-ng dụ-ng cô-ng -nghệ thô-ng tin vào quản lý hành ch nh, kinh tế xã hội, an ninh trật tự địa phương là hết sức cần thiết, điều này đã được nhấn mạnh trong chủ trương của Đảng và Chính ph
Trang 1-
–
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP.HỒ CHÍ MINH – tháng 6 năm 2015
Trang 2TP.HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 NĂM 2015
Cán bộ hướng dẫn khoa học :
-………
Cán bộ chấm nhận xét 1: ………
………
Cán bộ chấm nhận xét 2: ………
………
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Bách Khoa - ĐH HCM ngày 04 tháng 9 năm 2015 Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm: 1 PGS TS T 2 ………
3
4 ………
5 ………
ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)………
………
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Bản Đồ, Viễn Thám Và Hệ Thông Tin Địa Lý;
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ:
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ:
Trang 4nghiên cứu có hạn, trong quá trình tiến hành làm báo cáo, không tránh khỏi sai sót, kính xin mọi người thông cảm tôi mong nhận được những đóng góp, ý kiến chân thành của tất cả mọi người để bản báo cáo được hoàn chỉnh hơn và đặc biệt, có thể áp dụng được trong công việc thực tế hiện nay
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Nguyễn Đình Nguyên
Trang 5Hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong quản lý đất đai (QLĐĐ) ở các tỉnh thành trên cả nước hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc hiện tại Thêm vào đó, Việt Nam đang trong giai đoạn đầu xây dựng và phát triển hệ thống thông tin đất đai, chi phí bản quyền phầ
–
liên quan đến công tác QLĐĐ (tron
–
Trang 6ABSTRACT: Applying Geographic Information System (GIS) into land
management in Vietnamese provinces is quite limited and does not meet the demand
of current jobs In addition, Vietnam is in the early stage of building and developing the Land Management System The software license and maintaining fees can be major obstaclesto ensure the sustainability of the system To solve these problems, this research will explore and survey the professional work at Land Management Room, Da Nang Department of Natural Resources and Environment, draw shortcomings and consider urgent needs at Room Then the research collects and standardizes digital maps, updates data related to the land management (in handover/lease land activities) in Da Nang City, imports data into QGIS Afterward,
it builds a support toolkit in Vietnamese to solve urgent demands of Land Management Room The products of this study are the database with actual data and
a toolkit running on QGIS with 8 (eight) support functions for handover/lease land activities at Land Management Room The specialists test the products and give their comments and feedbacks The result shows that the products can be put into practice and be the reasonable solutions in the present context
Trang 7Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hướng dẫn từ Giáo viên hướng dẫn là Tiến sĩ Lê Minh Vĩnh Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
TP.HCM, ngày 14 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Trang 87 LIS (Land Information System): hệ thống thông tin đất đai;
8 NCC (Nature conservancy Canada):
9 OVC (Virtual cadastre office): Văn phòng đất đai ảo;
10 OSI (Open Source Initiative): Tổ chức Sáng kiến Nguồn mở;
11 GPL (General Public Licence):
12 FOA (Food and Agriculture Organization of the United Nations): Tổ
chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc;
13 FIG: Hiệp hội trắc địa Thế giới;
14 CNTT:
Trang 93
4
6
7
11
11
13
18
19
19
19
22
23
23
23
23
– LIS 24
m 25
26
28
28
open source GIS) 30
31
32
35
-CHƯƠNG II: – 36
Trang 1036
-– 38
38
40
-– 42
44
-CHƯƠNG III: – 46
46
46
-– - 48 u 51
52
52
53
55
-– 55
không gian 57
58
-– 59
59
n 61
62
– PostgresSQL/PostGIS 62
-– 63
68
Trang 11-– – 70
-CHƯƠNG IV: 77
77
78
81
81
82
83
84
-CHƯƠNG V: 93
93
93
95
97
97
98
98
100
102
Trang 12-ng dụ-ng cô-ng -nghệ thô-ng tin vào quản lý hành ch nh, kinh tế xã hội, an ninh trật tự địa phương là hết sức cần thiết, điều này đã được nhấn mạnh trong chủ trương của Đảng và Chính phủ qua Chỉ thị 58-CT/TW của bộ Chính Trị về “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại
tiến bộ khoa học, công nghệ trong xây dựng, quản lý, vận hành và sử dụng hệ thống
tư liệu, hồ sơ đất đai, cơ sở dữ liệu đất đai và các công cụ quản lý khác trong việc thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai Phát triển ngành QLĐĐ theo định hướng hiện đại hóa, kinh tế hóa và phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững là hướng đi phù hợp với xu hướng QLĐĐ của các nước trên thế giới Đây cũng là yêu cầu cấp thiết của xã hội, của nền kinh tế nước ta trước mắt cũng như trong tương lai Một hệ thống QLĐĐ hiện đại mới có thể đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế thị trường
về quản lý, cung cấp dịch vụ liên quan tới giao dịch đất đai một cách nhanh chóng, chính xác, chi phí hợp lý
trong vấn đề xây dựng hệ thống thông tin đất đai Đã có một số dự án xây dựng và triển khai phần mềm hệ thống thông tin đất đai như ViLIS, PLIS, ArcLIS, Các dự
án này đều dựa trên nền tảng các phần mềm thương mại (chủ yếu là công nghệ của ESRI) Việc sử dụng các phần mềm thương mại mạnh đem lại hiệu quả, ổn định trong chức năng hoạt động
xây dựng bản đồ số và ứng dụng GIS trong quản lý, được phía Nhật Bản hỗ trợ thí điểm để triển khai trên địa bàn quận Hải Châu vào năm 2013 Dự án được thục hiện với sự kết hợp giữa đơn vị: Sở Thông tin và Truyền thông thành phố Đà Nẵng,
Trang 13các Công ty trách nhiệm hữu hạn Hệ thống thông tin FPT (FIS), Hitachi Solutions (HISOL), Zenrin (ZRN) đến từ Nhật Bản [4] Dự án hoàn thành vào cuối năm 2014 với kết quả cụ thể là bộ bản đồ số và cơ sở dữ liệu cho địa bàn quận Hải Châu; nhưng việc triển khai rộng rãi dự án trên đang gặp khó khăn về mặt kinh phí mua phần mềm
và chi phí thu thập dữ liệu Theo dự kiến, trong thời gian tới, Thành phố sẽ vận động kinh phí tài trợ từ nguồn vốn ODA của Nhật Bản để tiếp tục triển khai trên toàn thành phố
Trong bối cảnh này,
toàn diện nhằm đưa công nghệ GIS vào công tác quản lý
có những giải pháp đơn giản hơn nhằm giải quyết nhu cầu cấp thiết trước mắt
–
đã có khá nhiều dự án xây dựng OSG được triển khai, tạo
ra một thế hệ mới các phần mềm OSG với những chức năng gần như không thua kém các phần mềm thương mại Do đó, những khả năng mới về ứng dụng OSG trong xây dựng hệ thống thông tin đất đai ngày càng trở
Trang 14
GIS, hiện được tích hợp
trong ArcGIS của hãng
ESRI) [15]
cần thiết phải ưu tiên vào ứng dụng trong
này có thể tìm kiếm những mô hình sử dụng đất bền vững
Trang 15tin trong lĩnh vực Nông
nghiệp, Lâm nghiệp,
Môi trường, v.v… tại
Canada) [11]
LIS là một công cụ lưu trữ dữ liệu tích hợp đã giúp nhân viên của NCC truy cập nhanh thông tin quan trọng cho dù họ đang ở ngoài thực địa hoặc trong văn phòng
LIS hỗ trợ đắc lực cho người dùng dễ dàng thu thập, tổ chức và phân tích thông tin đất đai với khối lượng lớn Trong hệ thống này, bản đồ thể hiện tất cả các thông tin về đất đai, môi trường, thậm chí hình ảnh và văn bản pháp luật
có thể được lưu trữ và truy cập nhanh
Tây Ban Nha, cơ quan
quản lý đất đai đã xây
dựng một hệ thống
thông tin đất đai trên
Internet dựa trên công
nghệ GIS mã nguồn mở
là WMS [10]
Hệ thống được thiết kế dưới dạng một cổng thông tin có tên gọi là Văn phòng đất đai ảo (Virtual cadastre office - OVC) với 2 dịch vụ chính là WMS (Web Map Service)
và WFS (Web Feature Service) WMS cung cấp bản đồ (chỉ có bản đồ, không có thông tin thuộc tính đi kèm) cho người sử dụng thông thường
QLĐĐ
Trang 16(không cần đăng ký), còn WFS cung cấp các lớp đối tượng cùng với các thông tin thuộc tính đi kèm cho những người sử dụng đã đăng ký
hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp phép xây dựng, ghi nhận biến động quyền sử dụng đất –
Trang 17quyền sở hữu tài sản trên đất và biến động xây dựng phát triển đô thị theo một phương thức hiện đại, nhằm cải cách đơn giản các thủ tục hành chính trong quản lý, tạo điều kiện dễ dàng tiếp cận đầy đủ thông tin đất đai xây dựng giữa các phòng ban chuyên môn và công khai hóa thông tin về đất đai, thông tin về quy hoạch xây dựng
Tiền Giang do UBDN
vụ phát triển kinh tế xã hội bền vững nhằm góp
QLĐĐ
Trang 18phần tiết kiệm kinh phí, tận dụng nguồn nhân lực
và trang thiết bị sẵn có, đảm bảo sự chia sẻ thông tin và phát triển GIS đồng
bộ tại tỉnh Tiền Giang
–
–
Trang 19(chủ yếu là công nghệ củ
Trang 21-Để thực hiện nội dung này, phương pháp sử dụng chủ yếu là phân tích thiết
kế và lập trình dựa trên công nghệ mã nguồn mở
- Đưa s
Trang 22–
Trang 23trong QLĐĐ nói chung Bên cạnh đó, các phần mềm mã nguồn mở cũng được trình bày và đặc biệt chú trọng giới thiệu phần mềm Quantum GIS
Trang 24CHƯƠNG I:
I.1
Hệ thống GIS đầu tiên trên thế giới có tên gọi là Canadian Geographical Information System đã được Canada xây dựng vào năm 1964 Cùng lúc đó, tại Mỹ hàng loạt các trường đại học cũng tiến hành nghiên cứu và xây dựng các Hệ thống thông tin địa lý Rất nhiều hệ thống trong số đó đã không tồn tại được bao lâu do khâu thiết kế cồng kềnh và giá thành quá cao Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ở giai đoạn này đã đưa ra những lý luận nhận định quan trọng về vai trò, chức năng của Hệ thống thông tin địa lý Hàng loạt loại bản đồ có thể được số hoá và liên kết với nhau tạo ra một bức tranh tổng thể về tài nguyên thiên nhiên của một khu vực, một quốc gia hay một châu
uy hoạch Trong giai đoạn những năm1970 đến 1980, trước sự gia tăng nhu cầu quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, nhiều quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế đã quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên cứu và phát triển của hệ thống thông tin địa lý Các ứng dụng của GIS trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường phát triển mạnh trongthời gian này, điển hình như các hệ LIS (Land Information System), LRIS (Land Resource Information System), ILWIS (Integrated Land and WaterInformation System),… và hàng loạt các sản phẩm thương mại của các hãng, các tổ chức nghiên cứu phát triển ứng dụng GIS như ESRI, Intergraph…
Có thể nói GIS là một hệ thống dưới dạng số dùng cho việc phân tích và quản lý các
số liệu thuộc về địa lý, được kết hợp với các hệ thống phụ dùng cho việc nhập các dữ liệu và quyết định một kế hoạch phát triển nào đó Thí dụ như các bản đổ đất, mưa, địa hình, mật độ dân số, sử dụng đất, có thể được kết hợp để phát triển thành một bản đổ mới sẽ chỉ ra được những vùng có khả năng đất bị xói mòn hoặc những vùng đất thích nghi cho sự phát triển của các loại cây ăn trái hoặc lúa 2, 3 vụ, với các mức độ khác nhau tuỳ vào các yêu cầu mà ta đã đặt ra trước đó
Ngày nay, việc xây dựng các cơ sở dữ liệu toàn cầu về địa lý, tài nguyên và môi trường đang được các nhà quản lý quan tâm nhằm phục vụ
Trang 25cho các nhu cầu khác nhau như bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên… Việc xây dựng dữ liệu địa lý và đất đai toàn cầu được xác định trong chương trình Bản đồ Thế giới (Global Mappin
bản đồ nền theo tiêu chuẩn thống nhất ở tỷ lệ 1/1.000.000 bao gồm các lớp thông tin liên quan đến tài nguyên đất Các nhà khoa học trên thế giới đã dự định tới việc xây dựng một cơ sở dữ liệu không gian thống nhất mang tên GSDI (Spatial Data Infrastructure), những nghiên cứu khả thi về hệ thống CSDL này đã được tiến hành
từ năm 1996 Tại Đông Nam Á, Liên Hợp Quốc đã chủ trì chương trình cơ sở hạ tầng về thông tin Địa lý Châu Á - Thái Bình Dương bắt đầu từ năm 1995 tại Malaysia Với sự hình thành các nhóm nghiên cứu về hệ quy chiếu và địa giới hành chính, hệ thống pháp lý, bản đồ nền, chuẩn hoá thông tin chương trình này cũng tập trung nghiên cứu xây dựng hệ quy chiếu, hệ toạ độ và CSDL không gian cho khu vực Nhìn chung từ khi ra đời cho đến nay, Hệ thống thông tin địa lý (GIS) đã được nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ trên thế giới GIS đã được phát triển và ứng dụng trong nhiều ngành, lĩnh vực khác nhằm giải quyết các vấn đề mang tính chiến lược phát triển đối với mỗi quốc gia cũng như của toàn cầu
– LIS
QLĐĐ
–
SRI,
Trang 26cách này có thể tìm kiếm những mô hình sử dụng đất bền vững Một trong những ví
dụ về việc ứng dụng thành công GIS trong quản lý thông tin đất đai là hệ thống ở Nature conservancy Canada (NCC) được thiết kế, xây dựng bởi Cengea (là một Đơn
vị chuyên nghiên cứu các giải pháp công nghệ thông tin trong lĩnh vực Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Môi trường, v.v… tại Canada) Hệ thống thông tin đất đai (LIS) là một công cụ lưu trữ dữ liệu tích hợp đã giúp nhân viên của NCC truy cập nhanh thông tin quan trọng cho dù họ đang ở ngoài thực địa hoặc trong văn phòng LIS hỗ trợ đắc lực cho người dùng dễ dàng thu thập, tổ chức và phân tích thông tin đất đai với khối lượng lớn Trong hệ thống này, bản đồ thể hiện tất cả các thông tin về đất đai, môi trường, thậm chí hình ảnh và văn bản pháp luật có thể được lưu trữ và truy cập nhanh hơn [11]
tin đất đai – LIS
–xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu q
–
Trang 27TNMT đã xây dựng chuẩn thông tin địa lý quốc gia và đã t
chưa được triển khai đồng bộ Hầu hết chỉ áp dụng CNTT trong một số công việc kỹ thuật cụ thể hoặc một vài khâu trong mắt xích điều hành mà chưa mang tính chất là một hệ thống điều hành và quản lý Hơn nữa, các phần mềm ứng dụng trong ngành là các công cụ rời rạc, mỗi phần mềm mới chỉ hỗ trợ một phần tác nghiệp Khâu tổ chức lưu trữ hồ sơ chủ yếu bằng thủ công các giấy tờ và sổ sách Hình thức quản lý rời rạc, thiếu khoa học, không hỗ trợ trong vấn đề giải quyết những nhu cầu hỏi đáp của xử
lý hành chính, không đáp ứng nhu cầu tổng hợp phân tích thông tin phục vụ lãnh đạo trong công tác quản lý và điều hành, không có được CSDL đầy đủ thông tin về QLĐĐ , để GIS hoạt động hiệu quả cao trong phát triển kinh tế - xã hội cần có
sự nhìn nhận một cách đúng đắn cũng như phải có sự quan tâm đặc biệt không phải chỉ riêng Chính phủ mà còn phải của chính quyền các cấp, các ngành và toàn xã hội Đầu tư nghiên cứu và triển khai thực hiện các dự án ứng dụng GIS vào công tác QLĐĐ với mục tiêu: hiện đại hóa ngành QLĐĐ, giúp quản lý nguồn tài nguyên đất đai hợp lý và khoa học hơn, đáp ứng kịp thời sự phát triển của kinh tế - xã hội
–
–
Trang 28-xây dựng và thực hiện dự án
” với mục tiêu là xây dựng và ban hành áp dụng một chuẩn dữ liệu địa chính chung
Trang 29Trong bối cảnh này, trong khi
toàn diện nhằm đưa công nghệ GIS vào công tác quản lý –
riêng, chúng ta cần có những giải pháp đơn giản hơn nhằm giải quyết nhu cầu cấp thiết trước mắt
I.2.
Phần mềm nguồn mởlà với mã nguồn được công bố và sử dụng một Giấy phép này cho phép bất cứ ai cũng có thể nghiên cứu, thay đổi và cải tiến phần mềm, và phân phối phần mềm ở dạng chưa thay đổi hoặc đã thay đổi Năm 1998 một nhóm người chủ trương rằng thuật ngữ nên được thay thế bằngphần mềm nguồn mởvì thuật ngữ này ít mơ hồ hơn và dễ sử dụng hơn cho giới doanh nghiệp Định nghĩa Nguồn mở của Tổ chức Sáng kiến Nguồn mở
Trang 30(Open Source Initiative - OSI) thể hiện một triết lí nguồn mở và xác định ranh giới về việc sử dụng, thay đổi và tái phân phối phần mềm nguồn mở.
Phần mềm mã nguồn mở có thể được định nghĩa như là những phần mềm mà tác giả của nó cho không người dùng bao gồm cả việc có quyền xem xét cách thức mà phần mềm hoạt động để có thể hiệu chỉnh hay phát triển thêm theo ý mình, có thể được sử dụng dưới nhiều mục đích, dưới nhiều máy khác nhau hay có thể phân phối lại tuỳ ý Điều thuận lợi chính của việc sử dụng các phần mềm mã nguồn mở là chúng được cung cấp miễn phí thay vì phải mua giấy phép như các phần mềm thương mại, tính uyển chuyển cao, có thể truy cập vào mã nguồn của chương trình và khả năng tích hợp tốt hơn vào những kỹ thuật chuẩn Một báo cáo của UNU-Merit về sự tác động của các phần mềm mã nguồn mở đối với kinh tế Châu Âu được thực hiện bởi Cộng đồng Châu Âu, kết luận rằng các phần mềm miễn phí và mã nguồn mở cũng như các dịch vụ liên quan có thể đạt tới 32% trong tất cả các dịch vụ IT nói chung và 4% GDP Châu Âu vào năm 2010 Cũng theo báo cáo nói trên, Châu Âu là khu vực đi đầu trong lĩnh vực hợp tác toàn cầu về các dự án phần mềm miễn phí, mã nguồn mở, thư viện miễn phí và theo sau đó là các nước Bắc Mỹ, Châu Á và Châu Mỹ Latin
Trang 31- open source GIS)
Các phần mềm mã nguồn mở đã thực sự trưởng thành trong những năm qua
và đã trở thành những công cụ thiết thực và hỗ trợ tốt cho người dùng Các phần mềm mã nguồn mở cho GIS cũng không nằm ngoài xu hướng đó và ngày nay đã có thể đáp ứng được nhu cầu của dân chuyên nghiệp GIS trên toàn thế giới Được xây dựng trên các hệ điều hành mã nguồn mở, dựa trên các cơ sở dữ liệu, dịch vụ web và các kỹ thuật phát triển phần mềm, ngày nay chúng ta tìm thấy những hệ thống mã nguồn mở tồn tại vững chắc trong lĩnh vực ứng dụng GIS
Các phần mềm OSG phục vụ cho hệ thống thông tin đấ
Với sự phát triển mạnh mẽ công nghệ GIS thời gian qua, hệ thống GIS mã nguồn mở đã có những phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu để thiết kế, xây dựng hệ thống quản lý thông tin địa lý Với nhiều tính năng như chi phí thấp, dễ dàng hiệu chỉnh, tính tương tác cao với các hệ thống dữ liệu khác, phần mềm GIS mã nguồn mở là một sự lựa chọn hợp lý cho các cơ quan quản lý nhà nước về quản lý cơ
mở về GIS đáp ứng cả nhu cầu của cộng đồng mã nguồn mở lẫn các công ty tư nhân
để phát triển, tích hợp, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo Nhờ vào tính mở của các phần mềm loại này, các công ty loại nhỏ và trung bình có thể dễ dàng cung cấp các giải
Trang 32Các phần mềm mã nguồn mở hiện tại đã có khá nhiều chức năng mạnh, và
xu thế sử dụng chúng trong hệ thống thông tin đất đai ngày càng trở nên rõ nét hơn
C
xa lạ đối với các hệ thống thông tin đất đai Mặc dù trong thời gian đó đã có một số phần mềm GIS mã nguồn mở song chúng chủ yếu chỉ có chức năng phân tích xử lý
dữ liệu raster, còn các chức năng làm việc với dữ liệu vectơ rất hạn chế Tuy nhiên,
từ đầu những năm 2000, đã có khá nhiều dự án xây dựng GIS mã nguồn mở được triển khai, tạo ra một thế hệ mới các phần mềm GIS mã nguồn mở với những chức năng gần như không thua kém các phần mềm thương mại Do đó, những khả năng mới về ứng dụng GIS mã nguồn mở trong xây dựng hệ thống thông tin đất đai ngày càng trở nên rõ nét hơn
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) cũng đang thực hiện một dự án tên gọi là OSCAR (open source Cadastral and Registry tool) với mục tiêu ứng dụng các phần mềm mã nguồn mở để xây dựng một mô hình hệ thống thông tin đất đai có thể áp dụng được cho nhiều quốc gia với các thể chế khác nhau Kết quả của dự án OSCAR mang lại cho những nước đang phát triển như Albania, Cambodia, Kirgistan, VietNam, Nepal, Somoa, v.v… giải pháp về quản lý hệ thống đất đai trên phần mềm mã nguồn với một chi phí đầu tư hợp lý Ngoài ra, Tại hội thảo FIG năm 2008, Espada G.P đã có một báo cáo rất toàn diện về tình hình sử dụng các phần mềm mã nguồn mở trong quản lý đất đai [13] Tác giả đã cho thấy các phần mềm mã nguồn mở được sử dụng rộng rãi không chỉ ở các nước đang phát triển mà còn ở nhiều nước phát triển như Đức, Tây Ban Nha, Hà Lan, v.v Báo cáo cũng đưa
ra một đánh giá tổng quan về các phần mềm mã nguồn mở có thể sử dụng trong quản
lý thông tin về đất đai Như vậy, có th khẳng định: việc sử dụng phần mềm GIS mã
Trang 33nguồn mở trong quản lý đất đai là hướng đi hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế - kỹ thuật ở nước ta
Dự án Quantum GIS được khởi đầu vào tháng 5 năm 2002 Ý tưởng được hình thành vào tháng 2 năm đó khi Gary Sherman tìm kiếm một phần mềm xem file GIS chạy trên Linux, phải đủ nhanh và hỗ trợ nhiều định dạng Cùng với mối quan tâm viết một ứng dụng GIS, phần mềm đã được xây dựng
mã nguồn mở tự nguyện (được cấp phép theo Giấy phép GNU General Public) thường xuyên phát hành các bản cập nhật và sửa lỗi Được xây dựng bằng cách sử dụng C ++, phần mềm GIS mã nguồn mở này có thể được tải về miễn
mại Tương tự như các gói GIS thương mại có sử dụng phần mở rộng, mở rộng khả năng QGIS của mình thông qua việc sử dụng các plugins QGIS cũng cung cấp truy cập đến các module xử lý không gian GRASS thông qua một giao diện (giao diện đồ họa người dùng) Plugins tùy chỉnh có thể được tạo ra bằng cách sử dụng C++ hay Python
Trang 34- QGIS Desktop: Tạo lập, chỉnh sửa, hiển thị, phân tích trên desktop;
- QGIS Browser: Duyệt và xem nhanh dữ liệu và siêu dữ liệu;
- QGIS Server: Xuất bản QGIS project với các lớp dữ liệu thông qua các
dịch vụ WMS và WFS Có khả năng kiểm soát lựa chọn các thuộc tính hoặc cách bố trí bản đồ và hệ tọa độ của những lớp dữ liệu khi xuất bản;
- QGIS Web Client: Cho phép dễ dàng xuất bản QGIS project lên Web với
thư viện các kí hiệu, nhãn phong phú cũng các cách kết hợp các đối tượng để tạo bản
đồ Web;
- QGIS on Android (beta!): Phiên bản thử nghiệm đang được hoàn thiện để
sử dụng QGIS trên các thiết bị chạy Android
dữ liệu vector: Dữ liệu không gian dựa trên PostGIS mà chủ yếu là PostgreSQL QGIS có khả năng đọc được hầu hết dữ liệu vector được cung cấp bởi thư viện OGR, bao gồm ESRI shapefiles, MapInfo, SDTS and GML… Khả năng đọc được dữ liệu raster được cung cấp bởi thư viện GDAL, bao gồm DEM, ArcGrid, ERDAS, SDTS
và GeoTIFF… Cung cấp định dạng dữ liệu trên cả ảnh vector và raster Dữ liệu không gian trực tuyến được hỗ trợ trong thư viện OGC dựa trên WMS hoặc WFS QGIS trình bày và chồng xếp các dữ liệu ảnh raster và vector mà không cần quan tâm các định dạng dữ liệu Tạo bản đồ và thao tác dữ liệu không gian dựa trên giao diện thân thiện Tạo, chỉnh sửa và xuất dữ liệu cho người dùng: digitizing tools for GRASS and shapefile formats, the georeferencer plugin, GPS tools to import and export GPX format, convert other GPS formats to GPX, or down/upload directly to a GPS unit; Xuất bản đồ dựa trên UMN Mapserver
Trang 35cho c
Analysis tools - Các công cụ phân tích: giải quyết các vấn
đề phân tích, thống kê dựa trên mối quan hệ không gian; Data management tools – Các công cụ quản lý dữ liệu và xử lý dữ liệu; Geometry tools - Các công cụ hình học: xử lý, chuyển đổi đối tượng dựa trên nguyên tắc hình học: polygon to line, line
to polygon…; Geoprocessing tools - Các công cụ xử lý địa lý: thao tác trên các đối tượng địa lý như: Clip, Union, Buffer… Là phần mềm miễn phí, nhưng các tính năng luôn được thường xuyên bổ sung và hoàn thiện, QGIS có thể là lựa chọn thay thế đối với các ứng dụng GIS ở quy mô vừa và nhỏ hoặc là giải pháp bổ trợ sử dụng kết hợp với các phần mềm thương mại như ArcGIS…
–
Trang 36một số bản quyền phần mềm thương mại để xây dựng thử nghiệm hệ thống thông tin đất đai, nhiều dự
án đã gặp khó khăn khi cần nâng cấp phần mềm và khi triển khai hệ thống trên diện rộng Trong khi đó, các phần mềm mã nguồn mở hiện tại đã có khá nhiều chức năng mạnh, và xu thế sử dụng chúng trong hệ thống thông tin đất đai ngày càng trở nên rõ nét hơn ở nhiều nơi trên thế giớ ần mềm mã nguồn mở được sử dụng rộng rãi không chỉ ở các nước đangphát triển mà còn ở nhiều nước phát triển như CHLB Đức, Tây Ban Nha, Hà Lan,
Tại Việt Nam, trong những năm vừa qua đã có nhiều cố gắng trong vấn đề xây dựng hệ thống thông tin đất đai Đã có một số dự án xây dựng phần mềm hệ thống thông tin đất đai như ViLIS, ArcLIS, VLIS, Tất cả các dự án này đều dựa trên nền tảng các phần mềm thương mại (chủ yếu là công nghệ của ESRI) mà chưa
có sự quan tâm đáng kể nào tới các phần mềm mã nguồn mở ới các phần mềm thương mại, các phần mềm GIS mã nguồn mở có các chức năng thường hạn chế hơn; ít tiện ích hỗ trợ phát triển hệ thống hơn; và có thể có nhiều vấn đề cần giải quyết, khắc phục trong quá trình xây dựng hệ thố
ệ thống có tính trong suốt; khả năng dễ dàng tinh chỉ
–
–
Trang 37
CHƯƠNG II:
Đất đai là nguồn tài nguyên, tài sản quan trọng của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện cần cho mọi hoạt động sản xuất Giao đất, cho thuê đất là nội dung quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai, được hình thành trên cơ sở chế
độ sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu Nhà nước thực hiện trao quyền sử dụng đất cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua giao đất và cho thuê đất So sánh với các nước có sự tương đồng về chế độ sở hữu đất đai với nước ta cho thấy, khái niệm giao đất là sự khác biệt, đặc thù trong hệ thống pháp luật đất đai của Việt Nam Trong khi đó khái niệm cho thuê đất hầu như đều có trong hệ thống pháp luật của các nước, không phụ thuộc vào chế độ sở hữu đất đai
- Một trong những công cụ quan trọng trong quản lý Nhà nước về đất đai, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư và bước đầu phát huy nguồn lực của đất đai trong phát triển của đất nước
- Đáp ứng được nhu cầu của mọi đối tượng sử dụng đất, kể cả trong nước và nước ngoài
- Xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với người sử dụng làm cơ sở
để giải quyết mọi mối quan hệ về đất đai và người sử dụng yên tâm thực hiện các quyền của mình trên diện tích đất đó
Chính sách giao ruộng đất ổn định, lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng gắn với các quy định về quyền của người sử dụng đất đã góp phần quan trọng vào việc xóa đói, giảm nghèo Đồng thời, các quy định đất có giá cũng đã tạo điều kiện để đất đai trở thành nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế, ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công tác điều tra, thống kê, kiểm kê đất đai được thực hiện thường xuyên, 5 năm một lần đáp ứng yêu cầu nghiên cứu chuyên sâu phục vụ quản lý nhà nước về đất đai Từ đó xây dựng
Trang 38được bộ số liệu về đất đai để phục vụ hoạch định chính sách, lập quy hoạch, kế hoạch của các ngành kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng Công tác lưu trữ thông tin đất đai đang từng bước được hiện đại hóa Công nghệ GIS phát triển đã cung cấp khả năng mới cho việc sử dụng bản đồ địa chính, đó là xây dựng hệ thống thông tin đất đai trên cơ sở các loại bản đồ dạng số, đặc biệt là bản đồ địa chính, giúp cho việc xử
lý, quản lý và khai thác thông tin đất đai có hiệu quả
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, song công tác QLĐĐ vẫn còn nhiều bất cập Một số vấn đề về quan hệ đất đai chưa được giải quyết triệt để và thống nhất; chất lượng xây dựng và thực hiện quy hoạch sử dụng tài nguyên đất còn yếu, gây lãng phí, thất thoát; quản lý thị trường bất động sản còn lúng túng, sơ hở Phương pháp, công nghệ trong điều tra cơ bản chậm đổi mới; điều tra thiếu tập trung; kết quả điều tra còn thiếu độ tin cậy, chỉnh lý cập nhật không thường xuyên Việc xử lý, lưu trữ, thông tin còn bất cập, tài liệu điều tra chưa được khai thác có hiệu quả Chất lượng lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở các địa phương có nhiều tiến bộ nhưng thực sự chưa đạt yêu cầu đề ra Tiến độ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp còn chậm Trong lập, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thiếu sự giám sát chặt chẽ, tuân thủ triệt để chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải là chỉ tiêu pháp lệnh; việc áp dụng các công nghệ tiên tiến còn nhiều hạn chế Cơ chế thuê đất
để thực hiện
bất bình đẳng không chỉ về kinh tế mà cả trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vẫn là một
tính thủ công, thực hiện
liệu bản đồ, hồ sơ địa chính thiếu về số lượng và kém về chất lượng, được cập nhật không thường xuyên, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý đất đai và thị trường bất động sản trong giai đoạn hiện nay, chưa tổ chức hệ thống theo dõi giá đất trên thị trường để làm cơ sở định giá đất phù hợp Nguồn thu từ đất đai chưa tương xứng với tiềm năng quỹ đất
căn cứ giao đất, cho thuê đất; hình thức
Trang 39giao đất, cho thuê đất; thẩm quyền giao đất, cho thuê đất; thời hạn giao đất, cho thuê đất; quy trình, thủ tục giao đất, cho thuê đất; giá giao/thuê đất; việc giao/thuê đất phải đảm bảo các nguyên tắc là phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đúng đối tượng; đúng hạn mức, thời hạn; do UBND các cấp có thẩm quyền thực hiện; việc g
Diện tích đất xây dựng đô thị
sẽ phát triển tương ứng là 37.500 ha.Trong những năm gần đây, Đà Nẵng đã tích cực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường, nâng cao an sinh xã hội Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố
Đà Nẵ
-trở thành thành phố đặc biệt cấp quốc gia, hướng tới đô thị cấp quốc tế và phát triển bền vững
Trang 40từ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước và trở thành một trong những nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội của
xây dựng; trong thời gian ngắn đã huy động được nguồn vốn đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng; phát triển, chỉnh trang đô thị
chuyên môn