Những năm gần đây, hoạt động thương mại ngày càng phát triển mạnh với sự tham gia đông đảo của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, các chính sách hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là: Hà Thị Hạnh Nguyên học viên khóa 2018-2020 xin cam đoan đây là công trình độc lập của riêng tôi mà không sao chép từ bất kỳ nguồn tài liệu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu sử dụng phân tích trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, có xác nhận của cơ quan cung cấp số liệu Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi được thực hiện một cách khoa học, trung thực, khách quan.Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của các nguồn số liệu cũng như các thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hà Thị Hạnh Nguyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của Trường Đại học Mở Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian tôi học chương trình Cao học luật tại cơ sở đào tạo
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Nguyễn Như Phát – người thầy đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành tốt bản luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hà Thị Hạnh Nguyên
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG 6
1.1 Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 6
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng 6
1.1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 8
1.2 Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 10
1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 10
1.2.2 Vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 12
1.2.3.Nguồn của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 12
Kết luận Chương 1 15
Chương II THỰC TRẠNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN 16
2.1 Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 16
2.1.1 Các nguyên tắc trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 16
2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng 18
2.1.3 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh 19
2.1.4 Trách nhiệm của các tổ chức xã hội 23
2.1.5 Trách nhiệm của Nhà nước 24
2.1.6 Các hành vi bị cấm trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 26
2.1.7 Giảỉ quyết tranh chấp của người tiêu dùng 28
2.1.8 Chế tài xử lý đối với vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 31
2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại tỉnh Điện Biên 35
2.2.1 Những ảnh hưởng từ điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Điện Biên đến thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 35
2.2.2 Thực trạng thực thi quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng 37
2.2.3 Thực trạng thực thi trách nhiệm của tố chức, cả nhân kinh doanh 40
2.2.4 Thực trạng thực thi trách nhiệm của các tổ chức xã hội 41
Trang 62.2.5 Thực trạng giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng 42
2.2.6.Thực trạng công tác quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 44
2.2.7 Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại tỉnh Điện Biên 51
Kết luận Chương 2 56
Chương III MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐIỆN BIÊN 57
3.1 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 57
3.1.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 57
3.1.2.Một số giải pháp cụ thể 60
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam nói chung và tại tỉnh Điện Biên nói riêng 65
Kết luận Chương 3 69
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong xã hội hiện đại, khi mà sự phân công xã hội ngày càng chuyên nghiệp thì con người bắt buộc phải tham gia các giao dịch dân sự để mua sắm hàng hóa, dịch vụ để thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu của mình khi một người không thể thực hiện việc sản suất hoặc cung ứng Khi tham gia các giao dịch dân sự trên cơ sở hợp đồng dân sự song vụ thì quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia phải được thực hiện đúng, đủ, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia Sự tuân thủ các quy định của pháp luật, tập quán thương mại hoặc các cam kết phải đảm bảo sự trao đổi ngang giá theo thỏa thuận Chính
vì quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể tham gia các giao dịch dân sự trong việc mua bán hàng hóa, dịch vụ trở nên phổ biến đã đặt ra yêu cầu điều chỉnh pháp luật để bảo vệ người mua hàng hóa dịch vụ
Những năm gần đây, hoạt động thương mại ngày càng phát triển mạnh với sự tham gia đông đảo của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ, các chính sách hội nhập kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hóa hiện nay tạo ra nhiều cơ hội cho người tiêu dùng tiếp cận và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ với chất lượng, giá cả thích hợp cùng với đó là nhiều vấn đề nảy sinh liên quan đến người tiêu dùng (NTD) như: Thị trường xuất hiện những thông tin sai lệch, những hành vi gây ảnh hưởng tới quyền lợi của NTD như sản xuất và kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc, không đảm bảo vệ sinh
an toàn, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng… Những hành vi xâm phạm tới quyền lợi của NTD ngày càng nhiều, tinh vi, phức tạp và phạm vi ngày càng rộng không chỉ gây thiệt hại cho NTD mà còn tác động tiêu cực đối với sự phát triển ổn định, bền vững của nền kinh tế Ngày nay, mạng xã hội được cập nhật liên tục từng giờ, từng ngày vì vậy bảo vệ quyền lợi NTD
là vấn đề mang tính thời sự hàng ngày và nhận được nhiều sự quan tâm của toàn xã hội
Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) đã ban hành
có tính thống nhất, đồng bộ và áp dụng trên cả nước trong thời gian qua đã thể hiện tính hiệu quả trong việc bảo vệ NTD trên cả nước Tuy nhiên, do cơ cấu tổ chức, yếu tố địa lý, trình độ dân trí nên quá trình áp dụng pháp luật trong hoạt động bảo vệ người tiêu dùng có nhưng khó khăn riêng mang tính
Trang 9đặc thù và cần tăng cường công tác quản lý để bảo đảm tính thống nhất, khả thi cho tất cả các địa phương trên cả nước Điện Biên là một tỉnh biên giới miền núi thuộc vùng Tây Bắc của Tổ quốc Nằm cách Thủ đô Hà Nội 504km
về phía Tây, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây và Tây Nam giáp CHDCND Lào; có đường giao thông đi các tỉnh Bắc Lào và tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, có đường hàng không từ Điện Biên Phủ đi Hà Nội với tần suất bay bình quân ngày 02 chuyến Kinh tế Điện Biên thuộc nhóm trung bình, trình độ dân trí không đồng đều Với xu thế hòa nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới vấn đề BVQLNTD có ý nghĩa quan trọng, không chỉ đối tỉnh Điện Biên mà còn có ý nghĩa đối với cả nước Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD là trách nhiệm chung của toàn xã hội Thực tế thị trường thương mại trong nước các hành vi vi phạm quyền lợi hợp pháp của NTD ngày càng phức tạp và gia tăng ở hầu hết các lĩnh vực, thực tế này đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng, có thể dẫn tới chệch hướng chiến lược phát triển kinh tế, rối loạn thị trường, các doanh nghiệp đầu tư không có hiệu quả dẫn tới phá sản NTD dùng phải hàng giả, hàng kém chất lượng bị thiệt hại về kinh tế thậm chí có thể đe dọa tới tính mạng và sức khỏe NTD, phá vỡ kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội Bên cạnh đó buôn lậu và gian lận thương mại còn làm mất cân bằng xã hội, làm thất thu ngân sách dẫn tới đất nước mất ổn định về chính trị - xã hội
Từ tình hình thực tế trên, để góp phần đánh giá đúng thực tiễn công tác thi hành pháp luật BVQLNTD tại địa phương, từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về BVQLNTD trong tình hình
hiện nay tôi đã chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Điện Biên” để nghiên cứu và làm luận văn
Thạc sĩ luật học - chuyên ngành Luật Kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Một trong những nội dung quan trọng trong hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đó là pháp luật BVQLNTD Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được Quốc hội khóa XII, Kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17/11/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011,
Trang 10sau gần 10 năm thi hành, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các văn bản hướng dẫn đã góp phần thay đổi mạnh mẽ, đồng thời, kiến tạo các khuôn khổ, nền tảng cơ bản vững chắc, để Nhà nước tiếp tục tạo dựng sự phát triển của công tác BVQLNTD tại Việt Nam Vì vậy, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, đề tài các cấp, luận án, luận văn, các bài viết tạp chí có nội
dung liên quan đến nội dung này, như: “Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ luật học của
Nguyễn Thị Thư, Học viện khoa học xã hội năm 2013; “Trách nhiệm của
thương nhân trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị Thu Hiền năm 2014; “Thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các cơ quan nhà nước tại Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ luật học của Nguyễn Hoàng Mĩ, năm
2014; “Nhận diện thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng và vai trò của những thiết chế này trong việc bảo vệ người tiêu dùng”
của tác giả Nguyễn Văn Cương, Chuyên đề Đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học
Pháp lý, Hà Nội, 2014; “Luật Bảo vệ người tiêu dùng trong hệ thống pháp
luật ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Như Phát… Ngoài ra, còn có các bài
viết như: “Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt
Nam hiện nay”, của Đinh Thị Hồng Trang, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số
273, năm 2014; “Bồi thường thiệt hại trong pháp luật về bảo vệ người tiêu
dùng” của Nguyễn Trọng Điệp, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội,
số 2 năm 2013…
Như vậy có thể thấy, việc đề cập đến vấn đề thực thi pháp luật BVQLNTD từ thực thiễn thi hành tại tỉnh Điện Biên - một tỉnh miền núi phía Tây Bắc của nước ta là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu lý luận, đánh giá các quy định về pháp luật BVQLNTD, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật BVQLNTD tại tỉnh Điện Biên, từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật BVQLNTD trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa toàn cầu như hiện nay
Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
Trang 11- Làm sáng tỏ vấn đề lý luận về người tiêu dùng, sự cần thiết phải BVQLNTD và tổng quan về pháp luật BVQLNTD (khái niệm, đặc điểm, nội dung)
- Trên cơ sở những lý luận chung, tập trung phân tích, đánh giá, nhận xét về thực tiễn thi hành pháp luật BVQLNTD tại tỉnh Điện Biên, nêu những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân dựa trên tình hình thực tế của địa phương
- Đưa ra được một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật BVQLNTD, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật BVQLNTD tại tỉnh Điện Biên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các quy định, lý luận về pháp luật BVQLNTD và góc nhìn từ thực tiễn thi hành pháp luật tại tỉnh Điện Biên Công tác thi hành pháp luật về BVQLNTD là lĩnh vực rất rộng và phức tạp, có thể được phân tích từ nhiều góc độ khác nhau, do vậy, với phạm vi luận văn thạc sĩ và khả năng của học viên không thể bao quát và nghiên cứu sâu sắc hết được các vấn đề liên quan nên tác giả tập trung khảo sát, phân tích đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật BVQLNTD tại tỉnh Điện Biên giai đoạn 2014- 2019
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Để hoàn thành các mục tiêu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, vận dụng luận văn đã được thực hiện trên cơ sở của phương pháp duy vật biện chứng Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của luận văn để phân tích các khái niệm, phân tích quy định của pháp luật, các số liệu
Trang 12- Phương pháp so sánh: Được sử dụng trong luận văn để so sánh một số quy định của pháp luật trong các văn bản khác nhau
- Phương pháp diễn giải quy nạp: Được sử dụng trong luận văn để diễn giải các số liệu, các nội dung trích dẫn liên quan và được sử dụng tất cả các chương của luận văn
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác: phương pháp thống kê
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn khái quát được một cách tổng quan về BVQLNTD và pháp luật BVQLNTD
- Góp phần giúp chính quyền và các cơ quan ban ngành nghiên cứu hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BVQLNTD tại địa phương;
7 Cơ cấu của luận văn
Cơ cấu của luận văn bao gồm: Phần mở đầu, Phần nội dung gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
Chương 2: Thực trạng và thực tiễn thực hiện các quy định hiện hành về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại tỉnh Điện Biên
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Trang 13Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
1.1 Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng
Người tiêu dùng (consumer) là khái niệm có thể được hiểu dưới nhiều góc
độ khác nhau NTD hay người tiêu thụ là một từ nghĩa rộng dùng để chỉ các
cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ sản xuất trong nền kinh tế Khái niệm NTD được dùng trong nhiều văn cảnh khác nhau vì thế cách dùng và tầm quan trọng của khái niệm này có thể rất đa dạng NTD là người có nhu cầu, có khả năng mua sắm các sản phẩm dịch vụ trên thị trường phục vụ cho cuộc sống, người tiêu dùng có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình Dưới góc độ kinh tế, NTD là phạm trù chỉ những chủ thể tiêu thụ của cải được tạo ra bởi nền kinh tế, NTD là những người sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng (consumer goods/serviccs hoặc final goods/services) và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng đó1
Dưới góc độ pháp lý, NTD là đối tượng được bảo vệ theo pháp luật về BVQLNTD Ở Việt Nam, khái niệm NTD đã được thừa nhận trong Pháp lệnh BVQLNTD năm 1999 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
năm 2010, “người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho
mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”
Thuật ngữ người tiêu dùng chỉ xuất hiện với tư cách là chủ thể pháp luật khi lĩnh vực pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ra đời Vì vậy, dưới góc độ pháp lý, người tiêu dùng là đối tượng được bảo vệ theo luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng NTD là các khái niệm cơ bản và rất quan trọng
Là chủ thể của quan hệ pháp luật BVQLNTD Là đối tượng trọng tâm được bảo vệ của pháp luật BVQLNTD Thế nên, nội hàm của khái niệm này cần được xác định một cách rõ ràng, chính xác làm cơ sở cho việc quy định các nội dung liên quan khác trong pháp luật BVQLNTD Đặc biệt, xuất phát từ
Nội, tr.7
Trang 14đặc điểm của pháp luật BVQLNTD là thiết lập các ngoại lệ so với những nguyên tắc dân luật truyền thống nhằm khắc phục những bất lợi của người tiêu dùng trong quan hệ với nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, tạo, sự công bằng và bảo vệ kẻ yếu Chính vì vậy, NTD phải là kẻ yếu và cần được pháp luật bảo vệ Từ yêu cầu nói trên, việc xác định các đối tượng nào được gọi là người tiêu dùng là một vấn đề hết sức quan trọng, tránh sự lạm dụng của những kẻ “không yếu” giành lợi thế bất chính với bên kia dưới danh nghĩa NTD Vì thế, việc này làm mất ý nghĩa cũng như lãng phí nguồn lực cho chính sách BVQLNTD của nhà nước ta, tránh sự can thiệp quá sâu và không cần thiết của nhà nước vào các quan hệ dân sự Ngoài ra, việc xác định nội hàm NTD có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc xác định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật bảo vệ quyền lợi NTD
Như vậy có thể nói, NTD theo góc độ pháp lý được hiểu chỉ bao gồm các
cá nhân tham gia vào các giao dịch dân sự không nhằm mục đích thương mại Cách tiếp cận như trên là hợp lý và đảm bảo được sự thống nhất cũng như ý nghĩa của pháp luật BVQLNTD Vì vậy, NTD chỉ có thể trở thành đối tượng được pháp luật bảo vệ khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng
hàng ngày và sinh hoạt của mình
Để xác định xem một chủ thể là người tiêu dùng cần các điều kiện sau:
- Đối tượng của giao dịch là những hàng hóa, dịch vụ được phép lưu thông
và đáp ứng được các nhu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của cá nhân con người Những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu hàng ngày của con người như đồ ăn, thức uống, thuốc chữa bệnh được coi là đối tượng đương nhiên của giao dịch với NTD
- Xác định NTD là các cá nhân hay tự nhiên nhân Xuất phát từ mục đích
cho sự ra đời của lĩnh vực pháp luật này là hỗ trợ NTD yếu thế trong quan hệ với những nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ có hiểu biết tốt hơn về hàng hóa, dịch vụ của được đem ra giao dịch
- Mục đích tiêu dùng nhằm phục vụ sinh hoạt cho cá nhân, hộ gia đình
Mục đích tiêu dùng, sinh hoạt ở đây có nghĩa là NTD mua hàng hóa, dịch vụ
để sử dụng cho các nhu cầu của cá nhân mình, gia đình mình Mục đích tiêu
Trang 15dùng, sinh hoạt không phải là phục vụ cho việc bán lại, hoạt động sản xuất kinh doanh khác hoặc các hoạt động nghề nghiệp khác
Xác định đối tượng được bảo vệ theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không chỉ là vấn đề lý luận, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật bởi NTD được hưởng sự ưu tiên hơn so với những chủ thể khác khi họ xác lập các giao dịch dân sự cũng như trong giải quyết tranh chấp NTD không thể là đối tượng chung chung mà luôn là các chủ thể cụ thể Thông thường, pháp luật bảo vệ NTD các nước giới hạn NTD là các cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp
Các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay tại Việt Nam có quy định NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của tổ chức, tuy nhiên trên thực tế việc xác định mục đích tiêu dùng sinh hoạt của tổ chức gặp rất nhiều khó khăn, chưa thể xác định rõ ràng cụ thể Từ
đó dẫn đến những khó khăn nhất định cho cơ quan áp dụng pháp luật khi có tình huống thực tế phát sinh, từ đó ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của NTD
1.1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Có thể nói tiêu dùng là một khâu của quá trình tái sản xuất, có tiêu dùng mới có sản xuất, hoạt động tiêu dùng của NTD là mục đích cuối cùng của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, NTD còn là động lực thúc đẩy việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa Vì vậy, quyết định tiêu dùng của NTD ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ được cung ứng trên thị trường Xuất phát từ vai trò quan trọng của NTD trong nền kinh tế, việc BVQLNTD
là một việc làm cấp bách, cần thiết của bất kỳ nền kinh tế nào
Trong tiến trình phát triển kinh tế của một đất nước, bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy sự phát triển của khu vực sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra nhiều của cải, vật chất cho xã hội thì cũng cần hài hòa, đảm bảo lợi ích của NTD, là những người quyết định chất lượng của nền sản xuất, kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, NTD quyết định hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân sẽ sản xuất, kinh doanh vì NTD góp phần quyết định giá cả, số
Trang 16lượng, chất lượng hàng hoá NTD có ảnh hưởng lớn đến những quyết sách về kinh tế, dù là của khu vực nhà nước hay của khu vực tư nhân, NTD tạo ra nền kinh tế thị trường và quyết định sự phát triển của nó Đây là mối quan hệ hai mặt của một vấn đề, nên NTD cũng bị ảnh hưởng theo hai chiều tích cực và tiêu cực từ nền kinh tế thị trường Ngoài ra, NTD quyết định “số phận” của doanh nghiệp bằng “lá phiếu” đồng tiền của mình2; NTD là mục tiêu phấn đấu của các doanh nghiệp trong cạnh tranh Vì việc giành giật thị trường trong đó
có bao hàm cả giành giật NTD Theo đó, NTD là một trong nhưng yếu tố thúc đẩy phát triển sản xuất, phát triển kinh tế Nên chính sách kinh tế vĩ mô của các quốc gia khi khuyến khích phát triển và tăng trưởng kinh tế thường bao hàm cả chính sách kích cầu, tăng “cường độ” và mức độ tiêu dùng trong dân chúng tức là tăng tính cách và chức năng “người tiêu dùng” trong xã hội Hơn nữa, đối với riêng doanh nghiệp, để có thể phát triển bền vững thì cần lấy NTD làm trung tâm cho sự phát triển đó vì NTD là nguồn lực và là động lực chính cho sự phát triển của bất cứ tổ chức, cá nhân kinh doanh nào Tuy nhiên, do việc thiếu thông tin, thiếu sự lựa chọn, nên NTD thường ở vị trí yếu thế hơn trong quan hệ mua, bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, với các tổ chức, cá nhân kinh doanh Chính vì vậy, cần thiết có sự điều chỉnh của pháp luật và sự giám sát nhất định của nhà nước vào mối quan hệ tiêu dùng này để đảm bảo cân bằng lợi ích, quyền và nghĩa vụ của NTD và của tổ chức, cá nhân kinh doanh
Kể từ khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 1986, nền kinh tế - xã hội của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Nhưng song hành cùng với đó thì những mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng đã tác động mạnh mẽ, ảnh hưởng đến lợi ích, chất lượng cuộc sống của NTD Việt Nam, như hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, quảng cáo gian dối, bán hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, doanh nghiệp trốn tránh trách nhiệm với NTD, đang xuất hiện ngày càng nhiều Do đó, việc BVQLNTD là một những những vấn đề cần thiết đối với Nhà nước ta hiện nay
2 Nguyền Như Phát (2010), Một sổ vấn dề ỉý luận xung quanh Luật bào vệ quyền lợi NTD Tạp chí Nhà nước
Trang 17“Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” được hiểu là tổng hợp các biện pháp
được Nhà nước quy định và đảm bảo thực hiện với mục đích bảo đảm quyền lợi của NTD khi sử dụng dịch vụ, hàng hoá; ngăn chặn những hành vi gian lận, lừa dối của những người cung ứng sản phẩm để thu lợi bất chính Các biện pháp BVQLNTD bao gồm các biện pháp pháp luật, kinh tế, văn hoá, xã hội
1.2 Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
* Khái niệm Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội Vì vậy, là tổng hợp các biện pháp được Nhà nước pháp luật BVQLNTD quy định và đảm bảo thực hiện để bảo đảm quyền lợi của NTD khi sử dụng dịch vụ hàng hoá; ngăn chặn những nhà sản xuất có hành vi gian lận, lừa dối để thu lợi bất chính Nói cách khác, BVQLNTD là ghi nhận và làm cho các lợi ích chính đáng của NTD được thực hiện trên thực tế Trong số các công cụ chủ yếu Nhà nước sử dụng để BVQLNTD thì pháp luật là công
cụ hữu hiệu hơn cả vì nó là phương thức thực hiện hoá các công cụ BVQLNTD khác trong điều kiện Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đều coi luật pháp là một trong những phương tiện chủ yếu BVQLNTD, luật pháp là một hệ thống các quy tắc xử sự liên quan đến nhiều mặt như quan hệ xã hội dân sự, kinh tế, hành chính, hình
sự, trình tự tố tụng có liên quan đến đời sống tiêu dùng của cá nhân Vì thế, yêu cầu BVQLNTD là trách nhiệm chung của toàn xã hội với sự phối hợp của nhiều biện pháp, mà chủ yếu trong đó là biện pháp pháp luật
Pháp luật BVQLNTD theo nghĩa chung nhất là những quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa người tiêu dùng với các chủ thể khác khi thực hiện hoạt động tiêu dùng Pháp luật BVQLNTD bảo vệ NTD bằng pháp lý thông qua việc Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm thực hiện các mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp
Trang 18pháp của NTD từ giai đoạn tìm kiếm, mua hàng hoá, dịch vụ trên thị trường đến giai đoạn tiêu dùng sản phẩm cũng như hậu quả phát sinh (nếu có)
Từ các phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm: “Pháp luật bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng là hệ thống các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”
* Đặc điểm của pháp luật BVQLNTD được thể hiện như sau:
Thứ nhất: Pháp luật BVQLNTD quy định các vấn đề kiểm soát điều kiện giao dịch chung; cấm các điều khoản không công bằng; trình tự thực hiện giao dịch từ xa, giao dịch điện tử Việc can thiệp này làm cho nguyên tắc tự
do khế ước chỉ còn có ý nghĩa tương đối trong các giao dịch giữa NTD và thương nhân Pháp luật BVQLNTD được xây dựng từ những quy định “đặc biệt” để bảo vệ NTD, bởi lẽ các nguyên tắc, quy định chung của Bộ luật dân
sự, Bộ luật tố tụng dân sự không thể giải quyết thỏa đáng yêu cầu bảo vệ quyền lợi NTD
Thứ hai, xác định trách nhiệm sản phẩm một cách nghiêm khắc và mở rộng về chủ thể chịu trách nhiệm Theo đó những người chịu trách nhiệm đối với khuyết tật của sản phẩm tiêu dùng có thể không phải là người gây ra khuyết tật đó nhưng có tham gia vào chuỗi hoạt động đưa sản phẩm đến tay NTD Hầu hết các nước trên thế giới đều có luật trách nhiệm sản phẩm nằm trong hoặc độc lập với luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Chẳng hạn ở Thái Lan, Luật trách nhiệm sản phẩm được ban hành năm 2008 trong khi Luật bảo vệ người tiêu dùng của họ có từ năm 1979 Ở Anh, Luật trách nhiệm sản phẩm được biết đến sớm hơn luật bảo vệ người tiêu dùng Án lệ Donoghue kiện Stevennson năm 1932 được coi là mốc quan trọng của quy định về trách nhiệm sản phẩm thì tới tận những năm 1970, họ mới có các quy định riêng về bảo vệ người tiêu dùng như Sale of Goods Act 1979 (luật bán hàng), Unfair Contract Terms Act 1977 (Luật về các điều khoản không công bằng) và đến Consumer Protection Act 1987 (Luật bảo vệ người tiêu dùng) thì trách nhiệm sản phẩm được quy định chung với luật bảo vệ người tiêu dùng theo hướng dẫn của chỉ thị 85/374/EEC năm 1985 của Hội đồng Châu Âu về trách nhiệm sản phẩm Ở Việt Nam, quy định về trách nhiệm sản phẩm được quy định trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
Trang 19Thứ ba, thiết lập những ngoại lệ so với những nguyên tắc tố tụng dân sự truyền thống nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho NTD tham gia giải quyết tranh chấp liên quan đến việc quyền lợi của mình bị xâm phạm Theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam, NTD cũng được giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh, họ chỉ phải chứng minh sự thiệt hại còn nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ sẽ phải chứng minh về việc không tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ với những thiệt hại của NTD hay chứng minh mình không có lỗi
1.2.2 Vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Pháp luật BVQLNTD có nhiều đặc điểm riêng biệt, xuất phát từ tính đặc thù về tính chất và đặc điểm của quan hệ tiêu dùng Hiểu theo nghĩa rộng nhất thì để BVQLNTD, người ta cần phải “huy động” đến tất cả hệ thống pháp luật Tuy nhiên, với tính cách là một chế định khá độc lập, pháp luật BVQLNTD là loại pháp luật mang tính can thiệp vào quyền tự do (do không nhận thức được quy luật) của các nhà cung cấp sản phẩm, hàng hóa dịch vụ
và như thế, không có sự tự do và bình đẳng trong quan hệ pháp luật BVQLNTD Tuy nhiên, nếu như những pháp luật này BVQLNTD theo phương pháp can thiệp vào hành vi của nhà sản xuất, kinh doanh, cung cấp sản phẩm hàng hóa dịch vụ thông qua những hạn chế hoặc cấm đoán hành vi thì pháp luật BVQLNTD (với tính cách là một chế định pháp luật độc lập) lại xuất hiện ở phía NTD Theo đó, pháp luật BVQLNTD sẽ tạo cho NTD những khả năng và cơ hội thuận lợi hơn trong cơ chế điều chỉnh pháp luật quan hệ mua bán (theo luật dân sự) mà một chủ thể pháp luật dân sự thông thường sẽ không có được
1.2.3.Nguồn của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Pháp luật BVQLNTD xuất hiện khá muộn ở Việt Nam do chúng ta triển khai xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tương đối muộn Từ năm 1986, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, xóa bỏ bao cấp
và từng bước chuyển dịch sang nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa Sự thay đổi này đã khuyến khích các thành phần kinh tế tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, nhà sản xuất được mở rộng và đa dạng hóa các loại hàng hóa, dịch vụ, hội nhập kinh tế thế giới Từ đó, tạo cho người mua có điều kiện tốt hơn trong
Trang 20việc lựa chọn, mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ Sự xuất hiện nền kinh tế thị trường, sự phát triển của sản xuất công nghiệp đại trà là điều kiện để các điều kiện thương mại chung hình thành, đặt người mua hàng hoá, dịch vụ (chủ yếu
là NTD) vào vị trí yếu thế Chính vì vậy, sự xuất hiện các quy định pháp luật BVQLNTD là tất yếu khách quan
Các quy định của pháp luật BVQLNTD được thể hiện ở nhiều văn bản khác nhau, liên quan đến các lĩnh vực khác nhau như Luật quảng cáo; Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật đo lường; Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; Luật bảo vệ môi trường; Luật an toàn thực phẩm; Luật Cạnh tranh,
Bộ Luật Dân sự và Bộ Luật Tố tụng dân sự, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Trong đó, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD thường quy định các quyền cơ bản của NTD, trách nhiệm sản phẩm, các hành vi thương mại không công bằng, điều kiện giao dịch chung, giải quyết tranh chấp tiêu dùng và các chế tài
áp dụng Về phương diện kỹ thuật lập pháp, không thể đưa tất cả các vấn đề trong những lĩnh vực khác nhau vào cùng một đạo luật về BVQLNTD Vì lẽ
đó, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD là một bộ phận và giữ vị trí trọng tâm trong
hệ thống pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Luật Bảo vệ quyền lợi NTD quy định những vấn đề cơ bản nhất và một số chế định đặc thù của pháp luật bảo
vệ NTD Những quy định khác liên quan đến BVQLNTD mà không được quy định trong Luật BVQLNTD sẽ được dẫn chiếu, thông qua các quy định của pháp luật về cạnh tranh, quảng cáo, chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đây là xu hướng làm luật của đa số các quốc gia trên thế giới Cộng hòa liên bang Đức không tồn tại một đạo luật về bảo vệ NTD, Pháp luật về BVQLNTD ở đây là tập hợp các quy phạm từ các đạo luật như: Luật dược, Luật về khám chữa bệnh, Bộ luật dân sự, Luật về chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh 2004, Luật về hợp đồng bảo hiểm,
Bộ luật thương mại, Luật về quảng cáo dược phẩm, Luật đầu tư và Luật về vi phạm hành chính ; Hoa Kỳ thì có một hệ thống các văn bản pháp luật bảo vệ NTD như Luật bảo hộ tín dụng tiêu dùng, Luật An toàn hàng hoá tiêu dùng, Luật về nghĩa vụ đóng bao bì bảo đảm tránh sự thâm nhập của chất độc hại, Luật cấm dùng các chất gây hại sức khoẻ con người Còn Malaysia, ngoài Luật bảo vệ NTD có hiệu lực ngày 15/11/1999 thì một loạt các văn bản pháp quy chuyên ngành được sử dụng để bảo vệ NTD: Luật bán hàng trực tiếp
Trang 211993, Luật về chất lượng môi trường 1974, Luật về thực phẩm 1993, Luật về thuốc y tế ( quảng cáo và bán hàng) 1956, Luật thương mại 1972
Như vậy, các quy định pháp luật có liên quan đến BVQLNTD ngoài quy định tại Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn nằm trong nhiều văn bản luật khác nhau, như Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Dược, Luật Khám bệnh, chữa bệnh và các văn bản pháp luật chuyên ngành ở từng lĩnh vực thương mại đặc thù như bảo hiểm, hàng hải, dầu khí v.v Đặc biệt, Luật Trọng tài thương mại cũng dành hẳn một điều về quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của NTD, theo đó, NTD có quyền lựa chọn khởi kiện tại trọng tài hoặc toà án kể cả trong trường hợp hợp đồng
đã quy định việc giải quyết tranh chấp được thực hiện tại trọng tài
Trang 22Kết luận Chương 1
Pháp luật BVQLNTD được quy định trong nhiều ngành luật của hệ thống pháp luật Việt Nam và nhiều đặc điểm riêng biệt Xuất phát từ tính đặc thù của quan hệ tiêu dùng - quan hệ giữa NTD bên yếu thế với tổ chức, cá nhân kinh doanh, pháp luật BVQLNTD can thiệp khá sâu vào quan hệ dân sự này, một quan hệ dân sự không có sự tự do và bình đẳng khi xác lập, thực hiện hợp đồng Vì vậy, làm sáng tỏ các khái niệm, đặc tính, bản chất của NTD, quan hệ tiêu dùng cũng như pháp luật BVQLNTD là việc hết sức quan trọng và cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc xác định đối tượng và phạm vi điều chỉnh cũng như nguyên tắc xây dựng, áp dụng pháp luật BVQLNTD
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đều coi luật pháp là một trong những phương tiện chủ yếu BVQLNTD, pháp luật chính là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và bảo đảm thực hiện Thế nên, nghiên cứu vấn đề lý luận về NTD, quan hệ tiêu dùng và pháp luật BVQLNTD giúp giải quyết thoả đáng các vấn đề còn thiếu cũng như những nhận thức khác biệt về lý luận, xác lập nền tảng lý thuyết hỗ trợ cho việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống pháp luật BVQLNTD
Ngoài ra, việc đi tìm hiểu, nghiên cứu một cách toàn diện cấu trúc nội dung pháp luật BVQLNTD là hết sức cần thiết Trên cơ sở đó có cái nhìn tổng thể, bao quát nhằm xác lập cách thức, định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật BVQLNTD của Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, kỷ nguyên của hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 23Chương II THỰC TRẠNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI
TỈNH ĐIỆN BIÊN
2.1 Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được ban hành năm 2010 là một bước tiến vượt bậc cả chất và lượng, là bước chuyển mình đối với công tác BVQLNTD tại Việt Nam Đa số các quy định của pháp luật BVQLNTD luôn được xây dựng trên nguyên tắc ưu tiên lợi thế cho NTD xuất phát từ vị trí yếu thế của NTD trong mối tương quan với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã “phá vỡ” nguyên tắc cơ bản nhất của pháp luật dân sự, đó là nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận và bình đẳng giữa các bên Theo đó, hợp đồng giao kết với NTD sẽ không có hiệu lực nếu trong hợp đồng có những điều khoản gây bất lợi cho NTD, cho
dù hợp đồng đó vẫn đảm bảo đầy đủ các điều kiện để một giao dịch dân sự có hiệu lực theo quy định của bộ luật dân sự Và để khắc phục sự bất lực của dân luật truyền thống, bảo vệ bên yếu thế, bên không có khả năng cũng như cơ hội
tự bảo vệ mình trong các Hợp đồng mẫu, điều kiện thương mại chung, pháp luật BVQLNTD hiện hành đã có cơ chế giám sát loại hợp đồng mẫu, điều kiện thương mại chung này Theo đó, thương nhân kinh doanh một số loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng mẫu, điều kiện thương mại chung với cơ quan quản lý nhà nước trước khi áp dụng đối với NTD Trên cơ
sở đó, cơ quan quản lý nhà nước sẽ loại bỏ những điều khoản bất công, gây thiệt hại cho NTD, trái với quy định của pháp luật BVQLNTD
Một số nội dung cơ bản của pháp luật BVQLNTD Việt Nam hiện nay thể hiện như sau:
2.1.1 Các nguyên tắc trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 với định hướng chú trọng bảo đảm sự cân bằng trong giao dịch dân sự giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh NTD luôn là bên thiếu thông tin, đặc biệt là các thông tin và
Trang 24kiến thức liên quan đến đặc tính kỹ thuật của sản phẩm Bên cạnh đó, NTD thông thường ít có cơ hội đàm phán, thương lượng trong quan hệ với tổ chức,
cá nhân kinh doanh Do đó, pháp luật cần có các quy định đặc thù để đảm bảo
sự cân bằng trong các quan hệ này, qua đó góp phần ổn định trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích chung của xã hội Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần xã hội hóa công tác bảo vệ NTD Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong xã hội tham gia cùng Nhà nước trong công tác BVQLNTD; nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với NTD nhưng vẫn đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể này Với tinh thần đó, các nguyên tắc cơ bản được Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng xác định như sau:
- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm chung của Nhà nước
Pháp luật quy định cụ thể các quyền của NTD không chỉ được Nhà nước bảo vệ mà còn nhận được sự bảo vệ từ các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh khi họ phải thực hiện theo quy định của pháp luật Các quyền của NTD còn được các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân (trong đó
có bản thân NTD) đều có trách nhiệm tham gia bảo vệ Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tổ quốc trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, động viên nhân dân tham gia các hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD và thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD là trách nhiệm chung của toàn xã hội
Trang 252.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định NTD có những quyền cơ bản như sau:
- Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp
- Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tố chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà NTD đã mua,
sử dụng
- Lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
- Đóng góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cá, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
- Tham gia xây dựng và thi hành chính sách, pháp luật về BVQLNTD
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết
- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch
vụ
Không chỉ quy định về quyền và các biện pháp BVQLNTD, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đưa ra là quy định cụ thể về nghĩa vụ của NTD, bao gồm:
Trang 26- Kiểm tra hàng hóa trước khi nhận; lựa chọn tiêu dùng hàng hóa, dịch
vụ có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không làm tổn hại đến môi trường, trái với thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội, không gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của mình và của người khác; thực hiện chính xác, đầy đủ hướng dẫn
sử dụng hàng hóa, dịch vụ
- Thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan khi phát hiện hàng hóa, dịch vụ lưu hành trên thị trường không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD; hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của NTD Cần lưu ý việc cung cấp thông tin khi phát hiện hàng hóa, dịch vụ lưu hành trên thị trường không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD
là nghĩa vụ của NTD chứ không phải quyền của NTD Đã có nhiều hiểu nhầm
về vấn đề này khi cho rằng đây là quyền của NTD nên NTD được giấu thông tin và “mặc cả” với nhà sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ về mức bồi thường thiệt hại Trên thực tế đã có những trường hợp các doanh nghiệp lợi dụng việc này để có những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của những người sản xuất, doanh nghiệp khác nhằm thu lợi bất chính
Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã quy định những quyền và nghĩa vụ cơ bản của NTD, bảo vệ những quyền cơ bản của NTD khi tham gia quan hệ tiêu dùng Từ các quy định trên có thể nhận thấy pháp luật
đã đảm bảo phần nào sự cân bằng trong các quan hệ giữa NTD và người tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
2.1.3 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh
Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong quá trình hoạt động tham gia vào nhiều quan hệ pháp lý khác nhau nên cũng phải thực hiện nhiều loại trách nhiệm khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau như trách nhiệm về thuế, trách nhiệm về chứng từ, trách nhiệm về đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ trong đó có trách nhiệm đối với NTD Có thể hiểu trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD là nghĩa vụ mà tổ chức, cá nhân kinh doanh phải có bổn phận tuân thủ theo quy định của pháp luật đối với NTD, trong trường hợp tổ chức cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện
Trang 27không đúng, không đủ các trách nhiệm thì phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi theo quy định của pháp luật Các trách nhiệm cụ thể đó là:
- Trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD
- Trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch
- Trách nhiệm thực hiện hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung;
- Trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện
- Trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do khuyết tật của hàng hóa gây ra Khi NTD mua hàng hoá hay sử dụng dịch vụ có thể NTD mua hoặc sử dụng trực tiếp sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất, kinh doanh nhưng cùng có thể NTD mua hoặc sử dụng thông qua các nhà cung cấp trung gian (đại lý, phân phối, đại diện hoặc kinh doanh bán lẻ), về bản chất pháp lý, tuỳ từng trường hợp mà các quan hệ pháp luật khác nhau đã được xác lập Nếu NTD mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ trực tiếp với người cung cấp thì giữa hai bên thực hiện giao dịch trên cơ sở hợp đồng, nhà cung cấp ngoài việc thực hiện trách nhiệm hợp đồng còn phải thực hiện những trách nhiệm đặc thù khác mà Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định Nếu NTD mua hàng hoá hoặc sử dụng dịch vụ thông qua trung gian, bán lẻ thì mặc dù NTD không trực tiếp tham gia giao dịch hợp đồng với nhà cung cấp nhưng nhà cung cấp vẫn phải thực hiện các trách nhiệm do Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định nói trên, đặc biệt là trách nhiệm bồi thường thiệt hại, về bản chất pháp lý đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Ngoài việc quy định các trách nhiệm, pháp luật BVQLNTD còn cụ thể hóa các trách nhiện của cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ như sau:
* Về trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ cho
NTD: Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định tổ chức, cá nhân sản
xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có trách nhiệm:
- Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật;
- Niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ
Trang 28- Cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của NTD và các biện pháp phòng ngừa
- Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa
- Cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành
- Thông báo chính xác, đầy đủ cho NTD về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch
* Về trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch: Luật Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm cung cấp cho NTD hóa đơn hoặc chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của NTD Trường hợp giao dịch bằng phương tiện điện tử thì tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm tạo điều kiện cho NTD truy cập, tải, lưu giữ và in hóa đơn, chứng từ, tài liệu nói trên
* Về trách nhiệm thực hiện hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch
chung: Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và các văn bản
hướng dẫn thi hành quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải có trách nhiệm thông báo công khai điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch với NTD Điều kiện giao dịch chung phải xác định rõ thời điểm áp dụng và phải được niêm yết ở nơi thuận lợi tại địa điểm giao dịch để NTD có thể nhìn thấy Đối với số lĩnh vực tiêu dùng thiết yếu, pháp luật còn quy định nghĩa vụ đăng ký hợp đồng mẫu, điều kiện giao dịch chung nhằm kiểm soát
sự lạm dụng, bảo vệ tối đa quyền lợi của NTD với tư cách là bên không được tham gia thương lượng, đàm phán và soạn thảo hợp đồng Các lĩnh vực phải đăng ký bao gồm 11 lĩnh vực sau: Cung cấp điện sinh hoạt; Cung cấp nước sinh hoạt; Truyền hình trả tiền; Dịch vụ điện thoại cố định mặt đất; Dịch vụ thông tin di động mặt đất (hình thức thanh toán trả trước và trả sau); Dịch vụ truy cập Internet; Vận chuyển hành khách đường hàng không; Vận chuyển hành khách đường sắt; Phát hành thẻ ghi nợ nội địa, mở và sử dụng dịch vụ
Trang 29tài khoản thanh toán (áp dụng cho khách hàng cá nhân), vay vốn cá nhân (nhằm mục đích tiêu dùng); Bảo hiểm nhân thọ3
* Về trách nhiệm bảo hành: Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
2010 quy định: “Hàng hóa, linh kiện, phụ kiên được bảo hành theo thỏa
thuận của các bên hoặc bắt buộc bảo hành theo quy định của pháp luật”
Trường hợp hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được bảo hành, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện do mình cung cấp; cung cấp cho NTD giấy tiếp nhận bào hành, trong đó ghi rõ thời gian thực hiện bảo hành Thời gian thực hiện bảo hành không tính vào thời hạn bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện Trường họp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa thay thế linh kiện, phụ kiện hoặc đổi hàng hóa mới thì thời hạn bảo hành linh kiện, phụ kiện hoặc hàng hóa đó được tính từ thời điểm thay thế linh kiện, phụ kiện hoặc đổi hàng hóa mới Cung cấp cho NTD hàng hóa, linh kiện, phụ kiện tương tự để sử dụng tạm thời hoặc có hình thức giải quyết khác được NTD chấp nhận trong thời gian thực hiện bảo hành Đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện và trả lại tiền cho NTD trong trường hợp hết thời gian thực hiện bảo hành mà không sữa chữa được hoặc không khắc phục được lỗi Đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng hóa và trả lại tiền cho NTD trong trường hợp đã thực hiện bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện từ ba lần trở lên trong thời hạn bảo hành mà vẫn không khắc phục được lỗi Chịu chi phí sửa chữa, vận chuyển hàng hóa, linh kiện, phụ kiện đến nơi bảo hành và từ nơi bảo hành đến nơi cư trú của NTD Chịu trách nhiệm về việc bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện cho NTD cả trong trường hợp ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện việc bảo hành
* Về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật: Luật Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng quy định khi phát hiện hàng hóa có khuyết tật, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa có trách nhiệm kịp thời tiến hành mọi biện pháp cần thiết để ngừng việc cung cấp hàng hóa có khuyết tật trên thị trường; thông báo công khai về hàng hóa có khuyết tật và việc thu hồi hàng hóa đó ít
3 Theo Quyết định số 02/2012 QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 35 ngày
Trang 30nhất 05 số liên tiếp trên báo ngày hoặc 05 ngày liên tiếp trên đài phát thanh, truyền hình tại địa phương mà hàng hóa đó được lưu thông với các nội dung
về mô tả hàng hóa phải thu hồi; lý do thu hồi hàng hóa và cảnh báo nguy cơ thiệt hại do khuyết tật của hàng hóa gây ra; thời gian, địa điểm, phương thức thu hồi hàng hóa; thời gian, phương thức khắc phục khuyết tật của hàng hóa; các biện pháp cần thiết để BVQLNTD trong quá trình thu hồi hàng hóa; thực hiện việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật đúng nội dung đã thông báo công khai và chịu các chi phí phát sinh trong quá trình thu hồi; báo cáo kết quả cho
cơ quan quản lý nhà nước về BVQLNTD cấp tỉnh nơi thực hiện thu hồi hàng hóa có khuyết tật sau khi hoàn thành việc thu hồi; trường hợp việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật được tiến hành trên địa bàn từ hai tỉnh trở lên thì báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý nhà nước về BVQLNTD ở trung ương
* Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra:
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp được miễn khi chứng minh được khuyết tật của hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa cung cấp cho NTD Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự về bồi thường thiệt hại
2.1.4 Trách nhiệm của các tổ chức xã hội
Tổ chức xã hội BVQLNTD là tổ chức xã hội của NTD được thành lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, trình độ, nghề nghiệp và là tổ chức đại diện để BVQLNTD Như vậy,
tổ chức xã hội BVQLNTD được pháp luật xác định có vị trí, vai trò của tổ chức phi Chính phủ trong mối tương quan với các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động BVQLNTD Hoạt động của tổ chức xã hội BVQLNTD mang tính chuyên trách, mọi hoạt động phải nhằm mục đích hỗ trợ hoặc đại diện cho NTD bảo vệ quyền và lợi ích NTD và không vì mục đích lợi nhuận Trong quá trình tổ chức hoạt động của mình, tổ chức BVQLNTD có quyền và nghĩa vụ: Hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn NTD khi có yêu cầu; đại diện
Trang 31NTD khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng; cung cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về BVQLNTD thông tin về hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; độc lập khảo sát, thử nghiệm; công bố kết quả khảo sát, thử nghiệm chất lượng hàng hóa, dịch vụ
do mình thực hiện; thông tin, cảnh báo cho NTD về hàng hóa, dịch vụ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thông tin, cảnh báo của mình; kiến nghị
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật BVQLNTD; tham gia xây dựng pháp luật, chủ trương, chính sách, phương hướng, kế hoạch và biện pháp về BVQLNTD; thực hiện nhiệm vụ được cơ quan nhà nước giao; tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và kiến thức tiêu dùng4 Việc ra đời của tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là cần thiết trong giai đoạn hiện nay, đáp ứng được nhu cầu của Nhà nước và bản thân NTD Là cầu nối giữa Nhà nước và các cá nhân NTD trong xã hội vừa là
tổ chức đại diện, phát biểu tiếng nói của NTD đồng thời giúp Nhà nước có thể nắm được nguyện vọng, giải quyết vấn đề của NTD một cách nhanh chóng, kịp thời Do đó, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng cần có những quy định “ưu ái” hơn để các tổ chức này có thể phát huy được vai trò của mình thực hiện tốt, hiệu quả hoạt động BVQLNTD
2.1.5 Trách nhiệm của Nhà nước
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về BVQLNTD, tuy nhiên, trách nhiệm quản lý nhà nước về BVQLNTD được phân công và phân cấp quản lý cho nhiều cơ quan quản lý nhà nước cùng tham gia như: Các bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, trong đó các cơ quan thuộc ngành công thương (Bộ Công thương, các Sở Công thương và các cơ quan quản lý nhà nước về BVQLNTD cấp huyện) đóng vai trò nòng cốt Cơ quan công quyền nắm giữ quyền lực công cộng có trách nhiệm duy trì, bảo vệ trật tự chung của xã hội mà đại diện của cơ quan công quyền chính là nhà nước Song song với nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước thì nhà nước cũng có nghĩa vụ đối với công dân, phải bảo đảm các quyền công dân theo quy định của pháp luật NTD trước hết là công dân, vì thế, Nhà nước có nghĩa vụ BVQLNTD nhằm đảm bảo sự bình đẳng, sự cân bằng về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật và qua đó cũng tạo
4 Theo Điều 28 Luật Bảo về quyền lợi người tiêu dùng
Trang 32nên sự ổn định về xã hội BVQLNTD được xem là nhiệm vụ của tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước bao gồm các công việc:
- Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật, các hành vi bị cấm trong quan hệ với NTD và kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về BVQLNTD
- Cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại, tố cáo của NTD, áp dụng chế tài đối với hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh
- Cơ quan nhà nước giải quyết tranh chấp giữa tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và NTD, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên
Tuy nhiên trong phương diện hẹp hơn, hoạt động BVQLNTD thuộc trách nhiệm chủ yếu của các cơ quan hành pháp Theo đó, Bộ Công thương có nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách, các quy định về BVQLNTD theo quy định của pháp luật5 Bộ Y tế tham gia vào công tác BVQLNTD với tư cách là cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, trong đó có lĩnh vực dược, mỹ phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm6 Bộ Khoa học và Công nghệ tham gia vào công tác BVQLNTD với tư cách là cơ quan được pháp luật giao nhiệm vụ “chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa”7 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện việc quản lý nhà nước trong việc đảm bảo chất lượng nông sản bảo đảm các yêu cầu về vệ sinh thực phẩm Ngoài các Bộ nói trên, các Bộ khác như Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng tham gia ở các mức độ khác nhau vào hoạt động BVQLNTD trong phạm vi chức năng của mình
Có thể nói tất cả các lĩnh vực đời sống của NTD đều liên quan trực tiếp đến hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước như chất lượng hàng hóa, sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP), giá cả, quảng cáo, khuyến mại Nghĩa vụ của cơ quan quản lý nhà nước phải thực hiện đúng chức năng của mình, kiểm tra, giám sát, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật nhằm
Trang 33BVQLNTD Thế nên, trong trường hợp NTD mua và sử dụng sản phẩm hàng hóa không đạt chất lượng, nguy hại đến sức khỏe, tính mạng của mình thì trách nhiệm không chỉ thuộc về người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ,
mà một phần trách nhiệm thuộc cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành Một vấn đề đặt ra, người sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm nghĩa vụ của mình đối với NTD theo quy định của pháp luật BVQLNTD thì phải chịu chế tài hành chính, dân sự thậm chí là hình sự Vậy đối với cơ quan quản lý Nhà nước khi vi phạm nghĩa vụ quản lý nhà nước về BVQLNTD tại sao không phải chịu trách nhiệm hành chính hay dân sự do vi phạm nghĩa vụ BVQLNTD Do vậy, cần đặt ra trách nhiệm của Nhà nước trong trường hợp này
Ngoài các cơ quan hành pháp nói trên, Tòa án nhân dân các cấp (bao gồm Tòa án nhân dân tối cao; các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh8) cũng có nghĩa vụ BVQLNTD thông qua hoạt động giải quyết các vụ án dân
sự, xét xử các vụ án hình sự về các tội xâm phạm quyền lợi NTD như tội buôn bán hàng giả, tội lừa dối khách hàng, tội quảng cáo gian dối, tội vi phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
2.1.6 Các hành vi bị cấm trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định tại Điều 10
về những hành vi bị cấm đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ bao gồm: Lừa dối hoặc gây nhầm lẫn cho NTD; quấy rối, ép buộc NTD; thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại, đề nghị giao dịch trực tiếp với đối tượng là người không có năng lực hành vi dân sự hoặc người mất năng lực hành vi dân sự; yêu cầu NTD thanh toán hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp mà không có thỏa thuận trước; lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của NTD hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để cung cấp hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD
Ngoài ra, Điều 11 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn quy định về việc xử lý vi phạm pháp luật BVQLNTD Theo đó, cá nhân vi phạm pháp luật BVQLNTD thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi
8 Theo Điều 3 Luật tổ chức Tòa án nhân dân nam 2014
Trang 34phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; Tổ chức vi phạm pháp luật BVQLNTD thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật Ngày 16/03/2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 19/2012/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Ngày 19/11/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 124/2015/NĐ-
CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Cuối năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và BVQLNTD, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/01/2016 Nghiên cứu nội dung các Nghị định này, có thể thấy rằng hầu hết các hành vi bị cấm tại Điều 10 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 được cụ thể hóa bằng những hành vi vi phạm cụ thể và quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với từng hành vi vi phạm khá rõ ràng Tuy nhiên, khi Nghị định 185/2013/NĐ-CP thay thế Nghị định 19/2012/NĐ-CP, thì nhiều hành vi vi phạm hành chính trước đây được quy định tại Nghị định 19/2012/NĐ-CP đã được lược bỏ, điều đó đồng nghĩa với một số hành vi theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 bị cấm, nhưng nếu tổ chức,
cá nhân sản xuất hàng hóa, kinh doanh dịch vụ vi phạm những hành vi bị cấm
đó thì cơ quan chức năng sẽ lúng túng trong xử lý vì thiếu cơ sở pháp lý để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, đó là các hành vi sau: Yêu cầu NTD thanh toán hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp mà không có thỏa thuận trước; cung cấp hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD; lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để cung cấp hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng
Trang 352.1.7 Giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định tranh chấp phát sinh giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được giải quyết thông qua các hình thức: Thương lượng; hòa giải; giải quyết tại trọng tài thương mại; giải quyết tại tòa án Không được thương lượng, hòa giải trong trường hợp tranh chấp gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều NTD, lợi ích công cộng
- Thương lượng: NTD có quyền gửi yêu cầu đến tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ để thương lượng khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
có trách nhiệm tiếp nhận, tiến hành thương lượng với NTD trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu Kết quả thương lượng thành của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ với NTD được lập thành văn bản, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
- Hòa giải: Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và NTD có quyền thỏa thuận lựa chọn bên thứ ba là cá nhân hoặc tổ chức hòa giải để thực hiện việc hòa giải theo nguyên tắc bảo đảm khách quan, trung thực, thiện chí, không được ép buộc, lừa dối Tổ chức, cá nhân tiến hành hòa giải, các bên tham gia hòa giải phải bảo đảm bí mật thông tin liên quan đến việc hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Các bên có trách nhiệm thực hiện kết quả hòa giải thành trong thời hạn đã thỏa thuận trong biên bản hòa giải; trường hợp một bên không tự nguyện thực hiện thì bên kia có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật Trình tự, thủ tục hòa giải được áp dụng theo quy định tại Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ quy định về hòa giải thương mại
- Trọng tài: Trong trường hợp NTD và tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ vẫn chưa tìm được tiếng nói chung thông qua các phương thức như thương lượng hoặc hòa giải có thể thỏa thuận lựa chọn phương pháp là gửi đơn lên Trọng tài Theo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, trọng tài được sử dụng như một cách giải quyết tranh chấp phát sinh khi có điều khoản trọng tài (Thuật ngữ dùng trong Luật Trọng tài thương mại năm
2010 là “thỏa thuận trọng tài”) Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài giữa
Trang 36NTD với thương nhân được quy định từ Điều 38 đến Điều 40 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Bên cạnh đó, Điều 2 của Luật trọng tài thương mại năm 2010 cũng quy định:
“1 Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại
2.Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại
3.Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài ”
Tuy nhiên, để điều khoản trọng tài có hiệu lực, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải thông báo về điều khoản trọng tài trước khi giao kết hợp đồng và được NTD chấp thuận Theo điều 17 của Luật Trọng tài
thương mại năm 2010 thì: “Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng
hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hóa, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn trọng tài hoặc tòa án để giải quyết tranh chấp Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận”
Trường hợp điều khoản trọng tài do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đưa vào hợp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung thì khi xảy ra tranh chấp, NTD là cá nhân có quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp khác nếu không nhất trí phương thức trọng tài NTD cần lưu
ý điều khoản trọng tài là một vấn đề được pháp luật về trọng tài quy định, theo đó nếu các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại trọng tài thì Tòa án sẽ không thụ lý đơn kiện nếu tranh chấp đó phát sinh và một bên khởi kiện ra Tòa án Quy định trên đã kịp thời phản ánh một hiện thực là so với các doanh nghiệp, NTD thường ở một vị trí có nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều kiện và điều khoản trong giao dịch thương mại chung (tồn tại dưới các hình thức hợp đồng in sẵn; quy tắc bán hàng; điều lệ cung ứng dịch vụ của thương nhân) Bởi vậy, cần có quy định để bảo vệ quyền tự định đoạt của họ
dù đó là hình thức giải quyết tranh chấp
Trang 37Có thể nói, khi xảy ra tranh chấp, phương thức giải quyết bằng trọng tài
là phương thức đạt hiệu quả cao nhất Bởi giải quyết bằng phương thức này chỉ giải quyết một lần, bằng một hội đồng trọng tài do các lựa chọn nên các bên có thể chọn những chuyên gia giỏi nhất, độc lập, vô tư và khách quan nhất, có thể bảo vệ được các bí mật của thương nhân, thủ tục do các bên tự thỏa thuận và thời gian giải quyết tranh chấp ngắn gọn
- Tòa án: Vụ án dân sự về BVQLNTD là vụ án mà bên khởi kiện là NTD hoặc tổ chức xã hội tham gia BVQLNTD theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi NTD được giải quyết theo thủ tục đơn giản quy định trong pháp luật về tố tụng dân sự khi có
đủ các điều kiện sau đây:
+ Cá nhân là NTD khởi kiện; tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho NTD bị khởi kiện
+ Vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng;
+ Giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng đưa ra quy định miễn nghĩa vụ chứng minh lỗi và miễn tạm ứng án phí cho người tiêu dùng khi tiến hành khởi kiện các tổ chức cá nhân vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình Quy định này xuất phát từ vị trí yếu thế của NTD trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Trong hầu hết các vụ vi phạm, NTD hầu như không thể chứng minh được lỗi của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ do thiếu kiến thức, phương tiện, năng lực tài chính như vụ xăng pha aceton; sữa nhiễm melamine Trong các vụ việc này, NTD không thể chứng minh được các chất hóa học có hại trong sản phẩm Ngoài ra, trong một số vụ việc liên quan đến lợi ích xã hội thì Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ người khởi kiện thông qua việc miền tạm ứng án phí hoặc án phí
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong việc giải quyết các vụ
án liên quan đến quyền lợi người tiêu dùng nói riêng được ghi nhận trong các văn bản pháp luật khác nhau, trong đó có Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành Ngoài ra, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án còn được quy định trong Luật Bảo
Trang 38vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và Nghị định số 99/2011/ND-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật này
2.1.8 Chế tài xử lý đối với vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, các biện pháp chế tài áp dụng đối với người có hành vi xâm phạm quyền lợi của NTD bao gồm:
- Chế tài hành chính, được áp dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc BVQLNTD là hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức trong việc xâm phạm quyền lợi của NTD, theo đó, cá nhân tổ chức vi phạm phải chịu áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác Tùy thuộc vào hành vi vi phạm hành chính, lĩnh vực vi phạm mà người vi phạm có thể phải áp dụng chế tài hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD Các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực liên quan đến BVQLNTD được chia thành hai nhóm: Nhóm biện pháp xử phạt chính bao gồm phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền; Nhóm biện pháp xử phạt bổ sung và các biện pháp khác phục hậu quả bảo gồm: Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tịch thu tang vật, phương tiện để thực hiện hành vi vi phạm, buộc hoàn trả cho NTD khoản lợi ích bất chính đã thu được, buộc cải chính công khai Tùy theo hành vi vi phạm và mức độ vi phạm, pháp luật quy định khả năng áp dụng các biện pháp xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả khác nhau Các biện pháp xử phạt bổ sung và khắc phục hậu quả thể hiện rõ tính nghiêm khắc của pháp luật thông qua khả năng tước quyền kinh doanh, hạn chế quyền kinh doanh của tổ chức, cá nhân
có hành vi vi phạm Chủ thể vi phạm hành chính có thể bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính
Chế tài hành chính được xem là một trong những biện pháp mang lại hiệu quả cao trong việc ngăn chặn ngay lập tức hành vi vi phạm và những thiệt hại có thể xảy ra Ngoài ra, đây được xem là “bức tường lửa” đối với các hành vi vi phạm pháp luật bởi nó tác động trực tiếp đến quyền lợi kinh tế, đến
“túi tiền” của chủ thể vi phạm Chính vì vậy, mức xử phạt vi phạm hành chính
Trang 39trong pháp luật của hầu hết các quốc gia phát triển đều rất cao, và chủ thể vi phạm có thể phá sản nếu bị áp dụng chế tài xử phạt vi phạm hành chính
Pháp luật BVQLNTD ở Việt Nam hiện nay tuy đã khắc phục sự khiếm khuyết của pháp luật BVQLNTD trước đây bằng một Nghị định “chuyên trách” về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVQLNTD (Nghị định
số 19/2012/NĐ-CP ngày 16/3/2012 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD) Tuy nhiên, mức xử phạt vi phạm hành chính quy định trong Nghị định chưa hợp lý, còn quá thấp so với tiềm lực kinh tế của tổ chức, cá nhân kinh doanh cũng như tình hình phát triển kinh tế hiện nay, chưa đủ sức răn đe Theo đó, mức xử phạt đối với mỗi hành
vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVQLNTD tối đa là 70 triệu đồng (Điều 4) Trong đó, hành vi không tiến hành ngừng việc cung cấp hàng hóa có khuyết tật trên thị trường hoặc không tiến hành đúng nội dung thu hồi hàng hóa có khuyết tật đã thông báo chỉ bị phạt từ 10 triệu đến 30 triệu đồng (Điều 19) Hơn thế nữa, trong trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh dùng vũ lực,
đe dọa dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác gây thiệt hại đến sức khỏe, danh
dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của NTD để ép buộc giao dịch hoặc lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của NTD, lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để ép buộc giao dịch thì mức xử phạt cũng chỉ từ 10 triệu đến 30 triệu đồng (Điều 23) Trường hợp nhà kinh doanh cung cấp hàng hóa, dịch vụ không đảm báo chất lượng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD thì mức phạt bị áp dụng chỉ từ 50 triệu đến 70 triệu đồng (Điều 25) Ngoài ra, có thể thấy, mức
xử phạt vi phạm hành chính quy định trong Nghị định 19/2012/NĐ-CP so với mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVQLNTD được quy định trong các văn bản pháp luật gần mười năm trước đây không hề thay đồi Và rõ ràng, với chế tài hành chính như hiện nay không đủ sức răn đe, giáo dục cũng như ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD để bảo vệ NTD
- Chế tài hình sự, được áp dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc BVQLNTD là hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm trong Bộ luật hình sự xâm phạm quyền lợi của NTD, theo đó người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu hình phạt, biện pháp tước bỏ hoặc chịu sự hạn chế một số quyền, lợi ích
Trang 40hợp pháp Trong cơ chế bảo hộ pháp luật đối với NTD thì pháp luật hình sự là
cơ chế bảo hộ nghiêm khắc nhất, mang tính răn đe cao nhất
Pháp luật hình sự BVQLNTD bằng cách xác định những hành vi xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng là tội phạm và các hình thức trách nhiệm pháp lý hình sự có thể được áp dụng đối với người phạm tội (bao gồm hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác) Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi bổ sung năm 2009) và Bộ luật hình sự năm 2015 (Có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018) không có một chương riêng quy định hành vi phạm tội xâm phạm đến người tiêu dùng, tuy nhiên các tội phạm liên quan đến hành vi xâm phạm quyền lợi của NTD thuộc nhóm các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, bao gồm: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi; Tội lừa dối khách hàng; Tội làm tem giả, vé giá; Tội quảng cáo gian dối
Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng như Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định một cách tương đối toàn diện và cụ thể phần lớn các hành vi xâm hại đến NTD Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế, những hành vi xâm phạm quyền lợi NTD ngày càng có chiều hướng
mở rộng về quy mô, đa dạng về hình thức, tinh vi, xảo quyệt về mặt thủ đoạn thì quy định của Bộ luật Hình sự về tội phạm và hình phạt cũng như chính sách hình sự đối với những hành vi xâm phạm quyền lợi của NTD đã dần bộc
lộ những hạn chế; thậm chí là bất cập, cần được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp
Các hình phạt áp dụng đối với hành vi phạm tội trên được xếp theo thang bậc nghiêm khắc khác nhau tùy theo mức độ vi phạm và chia thành hai nhóm: + Nhóm hình phạt chính bao gồm: Phạt tiền; cải tạo không giam giữ; tù
có thời hạn; tù chung thân; tử hình
+ Nhóm hình phạt bổ sung bao gồm: Phạt tiền; cấm đảm nhiệm những chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
- Chế tài dân sự: Chế tài dân sự đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD là hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có