Cho đến khi các quan hệ trong thị trường lao động phát triển ổn định, để đảm bảo quyền lợi của người lao động, đồng thời đảm bảo sự phát triển của doanh nghiệp, nhà nước quy định BHXH bắ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TRONG LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 TỪ THỰC TIỄN
TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN
NGUYỄN NỮ VÂN HUYỀN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TRONG
LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 TỪ THỰC TIỄN
TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN
NGUYỄN NỮ VÂN HUYỀN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là: Nguyễn Nữ Vân Huyền học viên khóa 2018- 2020 xin cam
đoan đây là công trình độc lập của riêng tôi mà không sao chép từ bất kỳ nguồn tài liệu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu sử dụng phân tích trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, có xác nhận của cơ quan cung cấp số liệu Các kết quả nghiên cứ trong Luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi được thực hiện một cách khoa học, trung thực, khách quan Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của các nguồn
số liệu cũng như các thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu của mình
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Nữ Vân Huyền
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Thị Hoài Thu, người
đã định hướng, chỉ bảo và hết lòng đôn đốc nhắc nhở, dìu dắt, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám đốc, các phòng chuyên môn của Bảo hiểm xã hội tỉnh Điện Biên, UBND tỉnh Điện Biên đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi về số liệu, thời gian và những ý kiến đánh giá để hoàn thành đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè
và đồng nghiệp đã động viên, cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Nếu không có những sự giúp đỡ của Trường, cô giáo PGS.TS Lê Thị Hoài Thu và cơ quan, phòng ban, gia đình, bạn bè thì chỉ với sự cố gắng của bản thân tôi sẽ không thể thu được những kết quả như mong muốn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Nữ Vân Huyền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHỊ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 6
1 1 Khái quát chung về bảo hiểm xã hội tự nguyện 6
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội tự nguyện 6
1.1.2 Bản chất của bảo hiểm xã hội tự nguyện 8
1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện 10
1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện 10
1.2.2 Nguyên tắc pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện 11
1.2.3 Nội dung pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện 14
1.3 Vai trò pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện 17
1.4 Pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở một số nước trên thế giới 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN 29 2.1.Thực trạng quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện 29
2.1.1 Về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện 31
2.1.2 Về các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện 32
2.1.3 Về mức phí và phương thức đóng phí bảo hiểm xã hội tự nguyện 36
2.1.4 Về thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện 38
2.2 Thực tiễn thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện tại tỉnh Điện Biên 40
2.2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh ĐiệnBiên 40
2.2.2 Nhữngkết quả đạt được trong việc thực hiện quy định pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện tại tỉnh Điện Biên 41
2.2.3 Một số tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện quy định pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện tại tỉnh Điện Biên và nguyên nhân 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 53
Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TRONG LUẬT BHXH NĂM 2014 TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐIỆN BIÊN 54
Trang 63.1 Yêu cầu hoàn thiện Bảo hiểm xã hội tự nguyện trong Luật BHXH năm
2014 54
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện BHXH tự nguyện trong Luật BHXH năm 2014 58
3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành BHXH tự nguyện trong luật BHXH năm 2014 tại tỉnh Điện Biên 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 7DANH MỤC BẢNG VÀ ĐỒ THỊ
Bảng 2.1 Số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện giai đoạn 2016-2018 41 Bảng 2.2 Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện phân theo ngành nghề 42 Bảng 2.3 Số thu bảo hiểm xã hội tự nguyện giai đoạn 2016 - 2018 43
Đồ thị 2.1 Số lượng tham gia BHXH tự nguyện phân theo mức phí đóng năm
2018 43
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH : An sinh xã hội BHXH : Bảo hiểm xã hội BHYT : Bảo hiểm y tế NLĐ : Người lao động
Trang 9Bảo hiểm BHXH là một trong những trụ cột chính trong hệ thống ASXH của mỗi quốc gia Lịch sử quản lý thu BHXH cho thấy, loại hình BHXH đầu tiên thường là BHXH tự nguyện ở mức độ thấp Cho đến khi các quan hệ trong thị trường lao động phát triển ổn định, để đảm bảo quyền lợi của người lao động, đồng thời đảm bảo sự phát triển của doanh nghiệp, nhà nước quy định BHXH bắt buộc đối với mọi người lao động và khuyến khích tham gia BHXH tự nguyện (ở mức cao, để có thể thụ hưởng mức BHXH cao hơn cho những người có nhu cầu)
Trong từng giai đoạn khác nhaubảo hiểm xã hội là trụ cột vững chắc của hệ thống an sinh xã hội Luật BHXH đã được Quốc hội thông qua ngày 12/7/2006, trong đó BHXH bắt buộc có hiệu lực từ ngày 01/01/2007, BHXH
tự nguyện có hiệu lực từ ngày 01/01/2008 Để xác định rõ các đối tượng được hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, ngày 28 tháng 12 năm 2007 Chính phủ
Trang 102
ban hành Nghị định 190/2007/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 02/2008/TT-BLĐTB&XH ngày 09 tháng 11 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 190/2007/NĐ-CP, xác định đối tượng tham gia và hưởng chính sách từ BHXH tự nguyện, theo đó người từ
đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi đối với nam; từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi đối với nữ không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng; cán bộ không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn và tổ dân phố; người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; xã viên không hưởng tiền lương, tiền công làm việc trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; người lao động tự tạo việc làm bao gồm những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản thân; người lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó chưa tham gia BHXH bắt buộc hoặc tham gia BHXH bắt buộc nhưng đã nhận BHXH một lần; người tham gia khác
Tuy nhiên, "Tổng dân số Việt Nam khoảng 96 triệu người (11/2018),
trong khi đó số người trong độ tuổi lao động khoảng 55 triệu người" [37], "Số người tham gia BHXH tự nguyện tính đến tháng 12/2018 là 300.000 người"
[38] Số lượng người tham gia BHXH như vậy còn thấp so với số lượng người thuộc đối tượng trong độ tuổi lao động Vậy nguyên nhân do đâu?
Điện Biên là một tỉnh miền núi, biên giới Tây Bắc của Tổ quốc, có diện tích 9.562,9km Địa hình chia cắt, nhiều sông suối, đồi núi, có độ dốc lớn Là tỉnh có chung đường biên giới với 2 quốc gia: Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào (dài 360 km) và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (dài 40,861 km) Trên tuyến biên giới Việt - Lào, ngoài cửa khẩu Quốc tế Tây Trang - Pang Hốc còn
có cửa khẩu chính Huổi Puốc - Na Son và cửa khẩu phụ Si Pa Phìn - Huổi Lả Tuyến biên giới Việt - Trung có lối mở A Pa Chải - Long Phú Đặc biệt, cửa khẩu Quốc tế Tây Trang từ lâu đã là cửa khẩu quan trọng của vùng Tây Bắc Đây là điều kiện và cơ hội rất lớn để Điện Biên đẩy mạnh thương mại, du lịch quốc tế và tiến tới xây dựng khu vực này thành địa bàn trung chuyển chính trên tuyến đường xuyên Á phía Bắc, nối liền vùng Tây Bắc - Việt Nam với khu vực Bắc Lào, Tây Nam - Trung Quốc và Đông Bắc Mianma.tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện của người lao động còn rất hạn chế Vậy nguyên nhân
Trang 11ổn định an sinh xã hội Em chọn đề tài: "Bảo hiểm xã hội tự nguyện trong
luật bảo hiểm xã hội năm 2014 từ thực tiễn tại tỉnh Điện Biên"làm Luận
văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu:
Kể từ khi có Luật BHXH đến nay trên địa bàn cả nước đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực BHXH, trong đó nhiều đề tài tập trung chủ yếu về lĩnh vực BHXH bắt buộc và một số đề tài đề cập đến lĩnh vực BHXH tự
nguyện, như: Đề tài "Nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã
hội đối với người lao động tự tạo việc làm và thu nhập" (2002) của tác giả
Bùi Văn Hồng; Đề tài: "Mô hình thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện ở một
số nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam" (2007) của tác giả Đào Thị Hải Nguyệt; Đề tài "Thực trạng về việc thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người nông dân và lao động tự do ở nước
ta trong những năm gần đây " (2012) của tác giả Xuân Hương Có thể nói các
đề tài này chủ yếu tập trung nghiên cứu thực trạng và giải pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện và kinh nghiệm của nước ngoài trong việc thực hiện BHXH tự nguyện
Về Luận văn thạc sỹ gồm các công trình sau: "Bảo hiểm xã hội tự
nguyện, một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng" (2007) của tác giả Lê Thị
Thu Hương, Đại học Quốc gia Hà Nội; "Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện
khu vực phi chính thức ở Việt Nam" (2010) của tác giả Nguyễn Văn Khánh,
Học viện Chính trị Hành chính - Quốc gia Hồ Chí Minh"; "Bảo hiểm xã hội tự
nguyện thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật"
(2012) của tác giả Hoàng Quốc Đạt, Đại học Luật Hà Nội; " Bảo hiểm xã hội
tự nguyện - 5 năm thực hiện và một số kiến nghị hoàn thiện" (2013) của tác
giả Đặng Thị Vân Khánh, Đại học Luật Hà Nội; “Pháp luật về Bảo hiểm xã
Trang 124
hội tự nguyện – thực trạng và giải pháp” (2014) của tác giả Dương Thảo
Phương, Đại học Quốc gia Hà Nội
Qua tìm hiểu trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã có một số đề tài nghiên cứu
về lĩnh vực BHXH như: Đề tài về "Quản lý thu BHXH trên địa bàn thành phố
Điện Biên Phủ” của tác giả Lê Thị Ngọc Ánh; đề tài về "Thực thi chính sách BHXH tại BHXH thành phố Điện Biên Phủ" của tác giả Hoàng Thị Thanh
Huyền… tại Điện Biên chưa có đề tài nào nghiên cứu về lĩnh vực pháp luật
Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Điện Biên, do vậy em lựa chọn Đề tài "Bảo
hiểm xã hội tự nguyện trong luật bảo hiểm xã hội năm 2014 từ thực tiễn tại tỉnh Điện Biên" làm Luận văn Thạc sĩ Luật học của mình, với mong muốn
đóng góp hoàn thiện thực hiện chính sách pháp luật này trong cuộc sống
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu:Đánh giá thực trạng việc tham gia BHXH tự
nguyện và khả năng tham gia BHXH tự nguyện của người lao động trên địa bàn tỉnh Điện Biên; đề xuất các giải pháp phát triển BHXH tự nguyện tại tỉnh Điện Biên trong thời gian tới
3.1 Nhiệm vụ của luận văn: Làm rõ thêm cơ sở lý luận về BHXH tự
nguyện; đánh giá kết quả thực hiện và nêu những vấn đề đang đặt ra cho quá trình phát triển BHXH tự nguyện tại tỉnh Điện Biên Dự báo khả năng, định hướng phát triển và giải pháp thực hiện BHXH tự nguyện tại tỉnh Điện Biên trong thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên các phương pháp sau: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp hệ thống, khái quát, đối chiếu và so sánh, thống kê để phân tích, đánh giá và làm sáng tỏ các vấn đề đặt ra Đề tài nghiên cứu dựa trên các định hướng chiến lược phát triển an sinh xã hội ở nước ta hiện nay
5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối với lao động không thuộc diện tham
gia BHXH bắt buộc
5.2 Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu trong khoảng thời gian
3 năm, từ năm 2016 đến 2018
Trang 135
6 Đóng góp của luận văn
- Làm rõ thêm các vấn đề lý luận cơ bản về BHXH tự nguyện; xác định vai trò, tầm quan trọng của BHXH tự nguyện đối với lao động không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc;
- Phân tích, đánh giá kết quả tổ chức thực hiện BHXH tự nguyện đối với lao động không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc từ năm 2016 đến hết năm 2018
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển BHXH tự nguyện đối với lao động không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc đến năm 2025
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận (pháp luật) về bảo hiểm xã hội tự nguyện và
sự điểu chỉnh của pháp luật;
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật bảo hiểm xă hội tự nguyện tại tỉnh Điện Biên;
Chương 3: Một sốkiến nghịhoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hànhbảo hiểm xã hội tự nguyện trong luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Trang 146
Chýõng 1 MỘT SỐ VẤN ÐỀ NGHỊ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
TỰ NGUYỆN
1 1 Khái quát chung vềbảo hiểm xã hội tự nguyện
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội tự nguyện
Hiện nay, trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đang tồn tại rất nhiều loại hình bảo hiểm, trong đó có loại hình bảo hiểm để bù đắp những tổn thất liên quan đến ổn định thu thập để phục vụ con người, vì con người đó là bảo hiểm xã hội
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu thập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội
Trên thế giới, khi BHXH mới ra đời, các quốc gia chỉ quy định về BHXH bắt buộc, áp dụng đối với một số đối tượng nhất định có tham gia quan hệ lao động Tuy nhiên, xã hội càng phát triển, tuổi thọ của người lao động càng cao, nhu cầu về bảo hiểm thu nhập của người lao động càng cần thiết [39] Trên thế giới hiện nay có hai mô hình BHXH tự nguyện: BHXH tự nguyện áp dụng như một hình thức bảo hiểm bổ sung cho BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện áp dụng cho người lao động tự nguyện tham gia Mặc dù mang tính chất tự nguyện nhưng chính sách BHXH tự nguyện vẫn là chính sách do Nhà nước ban hành nhằm bảo đảm quyền lợi cho các bên tham gia Nhà nước quy định mức đóng góp để hình thành quỹ BHXH tự nguyện đủ lớn
để chi trả cho người tham gia BHXH tự nguyện và xây dựng các chế độ mà người tham gia BHXH được hưởng
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học: "Bảo hiểm xã hội tự nguyện
là loại hình bảo hiểm xã hội hình thành trên cơ sở kết hợp giữa tổ chức, bảo trợ của Nhà nước với sự tham gia tự nguyện của người lao động có nhu cầu bảo
Trang 157
hiểm"[40] Dưới góc độ pháp lý, BHXH tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức quản lý mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn tham gia, được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của bản thân nhăm đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của người lao động và gia đình khi họ hết khả năng lao động hoặc chết, góp phần đảm bảo an toàn xã hội [41]
Khái niệm BHXH tự nguyện ở Việt Nam lần đầu tiên được quy định tại luật Bảo hiểm xã hội năm 2006: "Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng
và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của minh để hưởng bảo hiểm xã hội" Kế thừa quy định này, luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, tại khoản 3 điều
3 đưa ra định nghĩa: "Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội
do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất"
Có thể thấy, định nghĩa về BHXH tự nguyện theo pháp luật Việt Nam năm 2014 đã có sự bổ sung so với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 Theo đó, định nghĩa đã nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong BHXH tự nguyện, đồng thời định nghĩa cũng đưa ra 2 chế độ mà người tham gia BHXH tự nguyện được hưởng đó là chế độ hưu trí và chế độ tử tuất Có thể thấy, định nghĩa về BHXH tự nguyện theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 cụ thể hơn, rõ ràng hơn so với định nghĩa BHXH tự nguyện trước đó, từ đó giúp người lao động
dễ hiểu hơn về BHXH tự nguyện và có cái nhìn tổng quát nhất về loại hình bảo hiểm này Tuy nhiên, việc quy định các chế độ BHXH tự nguyện trong khái niệm này phần nào hạn chế việc mở rộng chế độ BHXH tự nguyện
Vì thế, từ những quan điểm trên, luận văn đưa ra cách hiểu về BHXH
tự nguyện như sau: Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội
do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội
Trang 168
1.1.2 Bản chất của bảo hiểm xã hội tự nguyện
Trong đời sống xã hội con người luôn gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, cho nên con người luôn phải lao động để làm ra của cải vật chất để dùng hàng ngày và tích trữ phục vụ cho nhu cầu của bản thân, sau đó chia sẻ cho người khác sử dụng, nhất là chia sẻ cho những người không may gặp rủi
ro bị mất thu nhập nhằm tương trợ, giúp đỡ, bù đắp những phần bị mất, thiếu hụt do những rủi ro trong cuộc sống gây ra BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng được mọi người tham gia do cơ quan do Nhà nước thành lập đứng ra làm trung gian, điều phối để thu của những cá nhân tham gia, đồng thời quyết định chi cho một cá nhân nào đó trong cộng đồng là thành viên tham gia không may bị rủi ro trong cuộc sống mà không thể tự bù đắp được cuộc sống của bản thân Vì vậy, bản chất của BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng là sự tương trợ cộng đồng, là sự đoàn kết đùm bọc chia sẻ rủi ro cho nhau, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc
Về kinh tế: BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng đều thể hiện
những người tham gia phải đóng góp một khoản tiển (sau khi trừ đi các khoản phục vụ tối thiểu cho nhu cầu cá nhân và không ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của cá nhân) để lập một quỹ dự trữ Mục đích của việc hình thành quỹ này để trợ cấp cho những người tham gia BHXH tự nguyện khi gặp rủi ro dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập Như vậy BHXH tự nguyện cũng giống BHXH bắt buộc là quá trình phân phối lại thu nhập cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu về BHXH như ốm đau, bệnh tật, sinh đẻ, già yếu, chết Xét trong nội tại BHXH tự nguyện thì sự phân phối của BHXH tự nguyện được thực hiện theo cả chiều dọc và chiều ngang Theo chiều dọc là sự phân phối giữa những người khỏe mạnh với người ốm đau; giữa người trẻ và người già; giữa người
có thu nhập cao với người thu nhập thấp; giữa người ở khu vực này với người
ở khu vực khác Theo chiều ngang là sự phân phối giữa chính bản thân người lao động theo thời gian (giữa thời gian lao động và thời gian nghỉ hưu) Nhờ
sự phân phối lại thu nhập mà đời sống của người lao động và gia đình họ luôn được đảm bảo trước những bất trắc rủi ro của xã hội
Về xã hội: Bản chất xã hội của BHXH tự nguyện được thể hiện ngay
trong mục tiêu mục tiêu của nó BHXH tự nguyện hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Mục tiêu của bất kỳ hệ thống BHXH nào cũng là mục tiêu xã
Trang 17bị mất, hoặc không may gặp rủi ro khác mà tự họ không thể lo liệu được bản thân Trên góc độ vĩ mô, bảo hiểm xã hội tự nguyện góp phần ổn định an ninh chính trị, trất tự an toàn xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo và giữ vững ổn định xã hội đã được ghi nhận và khẳng định tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 - 2020 "Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính trong hệ thống
an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế xã hội"
Về phương diện pháp lý: BHXH tự nguyện trở thành quyền cơ bản
của người lao động, xét trên cả bình diện quốc gia và quốc tế Hiến pháp 1992
nêu rõ: "Nhà nước thực hiện chế độ Bảo hiểm xã hội đối với công chức nhà
nước và người làm công ăn lương, khuyến khíc phát triển các hình thức Bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động" Trong chiến lược phát triển kinh tế
xă hội đất nước giai đoạn 2011 - 2020, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra
mục tiêu "tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế
dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống"
Tóm lại, BHXH tự nguyện không vì mục tiêu lợi nhuận mà hoạt động
vì mục đích bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế, góp phần ổn định xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển tiến bộ Cho nên với bản chất kinh tế
và bản chất xã hội của BHXH tự nguyện không tách rời mà đan xen với nhau, tác động qua lại lẫn nhau vì có đóng góp mới tạo ra quỹ để thực hiện và được
nhiều người đóng góp thì mới thực hiện được chức năng "chia sẻ giữa những
Trang 1810
người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện" còn được hiểu là lấy sự đóng góp
của nhiều người để bù cho số ít người không may bị rủi ro và ngược lại người đóng góp ít nhưng lại được bù đắp đủ trang trải mọi rủi ro để bảo đảm ổn định thu nhập và cuộc sống
1.2 Sự ðiều chỉnh của pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện
1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện
Pháp luật BHXH tự nguyện là một bộ phận cấu thành pháp luật BHXH
và là một trong những nội dung thuộc chính sách an sinh xã hội, vì vậy nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế - xã hội của các quốc gia Xuất phát
từ những nhu cầu của cuộc sống là đảm bảo thu nhập khi người lao động hết khả năng lao động hoặc chết mà BHXH tự nguyện xuất hiện cạnh BHXH bắt buộc như một nhu cầu khách quan Hiện nay, BHXH tự nguyện được thực hiện rộng rãi trên thế giới Ở mỗi quốc gia khác nhau, có trình độ phát triển dân trí khác nhau thì chính sách, pháp luật về BHXH tự nguyện cũng có những điểm khác nhau Dù trình độ dân trí có khác nhau nhưng loại hình BHXH tự nguyện lại là loại hình được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện của người tham gia, bằng cách đóng góp một phần thu nhập của mình
để được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội nhằm giảm bớt những khó khăn khi người lao động hết khả năng lao động bị giảm hoặc mất thu nhập BHXH tự nguyện là một chính sách xã hội của quốc gia nhưng đồng thời cũng là công
cụ của Nhà nước nhằm tham gia vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân một cách hợp lý giữa các tầng lớp xã hội, giúp thực hiện xây dựng chế độ an sinh xã hội lâu dài và bền vững, góp phần đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Ở Việt Nam, pháp luật BHXHđược biết đến từ rất sớm, tuy nhiên các quy định pháp luật về BHXH tự nguyện tại Việt Nam mới được cụ thể tại Luật Bảo hiểm xã hội 2006 và được sửa đổi, hoàn thiện hơn trong Luật Bảo hiểm xã hội 2014 Theo đó, pháp luật BHXH tự nguyện điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động BHXH và phải bao quát được hết các khâu từ quy định về đối tượng tham gia, mức đóng phí, mức hưởng bảo hiểm cho đến quy định về thủ tục thực hiện BHXH tự nguyện, mức phí và phương thức đóng phí BHXH tự nguyện và các vấn đề khác có liên quan
Trang 1911
Từ đó, có thể hiểu pháp luật BHXH tự nguyện là hệ thống những quy định do Nhà nước ban hành, quy định về đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, mức phí và phương thức đóng phí, các chế độ BHXH tự nguyện, thủ tục hưởng quyền lợi, quản lý của Nhà nước và vấn đề khác về BHXH tự nguyện
1.2.2 Nguyên tắc pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện
Thứ nhất, người tham gia BHXH tự nguyện được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình
Theo nguyên tắc này, việc tham gia hay không tham gia là hoàn toàn do người tham gia quyết định Người tham gia có quyền lựa chọn mức đóng, phương thức đóng theo nhu cầu và khả năng của bản thân trên cơ sở khung Nhà nước quy định, cụ thể: BHXH tự nguyện được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của người lao động với tư cách là người tham gia BHXH cũng là người hưởng BHXH Họ tham gia BHXH mang tính "tự nguyện", trên cơ sở suy nghĩ về "tính lợi ích" khi tham gia bảo hiểm xã hội Trong cuộc sống con người đều phải lao động để tạo ra cho mình một nguồn thu nhập, trước hết nguồn thu nhập đó để phục vụ nhu cầu của bản thân và gia đình, sau đó tham gia cùng với xã hội Trong mỗi điều kiện lao động khác nhau, mỗi con người
có thu nhập và nhu cầu chi tiêu, tích lũy khác nhau Nhà nước quy định khung tối thiểu và tối đa mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở thu nhập tháng nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung, đồng thời mỗi người xem xét cân đối phần thu nhập của mình để quyết định tham gia BHXH tự nguyện hay không tham gia BHXH tự nguyện trong khung Nhà nước và theo
tỷ lệ % đóng BHXH tự nguyện do Nhà nước quy định
Thứ hai, mức thu nhập làm cơ sở đóng BHXH được thay đổi tùy thuộc vào khả năng của người lao động ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và mức cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung
do Nhà nước quy định Như vậy, Nhà nước chỉ tạo ra khung pháp lý để người
tham gia lựa chọn tham gia BHXH ở mức tối thiểu hay mức tối đa, đáp ứng nhu cầu của từng chủ thể tham gia, ngoài ra khung pháp lý đó còn làm hạn chế mức độ chênh lệch giữa những người tham gia, tạo ra sự công bằng, ổn định giữa những người tham gia
Trang 2012
Nếu xét dưới góc độ kinh tế: Thì người lao động là người đang nắm giữ phần của cải vật chất, thu nhập do chính bản thân tạo ra, cho nên họ có quyền tham gia hoặc không tham gia bản thân tên chính sách đã đặt sẵn từ "tự nguyện" cho nên tính tự nguyện là cao nhất, tự quyết định phần tài sản, thu nhập của mình, không một nhà nước, tổ chức, cá nhân nào ép họ phải bỏ tiền
ra để tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện Tính tự nguyện còn thể hiện người lao động lựa chọn mức đóng nhằm làm thỏa mãn nhu cầu của mỗi người, từ người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp; không ai có quyền ép họ tham gia ở mức này hay mức khác mà hoàn toàn do bản thân chủ thể quyết định
Nếu xét dưới góc độ xã hội: Thể hiện nguyên tắc bình đẳng trong xã hội, người tham gia được hưởng các chế độ, người không tham gia thì không được hưởng, tham gia ở mức độ cao thì sau này được hưởng chế độ hưu trí, tử tuất ở mức cao, tham gia mức thấp thì hưởng chế độ hưu trí, tử tuất ở mức thấp đều hoàn toàn theo tính tự nguyện tham gia của người lao động Ngoài
ra, quy định mức tối thiểu để đáp ứng được nhiều người tham gia, vì những người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là những người có thu nhập thấp hoặc có việc làm, thu nhập không ổn định, ngoài ra để người lao động tự do lựa chọn mức đóng đáp ứng được cả hai yêu cầu vừa trang trải phục vụ nhu cầu của bản thân và gia đình, vừa tham gia BHXH tự nguyện để tạo quỹ để dành của bản thân vừa tham gia mục tiêu "lấy nhiều bù ít" đảm bảo an sinh xã hội
Như vậy, pháp luật BHXH tự nguyện thể hiện rõ quyền của các chủ thể quyết định tham gia hay không tham gia, nguyên tắc tự nguyện tham gia BHXH là xuyên suốt cả quá trình đóng quỹ BHXH, tự bản thân chủ thể người lao động quyết định mức đóng trên cơ sở khung tối thiểu và tối đa do Nhà nước quy định Trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ Chính phủ quy định mức lương tối thiểu làm căn cứ tính đóng BHXH, giải quyết các chế
độ lương hưu hàng tháng hoặc trợ cấp khi nghỉ hưu, trở cấp BHXH một lần, trợ cấp tử tuất một lần,…
Thứ ba, mức hưởng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ những người tham gia BHXH tự nguyện:
Là hình thức tự nguyện, không bao hàm chính thức trợ cấp ưu đãi nên BHXH
Trang 2113
tự nguyện phải được xây dựng trên nguyên tắc mức hưởng tiền lương hưu phải tỷ lệ thuận với mức đóng góp BHXH, đồng thời cũng là nguyên tắc bảo đảm quỹ BHXH tự nguyện an toàn, khuyến khích người lao động tham gia BHXH tự nguyện bằng hình thức tiền tệ, từ việc đóng quỹ BHXH đến việc nhận chế độ lương hưu đều giao dịch đó là tiền (loại giấy tờ có giá trị) Nguyên tắc này đảm bảo thuận tiện cho việc quản lý quỹ BHXH, xác định mức đóng, mức hưởng, mối quan hệ giữa đóng góp và hưởng thụ, đồng thời đảm bảo tính bình đẳng cho những người tham gia BHXH tự nguyện
Mức hưởng ở đây được xác định trên cơ sở mắc tham gia đóng quỹ BHXH tự nguyện, theo nguyên tắc nếu tham gia ở mức thấp thì sau khi tính bình quân sẽ ở mức thấp, nếu tham gia BHXH tự nguyện ở mức cao thì tính bình quân sẽ ở mức cao, cho nên khi tham gia mức cao sẽ được hưởng ở mức cao Khi NLĐ không tham gia hoặc do đến tuổi nghỉ chế độ hưu trí hoặc chế
độ trợ cấp một lần, tử tuất,… thì cơ quan BHXH sẽ thực hiện các chế độ chính sách trên cơ sở mức tham gia của NLĐ để tính mức hưởng các chế độ
Thứ tư, quỹ BHXH tự nguyện được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và hạch toán độc lập: Quỹ
BHXH tự nguyện có nguồn tài chính chủ yếu từ sự đóng góp của NLĐ tự nguyện tham gia Nguyên tắc đóng - hưởng là nguyên tắc cơ bản để đảm bảo
an toàn quỹ Và người đang đi làm đóng góp để chi trả cho người đó về nghỉ hưu Mức thu nhập làm cơ sở để tính BHXH tự nguyện tùy thuộc vào khả năng của người lao động ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung Nếu người lao động đầu tiên tham gia BHXH tự nguyện từ 1/1/2008, thì 20 năm sau mới có người đầu tiên về hưu (năm 2028) Để đảm bảo tính thống nhất thì Quỹ BHXH tự nguyện chỉ giao cho 1 cơ quan BHXH quản lý thống nhất và Nhà nước có vai trò bảo hộ và hỗ trợ khi cần thiết, nhất là trong các trường hợp rủi
ro có Quỹ (do Nhà nước thay đổi chính sách, do lạm phát phi mó, khủng hoảng kinh tế,…) để đảm bảo Quỹ không bị vỡ Quỹ có nguồn bổ sung từ sinh lời do kết quả hoạt động đầu tư Nguồn tiền sinh lời đảm bảo cho quỹ tăng trưởng và thu hồi được khi cần thiết Việc quản lý quỹ phải công khai, tức là hàng năm cơ quan BHXH phải thông báo rõ các nguồn thu, chi và các nguồn khác phát sinh từ quỹ để cho NLĐ nắm được các chi phí, đồng thời
Trang 221.2.3 Nội dung pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện
BHXH tự nguyệncó vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống NLĐ cũng như đời sống xã hội, là một trong những bộ phận cấu thành nên chính sách an sinh, vì vậy phần lớn các quốc gia đều quy định cụ thể về BHXH tự nguyện, cơ bản gồm những nội dung sau:
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện về nguyên tắc là tất cả NLĐ có nhu cầu tham gia, đó là những đối tượng lao động là công dân đang trong độ tuổi lao động, có thể là người không tham gia hoạt động kinh tế như: Người làm nội trợ trong gia đình hoặc đang tham gia hoạt động kinh tế ở các lĩnh vực như: Lao động tự do, lao độngnông thôn,…có nhu cầu và có khả năng tham gia BHXH tự nguyện Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là người đóng góp phí Bảo hiểm xã hội để bảo hiểm cho mình hoặc cho người khác được hưởng Bảo hiểm xã hội Đối tượng đóng góp vào quỹ BHXH tự nguyện chỉ là NLĐ Người sử dụng lao động không đóng góp vào quỹ BHXH tự nguyện, đây là điểm khác biệt so với BHXH bắt buộc
Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện
Chế độ BHXH tự nguyện là những quyền lợi mà chủ thể tham gia được hưởng khi tham gia BHXH tự nguyện, phụ thuộc vào mức đóng và thời gian đóng của đối tượng tham gia
Thiết kế các chế độ của BHXH tự nguyện đối với mỗi quốc gia là hoàn toàn khác nhau Theo quy định của ILO trong Công ước số 102 năm 1952, để đảm bảo mức tối thiểu, thì trong quy định BHXH các nước thành viên cần lựa chọn ít nhất ba trong chín chế độ Trong đó, phải có ít nhất một trong các chế độ: Bảo hiểm thất nghiệp, hưu trí, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật
và tiền tuất Như vậy, ILO không quy định rõ BHXH tự nguyện phải áp dụng
Trang 23độ Hưu trí và chế độ Tử tuất
Để xây dựng hệ thống các chế độ BHXH tự nguyện phù hợp, ngoài việc kế thừa những tri thức về BHXH của thế giới, phải căn cứ vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể Bởi lẽ, trong kết cấu của một chế độ BHXH tự nguyện, bao giờ cũng xác định rõ đối tượng tham gia và đối tượng được hưởng, mức đóng góp, các điều kiện hưởng, mức hưởng, thời gian hưởng… Những vấn đề này phụ thuộc vào đường lối, chủ trương và điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
Qũy bảo hiểm xã hội tự nguyện
Qũy BHXH tự nguyện là quỹ tài chính tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của NLĐ tham gia BHXH tự nguyện, sự hỗ trợ của Nhà nước và các nguồn khác, sử dụng chủ yếu để chi trả trợ cấp cho những trường hợp được BHXH tự nguyện quy định Qũy BHXH giữ vai trò “xương sống” của
cả hệ thống BHXH tự nguyện, đảm bảo nguồn tài chính cho mọi sự hoạt động của hệ thống này Tuy nhiên, ở mỗi nước quy định tỷ lệ đóng góp khác nhau Qũy càng lớn mạnh thì hệ thống BHXH tự nguyện càng dễ dàng và ngược lại Khác với BHXH bắt buộc, nguồn hình thành quỹ BHXH tự nguyện chủ yếu
từ sự đóng góp của NLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước Ngoài ra, quỹ BHXH tự
Trang 24Việc hình thành, xây dựng và phát triển quỹ BHXH tự nguyện cần phải dựa vào những nguyên tắc chung của BHXH Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật không tách riêng quỹ BHXH tự nguyện như một số quốc gia, mà gộp chung trong quỹ hưu trí và tử tuất của BHXH bắt buộc, được tổ chức BHXH quản lý tập trung, thống nhất, minh bạch và tuân thủ các quy định của pháp luật về tài chính, kế toán và thống kê Qũy BHXH được hạch toán độc lập với ngân sách nhà nước
Thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện
Thủ tục thực hiện BHXH tự nguyện thường được quy định không giống nhau ở các quốc gia Phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức, các điều kiện kinh
tế - xã hội, dân cư mà các quốc gia sẽ có những quy định riêng biệt về thủ tục thực hiện BHXH tự nguyện cũng như cơ quan, tổ chức thực hiện thủ tục đó
Mức phí và phương thức đóng phí bảo hiểm xã hội tự nguyện
Về mức phí: Việc xác định mức đóng BHXH tự nguyện trên cơ sở thu nhập của NLĐ sẽ do họ lựa chọn trong khoảng mức thu nhập tối thiểu hoặc tối đa theo quy định của pháp luật Về thực tế, tâm lý chung của NLĐ khi tham gia BHXH tự nguyện thông thường là chọn mức đóng thấp nhất Nhận thức của NLĐ trong việc đóng BHXH thấp sẽ ảnh hưởng đến việc thụ hưởng lương hưu sau này của chính họ và khả năng cân đối quỹ Thiết nghĩ, các văn bản hướng dẫn thi hành luật cần tính toán cụ thể, cần có ràng buộc nhất định
để làm sao thu nhập do người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn sát với thu nhập thực tế của họ Từ đó tránh quan niệm cho rằng, BHXH tự nguyện là một hình thức BHXH chỉ dành cho những NLĐ có thu nhập thấp trong xã hội
Về phương thức đóng phí: Là quy định về cách thức đóng phí của
người tham gia Pháp luật về BHXH tự nguyện của mỗi nước trên thế giới có
Trang 2517
những quy định khác nhau về phương thức đóng Có quốc gia quy định đóng BHXH tự nguyện theo tuần, tháng, quý, năm hoặc nhiều năm một lần; có nước quy định đóng BHXH tự nguyện thông qua thuế, có nước quy định đóng BHXH theo hình thức trắch từ thu nhập của NLĐ thông qua tài khoản tại ngân hàngẦTùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mức thu nhập và nhu cầu của NLĐ tham gia BHXH tự nguyện mà mỗi quốc gia có những chắnh sách, quy định về BHXH tự nguyện khác nhau Phýõng thức đóng phắ dễ dàng, thuận tiện sẽ khuyến khắch NLĐ tham gia Vì đối tượng tham gia BHXH tự nguyện thường sinh sống, làm việc phân tán ở nhiều nơi, thu nhập khác nhau và không ổn định, nên việc quy định phương thức đóng phắ phải linh hoạt và đa dạng để người tham gia lựa chọn
1.3 Vai trò pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện
Trong đời sống xã hội, pháp luật là phương diệnđể Nhà nước quản lý mọi mặt trong đời sống xã hội, duy trì thiết lập củng cố tăng cường quyền lực Nhà nước Pháp luật là phương tiện thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ắch hợp pháp của mỗi công dân Pháp luật góp phần tạo dựng mối quan hệ mới và tăng cường mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia Bảo vệ quyền, lợi ắch hợp pháp của mọi người trong xã hội Pháp luật được xây dựng dựa trên hoàn cảnh lịch sử, địa lý của dân tộc Nhà nước thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc bảo vệ các quyền của công dân, ngăn ngừa những biểu hiện lộng quyền, thiếu trách nhiệm đối với công dân, đảm bảo cho mỗi công dân thực hiện đầy
đủ quyền và nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và các công dân khác
Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh Đảng và Nhà nước
ta luôn quan tâm, chú trọng đến đời sống vật chất, tinh thần cho NLĐ Kể từ khi Nhà nước Việt Nam được thành lập ngày 02/9/1945 thì công tác ASXH được Nhà nước quan tâm và coi đây là một chắnh sách ASXH nhằm đảm bảo
ổn định và công bằng trong xã hội Việc xây dựng pháp luật BHXH tự nguyện tạo ra sự công bằng đối với mỗi người tham gia, bình đẳng như nhau trong đời sống cộng đồng, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ắch chắnh đáng của mỗi cá nhân trong cộng đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện có hiệu quả một số chắnh sách xã hội khác như chắnh sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, chắnh sách y tế, chắnh sách chắm sóc người cao tuổi,Ầ (như hạn chế
Trang 2618
việc sinh đẻ con vỡ kế hoạch vì mục đích con trai nối dõi tông đường; việc khám chữa bệnh miễn phí) xóa đi tâm lý "trọng nam, khinh nữ" nhờ cậy vào con cái "trẻ cậy già, cha cậy con"
Khi Nhà nước ban hành pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện đây là các quy định cụ thể, thể hiện ý chí của Nhà nước, ý chí của nhân dân, đây là hành lang pháp lý quan trọng đảm bảo mọi công dân tham gia BHXH tự nguyện đều bình đẳng trước pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia BHXH, góp phần đảm bảo an sinh xã hội
Pháp luật BHXH tự nguyện góp phần thực hiện công bằng xã hội thể hiện bản chất của Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lợi đều phục vụ nhân dân với tinh thần tương thân, tương ái "lá lành đùm lá rách" và hỗ trợ lẫn nhau trong đời sống Phân phối trong BHXH
tự nguyện là sự chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội, là sự phân phối lại giữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau theo xu hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống Vì vậy, BHXH tự nguyện góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo
- Pháp luật BHXH tự nguyện góp phần phòng tránh và hạn chế tổn thất, đảm bảo an toàn cho sản xuất và đời sống xã hội của con người
- Pháp luật BHXH tự nguyện góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước
Như vậy, pháp luật BHXH tự nguyện có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội đã thể hiện các quyền, nghĩa vụ của mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Pháp luật nói chung, pháp luật BHXH nói riêng ngay từ khi
ra đời nó đã là hình thức đại diện cho quyền lực Nhà nước được ban hành dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật, vì vậy nó được đảm bảo thực hiện bởi Nhà nước
1.4 Pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở một số nýớc trên thế giới
Tại Cộng hòa Pháp:[43] [42]BHXH tự nguyện ra đời trước cả bảo
hiểm thương mại, dưới dạng các quỹ tương tế, từ cuối thế kỷ XIX Những đối
Trang 2719
tượng là nông dân, thợ thủ công, người làm nghề đánh cá trên biển,… BHXH
tự nguyện ở Pháp áp dụng các chế độ sau:
+ Bảo hiểm hưu trí;
+ Bảo hiểm ốm đau, sinh đẻ, thương tất;
+ Bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp;
+ Bảo hiểm thất nghiệp đối với những người làm công trong nông nghiệp
+ Trợ cấp gia đình
Người tham gia bảo hiểm hoàn toàn tự nguyện
Quỹ BHXH tự nguyện được hình thành trên cơ sở đóng góp của người tham gia bảo hiểm và được Nhà nước bảo trợ và hỗ trợ khi cần thiết Quỹ này được thành lập ở cấp tỉnh hoặc liên tỉnh và trung ương
Quản lý quỹ được thực hiện theo cơ chế tự quản do người tham gia tự bầu ra đại diện của mình; các quỹ tỉnh/liên tỉnh thực hiện thu - chi BHXH trên địa bàn Các quỹ trung ương thực hiện chính sách điều phối chung dưới sự chỉ đạo của Hội đồng quản trị Hội đồng này có đại diện của các quỹ tỉnh/liên tỉnh
Về hình thức đóng góp, để phù hợp với đặc điểm thu nhập đa dạng của các đối tượng tham gia bảo hiểm, BHXH tự nguyện của Pháp đã tính toán mức đóng và quy ra điểm, tương ứng với một giá trị nhất định Tại mỗi thời điểm có thể có giá trị khác nhau, tùy theo giá trị đồng tiền tại thời điểm tính và tổng lượng tiền dự tính cơ quan BHXH có thể thu được trong năm
Việc trả lương hưu và các trợ cấp bảo hiểm được thực hiện thông qua hệ thống bưu chính Pháp theo hai hình thức chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng tại các bưu cục hoặc vào bất kỳ ngân hàng nào mà người thụ hưởng có tài khoản, làm tăng số tiền họ có trong tài khoản Những người không có tài khoản được nhận trợ cấp bằng tiền mặt trực tiếp tại các bưu điện Một số đối tượng đặc biệt (cao tuổi, tàn tật,…) được bưu điện mang trợ cấp đến tận nhà
Tại Thổ Nhĩ Kỳ:[42] BHXH tự nguyện ở Thổ Nhĩ Kỳ được chia thành
hai tiểu hệ thống là BHXH tự nguyện đối với lao động tự do và BHXH tự nguyện đối với nông dân tự do
Trang 2820
Đối tượng của BHXH tự nguyện đối với lao động tự do bao gồm: NLĐ độc lập không có quan hệ lao động; vợ hoặc chồng thất nghiệp của lao động trong khu vực nông nghiệp; những người nội trợ; những người gốc Thổ có quốc tịch nước ngoài; vợ hoặc chồng trong khu vực nông nghiệp, thân nhân của những người Thổ định cư ở nước ngoài do điều kiện phải sống phụ thuộc
và không có công việc ổn định
Đối tượng của BHXH tự nguyện đối với nông dân tự do gồm những NLĐ tự do không thuộc đối tượng của BHXH bắt buộc
Các chế độ bảo hiểm được áp dụng gồm: Chế độ mất sức lao động, chế độ bảo hiểm tuổi già và chế độ tử tuất (chế độ tuất chỉ áp dụng đối với lao động
tự do, không áp dụng đối với nông dân)
Điều kiện để được hưởng trợ cấp mất sức lao động là phải suy giảm 2/3 khả năng lao động và phải đóng góp bảo hiểm tối thiểu 5 năm Đối với bảo hiểm tuổi già, tuổi nghỉ hưu đối với nam là 55 và nữ là 50 và phải có thời gian đóng góp Bảo hiểm xã hội tự nguyện tối thiểu là 25 năm Những người có thời gian đóng góp từ 15 năm đến dưới 25 năm hưởng bảo hiểm tuổi già một phần (gọi là hưu sớm, được hưởng mức trợ cấp hàng tháng thấp hơn so với những người đủ điều kiện) Đối với những người có dưới 15 năm đóng bảo hiểm thì được hưởng trợ cấp hưu một lần
Về tài chính, cơ quan BHXH đề ra 12 mức đóng góp để người tham gia bảo hiểm có thể lựa chọn đóng theo 1 trong 12 mức đó
Mức hưởng trợ cấp bảo hiểm tuổi già (mức tối thiểu) được áp dụng tương tự như mức trợ cấp bảo hiểm tuổi già của các hệ thống bảo hiểm khác (ở Thổ Nhĩ Kỳ có nhiều hệ thống BHXH khác nhau cho các nhóm đối tượng khác nhau)
Tại Cộng hòa Liên bang Đức: [35] Thực hiện hình thức BHXH tự
nguyện theo một hệ thống độc lập tồn tại song song với BHXH bắt buộc áp dụng cho các đối tượng là: nông dân, lao động nông thôn, lao động trong các
hộ gia đình, các nông trại có quy mô nhỏ, những người tự tạo việc làm, những nông dân cá thể, các thành viên trong gia đình họ Tuy nhiên ở các nước này có hai loại hình bảo hiểm đó là tự nguyện hay bắt buộc để mọi người tham gia, tùy từng đối tượng cụ thể để có thể bắt buộc hoặc để tự nguyện tham gia
Trang 2921
Các chế độ được hưởng từ BHXH bao gồm:
+ Tai nạn, ốm đau và thai sản;
+ Các chế độ bảo hiểm dài hạn, gồm: Bảo hiểm tuổi già; bảo hiểm tàn tật; bảo hiểm chế độ tử tuất;
+ Trợ cấp gia đình
Ngoài trợ cấp bằng tiền thì người tham gia bảo hiểm còn được trợ cấp bằng hiện vật, như: thuốc chữa bệnh, các phương tiện trợ giúp, đồ mặc và hiện vật cho trẻ sơ sinh, nhà dưỡng lão (đối với người già),…
Nguồn trợ cấp ngắn hạn có thể được trả hoàn toàn hoặc từng phần, tùy theo thỏa thuận giữa người tham gia và cơ quan BHXH tự nguyện Như vậy loại hình BHXH tự nguyện khác với loại hình BHXH bắt buộc, các trợ cấp trên phải hoàn trả hoàn toàn cho người tham gia bảo hiểm
Nguồn quỹ hình thành BHXH tự nguyện do chủ trang trại và nông dân cùng đóng góp và được đóng theo quý Mức đóng chế độ BHXH ngắn hạn cho Chủ tịch quỹ BHXH xác định theo quỹ Mức đóng góp dài hạn dựa trên mức chi thực tế cho các chế độ này của quý trước đó, không quy định cứng Tuy nhiên, quỹ BHXH cũng chủ yếu do Nhà nước hỗ trợ (phần đóng của người tham gia BHXH chỉ đảm bảo được 10% chi trả các chế độ và hoạt động)
Do dựa trên nền tảng là BHXH bắt buộc nên độ tuổi quy định được nhận trợ cấp hưu trí bổ sung tự nguyện cũng trùng độ tuổi nhận trợ cấp hưu trí theo quy định trong BHXH bắt buộc Ở đức nam được nhận trợ cấp bảo hiểm hưu trí tự nguyện khi tròn 65 tuổi và nữ khi tròn 60 tuổi Chính vì vậy, khi nghỉ hưu bên cạnh trợ cấp hưu trí theo BHXH bắt buộc người tham gia BHXH bổ sung tự nguyện còn được nhận một khoản trợ cấp hưu trí bổ sung
tự nguyện
Tại Phần Lan:[35] [42] Là một nước phát triển và nông dân chỉ chiếm
7% trong tổng số dân Thu thập của người nông dân khá đa dạng và thu nhập
từ sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 50% trong tổng thu nhập Đây là điều kiện rất lý tưởng để người nông dân có thể tham gia BHXH
Hệ thống BHXH đối với nông dân ở Phần Lan bao gồm bảo hiểm dài hạn (hưu trí, tàn tật) và bảo hiểm ngắn hạn (ốm đau, tai nạn, thất nghiệp) Các
Trang 3022
chế độ bảo hiểm dài hạn do tổ chức BHXH quốc gia (KELA) quản lý và thực hiện cho mọi người dân và người nông dân được hưởng trợ cấp cơ bản từ hệ thống này (thấp hơn rất nhiều so với những người làm công ăn lương) Hệ thống BHXH dài hạn cho nông dân, do tổ chức BHXH nông dân (MELA) quản lý Hai loại trợ cấp này đảm bảo cho người nông dân có được trợ cấp hưu thỏa đáng
Mức đóng BHXH cho nông dân khá cao và tỷ lệ ngày càng tăng (trên 20% thu nhập cá nhân) Tuy nhiên 4/5 trong số này là do Nhà nước hỗ trợ Người nông dân đủ 65 tuổi (cả nam và nữ) được hưởng trợ cấp hưu Mức hưởng phụ thuộc vào tỷ lệ đóng góp và thời gian đóng góp, nhưng tối đa bằng 60% mức thu nhập theo tính toán Nếu nghỉ hưu sớm hơn (ở độ tuổi từ 64 trở xuống) thì mức trợ cấp bị giảm đi tương ứng Ngoài trợ cấp hưu, người nông dân Phần Lan cũng được hưởng trợ cấp ốm đau, tai nạn hay thất nghiệp Mọi nông dân từ 18 tuổi trở lên bắt buộc phải tham gia vào hệ thống bảo hiểm tai nạn cho nông dân, từ 14 - 17 tuổi có thể tham gia tự nguyện Ngoài ra, những người trên 65 tuổi cũng được tham gia tự nguyện cho chế độ bảo hiểm tai nạn Mức trợ cấp được thực hiện như đối với khu vực làm công ăn lương như Nhà nước quy định
Về mặt tổ chức, MELA là tổ chức của Nhà nước, ngoài phần đóng của nông dân, đa phần trong quỹ BHXH là do ngân sách tài trợ và tài chính của MELA do Quốc hội điều hành và MELA là một thành viên của Hiệp hội an sinh xã hội quốc tế (ISSA)
Tại Trung Quốc:[44]Ngay từ những ngày đầu Trung Quốc giành độc
lập, các chính sách, chế độ về ASXH đã được ban hành Năm 1950 chính sách nhằm trợ giúp và giải quyết vấn đề công nhân thất nghiệp từ chế độ cũ
để lại đã được triển khai Năm 1951, chính sách, chế độ bảo hiểm về hưu trí, tàn tật, tử tuất, ốm đau, chăm sóc y tế, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản đã được đưa ra Sau đó Trung Quốc đã ban hành một loạt các chính sách, chế độ về an sinh xã hội bao gồm cả cứu tế xã hội, chế độ đối xử và chăm sóc đặc biệt nhằm không ngừng đẩy mạnh và điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu nâng cao của xã hội Tuy nhiên, phạm vi của chế độ ASXH cho đến những năm giữa của thập kỷ 80 về cơ bản mới được thực hiện ở khu vực thành phố và tập trung vào các doanh nghiệp Nhà nước
Trang 3123
Kể từ năm 1984, Trung Quốc tiến hành một loạt các cải cách đối với lĩnh vực ASXH Năm 1984 bắt đầu cải cách chính sách hưu trí đối với lao động làm việc trong các doanh nghiệp Năm 1986, ban hành chế độ bảo hiểm thất nghiệp đối với khu vực doanh nghiệp Nhà nước Các chính sách BHXH như thai sản, tai nạn giao thông, chăm sóc y tế được cải cách và ban hành vào các năm 1991, 1994, 1996, 1998 Năm 1999, chính sách bảo đảm mức sống tối thiểu được đưa ra và năm 2002 mô hình hợp tác xã y tế kiểu mới đối với khu vực nông thôn được thiết lập,… Những cải cách và phát triển của hệ thống ASXH đã thực sự đóng góp vai trò quan trọng trong phát triển và ổn định xã hội
Song song với BHXH bắt buộc, Trung Quốc đã thực hiện chế độ BHXH tự nguyện thông qua hai chương trình: Chương trình bảo hiểm hưu trí
bổ sung và BHXH đối với nông dân
Chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung được ban hành từ năm 1991 Đó là chế độ BHXH tự nguyện nằm trong BHXH bắt buộc nhằm bảo đảm cho người hưởng khi nghỉ hưu có mức trợ cấp cao hơn
Năm 1995, Bộ lao động và BHXH Trung Quốc đã ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình hưu trí bổ sung, trong đó quy định rõ quy trình và điều kiện để các doanh nghiệp tham gia đóng quỹ, theo đó chương trình hưu trí bổ sung dựa trên nguyên tắc cơ bản đó là:
Phải có tài khoản cá nhân;
Quản lý quỹ theo định hướng kinh tế thị trường;
Mức đóng góp hoàn toàn tự nguyện theo sự thỏa thuận của người sử dụng lao động và tổ chức công đoàn của doanh nghiệp Trên cơ sở chính sách chung của mỗi quốc gia, mỗi địa phương cũng đã xây dựng chương trình riêng phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của mình để khuyến khích các doanh nghiệp
và người lao động tham gia
Ví dụ: Ở Bắc Kinh đã xây dựng và thực hiện quỹ hưu trí bổ sung từ năm 1991 Đồng thời đưa ra chủ trương khuyến khích các doanh nghiệp tham gia chương trình hưu trí bổ sung cho người lao động thông qua chính sách miễn giảm thuế trong quá trình đóng băng hàng năm
Trang 3224
Đối tượng tham gia: Là những người đã tham gia chương trình hưu trí bắt buộc gồm NLĐ ở khu vực thành thị làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, hợp tác xã, lao động tự làm việc, lao động nông thôn di cư ra đô thị,…
Chế độ đóng và quyền lợi được hưởng:
Không quy định mức đóng hay tỷ lệ đóng quỹ, mức đóng là tự nguyện, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế hoặc phúc lợi của doanh nghiệp Hình thức tham gia khá đa dạng, phần lớn các doanh nghiệp tham gia vào quỹ chung do
cơ quan BHXH thực hiện Một số doanh nghiệp tự nguyện xây dựng quỹ hưu trí quỹ riêng của mình, một số doanh nghiệp thực hiện thông qua bảo hiểm thương mại cho NLĐ
Mức hưởng của NLĐ khi về hưu dựa trên cơ sở mức đóng được thể hiện bằng số tiền có trong tài khoản do doanh nghiệp và NLĐ đã đóng góp Hình thức hưởng cũng rất đa dạng và linh hoạt, người lao động có thể nhận một lần hoặc nhận hàng tháng, tùy theo yêu cầu của NLĐ
Chương trình BHXH tự nguyện nông thôn: Ở Nam Kinh thực hiện chương trình BHXH tự nguyện nông thôn từ năm 1992 Chương trình này như một chương trình tiết kiệm cá nhân có đối tượng tham gia là những lao động làm việc trong các hợp tác xã ở khu công nghiệp
Mức đóng hay tỷ lệ đóng của chương trình này do NLĐ tự chọn Các hợp tác xã hay nông thôn Nam Kinh cũng khuyến khích NLĐ tham gia quỹ và đóng góp với mức phù hợp của hợp tác xã
Về phương thức đóng: NLĐ tự nguyện đóng góp, không hạn chế tuổi tác, có thể đóng nhiều lần và cũng có thể được đóng một lần, tùy thuộc vào kinh tế của mỗi NLĐ
Mức hưởng và phương thức hưởng: NLĐ khi đủ tuổi: 60 đối với tuổi nam, 55 đối với nữ Mức hàng tháng được hưởng xác định trên cơ sở lấy tổng
số tiền đóng góp của hợp tác xã và NLĐ trong tài khoản cá nhân chia cho 216 tháng (18 năm) NLĐ cũng có thể nhận một lần số toàn bộ số tiền trong tài khoản nếu mức nhận tiền hàng tháng quá thấp
Trong quá trình đóng quỹ, NLĐ có thể nhận lại tiền số tiền đóng góp của mình trong các trường hợp như: Phải di chuyển sang tỉnh khác hoặc có lý
Trang 33Bộ máy quản lý chương trình BHXH y tế được chia làm 4 cấp:
Cấp tỉnh: Có trách nhiệm xây dựng chương trình, ban hành cơ chế, chính sách chung của địa phương
Cấp huyện: Có trách nhiệm cụ thể hóa cơ chế, chính sách do tỉnh ban hành
Cấp cơ sở (xã, thị trấn): Thực hiện đăng ký tham gia quỹ BHXH nông dân đối với hợp tác xã và NLĐ
Cấp làng: Thực hiện công tác thu tiền, đóng quỹ của hợp tác xã và NLĐ
Giữa cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở và cấp làng có mối quan hệ chặt chẽ và thường xuyên trao đổi với nhau, do đó các hoạt động được thống nhất, đồng bộ
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật về BHXH tự nguyện của một số nước trên thế giới có thể rút ra một số kinh nghiệm hữu ích cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách về BHXH tự nguyên, cho thấy:
Thứ nhất, không có nước nào ban hành một chính sách BHXH duy
nhất áp dụng cho tất cả mọi đối tượng, mà ở đó đều phải xây dựng hệ thống chính sách dựa trên thực trạng cơ sở kinh tế xã hội để định hướng xây dựng đáp ứng cho từng nhóm đối tượng nhất định Có thể nói các quốc gia khi ban hành chính sách BHXH bắt buộc cho một số đối tượng thì đều ban hành bên cạnh đó là BHXH tự nguyện với mục tiêu quan trọng là để ổn định xã hội và
ổn định thu nhập của mỗi người dân trên toàn quốc gia
Đối chiếu với Việt Nam hiện nay: Ngoài việc Nhà nước quy định BHXH bắt buộc áp dụng đối với một số đối tượng thì Nhà nước đã có quy
Trang 3426
định BHXH tự nguyện cho một số đối tượng có nhu cầu tham gia Hiện nay
do điều kiện kinh tế của nước ta còn nghèo, chưa thể trợ cấp cho tất cả các đối tượng được, ở đây phấn đấu xây dựng một cơ chế, chính sách bảo hiểm tự nguyện có khả năng cung cấp hỗ trợ đóng phí cho nhưng người nghèo và cận nghèo, cho những người dân nông thôn để họ có thể tham gia hệ thống BHXH tự nguyện Chương trình mức sống tối thiểu ở nông thôn có mục tiêu, giúp những hộ nghèo có thu nhập đầu người dưới chuẩn nghèo, cận nghèo của địa phương, nhằm tạo điều kiện cho đối tượng hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và hưởng chế độ hỗ trợ chính sách từ
đó rút ngắn khoảng cách giữa người có thu nhập cao và thu nhập thấp trong
xã hội, tạo ra sự ổn định ASXH
Thứ hai,có rất nhiều nước trên thế giới đã thực hiện mô hình và hình thức
BHXH tự nguyện, đối tượng tham gia là những người nông dân, NLĐ trong nông nghiệp, người làm nghề lao động độc lập và những người chưa tham gia BHXH bắt buộc Tuy nhiên một số nước cho phép người tham gia BHXH bắt buộc được tham gia thêm BHXH tự nguyện (Ví dụ: Trung Quốc) để tăng khả năng an toàn trong cuộc sống
Thứ ba, thực tế cho thấy tùy điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước, có
thể thực hiện một hay một số chế độ bảo hiểm Các chế độ được các nước xem xét thực hiện theo thứ tự ưu tiên như: Chế độ hưu trí hoặc bảo hiểm tuổi già; chế độ tử tuất; chế độ mất sức lao động; chế độ ốm đau; chế độ tai nạn nghề nghiệp;… Ở Việt Nam hiện nay việc mở rộng các chế độ BHXH tự nguyện mở rộng cần được nghiên cứu kỹ, triển khai áp dụng thực hiện một cách thận trọng ví dụ: BHXH tuổi già
Thứ tư, do đặc tính của các nước và mức thu nhập của mỗi nước khác
nhau, cũng như thu nhập của đối tượng tham gia BHXH tự nguyện cũng khác nhau, nhất là lao động nông thôn, lao động trong nông nghiệp hoặc lao động
tự tạo việc làm, thu nhập gắn với mùa vụ hoặc phụ thuộc vào công nghề nên một số nước áp dụng BHXH tự nguyện, áp dụng mức đóng, hình thức đóng rất linh hoạt Có nước quy định nhiều mức đóng góp khác nhau để người tham gia có thể lựa chọn phù hợp với điều kiện thu nhập của bản thân
Do tính tự nguyện, nên việc đóng góp chủ yếu do người tham gia bảo hiểm đóng góp, nhưng ở một số nước, nhất là ở các nước phát triển Nhà nước
Trang 3527
hoặc hợp tác xã cũng có sự hỗ trợ cho quỹ bảo hiểm Đây là điểu rất quan trọng để duy trì hoạt động của hệ thống bảo hiểm với mục tiêu ổn định đời sống của người tham gia và đảm bảo ổn định ASXH
Do có nguồn thu nhập khác nhau, cho nên mức tham gia BHXH tự nguyện đóng góp mức khác nhau dẫn đến mức hưởng cũng khác nhau Tuy nhiên mức này không thấp hơn mức tối thiểu chung của dân cư
Ví dụ: Để được hưởng chế độ bảo hiểm tuổi già thì tuổi đời là điều kiện để xem xét để hưởng Tuổi nghỉ hưu hưởng BHXH của mỗi nước cũng quy định khác nhau, ví dụ ở Indonesia áp dụng chung để hưởng cả nam và nữ là 55 tuổi; ở Phần Lan nông dân 65 tuổi (cả nam và nữ); ở Thổ Nhĩ Kỳ nam là 55,
nữ là 50; ở Trung Quốc 55 tuổi đối với nữ, 60 tuổi đối với nam
Thứ năm, Quỹ BHXH tự nguyện thường được quản lý theo hệ thống
độc lập, riêng rẽ, trên cơ sở tự quản và được Nhà nước bảo hộ hoặc hỗ trợ nếu thấy cần thiết Mặc dù được quản lý độc lập nhưng các nước vẫn thể hiện được tính liên thông giữa BHXH bắt buộc với bảo hiểm xã hội tự nguyện để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm khi chuyển lao động từ nơi này sang nơi khác Tuy nhiên thời gian đầu BHXH tự nguyện thường được thực hiện riêng, nên có thể xảy ra trường hợp có người có thể cùng một lúc tham gia cả hai hệ thống bảo hiểm
Thứ sáu, chi trả cho người hưởng BHXH tự nguyện: Việc chi chế độ
bảo hiểm cho người được hưởng rất linh hoạt, có thể thông qua tài khoản cá nhân hoặc thông qua hệ thống bưu điện hoặc thông qua đại diện hợp tác xã, đại diện thôn, xóm
Như vậy, qua sáu nội dung nêu trên cho ta thấy BHXH chính là một chính sách lớn trong hệ thống ASXH của mỗi quốc gia, đồng thời luôn là một công cụ hưu hiệu được các quốc gia sử dụng rất hiệu quả để phát triển nền kinh tế, từ đó góp phần ổn định và phát triển xã hội Phát triển khác hình thức BHXH, xây dựng các loại hình BHXH tự nguyện được xác định là một trong những giải pháp chủ yếu để phát triển hệ thống BHXH ở nước ta trong giai đoạn tới nhằm
"không ngừng mở rộng mạng lưới an sinh xã hội" như Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX đã đề ra
Trang 3628
KẾT LUẬN CHÝÕNG 1
BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng có ý nghĩa quan trọng đối với NLĐ và toàn bộ xã hội, góp phần bảo đảm an sinh xã hội của đất nước Ngày nay, BHXH tự nguyện đã và đang mang tính toàn cầu, trở thành nhu cầu và quyền lợi của NLĐ và được thừa nhận là nhu cầu khách quan, một trong những quyền lợi cơ bản của con người
Luận văn đã nêu ra nội dung mang tính chất lý luận về BHXH tự nguyện, pháp luật về BHXH tự nguyện ở các nội dung cụ thể như: Khái niệm, nguyên tắc, nội dung, vai trò pháp luật; đồng thời cũng nghiên cứu pháp luật về BHXH
tự nguyện ở một số nước trên thế giới đã có những thành công nhất định như: Cộng hòa Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Cộng hòa Liên Bang Đức, Phần Lan, Trung Quốc
từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách cũng như tổ chức triển khai BHXH tự nguyện ở Việt Nam
Trang 3729
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TẠI TỈNH ÐIỆN BIÊN
2.1.Thực trạng quy ðịnh pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện
Cũng như ở các nước trên thế giới thì tại Việt Nam, BHXH ra đời là một bước ngoặt đã tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội Ngay từ khi ra đời, BHXH đã thể hiện những tác dụng to lớn của mình trong cuộc sống Khi Việt Nam giành chính quyền và tuyên bố là một Quốc gia độc lập vào ngày 02/9/1945, Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ đã ban hành hàng loạt Sắc lệnh qua đó quy định về các chế độ trợ cấp, ốm đau, tai nạn hưu trí cho công nhân viên chức Nhà nước
Ngày 14/3/1947 và 22/5/1950 Chính phủ đã ban hành hai Sắc lệnh 105/SL và 77/SL quy định các chế độ ốm đau, tai nạn lao động, hưu trí và thai sản cho công nhân viên chức Nhà nước Sự ra đời của hai sắc lệnh này có thể được coi là những văn bản pháp luật đầu tiên về BHXH có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở để ban hành Điều lệ BHXH sau này Trong điều kiện đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhưng sự ra đời của hàng loạt các sắc lệnh đã chứng tỏ
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước và của Bác Hồ đối với người lao động Hiến pháp năm 1959 của nước ta đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được hưởng trợ cấp BHXH Quyền này đã được cụ thể hóa trong Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước được ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 Bên cạnh đó, cùng với Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 Điều lệ đãi ngộ quân nhân cũng ra đời Đây được coi là các văn bản luật đầy đủ và toàn diện nhất về BHXH lúc bấy giờ quy định các quyền lợi BHXH của người lao động Nền kinh tế chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa là một tác động vô cùng lớn tác động đến hoạt động của ngành lao động – thương binh và xã hội nói chung, của lĩnh vực BHXH nói riêng Dựa trên Hiến pháp năm 1992, cùng với sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã cho triển khai cải cách hệ thống
Trang 3830
BHXH Ngày 22/6/1993, Nghị định 43/CP của Chính phủ ra đời quy định về chế độ BHXH đối với người lao động trong các thành phần kinh tế Điểm nổi bật trong thời gian này là đến ngày 16/2/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định 19/CP quy định về việc thành lập BHXH Từ đây, BHXH đã có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội đã góp phần vào sự phát triển chung của đất nước Ngay sau khi Bộ Luật lao động chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 Chính phủ đã ban hành Nghị định 12/CP (ngày 26/01/1995)
về Điều lệ BHXH đối với người lao động trong các thành phần kinh tế trong
xã hội Đến Nghị định 45/CP (ngày 15/7/1995) Điều lệ BHXH với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân BHXH Việt Nam được thành lập theo Nghị định 19/CP đã trở thành một cơ quan có tư cách pháp nhân trực thuộc Chính phủ, được tổ chức theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương để thực hiện tất cả các nghiệp
vụ về BHXH Đến 29/6/2006 căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi
bổ sung, Chính phủ đã ban hành Luật BHXH Kể từ đây, ngành BHXH đã có
đủ căn cứ cơ sở pháp lý để hoạt động và phát triển Luật BHXH ra đời đã giúp các cơ quan BHXH trong cả nước phát triển, góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định về cuộc sống cho công nhân, viên chức, quân nhân, người lao động trong các thành phần kinh tế và gia đình họ, góp phần rất lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Các quy định pháp luật về BHXH tự nguyện tại Việt Nam mới được cụ thể tại Luật BHXH 2006 và được sửa đổi, hoàn thiện hơn trong Luật BHXH 2014
Chế độ BHXH tự nguyện lần đầu được ghi nhận trong Bộ luật Lao động 1994: Người lao động làm việc ở những nơi sử dụng dưới 10 người lao động, hoặc làm những công việc thời hạn dưới 3 tháng, theo thời vụ hoặc làm công việc có tính chất tạm thời khác, thì các khoản bảo hiểm xã hội được tính vào tiền lương do người sử dụng lao động trả để người lao động tham gia bảo hiểm xã hội theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm (Điều 141,
Bộ luật Lao động năm 1994)
Tiếp theo đó Điều 141, Bộ luật Lao động sửa đổi bổ sung năm 2002 lại quy định: Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng thì các khoản bảo hiểm xã hội được tính vào tiền lương do
Trang 39Nhận thức rõ được tầm quan trọng của BHXH đối với NLĐ và xã hội, Luật BHXH thông qua ngày 29/6/2006 đã dành chương IV (từ Điều 69 đến Điều 79), Mục 2 Chương IV (từ Điều 98 đến Điều 101) và một số điều khoản có liên quan
để quy định về BHXH tự nguyện
Sau 6 năm thực hiện, Luật BHXH năm 2006 đã phát huy được những vai trò nhất định của BHXH đối với xã hội Tuy nhiên thực tế tình hình kinh tế - xã hội đất nước đã có nhiều chuyển biến và thay đổi, đòi hỏi các quy định về BHXH tự nguyện cần có sự sửa đổi, bổ sung hợp lý hơn Vì vậy, ngày 20/11/2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật BHXH năm 2014, trong đó có những quy định mới
ưu việt hơn về BHXH tự nguyện
Các quy định, chính sách về BHXH phải thể hiện rõ ràng BHXH là một
hệ thống các chế độ trợ cấp góp phần thay thế, bù đắp một phần thu nhập bị mất đi của người lao động (cán bộ, công chức, viên chức, quân nhân, người lao động) khi họ bị ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất nhằm đảm bảo và ổn định cuộc sống của họ, của gia đình họ thông qua một quỹ tài chính trợ cấp, quỹ này do người lao động và người sử dụng cùng nhau đóng góp Bên cạnh đó, BHXH phải phục vụ vì lợi ích vật chất và tinh thần của mọi người, vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; góp phần vào sự phát triển chung của đất nước
2.1.1 Về ðối týợng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Luật BHXH năm 2014 cho phép người lao động đã tham gia BHXH bắt buộc, nay không thuộc diện tham gia tiếp BHXH bắt buộc thì có thế lựa
Trang 40Tại khoản 4 Điều 2 quy định người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc Như vậy, Luật BHXH năm 2014 đã bỏ quy định về tuổi trần tham gia BHXH tự nguyện, tạo điều kiện cho những đối tượng đã hết tuổi lao động nhưng có nhu cầu và đủ điều kiện được tham gia BHXH tự nguyện Đây được đánh giá là điểm mới nổi bật và mang tính ưu việt của Luật BHXH năm 2014, góp phần mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
Nói cách khác, có thể hiểu pháp luật Việt Nam quy định những người lao động không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc là đối tượng tham gia loại hình BHXH tự nguyện Việc quy định đối tượng tham gia theo phương pháp loại trừ nhằm mục đích hướng tới bao trùm các đối tượng tham gia BHXH Mặt khác, pháp luật cũng cho phép những người trước đây tham gia BHXH bắt buộc nhưng vì nhiều lí do khách quan nay không tham gia BHXH bắt buộc nữa được phép chuyển sang tham gia BHXH tự nguyện để cộng nối thời gian đóng BHXH, tạo điều kiện cho họ được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất
Hiện nay, theo quy định chỉ công dân Việt Nam mới được tham gia BHXH tự nguyện Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế thì việc quy định
áp dụng chính sách BHXH đối với công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam là cần thiết nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài mà nước đó có ký Hiệp định song phương với Việt Nam về lĩnh vực BHXH
2.1.2 Về các chế ðộ bảo hiểm xã hội tự nguyện
"Bảo hiểm xã hội tự nguyện thực hiện hai chế độ đó là Hưu trí và Tử tuất"