1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công ty TNHH từ hai thành viên trở lên theo pháp luật doanh nghiệp việt nam

74 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy việc nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý đảm bảo cho doanh nghiệp Việt Nam nói chung, công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên phát huy được các lợi thế, cạnh tranh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN

TỪ HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO PHÁP LUẬT

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM PHẠM TRƯỜNG DUYỆT

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN

TỪ HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO PHÁP LUẬT

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM PHẠM TRƯỜNG DUYỆT

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là: Phạm Trường Duyệt học viên lớp : 18M - LKT72 khóa

2018-2020 xin cam đoan đây là công trình độc lập của riêng tôi mà không sao chép từ bất kỳ nguồn tài liệu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu sử dụng phân tích trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy

đủ, có xác nhận của cơ quan cung cấp số liệu Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi được thực hiện một cách khoa học, trung thực, khách quan Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của các nguồn số liệu cũng như các thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả Luận văn

Phạm Trường Duyệt

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1.Mục đích nghiên cứu 4

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5

5.1 Cơ sở lý luận 5

5.2 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Những đóng góp mới của luận văn 6

7 Kết cấu của luận văn 6

CHƯƠNG 1 7

KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH TỪ 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TNHH TỪ 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 7

1.1 Khái quát về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 7

1.1.1 Quan niệm chung về công ty 7

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 10

1.2 Pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 17

1.2.1 Khái niệm pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 17

1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên .17

1.3 Vai trò của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 18

CHƯƠNG 2 .20

QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP VỀ CÔNG TY TNHH TỪ 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 20

2.1 Quy chế pháp lý về thành viên công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 20

2.1.1 Xác lập tư cách thành viên 20

Trang 6

2.1.2 Chấm dứt tư cách thành viên 21

2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty 22

2.2 Quy chế pháp lý về vốn của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 23

2.2.1 Tài sản góp vốn và chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn 23

2.2.2 Tăng và giảm vốn điều lệ của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 29

2.2.3 Chuyển nhượng vốn góp 30

2.2.4 Yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp 31

2.2.5 Phân chia lợi nhuận 32

2.3 Quy chế pháp lý về tổ chức, quản lý công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 32

2.3.1 Hội đồng thành viên: 34

2.3.2 Chủ tịch Hội đồng thành viên 38

2.3.3 Giám đốc (Tổng giám đốc): 39

2.3.4 Ban kiểm soát 40

2.4 Quy chế pháp lý về đăng ký thành lập, tổ chức lại, giải thể công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 41

2.4.1 Đăng ký thành lập công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 41

2.4.2 Quy định về tổ chức lại công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 46

2.4.3 Quy định về giải thể công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 53

2.5 Những thành công và hạn chế của pháp luật doanh nghiệp về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên ở Việt Nam hiện nay 55

2.5.1 Những mặt đạt được 55

2.5.2 Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân 57

CHƯƠNG 3 .60

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VỀ CÔNG TY TNHH TỪ 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 60

3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 60

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 61

KẾT LUẬN 66

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vào cuối năm 1870, sự phát triển của các công ty cổ phần không thích hợp với mô hình kinh doanh nhỏ, các quy định quá phức tạp đối với công ty

cổ phần không cần thiết và không phù hợp với các công ty vừa và nhỏ, có ít thành viên Các công ty cổ phần đã lớn mạnh và vượt ra khỏi phạm vi của một quốc gia trở thành các công ty xuyên quốc gia Bên cạnh đó, đã xuất hiện những nhu cầu đầu tư vừa và nhỏ của doanh nghiệp, nhưng chế độ trách nhiệm vô hạn của công ty đối nhân không còn phù hợp với các nhà đầu tư

Thời điểm đó, các học giả pháp lý của nước Đức đã quyết định soạn thảo các quy định về một loại hình công ty mới, đó là công ty TNHH Công ty TNHH không phải là sản phẩm trực tiếp của các thương gia mà là sản phẩm của các nhà làm luật, là kết quả của quá trình lập pháp Nói một cách cụ thể hơn chính các nhà làm luật, đã tạo ra một mô hình công ty mới – công ty trách nhiệm hữu hạn Việc hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH thể hiện sự thành công lớn đầy sáng tạo của các nhà lập pháp Đức, họ đã sáng tạo ra một cấu trúc hoàn thiện về công ty TNHH năm 1892 Đây là loại hình công ty vừa kết hợp được ưu điểm về chế độ trách nhiệm hữu hạn của công ty đối vốn và ưu điểm về chế độ thành viên quen biết nhau của công ty đối nhân nhà đầu tư

Tại Việt Nam, với sự ra đời của Luật Công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990, khu vực kinh tế tư nhân được phát triển Đây là một bước nhảy có vị trí đặc biệt quan trọng mở đầu cho quá trình đổi mới nền kinh tế quốc dân và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Một trong những nội dung mới của luật Công ty 1990 là lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam ghi nhận một loại hình doanh nghiệp mới - Công ty TNHH Trong thời gian dài phát triển từ Luật doanh nghiệp

1999 tới 2005 và hiện nay là Luật Doanh nghiệp 2014, đã cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam, giúp doanh nghiệp yên tâm hơn trong quá

Trang 8

2

trình sản xuất kinh doanh

Mặc dù quy định của pháp luật về công ty TNHH được ghi nhận trong LDN (2014) đã có những điểm đổi mới song những quy định này cũng còn một số hạn chế cần được sửa đổi và hoàn thiện hơn để phát huy thế mạnh của loại hình công ty TNHH Vì vậy việc nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý đảm bảo cho doanh nghiệp Việt Nam nói chung, công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên phát huy được các lợi thế, cạnh tranh lành mạnh trên thị trường thế giới là một yêu cầu bức thiết đòi hỏi các nhà làm luật vừa phải nắm bắt được những nhu cầu thực tiễn, vừa đảm bảo pháp luật quốc gia phù hợp với pháp luật của các nước trên thế giới Với những lý do trên, tôi

đã chọn đề tài “Công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Công ty TNHH ra đời muộn, nhưng loại hình doanh nghiệp này được các nhà đầu tư trên thế giới quan tâm, đó là sự kết hợp hoàn hảo những ưu điểm của công ty hợp danh và công ty cổ phần, phù hợp với các nhà đầu tư có quy mô vừa và nhỏ Ở Việt Nam thời gian qua có rất nhiều những bài viết mang tính chất nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí Luật học, tạp chí Nhà nước và Pháp luật… kể cả một số Luận văn thạc sĩ và Luận án tiến sĩ Luật học, Kinh tế học nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài công ty TNHH nói chung như:

- Luận văn Thạc sĩ: “Công ty TNHH ở Việt Nam và hướng hoàn thiện

địa vị pháp lý của loại hình doanh nghiệp này” của tác giả Lê Văn Khải

(1997);

- Luận văn Thạc sĩ: “Công ty TNHH một thành viên theo quy định của

pháp luật Việt Nam và pháp luật cộng hòa Pháp” của tác giả Đinh Thị An

(2014);

- Luận văn Thạc sĩ: “Công ty TNHH một thành viên LDN (2005) –

Trang 9

3

Những vấn đề lý luận và thức tiễn” của tác giả Lê Thị Tú Hồng (2006);

- Luận văn Thạc sĩ “Định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công

ty TNHH theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Vũ Tuấn Anh (2016);

- Luận văn Thạc sĩ: “Hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH ở Việt

Nam” của tác giả Hoàng Hải Hà (2014);

Các bài viết những công trình nghiên cứu như:

- Bài: “Hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về công ty TNHH”

của Ths Trần Quỳnh Anh (Tạp chí Luật học số 9/2010);

- Bài: “Công ty TNHH theo pháp luật Hoa Kỳ” của Ths Trần Quỳnh

Anh (Tạp chí Luật học 12/2010);

- Bài: “Cần hoàn thiện quy định pháp luật về chuyển nhượng vốn góp

trong công ty TNHH hai thành viên trở lên” của tác giả Châu Thùy Tam (Tạp

chí Kiểm soát 11/2014);

- Bài: “Những thay đổi về công ty TNHH trong LDN (2014)” của công

ty luật PLF (Website Doanh nhân Sài Gòn 3/2015);

- Bài: “LDN 2014 - Tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong toàn

bộ quá trình thành lập, hoạt động” của tác giả Hoàng Thanh Tuấn (Website

Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia)

Các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đây đã ít nhiều đánh giá thực trạng, kiến nghị quy định của pháp luật về công ty TNHH nói chung, chứ chưa phân tích cụ thể đối với công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

Ngoài ra, mỗi công trình nghiên cứu là một sự khai thác khác nhau, nhìn nhận vấn đề dưới góc độ khác nhau Với công trình nghiên cứu này, Luận văn sẽ kế thừa những thành tựu của các nghiên cứu trước đó nhưng nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống hơn chế định công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên ở nước ta từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên ở Việt Nam

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu trên luận văn xác định những nhiệm

vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:

Phân tích khái niệm, đặc điểm của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên ở Việt Nam

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên, làm rõ khái niệm, đặc điểm, các yếu tố chi phối tới pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên, cũng nhƣ cơ cấu pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên nhƣ: Quan điểm về công ty TNHH, thành lập, vận hành, tổ chức quản

lý, quyền và nghĩa vụ của thành viên và chấm dứt hoạt động của công ty TNHH

- Nghiên cứu sự phát triển chế định công ty TNHH từ 2 thành viên trở

lên ở Việt Nam từ khi ra đời đến nay thông qua các quy định của pháp luật từ Luật công ty (1990), LDN (1999), LDN (2005) đến LDN (2014) và LDN

2020 mới đƣợc thông qua, để thấy sự hoàn thiện về chế định công ty TNHH

từ 2 thành viên trở lên ở Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 11

5

Công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên là một vấn đề tài có phạm vi

nghiên cứu rộng Tuy nhiên trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ luật học, đề tài giới hạn phạm vị nghiên cứu ở những nội dung:

- Về không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên phạm vi cả

nước, phân tích dựa trên số liệu thông tin công ty TNHH từ 2 thành viên trở

lên được lấy trên phạm vi cả nước; Nghiên cứu về công ty TNHH từ 2 thành

viên trở lên của một số nước trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm cho

Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật

- Về thời gian: Đề tài sẽ nghiên cứu về quá trình phát triển chế định công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến nay vì đó là thời điểm công ty TNHH được công nhận chính thức trong

Luật công ty (1990) và được bổ sung hoàn thiện trong các quy định của LDN

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu phổ biến, thông dụng trong khoa học xã hội và nhân văn theo định hướng như sau:

- Phương pháp tiếp cận lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa… được sử dụng chủ yếu để giải quyết các vấn đề mang tính lý luận

do đề tài đặt ra

- Phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp thống kê khảo sát… được sử dụng chủ yếu để giải quyết các vấn đề mang tính thực tiễn của đề tài

Trang 12

6

- Phương pháp bình luận quy nạp, tổng hợp được sử dụng khi nghiên cứu phương hướng, những kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên ở Việt Nam

6 Những đóng góp mới của luận văn

Dưới góc độ nghiên cứu như trên, dự kiến Luận văn sẽ có những đóng góp mới sau đây:

Thứ nhất, với việc nghiên cứu toàn diện về lý luận cũng như thực trạng

pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên ở Việt Nam luận văn sẽ hệ

thống hóa, kế thừa và phát triển các luận cứ khoa học nhằm làm sáng rõ cơ sở

lý luận của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên và đánh giá những mặt tích

cực, ưu điểm đồng thời cũng chỉ rõ những tồn tại, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

Thứ hai, kết quả nghiên cứu Luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho các đề tài và bài viết có liên quan của những người đi sau về

lĩnh vực pháp luật công ty TNHH nói chung, công ty TNHH từ 2 thành viên

trở lên nói riêng

Thứ ba, đề tài nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị để hoàn thiện pháp

luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên trước yêu cầu phát triển đất

nước và hội nhập quốc tế hiện nay Do đó, Luận văn sẽ là nguồn tham khảo hữu ích cho việc tìm hiểu về chế định công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên ở

Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được bố cục gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên và pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

Chương 2: Quy định của Luật Doanh nghiệp về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp về công

ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

Trang 13

7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH TỪ 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TNHH TỪ 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 1.1 Khái quát về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

1.1.1 Quan niệm chung về công ty

Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, công ty ra đời và phát triển phù hợp với từng giai đoạn, điều kiện lịch sử nhất định Trong xã hội, khi nền sản xuất hàng hóa đã phát triển đến một mức độ, để mở mang kinh doanh các nhà kinh doanh cần phải có nhiều vốn Để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh, các nhà kinh doanh phải liên kết với nhau Trên cơ sở vốn và sự tin tưởng lẫn nhau họ đã liên kết theo những hình thức nhất định và tạo ra mô hình tổ chức kinh doanh mới – công ty kinh doanh

Do sự ảnh hưởng, tác động to lớn của công ty tới đời sống xã hội, nên nhu cầu điều chỉnh của pháp luật đối với công ty luôn luôn được đặt ra Chỉ khi bản chất của công ty được làm rõ, mới có thể giải quyết được hàng loạt các vấn đề pháp lý liên quan như: mối quan hệ giữa các thành viên của công ty; mối quan hệ giữa công ty với các thành viên của công ty; mối quan hệ giữa công ty với Nhà nước…1

Xét theo góc độ pháp lý, trên thế giới, mỗi quốc gia có một định nghĩa

“công ty” khác nhau Bộ luật Dân sự của Pháp định nghĩa: “Công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người thoả thuận với nhau sử dụng tài sản hoặc khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận hoặc kiếm lời có thể thu được qua hoạt động đó

Công ty có thể được thành lập trong những trường hợp do luật định bằng hành vi tự nguyện của một người

Các thành viên công ty cam kết cùng chịu lỗ” (Điều 1832)

Trang 14

8

Bộ luật Dân sự của Đức quy định: “Việc thành lập một hội có tư cách pháp nhân, trong chừng mực mà không dựa vào các quy định dưới đây, được điều chỉnh bởi khế ước lập hội” (Điều 25)

Bộ luật Dân sự của Ý quy định: “Thông qua hợp đồng công ty, hai hay nhiều người góp tài sản hay dịch vụ nhằm thực hiện chung một hoạt động kinh tế với mục đích chia sẻ lợi nhuận kiếm được từ hoạt động đó” (Điều 2247)

Czech - một phần tách ra từ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Tiệp Khắc, khi bắt tay vào xây dựng kinh tế thị trường, đã ban hành Bộ luật Thương mại với quy định: “Một công ty được thành lập trên cơ sở một hợp đồng lập hội (thỏa thuận thành lập hoặc thoả thuận hợp danh) được ký kết bởi mọi người sáng lập, trừ khi các quy định của Bộ luật này đòi hỏi khác” (Điều 57, khoản 1)

Từ các định nghĩa pháp lý trên cho thấy, pháp luật các nước thường quan niệm công ty là một hợp đồng với những đặc điểm cơ bản sau:

Công ty là sự liên kết của hai hay nhiều người Đây là quan niệm

truyền thống từ trước đến nay về công ty Khái niệm công ty của các nước đều chứa đựng yếu tố liên kết, mà muốn liên kết được thì phải có nhiều người Sự liên kết ở đây có thể là liên kết giữa hai hoặc nhiều thể nhân với nhau, hoặc giữa thể nhân với pháp nhân, hoặc giữa các pháp nhân với nhau Nhưng đặc điểm này dường như khó giải thích về công ty TNHH một thành viên

Các thành viên liên kết thông qua một sự kiện pháp lý, góp một số tài sản của mình vào công ty Sự kiện pháp lý ở đây có thể là hợp đồng điều lệ,

quy chế thành lập công ty Điều lệ, bản quy chế hoặc văn bản hợp đồng là hình thức biểu hiện của một quan hệ pháp lý, ở đây được hiểu là quan hệ đầu

tư vốn nhằm tìm kiếm lợi nhuận và chia sẻ rủi ro giữa những nhà đầu tư có ý chí liên kết với nhau dưới một hình thức nhất định Yếu tố góp vốn là nội dung quan trọng có tính chất quyết định của việc thành lập công ty Nếu như

Trang 15

9

góp vốn, xét từ phương diện kinh tế, là việc tạo ra tài sản cho công ty nhằm bảo đảm cho những chi phí trong hoạt động của công ty và bảo đảm quyền lợi cho các chủ nợ, thì góp vốn, xét từ phương diện pháp lý, là hành vi chuyển giao tài sản hay đưa tài sản vào sử dụng để đổi lấy quyền lợi đối với công ty Chỉ khi các nhà đầu tư góp vốn vào công ty, khi đó công ty mới có thể tồn tại, phát triển, các nhà đầu tư có thể nhận được lợi nhuận từ khoản vốn góp đó Vốn góp có thể thể hiện dưới các hình thức khác nhau như tài sản, hiện vật và

cả tri thức Đây là điều kiện quan trọng để thành lập công ty, tuy nhiên với từng loại công ty thì vai trò của vốn góp là khác nhau

Các thành viên liên kết với mục đích kiếm lời Đây là dấu hiệu để phân

biệt công ty với các tổ chức khác như các tổ chức dân sự, hội từ thiện, các hiệp hội, hội đoàn chuyên nghiệp được thành lập với mục đích phi lợi nhuận

Như vậy, về thực chất công ty kinh doanh có sự liên kết của ít nhất hai bên, các bên tham gia có thể là thể nhân, pháp nhân, nó hoàn toàn khác với doanh nghiệp một chủ sở hữu Tuy nhiên, trên thực tế hệ thống pháp luật của một số quốc gia trong đó có Việt Nam, đã quy định chế độ pháp lý về công ty TNHH một thành viên Mặc dù vậy, dấu hiệu sự liên kết vẫn là đặc điểm phổ biến, cơ bản của các loại hình công ty

Bên cạnh sự phát triển của pháp luật về công ty của các nước trên thế giới, Việt Nam cũng đã ban hành pháp luật nhằm điều chỉnh các vấn đề về công ty Theo điều 2 Luật công ty 1990, công ty TNHH và công ty cổ phần, gọi chung là công ty, là doanh nghiệp trong đó các thành viên đều góp vốn, cùng nhau chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình vào công ty Luật công ty 1990 thừa nhận hai loại hình công ty là công ty TNHH và công ty cổ phần Luật doanh nghiệp 1999 đã không đưa ra định nghĩa chung về công ty mà đưa ra các khái niệm cụ thể về các loại hình công ty Công ty theo Luật doanh nghiệp 1999 gồm công ty cổ phần, công ty

Trang 16

10

TNHH, công ty hợp danh Trong công ty TNHH bao gồm công ty TNHH một thành viên là tổ chức và công ty TNHH hai thành viên trở lên Cũng như vậy, Luật doanh nghiệp 2005 cũng chỉ đưa ra các khái niệm cụ thể về các loại hình công ty và đã bổ sung thêm loại hình công ty TNHH một thành viên là cá nhân Hiện nay, Luật doanh nghiệp 2014 đã hoàn thiện chế định pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

1.1.2.1 Khái niệm công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

Công ty TNHH là loại hình công ty rất phổ biến hiện nay trên thế giới, xuất hiện lần tiên ở Đức vào năm 1892, sau đó được công nhận và phát triển ở Pháp, Italia, Tây Ban Nha, các nước khác ở Châu Âu lục địa và Nam Mỹ

Trong lịch sử hình thành công ty trên thế giới, công ty TNHH là loại hình công ty xuất hiện sau công ty hợp danh và công ty cổ phần Nếu công ty

cổ phần, công ty hợp danh được hình thành từ nhu cầu thực tiễn, là sản phẩm của thực tiễn kinh doanh, thì công ty TNHH là sản phẩm của hoạt động lập pháp Nó có một con đường hình thành khác hẳn: Đầu tiên hoạt động kinh doanh được các thương gia tiến hành một cách độc lập Đến khi nền sản xuất hàng hóa phát triển, nhu cầu về vốn tăng lên, các thương gia có nhu cầu liên kết lại với nhau để tăng vốn, mở mang quy mô kinh doanh và chia sẻ rủi ro

Sự liên kết trong giai đoạn đầu diễn ra trong phạm vi hẹp, giữa những người

có sự quen biết, tin cậy nhất định với nhau đã hình thành nên loại hình công

ty hợp danh Sau này, sự liên kết không chỉ bó hẹp trong phạm vi những người quen biết mà được mở rộng ra, chỉ cần có vốn, có tài sản là có thể liên kết với nhau để thành lập công ty, và sự liên kết này đã hình thành công ty cổ phần Tuy nhiên sau một thời gian hoạt động, công ty hợp danh và công ty cổ phần cũng bộc lộ những nhược điểm nhất định, không đáp ứng được nhu cầu

đa dạng của các nhà đầu tư Để đáp ứng nguyện vọng của các nhà đầu tư là muốn có được một mô hình công ty hoàn toàn mới, vừa kết hợp được những

Trang 17

11

ưu điểm, vừa khắc phục được những hạn chế của công ty hợp danh và công ty

cổ phần, các nhà làm luật Đức đã sáng tạo ra loại hình công ty TNHH Luật công ty TNHH năm 1982 của nước Đức đã mở đầu cho sự ra đời của loại hình công ty mới này trên thế giới

Tại Cộng hòa liên bang Đức, công ty TNHH được điều chỉnh bởi Luật Công ty TNHH (Gesetz betreffend Gesellschaft mit beschranker Hafung), theo đó Công ty TNHH được pháp luật thừa nhận là một chủ thể độc lập: công ty có tài sản riêng, có quyền và nghĩa vụ độc lập với thành viên công ty, được quyền nhân danh chính mình khi tham gia các quan hệ pháp luật và phải

tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng tài sản của công ty Công ty phải có mức vốn tối thiểu 25000 Euro, tuy nhiên, để tạo sự thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh, một đạo luật quy định bổ sung về công ty TNHH đã được ban hành, có hiệu lực từ 2008 Theo đó, các nhà đầu tư có thể thành lập các công

ty TNHH có quy mô nhỏ với ít nhất 1 Euro để khởi động cho hoạt động kinh doanh của mình Khi những công ty TNHH này đạt đến mức vốn điều lệ là 25.000 Euro sẽ tự động chuyển thành công ty TNHH thông thường Công ty TNHH có thể có một hoặc nhiều thành viên Chủ thể thành lập công ty TNHH

có thể là cá nhân hay các tổ chức được thành lập hợp pháp tại Đức hoặc nước ngoài nhưng phải có năng lực pháp luật đầy đủ Phần vốn góp của các thành viên công ty TNHH có thể được chuyển nhượng nhưng với điều kiện nhất định

Sau khi công ty TNHH ra đời và được các nhà kinh doanh ưa chuộng tại Đức, mô hình này nhanh chóng được Cộng hòa Pháp thừa nhận và điều chỉnh với tên gọi Socite a Responsabilite Limitee bởi văn bản luật đầu tiên ban hành năm 1925 Ngoài các quy định của Bộ luật Thương mại Cộng hòa Pháp, các công ty thương mại cũng chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp và Bộ luật về Tiền và Tài chính

Pháp luật Pháp khi quy định về công ty TNHH cũng có nhiều điểm

Trang 18

12

tương đồng với quy định của Đức, đặc biệt là quy định về các đặc điểm pháp

lý của công ty TNHH Tuy nhiên, do có sự khác biệt về tư tưởng lập pháp nên công ty TNHH theo pháp luật Pháp cũng có một số đặc điểm khác biệt so với TNHH theo quy định của Đức Pháp luật Cộng hòa Pháp quy định công ty TNHH có thể là TNHH 1 thành viên hoặc từ 2 thành viên trở lên, nhưng với công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên thì số lượng thành viên không quá 100

Về vốn, các thành viên có thể chỉ cần sử dụng 1 Euro để thành lập công ty TNHH tại Cộng hòa Pháp Các thành viên có thể góp vốn bằng tiền hoặc tài sản khác nhưng 20% vốn điều lệ phải được góp trước khi công ty được đăng

ký kinh doanh Số vốn còn lại có thể được góp theo nhiều đợt trong 5 năm kể

từ khi công ty được đăng ký Việc chuyển nhượng vốn của thành viên công ty cho người không phải là thành viên công ty cần phải được sự chấp thuận của

số thành viên đại diện cho ít nhất ½ phần vốn góp của tất cả các thành viên còn lại

Ở Việt Nam, mặc dù hoạt động thương mại đã có từ lâu trong lịch sử nhưng hoạt động thương mại được điều chỉnh bằng thông lệ thương mại Do Việt Nam là thuộc địa của Pháp nên có thời kỳ luật thương mại của Pháp được áp dụng vào từng vùng lãnh thổ khác nhau2

Bộ luật thương mại (1807), Luật công ty TNHH (1925) của Pháp được các tòa án Nam Kì và tòa án Pháp

ở các thành phố thuộc địa áp dụng trực tiếp Dân luật Bắc Kì (1931) và Dân luật Trung Kì (1936, 1938) mà người Pháp ban hành để áp dụng cho Việt Nam thời kì bấy giờ cũng là mô phỏng và dịch thuật các loại hình công ty theo pháp luật Pháp ra tiếng Việt gọi là các “hội buôn” Đạo luật này chia các công ty (hội buôn) thành hai loại: hội người và hội vốn không có loại hình công ty TNHH Năm 1944, chính quyền Bảo Đại xây dựng Bộ luật thương mại trung phần Nhưng do chịu ảnh hưởng của pháp luật thương mại Pháp nên rất nhiều điều khoản mang tính sao chép Bộ luật thương mại của Pháp

Từ sau năm 1954, đất nước chia làm hai miền với hai chế độ kinh tế -

Trang 19

Từ năm 1986, thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật kinh tế mới Năm 1987, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tạo ra cơ hội cho việc hình thành và phát triển các loại hình doanh nghiệp mới

Công ty TNHH ở Việt Nam lần đầu tiên được quy định cụ thể trong Luật công ty 1990 Năm 1999 Luật doanh nghiệp được ban hành thay thế cho Luật công ty, quy định cụ thể hơn về công ty TNHH Luật doanh nghiệp 2005

bổ sung thêm loại hình công ty TNHH một thành viên là cá nhân, và Luật doanh nghiệp 2014 hiện nay đã hoàn thiện cơ bản về địa vị pháp lý của công

ty TNHH nói chung, TNHH từ 2 thành viên trở lên nói riêng, tạo ra cơ chế mềm dẻo, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của cá nhân, góp phần xây dựng nền kinh tế ổn định, bền vững Theo đó, công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50; thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ

và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp (Điều 47, LDN 2014)

Từ đó, có thể hiểu công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên là loại hình

công ty, có sự liên kết góp vốn của 2 hay nhiều tổ chức, cá nhân Các thành viên cùng chia sẻ quyền quản lý, lợi nhuận và gánh chịu rủi ro theo tỷ lệ phần vốn góp Công ty không phát hành cổ phiếu để huy động vốn

Trang 20

14

1.1.2.2 Đặc điểm của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

Như phân tích ở trên, công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên là mô hình công ty đáp ứng được nhiều yêu cầu của các nhà kinh doanh, tận dụng được

ưu điểm, khắc phục được nhược điểm của công ty hợp danh và công ty cổ phần Mặc dù pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên của các nước trên thế giới có những sự khác nhau nhất định và gồm một thành viên hay từ hai thành viên trở lên, công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên đều có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên là một doanh nghiệp

có tư cách pháp nhân Pháp luật các nước đều ghi nhận đặc điểm này của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên Ở Việt Nam, từ Luật Công ty 1990 cho đến Luật Doanh nghiệp 2005, hiện nay là Luật Doanh nghiệp 2014 đều thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên Với tư cách pháp nhân này, công ty có địa vị pháp lý độc lập trước pháp luật, độc lập với các thành viên, có tài sản riêng hình thành từ nguồn vốn đóng góp của các thành viên công ty

Thứ hai, số lượng thành viên của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

bị hạn chế và thường là những người quen biết nhau Xuất phát từ ý tưởng của các nhà làm luật là muốn xây dựng một loại hình công ty quy mô nhỏ, cơ chế quản lý đơn giản, thích hợp với quy mô đầu tư vừa và nhỏ, nên luật pháp các nước thường khống chế số lượng thành viên của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên Ví dụ: ở Liên bang Nga, Nhật Bản số lượng thành viên không quá 50, ở Thái Lan là không quá 99…3 Ở Việt Nam, theo quy định Luật doanh nghiệp, số lượng thành viên tối đa không vượt quá 50; nhưng trên thực tế, số lượng thành viên của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên thường hiếm khi vượt qua 10 người Đối với công ty TNHH một thành viên là cá nhân, đây là mô hình công ty ra đời qua quá trình phát triển các công ty

Trang 21

15

TNHH từ 2 thành viên trở lên khi toàn bộ tài sản của công ty đã chuyển vào tay một thành viên duy nhất do nhiều lý do khách quan Nếu công ty vẫn hoạt động tốt thì một vấn đề đặt ra là công ty đó phải thay đổi hình thức, giải thể hay vẫn được tiếp tục hoạt động Nếu dựa trên quan niệm phổ biến về công ty

là sự liên kết của hai hay nhiều thể nhân hoặc pháp nhân thì công ty TNHH một thành viên là cá nhân không thực sự là công ty theo đúng nghĩa của nó, thường được coi như là doanh nghiệp một chủ chịu trách nhiệm hữu hạn

Thứ ba, về trách nhiệm tài sản Công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ tài chính và các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty Các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty trừ trường hợp thành viên chưa góp vốn hoặc góp không đủ số vốn đã cam kết Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên Điều này cho thấy trong công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên có sự tách bạch tài sản giữa tài sản công ty và tài sản của các thành viên công ty Nguyên tắc phân tách tài sản được áp dụng trong mọi quan hệ tài sản, nợ nần và trách nhiệm pháp lý của công ty trong quá trình hoạt động

Thứ tư, vốn điều lệ chia thành từng phần, mỗi thành viên góp theo tỉ lệ

nhất định, phần vốn góp này có thể chuyển nhượng cho người khác nhưng bị hạn chế theo quy định của pháp luật Khi thành lập công ty, các thành viên phải cam kết góp vốn vào công ty với giá trị vốn góp và thời hạn góp vốn cụ thể Thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết khi góp đủ giá trị phần vốn góp, thành viên được công ty cấp giấy chứng nhận phần vốn góp, trường hợp có thành viên không góp đầy đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty và thành viên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không

Trang 22

16

góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết Phần vốn góp của mỗi thành viên có thể chuyển nhượng nhưng luôn bị ràng buộc bởi các quy định khắt khe Điều này có lẽ xuất phát từ đặc điểm số lượng thành viên ít, thường là quen biết, tin cậy lẫn nhau, cho nên hạn chế sự tham gia của “người lạ” vào công ty

Phần vốn góp có thể bằng tiền hoặc hiện vật, nhưng không thể hiện dưới dạng cổ phiếu và công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên không được phát hành cổ phiếu để huy động vốn trong công chúng Các thành viên công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên có thể góp vốn bằng tiền hoặc hiện vật, nếu góp vốn bằng hiện vật thì phải xác định giá trị của chúng Quyền được phát hành

cổ phiếu ra công chúng là một đặc điểm của công ty cổ phần nhưng công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên lại không có đặc điểm này Trong công ty cổ phần, vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau và được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu nên rất dễ chuyển nhượng Bất kì ai nắm giữ cổ phần của công ty đều trở thành thành viên của công ty, khi cần tăng vốn điều lệ, công

ty phát hành cổ phiếu để công khai huy động vốn trong công chúng Còn đối với công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên với cơ cấu vốn đóng, hạn chế số lượng thành viên và với nhu cầu kiểm soát được số lượng thành viên của mình, nên không có quyền phát hành cổ phiếu để công khai huy động vốn trong công chúng

Chính những đặc điểm trên đã chi phối cơ chế tổ chức quản lý công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên Quy chế tổ chức quản lý của công ty TNHH từ

2 thành viên trở lên đơn giản hơn so với công ty cổ phần nhưng cũng khác biệt với công ty hợp danh Công ty cổ phần với quyền được phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn nên số lượng thành viên rất lớn, cần phải có quy chế pháp lý chặt chẽ Công ty hợp danh với đặc trưng đối nhân, các thành viên có trình độ, tin cậy, quen biết lẫn nhau nên pháp luật ít khi quy định về tổ chức, quản lý công ty hợp danh một cách cụ thể Còn đối với công

ty TNHH từ 2 thành viên trở lên, mức độ quản lý được quy định cụ thể trong luật nhưng đơn giản hơn so với công ty cổ phần

Trang 23

17

1.2 Pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

1.2.1 Khái niệm pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

Mỗi một loại hình công ty đều có địa vị pháp lý riêng biệt với chế định pháp luật quy định về địa vị pháp lý đó Chế định pháp luật là tập hợp cấu trúc từ nhóm các quy phạm pháp luật có đặc điểm giống nhau để điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội tương ứng trong phạm vi một ngành luật hoặc nhiều ngành luật

Do đó, có thể hiểu, pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

là tổng thể các quy phạm pháp luật có đặc điểm giống nhau, điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan mật thiết với nhau về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên, như quy phạm pháp luật về thành lập, giải thể, quy phạm pháp luật về vốn, tổ chức quản lý… của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên Pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên là một phần rất quan trọng trong chế định pháp luật về doanh nghiệp, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

Từ khi ra đời đến nay, chế định pháp luật về công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên ở Việt Nam đã không ngừng được đổi mới hoàn thiện từ Luật Công ty 1990 tới LDN 2014, góp phần rất lớn vào sự phát triển của nền kinh

tế quốc dân cũng như tranh thủ được các nguồn lực sẵn có của đất nước và phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn sẽ tìm hiểu, phân tích những nội dung cơ bản sau đây của chế định pháp luật về công ty TNHH ở Việt Nam:

- Khái niệm, đặc điểm của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

- Quy chế về thành viên công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

- Quy chế về vốn của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

- Quy chế về tổ chức, quản lý công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

- Quy chế về thành lập, giải thể công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

Trang 24

18

1.3 Vai trò của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

Trước hết, công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên ra đời góp phần khẳng

định nguyên tắc cơ bản của công ty đó là tự do ý chí và tự kinh doanh

Nguyên tắc tự do ý chí, tự do kinh doanh được xem là nền tảng cơ bản thể hiện bản chất pháp lý của công ty Học thuyết tự do ý chí, tự do kinh doanh dựa trên nền tảng của tự do cá nhân, có nghĩa là không ai có thể ép buộc làm hay không làm một việc gì đó ngoài ý muốn của họ, không ai có thể

bị ép buộc làm hay không làm một việc gì mà không xuất phát từ lợi ích của bản thân họ Tuy nhiên, tự do cá nhân sẽ bị hạn chế trong lợi ích chung của cả cộng đồng, vì thế pháp luật đưa ra những quy định có tính bắt buộc để điều tiết các quan hệ cá nhân vì một lợi ích lớn hơn đó là sự tồn tại và phát triển

của xã hội

Luật doanh nghiệp ghi nhận quyền tự do thành lập công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam giai đoạn này Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền, của dân, do dân, vì dân, người dân tự lo liệu cuộc sống của mình thông qua sự lựa chọn cách thức làm ăn, đó là bước vào hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập công ty Nhà nước với quyền lực được nhân dân giao cho, có trách nhiệm tạo ra môi trường pháp lý và cung cấp phương tiện, chỉ dẫn cách thức để từng cá nhân có thể đáp ứng được các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của mình Công ty TNHH từ

2 thành viên trở lên sẽ giúp các tổ chức, cá nhân, gia tăng lợi nhuận cũng được đáp ứng ngày một tốt hơn, con người trao đổi sản phẩm và phục vụ lẫn

nhau Qua những phân tích trên, chúng ta có thể thấy, công ty TNHH từ 2

thành viên trở lên là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh mà pháp luật đã thừa nhận Do vậy, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận và bảo vệ loại hình công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên bên cạnh các loại hình

doanh nghiệp đang tồn tại và phát triển ở Việt Nam

Mặt khác, công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên đã khẳng định được

Trang 25

19

ưu thế của mình ở chế độ chịu trách nhiệm Trong nền kinh tế thị trường, chế

độ chịu trách nhiệm hữu hạn phần nào giúp các nhà kinh doanh hạn chế rủi ro bằng cách chia sẻ trách nhiệm cho nhiều người, đồng thời giúp các nhà kinh doanh đầu tư vào bất kỳ lĩnh vực kinh tế nào có lợi cho cá nhân họ, có lợi cho

xã hội, trường hợp đầu tư kinh doanh mà phải chịu trách nhiệm vô hạn thì họ

sẽ không dám đầu tư vào những lĩnh vực, những ngành nghề có rủi ro lớn, và như vậy thì môi trường kinh doanh sẽ bị hạn chế, gây tổn hại đến lợi ích

chung của toàn xã hội

Công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên là một loại hình công ty rất tiện lợi cho chủ sở công ty Với mô hình này, nhà kinh doanh cảm thấy an toàn, phân tán được rủi ro, chuyển dịch vốn, hợp vốn dễ dàng với các chủ thể kinh

doanh khác mà không làm mất đi bản chất pháp lý của doanh nghiệp

Do vậy, công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên ngày càng được khuyến khích phát triển sẽ làm tăng khả năng lựa chọn loại hình doanh nghiệp, các cá nhân, tổ chức liên kết với nhau thành lập công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên, có tư cách pháp nhân để tham gia vào thương trường, mô hình này không quá phức tạp như công ty cổ phần, những cũng không quá đề cao yếu tố nhân

thân như hợp danh

Trang 26

20

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP VỀ CÔNG TY TNHH TỪ 2

THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 2.1 Quy chế pháp lý về thành viên công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

Thành viên công ty là những tổ chức, cá nhân góp vốn vào vốn điều lệ của công ty Mọi tổ chức, cá nhân không bị cấm theo qui định tại Điều 18 của Luật Doanh nghiệp đều có thể trở thành thành viên công ty Như vậy, về nguyên tắc mọi cá nhân: bao gồm người Việt Nam, người nước ngoài, tổ chức Việt Nam và nước ngoài đều có thể trở thành thành viên công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

+ Mua lại phần vốn góp của thành viên công ty

+ Góp vốn khi công ty tăng thêm vốn điều lệ bằng cách kêu gọi vốn góp từ bên ngoài

+ Được thừa kế phần vốn góp của thành viên là cá nhân đã chết Qui định tại Điều 45 Luật DN 2005 và hiện nay là Điều 54 LDN 2014 có nhiều tiến bộ hơn so với qui định khá cứng nhắc về thừa kế vốn góp theo qui định tại Điều 33 của Luật Doanh nghiệp 1999.4 Đáng lưu ý là, nếu không có người

là đã chết, mà có người thừa kế, và người thừa kế muốn trở thành thành viên của công ty, thì HĐTV phải họp và quyết định vấn đề này Nếu được chấp thuận thì người thừa kế sẽ trở thành thành viên công ty và công ty cần làm thủ tục thông báo cho cơ quan ĐKKD theo qui định Trong

Trang 27

21

thừa kế, hay người thừa kế khước từ nhận thừa kế, hoặc bị truất quyền thừa kế thì giá trị phần vốn góp đó được xử lý theo qui định của pháp luật dân sự

+ Nhận phần vốn góp được thành viên công ty tặng cho Luật DN 2014

có qui định về việc thành viên công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên có thể tặng cho một phần hay toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác

+ Nhận phần vốn góp được thành viên công ty dùng để thanh toán

nợ Tuy nhiên, người nhận chỉ có thể trở thành thành viên nếu được HĐTV chấp thuận

- Thành viên công ty là tổ chức bị giải thể hay phá sản

- Khi thành viên chuyển nhượng hết, tặng cho hết phần vốn góp của mình cho các tổ chức, cá nhân khác theo qui định

- Khi công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên chấm dứt sự tồn tại (bị xóa tên trong sổ đăng ký doanh nghiệp) thì tư cách thành viên công ty cũng sẽ đương nhiên chấm dứt

- Những trường hợp khác mà điều lệ công ty có qui định, nhưng không trái pháp luật

Tùy theo từng trường hợp chấm dứt tư cách thành viên mà quyền và nghĩa vụ của thành viên đó sẽ được giải quyết theo qui định tương ứng của pháp luật

trường hợp HĐTV không chấp thuận cho người thừa kế trở thành thành viên thì phần vốn góp của người đã chết có thể được công ty mua lại theo qui định hoặc chuyển nhượng cho người ngoài

Trang 28

22

2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty

Quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên được qui định tại điều lệ của mỗi công ty và các văn bản pháp luật, cụ thể tại Điều 50 và 51 của Luật Doanh nghiệp 2014

2.1.3.1 Quyền của thành viên công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên (Điều 50 LDN 2014)

Có thể chia quyền của thành viên công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên thành hai nhóm lớn sau đây:

(i) Nhóm các quyền về tài sản

- Quyền đựơc chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp;

- Được định đoạt phần vốn góp của mình thông qua việc tặng cho; chuyển nhượng một phần hay toàn bộ vốn góp của mình; để thừa kế; và yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp theo qui đinh;

- Đươc phân chia gía trị tài sản còn lại khi công ty giải thể hay phá sản

- Được ưu tiên góp vốn khi công ty tăng vốn điều lệ

(ii) Nhóm các quyền về thông tin và quản lý, kiểm soát công ty

- Quyền tham dự họp HĐTV, quyền tham gia thảo luận, kiến nghị và biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐTV tương ứng với phần vốn góp

- Quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên, nếu thành viên đó (hay nhóm thành viên) đang sở hữu trên 10% vốn điều lệ công ty (hay một tỷ lệ nhỏ hơn theo qui định trong điều lệ công ty).5

- Quyền kiểm tra, xem xét, tra cứu, sao chép hoặc trích lục sổ đăng ký thành viên, sổ ghi chép và theo dõi các giao dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính

ty không quy định một tỷ lệ khác nhỏ hơn thì nhóm thành viên còn lại đương nhiên có quyền theo quy định trên

Trang 29

2.1.3.2 Nghĩa vụ của thành viên (Điều 51 LDN 2014)

Điều 42 của Luật Doanh nghịệp đã qui định các nghĩa vụ cơ bản sau đây:

- Nghĩa vụ góp vốn đầy đủ theo đúng cam kết, nếu không làm đúng thành viên đó có thể phải chịu trách nhiệm như đã trình bày ở Mục 2.2.1

- Không được rút vốn ra khỏi công ty

- Chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công

ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty

- Tuân thủ điều lệ công ty và chấp hành các quyết định của Hội đồng thành viên

- Luật DN 2014 kế thừa LDN 2005, đã có qui định về nghĩa vụ cá nhân của thành viên công ty khi họ nhân danh công ty để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; tiến hành kinh doanh hoặc giao dịch khác không nhằm phục vụ lợi ích của công ty và gây thiệt hại cho người khác; hoặc thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra đối với công ty

- Các nghĩa vụ khác theo pháp luật và điều lệ công ty

2.2 Quy chế pháp lý về vốn của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 2.2.1 Tài sản góp vốn và chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn

2.2.1.1 Tài sản góp vốn vào công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

Trang 30

24

Khi thành lập công ty, các thành viên sáng lập công ty phải tự thỏa thuận và quyết định mức vốn điều lệ của công ty và phần vốn góp của mỗi người, tức của các sáng lập viên Danh sách các thành viên công ty và bản điều lệ của công ty trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải thể hiện đầy đủ các thông tin về thành viên và phần vốn góp của thành viên Về nguyên tắc, vốn điều lệ và vốn góp sẽ được xác định bằng đơn vị tính là đồng Việt Nam, nhưng các thành viên có thể góp vốn vào công ty bằng các hình thức khác nhau Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp

để tạo thành vốn của công ty (Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2014) Như vậy, tất

cả các loại tài sản đều có thể sử dụng để góp vốn vào công ty, chỉ cần đạt được thỏa thuận nhất trí của các thành viên sáng lập đối với trường hợp góp vốn thành lập công ty hoặc phù hợp với Điều lệ công ty đối với trường hợp góp vốn khi công ty đang hoạt động

Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể điều kiện đối với tài sản đem góp vốn, tuy nhiên, căn cứ vào LDN và các văn bản pháp luật khác, ta có thể suy ra, tài sản đem góp vốn phải đáp ứng các điều kiện sau:

Một là, tài sản đem góp vốn phải thuộc sở hữu hợp pháp của người góp

vốn hoặc thuộc quyền định đoạt của người góp vốn

Khi góp vốn vào công ty TNHH2, hay các loại hình công ty khác, người góp vốn phải thực hiện việc chuyển quyền sở hữu tài sản đem góp vốn sang cho công ty, và điều này chỉ có thể thực hiện được nếu tài sản đó thuộc

sở hữu hợp pháp hoặc thuộc quyền định đoạt của người góp vốn Người không phải là chủ sở hữu chỉ có quyền định đoạt tài sản theo sự ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật (trường hợp xử lý đối với tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản bị tịch thu…) Điều này sẽ loại trừ các loại tài sản khác không thuộc quyền định đoạt của chủ thể chiếm hữu như: tài sản thuê,

Trang 31

25

mượn, tài sản cầm cố do người nhận cầm cố nắm giữ…

Hai là, tài sản đem góp vốn phải là tài sản có thể chuyển nhượng được

Mặc dù thuộc sở hữu của người góp vốn, tuy nhiên, có một số trường hợp người đó không thể thực hiện việc chuyển nhượng được cho công ty hay cho người khác vì các tài sản này bị hạn chế quyền định đoạt như: tài sản chung (tài sản của vợ chồng, tài sản thuộc sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước ), tài sản thế chấp (quyền sử dụng đất, nhà thế chấp ) có thể không được sử dụng để góp vốn nếu không có sự chấp thuận của người nhận thế chấp, của người sở hữu chung Ngoài ra, đối với quyền sử dụng đất, hay một số loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu chỉ có thể góp vốn vào công ty nếu nó có đủ các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật liên quan

2.2.1.2 Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

(i) Định giá tài sản đem góp vốn

Trước khi chuyển quyền sở hữu, định giá tài sản đem góp vốn có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì xác định giá trị tài sản đem góp vốn sẽ quyết định

tỷ lệ phần vốn góp, quyền của thành viên cũng như tổng tài sản của công ty

Vì thế, ngay từ Luật doanh nghiệp năm 1999, các nhà làm luật đã đưa

ra quy định khá cụ thể và chi tiết về việc định giá tài sản đem góp vốn LDN năm 2005 kế thừa và bổ sung cho Luật doanh nghiệp năm 1999, và hiện nay

là LDN 2014 quy định đối với tài sản đem góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá

Tài sản đem góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu tài sản đem góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của

Trang 32

(ii) Chuyển quyền sở hữu tài sản đem góp vốn

Thành viên công ty TNHH2 phải chuyển quyền sở hữu tài sản đem góp vốn cho công ty theo quy định tại Điều 36 LDN 2014

Đối với tài sản có đăng ký (bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu…) hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản đem góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ

Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản

Biên bản giao nhận phải ghi rõ tên và địa chỉ trụ sở chính của công ty;

họ, tên, địa chỉ thường trú, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, số quyết định thành lập hoặc đăng ký của người góp vốn; loại tài sản và số đơn vị tài sản đem góp vốn; tổng giá trị tài sản đem góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị tài sản đó trong vốn điều lệ của công ty; ngày giao nhận; chữ ký của người góp vốn hoặc đại diện theo uỷ quyền

Trang 33

27

của người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ty

Phần vốn góp bằng tài sản không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản đó đã chuyển sang công ty

(iii) Thủ tục góp vốn

Thứ nhất, trường hợp góp vốn thành lập công ty TNHH2, lúc đầu các

thành viên thỏa thuận với nhau về việc góp vốn, trong đó xác định rõ loại tài sản đem góp vốn, định giá tài sản đem góp vốn, thời hạn góp vốn, trách nhiệm của bên vi phạm… Sau khi công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hợp đồng góp vốn được thực hiện, các bên chuyển quyền sở hữu tài sản đem góp vốn sang cho công ty và được công ty cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp

Giấy chứng nhận phần vốn góp có các nội dung chủ yếu sau đây: (i) Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty; (ii) Số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; (iii) Vốn điều lệ của công ty; (iv) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với thành viên là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh đối với thành viên là tổ chức; (v) Phần vốn góp, giá trị vốn góp của thành viên; (vi) Số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp; (vii) Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty

Thứ hai, trường hợp góp vốn khi công ty đang hoạt động, Hội đồng

thành viên sẽ họp và quyết định tăng vốn điều lệ thông qua việc tăng vốn góp của thành viên hoặc tiếp nhận thêm vốn góp của thành viên mới Công ty phải thông báo quyết định tăng vốn điều lệ thông qua việc tiếp nhận thêm vốn góp mới tới cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày quyết định tăng vốn điều lệ

Người góp thêm vốn vào công ty (thành viên hoặc không phải thành

Trang 34

28

viên) sẽ thỏa thuận hợp đồng góp vốn với công ty Khi hợp đồng có hiệu lực, chủ thể đó thực hiện việc chuyển quyền sở hữu tài sản đem góp vốn sang cho công ty và tại thời điểm góp đủ giá trị phần vốn góp, người đó được công ty cấp giấy chứng nhận phần vốn góp

Thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn bằng loại tài sản đem góp vốn như đã cam kết Trường hợp thành viên thay đổi loại tài sản đem góp vốn

đã cam kết thì phải được sự nhất trí của các thành viên còn lại; công ty thông báo bằng văn bản nội dung thay đổi đó đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày chấp thuận sự thay đổi

Thành viên phải góp vốn phần vốn góp cho công ty đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Thành viên công ty chỉ được góp vốn phần vốn góp cho công ty bằng các tài sản khác với loại tài sản đã cam kết nếu được sự tán thành của đa số thành viên còn lại Trong thời hạn này, thành viên có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp

Sau thời hạn quy định trên mà vẫn có thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì được xử lý như sau:

- Thành viên chưa góp vốn theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty;

- Thành viên chưa góp vốn đủ phần vốn góp như đã cam kết có các quyền tương ứng với phần vốn góp đã góp;

- Phần vốn góp chưa góp của các thành viên được chào bán theo quyết định của Hội đồng thành viên

Trường hợp có thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết, công ty phải đăng ký điều chỉnh, vốn điều lệ, tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên bằng số vốn đã góp trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày cuối cùng phải góp vốn đủ phần vốn góp Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp

Trang 35

29

đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên

2.2.2 Tăng và giảm vốn điều lệ của công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên

Về nguyên tắc, công ty có quyền tự quyết định mức vốn điều lệ của mình Trừ một số ngành nghề kinh doanh mà pháp luật qui định mức vốn điều

lệ tối thiểu phải có (vốn pháp định), còn lại là do công ty tự quyết định Trong quá trình hoạt động kinh doanh, công ty có quyền tăng hay giảm vốn điều lệ

và phải thông báo đến cơ quan ĐKKD theo qui định

2.2.2.1 Tăng vốn điều lệ

Khoản 1 Điều 68 LDN 2014 qui định việc tăng vốn điều lệ của công ty

có thể bằng nhiều cách:

+ Tăng thêm phần vốn góp của các thành viên;

+ Công ty tiếp nhận thêm vốn góp từ thành viên mới;

Trong hai cách nói trên, cách thứ hai phức tạp hơn

+ Công ty mua lại vốn góp của thành viên khi thành viên đó yêu cầu công ty mua lại theo qui định tại Điều 52 của LDN 2014 Nếu việc giảm vốn

Trang 36

30

không đúng theo qui định, chẳng hạn hoàn trả vốn góp không đúng qui định thì các thành viên phải hoàn trả cho công ty số tiền, tài sản khác đã nhận hoặc phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty cho đến khi các thành viên đã hoàn trả đủ số tiền, tài sản khác đã nhận tương đương với phần vốn đã giảm

+ Vốn điều lệ không được các thành viên thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo quy định tại Điều 48 của LDN 2014 Đây là một trong những quy định mới của LDN 2014 cho phép công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên được giảm vốn trong trường hợp có thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn

đã cam kết, công ty phải đăng ký điều chỉnh, vốn điều lệ, tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên bằng số vốn đã góp trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày cuối cùng phải góp vốn đủ phần vốn góp Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên

2.2.3 Chuyển nhượng vốn góp

Như đã biết, công ty TNHH mang tính “đóng”, sự tự do chuyển nhượng vốn góp bị hạn chế hơn so với công ty cổ phần Về nguyên tắc, thành viên có thể chuyển nhượng toàn bộ hay một phần vốn góp của mình cho một hay nhiều tổ chức, cá nhân khác Điều 53 LDN 2014 qui định: thành viên muốn chuyển nhượng vốn góp, trước hết phải chào bán cho tất cả các thành viên còn lại của công ty với cùng điều kiện Để bảm đảm tính cân bằng, về nguyên tắc, vốn góp đó phải được chào bán theo tỷ lệ tương ứng cho những thành viên còn lại Nếu các thành viên được chào mua mà không mua hết trong thời hạn 30 ngày thì thành viên chào bán có quyền chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty

Thành viên khác trong công ty không có quyền cản trở việc chuyển

Trang 37

31

nhượng vốn cho người ngoài công ty nếu họ không mua hay không mua hết vốn góp của thành viên muốn chuyển nhượng Nhưng, nếu điều lệ công ty có qui định thêm các điều kiện khác cho việc chuyển nhượng thì thành viên chuyển nhượng vốn sẽ phải tuân thủ các qui định này

2.2.4 Yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp

Các qui định nhằm bảo vệ quyền lợi của thành viên thiểu số khá phổ biến trong luật công ty của các nước phát triển thuộc cả truyền thống common law và civil law Trong hoạt động kinh doanh, thành viên của công ty TNHH

có thể bỏ phiếu chống quyết định của hội đồng thành viên (HĐTV) về những vấn đề rất quan trọng liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ theo qui định của pháp luật và điều lệ công ty (như sửa đổi bổ sung điều lệ liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, của hội đồng thành viên; hay việc

tổ chức lại công ty),6 và yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của họ theo Điều 52 LDN 2014

Về thủ tục, việc yêu cầu mua lại phần vốn góp phải làm bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày từ khi HĐTV thông qua các quyết định về các vấn đề nói trên Vấn đề phức tạp nhất chính là giá cả khi mua lại Luật Doanh nghiệp

có qui định rằng, nếu các bên không thỏa thuận được với nhau về giá thì công

ty phải mua lại phần vốn góp đó theo giá thị trường hay giá được tính theo nguyên tắc đã ghi trong điều lệ

Về điều kiện để thanh toán, theo Luật Doanh nghiệp thì công ty chỉ được thanh toán cho người bán nếu sau khi thanh toán, công ty vẫn còn đủ tài sản để thanh toán các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty Qui định này là cần thiết để ngăn chặn khả năng rút vốn, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ của công ty, bảo vệ chủ nợ, một trong những yêu cầu của luật công ty hiện đại

định thêm các trường hợp khác

Ngày đăng: 27/01/2021, 11:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Đinh Thị An (2014), “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật Cộng hòa Pháp”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật Cộng hòa Pháp”
Tác giả: Đinh Thị An
Năm: 2014
8. Trần Quỳnh Anh (2010), “Vài nét về công ty trách nhiệm hữu hạn theo Luật của Công ty Hoa Kỳ”, Tạp chí Luật học, (12), tr. 3-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vài nét về công ty trách nhiệm hữu hạn theo Luật của Công ty Hoa Kỳ”
Tác giả: Trần Quỳnh Anh
Năm: 2010
9. Trần Quỳnh Anh (2010), “Hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về công ty trách nhiệm hữu hạn”, Tạp chí Luật học, (9), tr. 10-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về công ty trách nhiệm hữu hạn”
Tác giả: Trần Quỳnh Anh
Năm: 2010
10. Vũ Tuấn Anh (2013), “Định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 2013
11. Đồng Ngọc Ba (2005), “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Đồng Ngọc Ba
Năm: 2005
13. Nguyễn Thị Dung (2016), “Hoàn thiện quy định về góp vốn và xác định tư cách thành viên công ty theo Luật Doanh Nghiệp 2014”, Tạp chí Luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện quy định về góp vốn và xác định tư cách thành viên công ty theo Luật Doanh Nghiệp 2014”
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Năm: 2016
14. Đại học Luật Hà Nội (2018), “Giáo trình Luật Thương mại – Tập 1”, Nxb CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại – Tập 1”
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2018
15. Hoàng Thị Hà (2018), “Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thị Hà
Năm: 2018
16. Nguyễn Thị Yến (2010), “Những quy định về thủ tục thành lập doanh nghiệp cần được tiếp tục hoàn thiện”, Tạp chí Luật học, (9), tr. 61 - 69.III. Tài liệu trên Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những quy định về thủ tục thành lập doanh nghiệp cần được tiếp tục hoàn thiện”
Tác giả: Nguyễn Thị Yến
Năm: 2010
5. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Khác
7. Quốc hội (2020), Luật Doanh nghiệp, Hà Nội. II. Sách, báo, đề tài nghiên cứu Khác
12. Cục quản lý đăng ký doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2019), Báo cáo tình hình công tác đăng ký và quản lý doanh nghiệp giai đoạn 2015 – 2019 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w