳng định, xét dưới góc độ triết học nó thể hiện mối quan hệ không thể tách rời giữa nội dung và hình thức của sự vật Vì vậy, trên nguyên tắc, quy định này không gây ra băn khoăn, tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở nội dung này như quy định, theo tác giả là có phần cứng nhắc vì chưa đáp ứng được sự đa dạng, tính mềm dẻo trong quan hệ dân sự, chưa coi bản chất sự vật, ý chí của các bên tham gia GD mới là yếu tố cốt lõi; ii) nội dung thứ hai của điều kiện này là
"trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác" là nội dung mới được bổ sung,
hé mở sẽ có quy định mới trong các quy định tiếp theo của Bộ luật
Dưới đây là các trường hợp HĐ vô hiệu được nghiên cứu và phân tích dựa trên các quy định trong BLDS 2015 Bộ luật không thiết kế theo hướng liệt kê, do đó, không được nhầm lẫn cho rằng Bộ luật đã quy định đầy đủ tất
cả các trường hợp GD/HĐ vô hiệu mà cần phải thấy đó chỉ là các trường hợp
có tính phổ biến, điển hình
Thứ nhất, HĐ vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã
hội - dựa theo Điều 123 BLDS 2015
Trang 40Chúng ta đã biết, quy định của pháp luật liên quan đến HĐ là những khuôn mẫu chung có tính nguyên tắc, trong đó xác định không gian cho các bên hành động và những giới hạn mà các bên không được vượt qua nhằm bảo đảm lợi ích cho các bên tham gia HĐ, đồng thời, ngăn ngừa các bên xâm phạm những lợi ích chung, lợi ích của chủ thể khác Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp nội dung thỏa thuận của các bên vi phạm pháp luật là HĐ vô hiệu, mà HĐ chỉ vô hiệu khi lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập HĐ đó, hoặc nội dung mà hai bên thỏa thuận trong HĐ vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội Tức là, chỉ những trường hợp mục đích của các bên, thỏa thuận của các bên trong HĐ vi phạm vào các quy định của luật,
mà quy định đó không cho phép các chủ thể xác lập, thực hiện HĐ hoặc đã xâm phạm vào những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng thì mới xác định HĐ đó vô hiệu
Do đó, khi một bên hoặc cơ quan có thẩm quyền cho rằng, HĐ vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì phải chỉ rõ điều cấm nào của luật, quy định nào không cho phép các bên xác lập HĐ, nếu vi phạm thuộc lĩnh vực đạo đức cũng phải chỉ rõ vi phạm chuẩn mực nào trong lĩnh vực đạo đức Nếu không chỉ ra các căn cứ pháp lý cụ thể thì không áp dụng điểm c khoản 1 Điều 117, Điều 123 của Bộ luật để tuyên vô hiệu HĐ
Ví dụ: Doanh nghiệp tư nhân HB ký HĐ mua bán Rùa nước ngọt đốm
đen với Doanh nghiệp X - quốc tịch nước ngoài HĐ mua bán này vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật Cụ thể là vi phạm điểm c khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư năm 2014, mua bán động vật thuộc danh mục cấm kinh doanh theo Phụ lục I, phần III mục 1 tiểu mục 1.3 Công ước quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ký tại Washington D.c ngày 01/3/1973
Tóm lại, thực tiễn xem xét HĐ vi phạm điều cấm của luật và trái với đạo đức xã hội cho thấy, các nhà thực thi pháp luật thường xem xét đến những vấn đề
cụ thể, như: i) HĐ có vi phạm điều cấm (nào) của luật hoặc đã xâm hại đến trật tự công cộng không; ii) nội dung của HĐ có xâm phạm tập quán hoặc pháp luật quốc