- Đánh giá mối liên kết giữa các nhóm liên đới: Người nông dân trồng và lên men ca cao tại Bến Tre đã nhận được sự hỗ trợ tối đa về kỹ thuật, tổ chức, giống cây trồng, nguyên vật liệu sả
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
LƯU NGUYỄN THU CÚC
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CA CAO BỀN VỮNG TẠI TỈNH BẾN TRE
Chuyên ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
Mã số HV : 60.85.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP.Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2016
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA - ĐHQG - HCM
4 TS Đào Thanh Sơn
5 TS Lâm Văn Giang
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận văn và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA MÔI TRƯỜNG
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: LƯU NGUYỄN THU CÚC MSHV: 12260644 Ngày, tháng, năm sinh: 03/11/1987 Nơi sinh: Bến Tre Chuyên ngành: Quản lý môi trường Mã số : 60.85.10
I TÊN ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CA CAO BỀN VỮNG TẠI TỈNH BẾN TRE
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
- Cơ sở khoa học về phát triển ca cao bền vững
- Phân tích và đánh giá hiện trạng phát triển ca cao về mặt kinh tế, xã hội, môi trường tại tỉnh Bến Tre Vai trò của các bên liên quan trong quá trình phát triển ca cao
- Phân tích thuận lợi, khó khăn đối với việc phát triển ca cao bền vững tại tỉnh Bến Tre
- Đề xuất các giải pháp có thể thúc đẩy phát triển ca cao bền vững cho tỉnh Bến Tre
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 19/01/2015
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 14/06/2015
V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : PGS.TS LÊ VĂN KHOA
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ này được hoàn thành là kết quả của sự lao động của bản thân tôi,
sự quan tâm giúp đỡ tận tình của gia đình, thầy cô, bạn bè và sự hỗ trợ đóng góp của tất
cả những cô chú anh chị thuộc các cơ quan và người dân địa phương
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến ba mẹ tôi, những người đã luôn động viên tinh thần và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Lê Văn Khoa, người thầy đã ân cần, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo những kiến thức quý báu, giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành bài luận văn của mình
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến thầy Lưu Đình Hiệp đã tạo điều kiện hỗ trợ tôi trong công việc, và tất cả các thầy cô trong khoa Môi trường đã truyền thụ kiến thức cho tôi trong suốt khóa học cao học tại trường
Tôi cũng xin cảm ơn tất cả anh chị em, bạn bè trong lớp đại học cũng như cao học ngành môi trường đã đi cùng tôi trong các chặng đường học tập, đã chia sẻ những kinh nghiệm, kiến thức cũng như đã giúp đỡ động viên tôi rất nhiều
Và với sự biết ơn chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến chú Huỳnh Quang Đức, chị Thanh Hoa, chị Kim Sang thuộc Trung tâm khuyến nông – khuyến ngư Bến Tre đã nhiệt tình hỗ trợ, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, khảo sát và thu thập thông tin phục vụ luận văn Đồng thời, lời cảm ơn chân thành c ủa tôi cũng xin được gửi đến tất cả các cô chú anh chị công tác tại trạm khuyến nông các huyện, các
cô chú anh chị công tác tại ủy ban nhân dân và hội nông dân xã, các cô chú anh chị thuộc các doanh nghiệp và ban chủ nhiệm tổ nhóm ca cao và tất cả các cô chú anh chị nông dân
mà tôi đã có dịp gặp gỡ và trao đổi tại tỉnh Bến Tre, đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi thu thập, khảo sát thông tin để phục vụ cho bài luận văn của mình
Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn, những người sẽ chỉ dẫn và đóng góp ý kiến quý giá để tôi có thể làm cho bài luận văn này hoàn thiện hơn
TP Hồ Chí Minh, ngày…… tháng…….năm 2016
Học viên
Lưu Nguyễn Thu Cúc
Trang 5TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN
Luận văn đã tìm hiểu hiện trạng phát triển ca cao trên địa bàn tỉnh Bến Tre, đánh giá hiện trạng phát triển theo quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững, từ đó đánh giá các thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp phát triển ca cao theo hướng bền vững Nội dung nghiên cứu đã thu được các vấn đề sau:
- Quá trình canh tác, sản xuất ca cao: Đa số cây ca cao được trồng xen trong vườn dừa, một số rất ít trồng xen trong vườn cây ăn quả Cây ca cao thích hợp thổ nhưỡng và canh tác không quá phức tạp,ít cạnh tranh dinh dưỡng với cây trồng khác, chi phí đầu tư không nhiều Hiệu quả kinh tế tăng lên đáng kể trong cùng một đơn vị diện tích đất nông nghiệp Các dự án khuyến khích động viên trồng ca cao tại Bến Tre triển khai theo hướng nhằm đạt được các tiêu chuẩn chứng nhận ca cao sạch hoặc hữu cơ, nên có tác động tốt đến khía cạnh về kinh tế, xã hội, môi trường Thói quen canh tác của nông hộ dần được cải thiện, vấn đề môi trường và sức khỏe được quan tâm, tuy nhiên vẫn chưa triệt để Các nông hộ qua các khóa tập huấn, đã khá thành thạo kỹ thuật trồng, tổ chức tổ nhóm nông hộ cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, sinh hoạt học tập, lên kế hoạch sản xuất và kết nối với doanh nghiệp thu mua Các hộ chưa tham gia trồng ca cao theo tiêu chuẩn chứng nhận vẫn được tham gia sinh hoạt cùng tổ/nhóm chứng nhận và nhận được
hỗ trợ kỹ thuật để nâng cao hiệu quả canh tác
- Quá trình tiêu thụ ca cao: Ca cao tại Bến Tre được bao tiêu đầu ra sản phẩm vì nhu cầu
ca cao trên thế giới rất lớn Các doanh nghiệp chế biến tại địa phương và trong nước để chế biến sản phẩm từ hạt ca cao thô rất hạn chế Các nông hộ ở Bến Tre chủ yếu bán hạt thô phục vụ xuất khẩu nên bị động về giá và chịu sự rủi ro nếu có biến động giá trên thị trường quốc tế Các nông
hộ tham gia tiêu chuẩn chứng nhận được ký hợp đồng theo tổ/nhóm với doanh nghiệp thu mua
và được cam kết bao tiêu sản phẩm, được thưởng theo tiêu chuẩn chứng nhận, đồng thời người nông hộ vẫn được có quyền bán cho nơi mua với giá cao hơn Các điểm lên men ca cao hoặc ban chủ nhiệm tổ/nhóm là trung gian liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ về thị trường, tập huấn
kỹ thuật, và tháo gỡ khó khăn trong việc sản xuất ca cao Một số tổ/nhóm đã đầu tư sản xuất các sản phẩm phụ như phân hữu cơ, rượu ca cao để nâng cao giá trị của chuỗi giá trị ca cao Hiệu quả xã hội của mô hình trồng ca cao hiện tại được đánh giá là tốt, tuy nhiên vẫn còn tiềm ẩn các rủi ro về giá và sự cạnh tranh giữa các loại cây trồng
- Đánh giá mối liên kết giữa các nhóm liên đới: Người nông dân trồng và lên men ca cao tại Bến Tre đã nhận được sự hỗ trợ tối đa về kỹ thuật, tổ chức, giống cây trồng, nguyên vật liệu sản xuất trong thời gian qua từ các cấp quản lý, các dự án phát triển Doanh nghiệp thu mua cũng nhận được hỗ trợ lớn từ chính quyền thông qua việc giảm thuế, từ các tổ chức phát triển thông qua việc hỗ trợ một phần kinh phí chứng nhận trong 3 năm đầu Giữa các nông hộ và doanh nghiệp đã hình thành mối liên kết khá chặt chẽ trong vấn đề phân phối và tiêu thụ, đồng thời nông hộ và doanh nghiệp được hỗ trợ nhiều về mặt tập huấn từ cơ quan khuyến nông và các chuyên gia từ các trường, viện Tuy nhiên, hiệu quả sản xuất và sự bền vững của liên kết phụ thuộc chủ yếu vào nhận thức của người nông dân
Trang 6- Giải pháp đề xuất: Liên kết chặt chẽ giữa chính quyền, tổ chức nông hộ, doanh nghiệp
và nhà chuyên môn để thực hiện đồng bộ các giải pháp về cơ chế, chính sách và kỹ thuật trong chuỗi sản xuất – tiêu thụ ca cao trên địa bàn Tỉnh Trong đó, từ tình hình phát triển ca cao hiện tại, chú trọng phát triển vai trò của chính quyền trong việc quy hoạch vùng trồng, phát triển kênh thông tin hữu ích, tăng cường hợp tác và có chính sách hỗ trợ sản xuất của nông hộ lẫn doanh nghiệp cũng như hỗ trợ về giá bán, tiếp tục quản lý và khuyến khích phát triển mô hình tổ/nhóm liên kết sản xuất, tham gia trồng ca cao theo tiêu chuẩn chứng nhận, qua đó đẩy mạnh sự tham gia tích cực của nông hộ và các thành phần kinh tế khác vào mô hình phát triển ca cao, góp phần phát triển ca cao bền vững
Trang 7ABSTRACT
Thesis was to find out the current state of development of cocoa production in Ben Tre province, to assess the current state of development in the view of sustainable agricultural development, thereby evaluating the advantages, disadvantages and proposing the solutions towards sustainable cocoa development The research has obtained the following issues:
- The process of cultivation and production of cocoa: Most cocoa are intercropped in coconut plantations, a few intercropping in the orchard The cocoa tree is appropriate to this place’s farming soil, not too complicated to cultivate, less competitive about nutrients with other plants, and not much cost for investment Economic efficiency increased significantly in the same unit area of agricultural land Projects to encourage cocoa plantation in Ben Tre have been deployed towards achieving organic or eco-cocoa certification and thus have made a positive impact on aspects of economy, society and environment Cultivating habits of farmers gradually improved, environmental and health issues were also cared, but the status are still imperfect Farmers through training courses, have grown quite proficient techniques, organizing farmers' groups together to share experiences, learning activities, making plans of production and connection with clients The households have not participated in the process of archieving cocoa certification still be involved with the team/group who are already in that process and received technical assistance to improve the efficiency of farming
- The consumption of cocoa: Cocoa in Ben Tre is offtake output because current demand for cocoa in the world is very high The number of domestic and local processing enterprises for processing products from raw cocoa beans are very limited Households in Ben Tre mainly sell raw cocoa nuts for export so they are passive about price and bear the risk if there is price fluctuation on the international market Farmers complying with certifications are contracted under the group/team with enterprises and are committed to product consumption, are awarded due to archieving certification, and those farmers still have the right to sell cocoa to the places where buy at higher prices The fermented cocoa places or board chairman of group/team are intermediary linking between enterprises and farmers about marketing information, technical training, and removal of difficulties in the production of cocoa Some teams/groups have invested in production of byproducts such as compost, cocoa liquor to enhance the value of the cocoa value chain Social effects of current cocoa production model are evaluated as good, but there are still potential risks about price and competition among the plants
- Assessing links between stakeholders: Farmers who plant and ferment cocoa in Ben Tre has received great support in technical training, organization, varieties, production materials during last time from the government and the development projects Enterprises who buy cocoa fermented seeds also received great support from the government through tax relief, from the development organizations through providing supporting fund for registering certificates in the first 3 years Between farmers and enterprises have formed quite tight linkage in the matter of distribution and consumption, and both of them have also received many kinds of support in
Trang 8training from extension agents and specialists from universities and institutes However, production efficiency and sustainability of that linkage depends largely on awareness of farmers
- The proposed solutions: Make tight linkages between the government, farming households, enterprises and professionals to implement solutions synchronously in mechanisms, policies and techniques in the production – consumption chain of cocoa in the province In particular, from the current status of cocoa development, the solutions should be focusing on developing the role of government in the planning cocoa fields, developing useful information channel, strengthening cooperation and policy of supporting production of households and enterprises as well as supporting in prices, continuing to manage and encourage the development
of the model in which teams/groups are linked between or among to cooperate in production, cultivating and producing cocoa products according to organic or eco-cocoa certifications, thereby promoting active participation of farmers and other economic components into good cocoa development models to contribute to the development of sustainable cocoa
Trang 9LỜI CAM ĐOAN CỦA TÁC GIẢ
Tôi tên là Lưu Nguyễn Thu Cúc, là học viên cao học chuyên ngành Quản lý Môi trường khóa 2012, mã số học viên 12260644 Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp cao học này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các hình ảnh, số liệu và thông tin tham khảo trong luận văn này được thu thập từ các nguồn đáng tin cậy, được công bố rộng rãi
và được tôi trích dẫn nguồn gốc rõ ràng ở phần Tài liệu tham khảo Các số liệu khảo sát, tính toán và kết quả nghiên c ứu trong luận văn là do tôi thực hiện một cách nghiêm túc, không trùng lắp các đề tài khác
Tôi xin đảm bảo cho lời cam đoan của mình là đúng sự thật
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Học viên thực hiện
Lưu Nguyễn Thu Cúc
Trang 101
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH 5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 8
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 8
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 9
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 10
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 10
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 10
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 10
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
1.5.1 Phương pháp luận nghiên cứu 10
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 12
1.5.2.1 Phương pháp thu thập thông tin và số liệu 12
1.5.2.2 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 13
1.5.2.3 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 13
1.5.2.4 Phương pháp đánh giá 13
1.6 Ý NGHĨA VÀ TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI 14
1.6.1 Ý nghĩa khoa học 14
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn 14
1.6.3 Tính mới của đề tài 14
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 15
2.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CA CAO TẠI VIỆT NAM 15
2.1.1 Chính sách và định hướng 15
2.1.2 Tình hình sản xuất 17
2.1.3 Tình hình canh tác và thu hoạch 18
2.1.4 Tình hình kinh doanh 19
2.1.5 Tình hình nghiên cứu 20
2.1.6 Tình hình phối hợp và hỗ trợ 20
2.1.7 Công tác khuyến nông 21
2.1.8 Đánh giá khái quát tình hình phát triển ca cao hiện nay tại Việt Nam 22
2.2 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA TỈNH BẾN TRE 22
2.2.1 Vị trí địa lý 22
2.2.2 Địa hình – địa chất 23
2.2.3 Khí hậu 24
Trang 112
2.2.4 Thủy văn 24
2.3 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH BẾN TRE 24
2.3.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu 25
2.3.2 Kết quả thực hiện các ngành, lĩnh vực chủ yếu 26
2.4 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CA CAO TẠI BẾN TRE 28
CHƯƠNG 3 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CA CAO BỀN VỮNG TẠI TỈNH BẾN TRE 34
3.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ 34
3.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 35
3.2.1 Tổng quan về phát triển nông nghiệp bền vững 35
3.2.2 Tổng quan về phát triển ca cao bền vững 36
3.2.3 Chuỗi giá trị ca cao 38
3.2.4 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến phát triển ca cao 39
3.2.4.1 Nghiên cứu trong nước 39
3.2.4.2 Nghiên cứu ngoài nước 40
3.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN 41
3.3.1 Các tổ chức và chương trình liên quan đến phát triển ca cao bền vững 41
3.3.2 Tình hình phát triển ca cao trên thế giới 45
3.3.3 Bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia trồng ca cao điển hình 51
3.4 CÁC TIÊU CHÍ THỂ HIỆN XU THẾ PHÁT TRIỂN CA CAO THEO HƯỚNG BỀN VỮNG VÀ MỨC KẾT QUẢ MONG MUỐN ĐẠT ĐƯỢC 55
3.4.1 Môi trường 55
3.4.2 Kinh tế 56
3.4.3 Xã hội 57
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CA CAO BỀN VỮNG TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 59
4.1 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ VIỆC SẢN XUẤT CA CAO CỦA NÔNG HỘ Ở TỈNH BẾN TRE 59
4.1.1 Mô tả bộ số liệu điều tra 59
4.1.1.1 Thông tin chung về nông hộ 59
4.1.1.2 Khái quát tình hình sản xuất ca cao của nông hộ 60
4.1.1.3 Lý do trồng ca cao 62
4.1.1.4 Khó khăn trong sản xuất ca cao 62
4.1.1.5 Kinh nghiệm trồng 65
4.1.1.6 Tình hình áp dụng tiêu chuẩn 66
4.1.2 Phân tích hiệu quả kinh tế trong quá trình sản xuất ca cao của nông hộ 66
4.1.2.1 Tình hình chi phí 66
4.1.2.2 Tình hình doanh thu 68
4.1.2.3 Phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất ca cao của nông hộ thông qua các chỉ số tài chính 69
Trang 123
4.2 TÌNH HÌNH TIÊU THỤ CA CAO TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 70
4.2.1 Sơ đồ phân phối 70
4.2.2 Tình hình tiêu thụ ca cao của nông hộ 72
4.2.3 Tình hình tiêu thụ ca cao của các điểm lên men sơ chế 73
4.2.4 Tình hình tiêu thụ ca cao của các doanh nghiệp 74
4.3 TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH SẢN XUẤT CA CAO 75 4.3.1 Tình hình lao động và giải quyết việc làm 75
4.3.2 Tình hình thu nhập và đời sống nông hộ 76
4.3.3 Tình hình vay nợ của nông hộ 76
4.3.4 Mức độ hài lòng về mô hình trồng ca cao hiện tại của nông hộ 76
4.4 TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH 78
4.4.1 Điều kiện về thổ nhưỡng và hiện trạng quản lý đất 78
4.4.2 Nguồn nước tưới 79
4.4.3 Tình hình sử dụng nông hóa phẩm 79
4.4.4 Tình hình quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại 80
4.4.5 Mức độ hiểu biết về quy trình thực hành trồng ca cao sạch 81
4.5 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CA CAO TẠI BẾN TRE 83
4.5.1 Đánh giá tác động của mô hình sản xuất hiện tại theo quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững 83
4.5.2 Đánh giá mối quan hệ liên kết của các bên liên quan trong chuỗi giá trị ca cao 87
4.5.2.1 Sơ đồ mối liên hệ giữa các nhóm liên quan trong việc phát triển ca cao hiện nay tại Bến Tre 88
4.5.2.2 Các nhóm liên quan trong việc thực hiện mô hình sản xuất ca cao hiện tại 88
4.5.2.3 Đánh giá mức độ tác động của các nhóm liên quan tới tình hình phát triển ca cao hiện nay tại Bến Tre 90
4.5.2.4 Kết luận 91
CHƯƠNG 5 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CA CAO THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI BẾN TRE 92
5.1 PHÂN TÍCH MA TRẬN SWOT 92
5.1.1 Các yếu tố SWOT 92
5.1.2 Phân tích chiến lược 95
5.2 CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT NHẰM PHÁT TRIỂN CA CAO THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI BẾN TRE 96
5.2.1 Định hướng phát triển ngành ca cao Bến Tre 96
5.2.2 Các giải pháp nhằm phát triển ca cao theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Bến Tre97 5.2.2.1 Giải pháp về chính sách 97
5.2.2.2 Nâng cao năng lực và nhận thức của người sản xuất, kinh doanh ca cao 99
5.2.2.3 Giải pháp liên quan đến kỹ thuật – công nghệ 101
5.2.2.4 Giải pháp liên quan đến thị trường 104
5.2.2.5 Quản lý tài nguyên – môi trường và bảo vệ sức khỏe 106
Trang 134
CHƯƠNG 6 108
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
6.1 KẾT LUẬN 108
6.2 KIẾN NGHỊ 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 115
Trang 145
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1 1 Khung định hướng nghiên cứu 11
Hình 2 1 Tỷ lệ diện tích ca cao trồng chuyên canh và xen canh cả nước năm 2011 17
Hình 2 2 Bản đồ hành chính Tỉnh Bến Tre 23
Hình 3 1 Mô hình phát triển bền vững của Ngân hàng Thế giới 36
Hình 3 2 Chuỗi giá trị ca cao (Trồng – Thu hoạch – Lên men và sấy khô) 38
Hình 3 3 Chuỗi giá trị ca cao (Tiếp thụ và vận chuyển – Chế biến – Làm sô cô la) 39
Hình 3 4 Sản lượng của 12 quốc gia sản suất ca cao nhiều nhất thế giới 45
Hình 3 5 Tình hình phân bổ sản xuất ca cao trên thế giới 46
Hình 3 6 Tình hình tiêu thụ ca cao trên thế giới 47
Hình 3 7 Tình hình tiêu dùng ca cao trên đầu người (năm 2011/2012) 48
Hình 3 8 Dự báo cung – cầu cho ngành ca cao thế giới 49
Hình 4 1 Tình hình sản xuất theo tiêu chuẩn chứng nhận 66
Hình 4 2 Tỷ lệ lợi nhuận của ca cao trong mô hình ca cao xen dừa 70
Hình 4 3 Sơ đồ phân phối ca cao tại Bến Tre 71
Hình 4 4 Mức độ hài lòng của nông hộ 77
Hình 4 5 Mức độ nắm bắt về quy trình thực hành trồng ca cao theo tiêu chuẩn chứng nhận 81
Hình 4 6 Sơ đồ Triad network thể hiện mối liên hệ giữa các nhóm liên đới trong việc phát triển ca cao tại Bến Tre 88
Hình 5 1 Mẫu mã mặt hàng sô cô la của Công ty Marou Faiseurs de Chocolat và Công ty Phạm Minh 105
Trang 156
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1 Hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Bến Tre tính đến năm 2014 24
Bảng 2 2 Diện tích ca cao trồng xen dừa ở Bến Tre phân theo huyện 29
Bảng 2 3 Diễn biến diện tích - năng suất - sản lượng ca cao xen dừa năm 2007 – 2011 30
Bảng 2 4 Diện tích ca cao trồng xen dừa phân theo huyện giai đoạn 2010 -2015 31
Bảng 3 1 Sự khác nhau giữa một số yêu cầu của tổ chức chứng nhận UTZ 44
Bảng 4 1 Đặc điểm của nông hộ điều tra 59
Bảng 4 2 Diện tích, mật độ và tuổi ca cao 60
Bảng 4 3 Các giống ca cao phổ biến tại Bến Tre 61
Bảng 4 4 Lý do trồng ca cao của nông hộ 62
Bảng 4 5 Khó khăn của nông hộ trong sản xuất ca cao 63
Bảng 4 6 Tình hình sâu bệnh trên cây ca cao 63
Bảng 4 7 Kinh nghiệm trồng ca cao của nông hộ 65
Bảng 4 8 Các thành phần tập huấn cho nông hộ 65
Bảng 4 9 Chi phí đầu tư ban đầu trung bình cho 1 công ca cao 67
Bảng 4 10 Chi phí trung bình trong quá trình sản xuất ca cao tại Bến Tre, 2014 67
Bảng 4 11 Doanh thu trung bình bán trái tươi trên một công ca cao, 2014 68
Bảng 4 12 Tổng hợp chi phí, doanh thu, lợi nhuận từ ca cao tính trên một công của nông hộ, 2014 69
Bảng 4 13 Cách thức vận chuyển mua bán ca cao 73
Bảng 4 14 Lý do chọn nơi bán ca cao của nông hộ 73
Bảng 4 15 Cách xử lý các phế phẩm từ canh tác ca cao 74
Bảng 4 16 Bảng tổng hợp ca cao chứng nhận tại Bến Tre năm 2014 75
Bảng 4 17 Bảng 3.17 Số giờ làm vườn dành cho chăm sóc ca cao trung bình 75
Bảng 4 18 Các sự hỗ trợ nông hộ nhận được trong quá trình trồng ca cao 77
Bảng 4 19 Cách thức sử dụng phân bón của nông hộ 78
Bảng 4 20 Nhận xét của nông hộ về tác dụng của việc bón phân hữu cơ 79
Bảng 4 21 Các biện pháp bảo vệ thực vật nông hộ sử dụng trong canh tác ca cao 79
Bảng 4 22 Tần suất sử dụng thuốc BVTV trong canh tác ca cao 80
Bảng 4 23 Mức độ ghi chép sổ tay nông hộ 82
Bảng 4 24 Mức độ sử dụng dụng cụ bảo hộ lao động khi phun xịt thuốc BVTV 82
Bảng 4 25 Bảng đánh giá tác động bằng phương pháp ma trận cho điểm 83
Bảng 4 26 Các thành phần liên đới của sự phát triển ca cao tại Bến Tre 89
Bảng 4 27 Bảng đánh giá mức độ ảnh hưởng của các thành phần liên đới 91
Bảng 5 1 Bảng phân tích chiến lược 95
Bảng 5 2 Hiệu quả kinh tế của 1 ha dừa – ca cao và dừa – ca cao – tôm càng xanh 102
Trang 167
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Tổ chức Các phong trào Nông nghiệp Hữu cơ Quốc tế NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 178
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững đang càng ngày càng được quan tâm trên toàn thế giới Với tài nguyên có hạn, áp lực từ sự tăng dân số và nhu cầu về một xã hội ổn định trong
đó người nghèo có mức sống và môi trường làm việc tốt hơn, nông nghiệp đã trở thành một thành
tố rất quan trọng trong sự phát triển bền vững của các quốc gia trong tương lai Trong nhu cầu phát triển nông nghiệp bền vững, chọn loại cây có giá trị kinh tế cao, thích hợp với thỗ nhưỡng, tăng hiệu quả sử dụng và cải tạo đất, đồng thời mang lại khoản thu nhập cộng thêm cho người nông dân là các tiêu chí hàng đầu Tại Việt Nam hiện nay, ca cao đang là một hướng phát triển có nhiều tiềm năng cho sự phát triển bền vững loại cây này
Ca cao là loại cây công nghiệp dài ngày có nguồn gốc ở Nam Mỹ đã được thuần hóa và trồng sản xuất hàng trăm năm nay Hạt ca cao là nguyên liệu chính để sản xuất kẹo sô cô la và nguyên liệu quan trọng trong ngành thực phẩm, bánh kẹo Ca cao cũng được sử dụng trong mỹ phẩm và ngành dược Ca cao thích hợp với nhiều loại đất khác nhau, đặc biệt là đất có thành phần
cơ giới trung bình đến nhẹ với khả năng giữ nước cao, giàu chất hữu cơ Hơn nữa ca cao là cây công nghiệp lâu năm, tuổi thọ có thể kéo dài hơn 30 năm, đến tháng thứ 18 cho thu hoạch lứa đầu tiên, sau đó sẽ cho năng suất ổn định từ 3 – 4 tấn/ha Ca cao là loại cây công nghiệp dài hạn, chịu bóng râm, thích hợp với mô hình trồng xen trong vườn một số loại cây ăn trái khác Vì các yếu tố trên, cây ca cao được đánh giá có tính năng cải thiện môi trường Đây được xem là cây trồng sinh thái đóng vai trò bảo vệ đất, có khả năng chống xói mòn ở những vùng đất dốc và giữ được nguồn nước ngầm Vì vậy, tại Việt Nam cây ca cao được phát triển dưới dạng cây nông lâm nghiệp bền vững [23]
Cây ca cao tuy là một loại cây trồng khá mới tại Việt Nam, nhưng thị trường đang rất cần
và đã có sẵn Hiện nay, nhu cầu chế biến ca cao trên thế giới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á đang tăng cao Thị trường ca cao hiện nay rất lớn, và cung không đủ cầu Theo dự báo của Tập đoàn thực phẩm Mars Icoporated của Mỹ, năm 2013, toàn thế giới thiếu hụt khoảng 160.000 tấn ca cao Con số này sẽ lên đến 1 triệu tấn vào năm 2020, nhu cầu ca cao sẽ bức thiết hơn do nhu cầu tăng cộng với sự sụt giảm về sản lượng của các nước có thế mạnh như Ghana và Bờ Biển Ngà do bất
ổn về chính trị và thời tiết Thêm vào đó, các nước trồng ca cao ở châu Á, đặc biệt là Indonesia, quốc gia sản xuất ca cao lớn nhất châu Á và thứ ba thế giới cũng có chiều hướng giảm sản lượng
và chất lượng Trên thị trường thế giới hiện nay, nguồn nguyên liệu ca cao đang trở nên hiếm và đắt đỏ Trong khi các loại cây ăn quả thì giá bấp bênh, ca cao lại được cam kết thu mua bởi nhiều tập đoàn lớn với mức giá hấp dẫn Thị trường ca cao trên thế giới rất quan tâm đến việc phát triển vùng nguyên liệu mới để bù đắp cho tình trạng ngày càng thiếu nguyên liệu, vì các nước sản xuất chính không đủ cung ứng sản lượng ca cao cho ngành sản xuất sô cô la [38]
Nhận thấy được cơ hội từ nhu cầu thị trường, từ năm 2004, Việt Nam đã có chương trình
và kế hoạch phát triển ca cao cùng với các tổ chức hỗ trợ nông nghiệp, phi chính phủ và tập đoàn thực phẩm quốc tế trong việc hỗ trợ nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng và các biện pháp canh tác Mặc dù là một ngành ca cao còn non trẻ trên thế giới, nhưng chất lượng ca cao sản xuất tại Việt Nam đã nhận được nhiều lời ngợi khen về chất lượng và hương vị đặc trưng, sản phẩm ca cao có xuất xứ từ Việt Nam được các công ty thu mua đánh giá cao nhất châu Á do được lên men đúng quy trình, rất thích hợp để chế biến thành sôcôla nguyên chất Ca cao Việt Nam hiện có tới 95% là sản phẩm ca cao lên men, kích cỡ hạt đạt trung bình 80 - 100 hạt/lượng, được xếp vào loại
Trang 18Phát triển một loại cây trồng mới với quy mô lớn và yêu cầu cao về chất lượng đòi hỏi sự canh tác hiệu quả và thân thiện với môi trường ngay từ ban đầu để duy trì chất lượng môi trường cũng như chất lượng sản phẩm một cách lâu bền Đã có nhiều sự hỗ trợ từ các tổ chức
và tập đoàn quốc tế, mặc dù ngành ca cao Việt Nam đã có những bước tiến đáng khích lệ nhưng diện tích trồng ca cao chưa tăng mạnh, tâm lý nhiều nông dân còn lo ngại về sự ổn định của loại cây này, thiếu kênh chia sẻ thông tin đầy đủ về lợi ích của cây ca cao, cộng thêm sự cạnh tranh giữa các loại cây trồng đã khiến họ đốn bỏ ca cao và trồng loại cây khác Cây ca cao là loại cây
có thể trồng xen và cải thiện sinh kế người nông dân, đồng thời tận dụng khả năng của đất Mô hình ca cao hữu cơ trồng xen sẽ có lợi về kinh tế, xã hội và môi trường
Việt Nam chỉ có một số khu vực có điều kiện thích hợp để phát triển ca cao là các tỉnh ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, Bến Tre là một trong những tỉnh có điều kiền tự nhiên thuận lợi nhất với diện tích dừa lớn nhất nước, thích hợp cho mô hình trồng xen, đồng thời cho chất lượng ca cao được đánh giá cao trên trường quốc
tế Năm 2007, Bến Tre đã lập hẳn dự án phát triển 10.000 ha ca cao phục vụ xuất khẩu và nâng cao thu nhập cho người nông dân Đến cuối năm 2011 diện tích ca cao trồng xen của tỉnh đã đạt con số 7.478 ha.[16] Việc trồng cây ca cao xen với một số loại cây trồng khác nhất là xen trong vườn dừa thì rất lý tưởng, góp phần tăng thu nhập trên đơn vị diện tích, góp phần giải quyết ngày công lao động nhàn rỗi ở nông thôn và tạo nguồn nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu Mặc dù đã được sự khuyến khích hỗ trợ của các tổ chức chứng nhận và thu mua quốc
tế để xây dựng quy trình sản xuất trồng trọt – lên men – sơ chế ca cao đạt chuẩn theo tiêu chí nông sản tốt và nhiều nông hộ đã thu được kết quả tốt về chất lượng, nhưng gần đây cũng có rất nhiều hộ do không hiểu rõ về quy trình canh tác nên không thu được hiệu quả đã tự động đốn bỏ Vẫn còn nhiều hộ sử dụng phân bón và hóa chất nông nghiệp chưa đúng cách, canh tác chưa đúng quy trình gây ảnh hưởng đến chất lượng ca cao và môi trường, đồng thời tâm lý xem ca cao
là cây phụ nên hay đốn bỏ và trồng lại nhiều lần gây lãng phí công sức, tiền của và ảnh hưởng đến chất lượng đất
Nhận thấy tiềm năng phát triển ca cao tại Việt Nam nói chung và tại Bến Tre nói riêng như một loại cây trồng thân thiện môi trường và có thể cải thiện sinh kế cho người dân, tác giả đã
chọn đề tài: “Đánh giá hiện trạng phát triển và đề xuất giải pháp phát triển ca cao bền vững
tại tỉnh Bến Tre” nhằm tìm hiểu rõ ràng hơn về những thuận lợi, khó khăn trong việc phát triển
ca cao theo hướng bền vững tại Bến Tre và qua đó có thể đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy sự phát triển ca cao theo hướng bền vững, đặc biệt là mô hình ca cao hữu cơ trồng xen
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu và đánh giá thực trạng phát triển ca cao hiện nay trên địa bàn tỉnh, qua đó đề xuất các giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển ca cao theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Trang 1910
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng phát triển sản xuất, tiêu thụ, tác động về mặt xã hội và môi trường của mô hình sản xuất ca cao hiện tại trên địa bàn tỉnh
- Tiềm năng phát triển ca cao bền vững trong tương lai tại tỉnh Bến Tre
- Đối tượng nghiên cứu cụ thể là các vùng, các hộ trồng ca cao, người thu mua sơ chế, doanh nghiệp thu mua xuất khẩu ca cao trên địa bàn tỉnh Bến Tre
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển ca cao theo hướng bền vững
- Hiện trạng phát triển ca cao tại tỉnh Bến Tre Hiện trạng phát triển ca cao về mặt kinh tế, xã hội, môi trường tại tỉnh Bến Tre Vai trò của các bên liên quan trong quá trình phát triển
- Thuận lợi, khó khăn đối với phát triển ca cao theo hướng bền vững tại tỉnh Bến Tre
- Các giải pháp có thể thúc đẩy phát triển ca cao theo hướng bền vững cho tỉnh Bến Tre
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển ca cao bền vững tại tỉnh Bến Tre, trước hết cần nghiên cứu về tình hình sản xuất và tiêu thụ ca cao trên thế giới và tại Việt Nam, các bài học kinh nghiệm từ các nước; kế đến tiến hành khảo sát thực tế để đánh giá hiện trạng và tiềm năng phát triển ca cao theo hướng bền vững tại tỉnh Bến Tre, từ đó đề xuất những giải pháp khả thi và phù hợp để thúc đẩy phát triển ca cao theo hướng bền vững dựa trên tình hình phát triển ca cao hiện tại của Bến Tre
Sau đây là khung định hướng nghiên cứu của luận văn:
Trang 2011
Hình 1 1 Khung định hướng nghiên cứu
Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong phát triển ca cao theo hướng bền vững tại tỉnh Bến Tre, tìm ra các chiến lược
Tổng quan khái niệm:
phát triển nông nghiệp bền vững, phát triển ca cao bền vững
Tình hình phát triển ca cao trên thế giới và Việt Nam
Tình hình phát triển ca cao hiện nay tại Bến Tre
Đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển ca cao bền vững tại Bến Tre
Khảo sát thực tế các đối tượng xã hội liên quan
Phân tích kết quả khảo sát và đánh giá tác động
từ việc sản xuất, tiêu thụ
ca cao đến KT,XH,MT
Cơ sở xây dựng điều tra khảo sát để đánh giá hiện trạng phát triển ca cao
Giải pháp kinh tế/ thị trường
Trang 2112
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
1.5.2.1 Phương pháp thu thập thông tin và số liệu
Thông tin và số liệu từ tài liệu sẵn có
Thu thập và tổng hợp thông tin và số liệu từ nhiều nguồn:
- Báo cáo thống kê của các cơ quan quản lý và các tổ chức thống kê;
- Văn bản pháp lý liên quan đến định hướng và quy hoạch phát triển của địa phương;
- Báo điện tử, công trình nghiên cứu khoa học về phát triển ca cao và phát triển ca cao bền vững của các nhà khoa học, sinh viên hay các tổ chức nghiên cứu khoa học;
- Báo cáo của các tổ chức thế giới liên quan đến tình hình phát triển ca cao trên thế giới
Các thông tin và số liệu thu thập này sẽ phục vụ cho việc xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về phát triển ca cao bền vững, qua đó có một cái nhìn khái quát về phát triển nông nghiệp bền vững và phát triển ca cao
Thông tin và số liệu từ điều tra, khảo sát, phỏng vấn thực tế
- Tiến hành xây dựng mẫu phiếu câu hỏi điều tra, phỏng vấn và khảo sát thực tế (xem chi tiết trong phần phụ lục) để thu thập thông tin và số liệu sơ cấp từ các mẫu đại diện của các hộ nông dân trồng ca cao, đơn vị thu mua sơ chế, doanh nghiệp thu mua ca cao
- Bến Tre bao gồm 8 huyện, 1 thành phố Tại Bến Tre hiện nay có 4 khu vực trồng ca cao lớn
là Giồng Trôm, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Châu Thành, các huyện thị còn lại có diện tích trồng rất nhỏ Việc chọn mẫu điều tra khảo sát chủ yếu sẽ diễn ra tại 4 huyện này và một số ít tại vùng trồng kém hiệu quả hơn
- Để đảm bảo thống kê, nhà nghiên cứu phải chọn mẫu sao cho kích thước tối thiểu của mẫu không được phép nhỏ hơn 30 đơn vị nghiên cứu Do đó phải chọn ra dung lượng mẫu đủ lớn
để đại điện cho tổng thể và phù hợp trong điều kiện hạn chế về thời gian, nhân lực cũng như tài chính Đề tài tính quy mô mẫu theo công thức của Linus Yamane như sau:
n = N/1+N*e2Với n: số lượng thành viên mẫu cần thiết
Như vậy, tác giả chọn thu thập số mẫu nông hộ: 100 mẫu
Ngoài ra, để phân tích tình hình sản xuất kinh doanh, tiêu thụ ca cao của đơn vị lên men
sơ chế và doanh nghiệp thu mua, nên tác giả cũng điều tra phỏng vấn một số đơn vị như sau:
o Đơn vị lên men sơ chế: 10 mẫu
o Doanh nghiệp thu mua lớn tại địa bàn: 3 mẫu
Trang 221.5.2.2 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Tác giả đã phỏng vấn trực tiếp hai chuyên gia trong lĩnh vực quản lý Nhà nước và khuyến nông về cây ca cao để tham khảo ý kiến và kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý nông nghiệp và phát triển ca cao bền vững (bảng hỏi được trình bày trong phần phụ lục)
1.5.2.3 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
Các số liệu khảo sát sẽ được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm xử lý số liệu Excel để đưa
ra kết quả tổng hợp dưới dạng bảng, biểu đồ, nhằm xem xét, phân tích hiệu quả thực tế về kinh tế,
xã hội, môi trường của mô hình trồng ca cao hiện tại
1.5.2.4 Phương pháp đánh giá
Phương pháp phân tích SA, SWOT:
Phương pháp phân tích SA (Stakeholders Analysis – Phân tích nhóm liên đới) và phân tích SWOT được dùng để đánh giá mối liên kết của các nhóm liên đới trong hiện trạng phát triển
ca cao trên địa bàn; đồng thời phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với phát triển ca cao bền vững tại tỉnh Bến Tre, để qua đó đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy phát triển ca cao bền vững trong tương lai
Phương pháp ma trận cho điểm:
Việc đánh giá nhanh bằng phương pháp ma trận cho điểm nhằm xem xét tác động của các hoạt động đến các yếu tố môi trường, kinh tế, xã hội nhằm xác định các vấn đề ưu tiên cần giải quyết Một số ưu điểm của phương pháp ma trận cho điểm:
Đánh giá tổng hợp được các tác động của bất kỳ hoạt động lên các yếu tố môi trường, kinh tế, xã hội (theo hàng)
Cho phép tổng hợp mức độ tác động của các hoạt động theo từng yếu tố môi trường, kinh tế, xã hội (theo cột)
Cho phép đánh giá tác động toàn bộ dự án
Cho phép lựa chọn các phương án
Xác định vấn đề ưu tiên/cấp bách
Để thực hiện đánh giá nhanh bằng phương pháp cho điểm, cần thực hiện các bước sau:
Bước 1: Xác định các tiêu chí đánh giá tác động
Bước 2: Điền các hoạt động đánh giá tương ứng với các tiêu chí đánh giá
Bước 3: Xác định một quy ước cho điểm cho các giải pháp ứng với mỗi tiêu chí
Bước 4: Tiến hành cho điểm theo thang điểm được lựa chọn ở bước 2 cho mỗi hoạt động tương ứng với mỗi tiêu chí
Trang 2314
Bước 5: Tính tổng điểm của mỗi tiêu chí ở hàng dưới cùng của ma trận phân tích
Bước 6: Nhận xét, đánh giá cho việc cho điểm các tiêu chí khác nhau có ảnh hưởng thế nào đến tổng điểm để xác định giải pháp và xếp hạng ưu tiên
Quy ước cho điểm trong ma trận:
Điểm +1, +2, +3: tác động có lợi theo hướng tăng dần (mức +3 là mức tác động có lợi nhất, hay hiện trạng hoạt động nào đó đạt được mức yêu cầu cao nhất của tiêu chí đó)
Điểm -3, -2, -1: tác động không có lợi theo hướng giảm dần (mức -3 là mức tác động
có hại nhất, hay hiện trạng hoạt động nào đó hoàn toàn không đạt được yêu cầu nào của tiêu chí đó)
1.6 Ý NGHĨA VÀ TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI
1.6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học cũng như các số liệu thống kê sẵn có từ các cơ quan, tổ chức đáng tin cậy kết hợp với phân tích thông tin từ bộ dữ liệu khảo sát thực tế sẽ tạo thành kết quả nghiên cứu tham khảo hữu ích cho các cơ quan hữu trách trong quá trình xây dựng những kế hoạch hành động phát triển ca cao bền vững và đồng thời là nền tảng cho các nghiên cứu khác có liên quan đến ca cao hay một số loại cây tương đồng
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Với kết quả nhận được từ sự phân tích thực trạng phát triển ca cao, thuận lợi, khó khăn và tiềm năng phát triển ca cao bền vững tại Bến Tre, luận văn sẽ đóng góp các giải pháp thiết thực trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng trọt và sinh kế cho người nông dân, đóng góp vào
sự phát triển kinh tế của tỉnh đồng thời góp phần cải thiện chất lượng hệ sinh thái nông nghiệp tại các vùng canh tác ca cao
1.6.3 Tính mới của đề tài
Các sản phẩm thực phẩm được chế biến từ ca cao ngày càng được ưa chuộng trên thế giới
và hứa hẹn một viễn cảnh phát triển sinh kế tốt cho người nông dân khi có thể kết hợp trồng ca cao xen với mô hình nông nghiệp hiện tại họ đang canh tác Ca cao sẽ có chất lượng tốt và được đánh giá cao hơn trên trường quốc tế cũng như mang về những phần tiền thưởng cộng thêm cho người nông dân khi được canh tác theo các quy trình thực hành nông nghiệp tốt và hướng đến ca cao hữu cơ Hiện tại đã có một số nghiên cứu và báo cáo về hiệu quả sản xuất của các mô hình ca cao tại Việt Nam, tuy nhiên các nghiên cứu về đánh giá tác động của mô hình phát triển ca cao đến các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và đề xuất giải pháp theo hướng phát triển bền vững còn hạn chế Vì vậy, việc đánh giá các tác động từ hoạt động phát triển hiện tại và tiềm năng phát triển ca cao bền vững, qua đó đề xuất các giải pháp phù hợp và khả thi trong bối cảnh nhu cầu ca cao đang tăng mạnh và ngành nông nghiệp hữu cơ đang được chú trọng hiện nay là tính mới của
đề tài
Trang 2415
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CA CAO TẠI VIỆT NAM
Ca cao đã loại cây trồng đã du nhập vào Việt Nam hơn nửa thế kỷ nay nhưng vẫn chiếm diện tích còn khiêm tốn trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, trước tình hình nhu cầu đang tăng mạnh, ca cao Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát triển và tham gia thị trường ca cao thế giới Với sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và PTNT, lãnh đạo các địa phương, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và sự tham gia của một số doanh nghiệp nước ngoài triển khai mạng lưới thu mua, tiêu thụ hạt ca cao nên từ những năm 2000 diện tích trồng ca cao ở Việt Nam bắt đầu phát triển trở lại và có sự gia tăng nhanh chóng
Tuy vậy, ngành hàng ca cao Việt Nam hiện nay cũng chỉ là bước đầu, tuy đã hình thành được hệ thống các cơ sở nhân giống, mạng lưới thu mua quả, sơ chế hạt ca cao thủ công rộng khắp ở một số địa phương, song diện tích trồng ca cao chưa nhiều, sản lượng hạt còn thấp, cung cấp nguyên liệu cho một số doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu hạt ca cao lên men với số lượng còn rất khiêm tốn
2.1.1 Chính sách và định hướng
Để thực hiện nhiệm vụ điều hành phát triển ca cao tại Việt Nam, Ban điều phối phát triển ca cao Việt Nam tên tiếng Anh là Vietnam Cocoa Committee (VCC), là tổ chức tư vấn liên
ngành do Bộ Nông nghiệp và PTNT quyết định thành lập theo quyết định số 803/QĐ - BNN -
NN ngày 11/4/2005 Ban điều phối chịu sự quản lý, chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nhiệm vụ của Ban là tư vấn cho Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
về định hướng, quy hoạch, kế hoạch phát triển, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, các giải pháp khoa học kỹ thuật, khuyến nông, cơ chế chính sách phát triển ca cao ở Việt Nam, đồng thời phối hợp hoạt động của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong các lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo, khuyến nông, tổ chức sản xuất, dịch vụ, thu mua, chế biến và tiêu thụ ca cao tại Việt Nam
Ngày 14/09/2007, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phê duyệt đề án Phát triển cây ca cao đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 theo Quyết định số 2678 /QĐ-BNN-KH với tổng
kinh phí khoảng 40 tỷ đồng Mục tiêu chung của đề án là phát triển bền vững cây ca cao ở Việt Nam, nhằm tăng khối lượng sản phẩm hàng hoá, tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích đất, nâng cao thu nhập cho người dân và bảo vệ môi trường Mục tiêu cụ thể là đến năm 2015, diện tích ca cao cả nước sẽ đạt 60.000 ha và nâng lên 80.000 ha vào năm 2020; trong đó có 60.000 ha kinh doanh, năng suất bình quân 18 tạ/ha, sản lượng hạt khô 108.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu
100 – 120 triệu USD
Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020, phê duyệt theo Quyết
định số 432/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, có nêu các định hướng ưu tiên, trong đó có nội
dung “Đảm bảo an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững” thông qua
“chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, phát huy thế mạnh của từng vùng; phát triển sản xuất nông sản hàng hóa có chất lượng và hiệu quả; gắn sản xuất với thị trường trong nước và thị trường quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên (đất đai, nước, rừng, lao động và nguồn vốn); nâng cao thu nhập trên một đơn vị hecta đất canh tác, trên một ngày công lao động; cải thiện đời sống của nông dân.”
Trang 25bằng sông Cửu Long Mục tiêu dự án nhằm đem lại lợi ích và tăng cường năng lực cho các nhà
nghiên cứu trong lĩnh vực ca cao, các nhà quản lý nhà nước và nông dân trồng ca cao với mục tiêu tối cao là mở rộng một cách bền vững ca cao chất lượng cao tại Việt Nam và tăng cường tiếp cận thị trường quốc tế Dự án đã đề ra các mục tiêu ngắn hạn: Tăng cường năng lực nghiên cứu
và chuyển giao các kết quả nghiên cứu ca cao vào sản xuất; cung cấp các dịch vụ hỗ trợ về mặt
kỹ thuật và thể chế để thành lập và quản lý các nhóm hộ nông dân; cải thiện môi trường kinh doanh và tiêu thụ ca cao thông qua việc tổ chức các nhóm hộ nông dân, chứng nhận chất lượng; tăng cường năng lực trong lập kế hoạch và triển khai thực hiện các hoạt động có liên quan đến ca cao; xây dựng và tăng cường quan hệ đối tác giữa nhà nước và tư nhân về phát triển ca cao bền vững ở Việt Nam
Theo dự án, phát triển ca cao phải gắn liền với 4 bền vững Trong đó, bền vững về tổ chức, xây dựng được đội ngũ cán bộ ngành nông nghiệp có chuyên môn về ca cao Bền vững xã hội, là xây dựng được mạng lưới nông dân, tăng cường khả năng tiếp cận vốn và kỹ thuật Đồng thời cải thiện sinh kế cho người dân tộc thiểu số, qua đó xóa đói giảm nghèo Bền vững môi trường, tức
là cải thiện phương pháp sản xuất ca cao theo hướng bền vững, có chứng nhận tại những địa điểm được chọn làm mô hình Cuối cùng là bền vững kinh tế, cải thiện chất lượng ca cao Tăng cường
sự tham gia của Bộ nông nghiệp và PTNT và các cơ quan chính phủ khác của Việt Nam để tiếp tục phát triển bền vững hơn nữa ngành cao cao bằng cách xây dựng năng lực quy hoạch và thực hiện là sự kỳ vọng lớn khi thực hiện dự án
Ngày 14/06/2012, tại tỉnh Bình Phước, Trung tâm khuyến nông quốc gia, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn đã tổ chức Diễn đàn khuyến nông lần thứ 3 năm 2012 với
chuyên đề “Phát triển sản xuất ca cao bền vững.” Tại đây, các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà
nông và doanh nghiệp đã nêu bật về những thuận lợi, khó khăn trong việc phát triển cây ca cao tại các tỉnh phía Nam Một trong những giải pháp quan trọng nhất được các đại biểu dự diễn đàn thống nhất cao là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần thành lập Trung tâm nghiên cứu phát triển ca cao làm đầu mối tập trung công tác nghiên cứu và phát triển ngành ca cao Việt Nam
Ngày 28/11/2013, Diễn đàn Phát triển ca cao bền vững tổ chức tại Thành phố Hồ Chí
Minh do Ban Điều phối ca cao, Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và PTNT và Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam tổ chức tổ chức Hội thảo đánh giá ca cao được xem là cây trồng có tiềm năng phát triển vì điều kiện tự nhiên Việt Nam khá phù hợp, nhất là ca cao trồng xen trong vườn dừa, vườn điều, hoặc trồng thuần ở các tỉnh phía Nam, vừa tăng thu nhập vừa góp
phần duy trì diện tích cây dừa, cây điều phát triển hiệu quả Hội thảo đề cao Dự án “Hợp tác công tư tăng cường phát triển ca cao bền vững tại Việt Nam” và cho đây sẽ là cú hích cho
ngành ca cao Việt Nam phát triển nhằm tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường cho người dân Việt Nam một cách bền vững Các giải pháp được nhấn mạnh là tăng cường năng lực cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý và nông dân thông qua chất lượng ca cao, cách tiếp cận thị trường quốc tế cũng như tiến hành thể chế hóa các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật nông nghiệp, tạo điều kiện cho nông dân tham gia dự án quản lý trang trại hiệu quả,
Trang 2617
từ đó gia tăng sản lượng ca cao, cải thiện khả năng tiếp thị, tiếp cận thị trường cho người trồng ca cao thông qua hỗ trợ chứng nhận
Tháng 7/2014, Ban Quản lý dự án “Hợp tác tăng cường phát triển ca cao bền vững” đã tổ
chức hội thảo “Bài học kinh nghiệm tại Đắk Lắk và các giải pháp phát triển ca cao bền vững cho khu vực Tây Nguyên Trong hội thảo, các đại biểu tham dự đã đóng góp nhiều ý kiến thiết
thực cho việc phát triển bền vững ca cao ở Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung Theo đó,
để phát triển ca cao bền vững, cần sự phối hợp chặt chẽ vai trò của 4 “nhà”: nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và các doanh nghiệp, tổ chức trong nước và quốc tế trong việc nghiên
cứu, đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật và việc ổn định giá Đặc biệt, cần tập trung ưu tiên lợi ích kinh
tế của người nông dân lên hàng đầu
Ngày 19/11/2014, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam phối hợp với Công ty Cổ phần Cao Nguyên Xanh tổ chức hội thảo
“Định hướng nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực ca cao của Việt Nam” Theo Cục trồng
trọt, qua quá trình quan sát sự phát triển ca cao những năm qua thấy được rằng để phát triển loại cây trồng này cần phải đẩy mạnh việc đào tạo nguồn nhân lực về ca cao có trình độ chuyên môn tốt để đẩy mạnh công tác nghiên cứu, chuyển giao các kết quả nghiên cứu vào sản xuất Đây là hoạt động trong khuôn khổ dự án “Hợp tác tăng cường phát triển ca cao bền vững ở Việt Nam”
Theo Cục Trồng trọt, cây ca cao đang được đề nghị đưa vào đối tượng cây trồng ưu tiên trong đề án tái cơ cấu ngành trồng trọt và sẽ được hưởng các chính sách như cà phê tái canh Cụ thể là hỗ trợ giống trồng mới, tái canh; hỗ trợ đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, xúc tiến thương mại; bảo quản và dự trữ; liên kết theo chuỗi giá trị; các chính sách về thuế…
2.1.2 Tình hình sản xuất
Theo số liệu tổng hợp từ ngành nông nghiệp các tỉnh, tổng diện tích ca cao cả nước đến cuối năm 2009 đạt 12.300 ha, cuối năm 2011 đạt 20.100 ha, trong đó có khoảng 2.300 ha ca cao trồng thuần, số còn lại là ca cao trồng xen với một số cây công nghiệp (dừa, điều, cà phê, tiêu) và cây ăn quả Đến tháng 11/2013, theo thống kê từ Bộ Nông nghiệp và PTNT, diện tích trồng ca cao cả nước là 22.110 ha Trong đó các tỉnh có diện tích trên 1.000 ha là: Bến Tre (7.342 ha); Bà Rịa - Vũng Tàu (2.787 ha); Tiền Giang (2.578 ha); Đắk Lắk (2.554 ha); Bình Phước (1.310 ha); Vĩnh Long (1.244 ha)… [27]
Hình 2 1 Tỷ lệ diện tích ca cao trồng chuyên canh và xen canh cả nước năm 2011
Nguồn: Niên giám thống kê, 2011
Trang 2718
Diện tích ca cao thu hoạch tính đến cuối năm 2011 chiếm khoảng 40,1% tổng diện tích trồng, đa số diện tích ca cao kinh doanh chỉ mới ở năm thứ 1 đến năm thứ 3 trong chu kỳ kinh doanh 20 năm, vì vậy năng suất bình quân còn rất hạn chế
Nhìn chung tốc độ phát triển diện tích trồng ca cao trên cả nước có tăng hàng năm nhưng còn chậm so với chỉ tiêu đề án phát triển ca cao của Bộ Nông nghiệp & PTNT đưa ra là 60.000
ha vào năm 2015 và 80.000 ha năm 2020 [15]
Năng suất ca cao bình quân cả nước còn thấp (khoảng 7,1 tạ/ha) và có sự chênh lệch rất lớn tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc Ngoài những diện tích mới trồng chưa cho thu hoạch, nhiều diện tích trồng ca cao đã lâu nhưng không chăm sóc đúng yêu cầu kỹ thuật nên năng suất rất thấp chỉ đạt khoảng 2-3 tạ/ha [15]
Về sản lượng thì từ năm 2005 một số doanh nghiệp đã thành lập các điểm thu mua trái và hạt trên địa bàn các tỉnh trồng ca cao, tuy nhiên sản lượng hạt ca cao tại Việt Nam trong thời gian này không đáng kể, đến cuối niên vụ 2005/2006 cả nước có khoảng 35 tấn hạt và đến niên vụ 2010/2011 sản lượng ca cao Việt Nam đạt 5.760 tấn hạt khô/năm (kể cả lượng hạt sử dụng làm cây giống) Như vậy mặc dù năng suất bình quân chưa cao và chưa ổn định nhưng sau 6 năm sản lượng ca cao đã tăng lên đáng kể [15]
Từ sau năm 2005, sau khi có sự tham gia chính thức của Bộ Nông nghiệp & PTNT, các nghiên cứu về giống, kỹ thuật canh tác, khuyến nông được đẩy mạnh Tuy nhiên kết quả không được như kỳ vọng, diện tích ca cao cực đại vào năm 2013 chỉ đạt gần 22.000 ha [15], và đang có chiều hướng giảm dần do biến động giá và một số hộ nông dân trồng không hiệu quả đã đốn bỏ
2.1.3 Tình hình canh tác và thu hoạch
Trồng và chăm sóc
Điều kiện tự nhiên của nhiều vùng ở miền Nam nước ta phù hợp cho sự phát triển của cây
ca cao Nếu được đầu tư, chăm sóc đầy đủ cây ca cao sinh trưởng rất tốt và cho năng suất cao, mang lại thu nhập khả quan cho người sản xuất Tuy nhiên, do một số điều kiện thời tiết bất thường đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng, phát triển của cây ca cao, ví dụ tình hình nắng nóng khô hạn kéo dài ở một số nơi thiếu nước tưới (các tỉnh Tây Nguyên, Bình Phước, Bình Thuận) hoặc nước mặn xâm nhập sâu (Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh); mưa nhiều, ẩm độ cao (Tây Nguyên, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long) làm cho bệnh Phytophthora (bệnh thối trái do nấm Phytophthora, thường gây hại vào mùa mưa) trên cây ca cao phát triển mạnh [15]
Đối với những vườn đã trồng, việc đầu tư chăm sóc cho cây ca cao theo đúng qui trình kỹ thuật còn rất hạn chế, số hộ có đầu tư thâm canh còn thấp, tỷ lệ vườn ít chăm sóc khá cao do nông dân thiếu vốn sản xuất, thiếu thông tin khoa học kỹ thuật và thị trường Sơ bộ đánh giá có khoảng 40% diện tích ca cao có đầu tư chăm sóc tốt, 40% diện tích chăm sóc ít và 20% diện tích không chăm sóc dẫn đến tình trạng các vườn cây phát triển không đồng đều, cây cho trái chậm, năng suất thấp và tỉ lệ hạt lép cao. [15]
Sâu bệnh
Một số loại côn trùng gây hại chủ yếu trên ca cao như: mối (đặc biệt quan trọng ở miền Đông Nam bộ và Tây nguyên), bọ cánh cứng, sâu ăn lá, bọ xít muỗi ; đối với bệnh, phổ biến nhất là bệnh Phytophthora, bệnh khô cành, nấm hồng đây là những đối tượng có thể phòng trừ nhưng phải hết sức chú ý áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp, thăm vườn thường xuyên phát hiện sớm, không để sâu bệnh lây lan rộng [15]
Trang 2819
Thu hoạch và chất lượng
Thực tế cho thấy các vườn ca cao nếu được đầu tư, chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật cây
ca cao bắt đầu cho thu hoạch quả sau 2 năm trồng, tỉ lệ đậu quả cao, đa số giống cho quả to, hạt lớn, trung bình ≤100 hạt khô/100gr, hàm lượng bơ trong hạt cao, năng suất hạt bình quân đạt >2 kg/cây [15]
Tuy nhiên, do tâm lý sợ mất trộm nên người dân bắt đầu có hiện tượng thu hái quả ca cao khi còn xanh, chưa đủ độ chín hoặc thiếu đầu tư, chăm sóc cho cây đã làm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng hạt và thu nhập của người sản xuất
Để nâng cao giá trị hạt ca cao và đảm bảo chất lượng cho sản phẩm, các địa phương đang phối hợp với các đơn vị tổ chức thực hiện các mô hình sản xuất ca cao có chứng nhận:
+ Mô hình sản xuất ca cao đạt chứng nhận UTZ:
Kết quả thực hiện đến cuối 2011 đã có 4 đơn vị được chứng nhận UTZ với 606 nông dân tham gia, qui mô diện tích là 541,2 ha và sản phẩm đạt 532,7 tấn hạt ca cao Sản lượng sản phẩm chứng nhận được Công ty Cargill bao tiêu toàn bộ với giá thưởng 2011 là 100 USD/tấn [15]
Từ năm 2011, tổ chức UTZ/Solidaridad tiếp tục hỗ trợ chứng nhận cho 12 đơn vị tại các tỉnh Đăk Nông (Công ty Đức Lập), Đăk Lăk (Công ty Krông Ana, Tháng Mười, Buôn Hồ, Cao Nguyên Xanh), Bình Phước (Ca cao A1), Đồng Nai (Công ty Trọng Đức), Bà Rịa - Vũng Tàu (Công ty Thành Đạt), Tiền Giang (HTX Chợ Gạo) và Bến Tre (Công ty Phú Bình, Thành Hưng Thịnh, Phạm Minh) [15]
Cùng với việc tăng diện tích, sản lượng, những năm qua hoạt động quản lý ca cao chất lượng đã được nhiều địa phương đẩy mạnh (ca cao tập trung chủ yếu ở ĐBSCL, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên)
Theo đó, đã có nhiều hoạt động hướng dẫn nông dân thực hành sản xuất theo tiêu chuẩn UTZ (sạch, bền vững, thân thiện với môi trường) Đến nay, đã có 16 đơn vị được cấp chứng nhận UTZ với 3.721 hộ, diện tích 2.839 ha, sản lượng niên vụ 2013–2014 ước đạt 3.183 tấn, chiếm hơn 50% tổng sản lượng ca cao Việt Nam Theo Cục trồng trọt, toàn bộ hạt ca cao của Việt Nam đều được lên men, thích hợp chế biến sôcôla nguyên chất nên thị trường thế giới đặc biệt ưa chuộng Hiện nay, cả nước đã có 232 cơ sở lên men, riêng năm 2013 đã xây dựng được 2 trung tâm lên men và 2 hệ thống sấy khô lớn [39]
+ Mô hình sản xuất ca cao hữu cơ:
Hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre đã phối hợp cùng tổ chức Helvetas triển khai xây dựng một số mô hình sản xuất ca cao hữu cơ thí điểm trên địa bàn tỉnh sau khi đã triển khai mô hình ca cao chứng nhận UTZ để thử nghiệm tiềm năng đối với sản phẩm ca cao đạt tiêu chuẩn hữu cơ Đến năm 2014, dự án thử nghiệm này đã dừng lại do số hộ tham gia quá ít
2.1.4 Tình hình kinh doanh
Sản phẩm ca cao được thu mua, tiêu thụ hết dưới dạng trái tươi và hạt khô Hệ thống thu mua sản phẩm và sơ chế hạt ca cao đã hình thành và phát triển khá tốt ở hầu hết các vùng có diện tích trồng ca cao tập trung (từ 2 doanh nghiệp thu mua ban đầu đến nay đã có hàng chục doanh nghiệp và hàng trăm điểm thu mua cơ sở) Toàn bộ hạt ca cao sản xuất ra đều được ủ lên men, khách hàng trong và ngoài nước đánh giá tốt chất lượng hạt ca cao Việt Nam
Trang 2920
Phần lớn hạt ca cao được thu mua để xuất khẩu (Công ty Cargill, Công ty Armajaro, ) Hiện nay Công ty Cargill vẫn là đơn vị chủ lực mua hạt cacao, tổ chức thu mua trực tiếp hoặc thông qua các công ty xuất khẩu trung gian, mạng lưới cộng tác viên nông dân Một số Công ty chế biến thành sản phẩm bán thành phẩm như bột nhão, bột, bơ ca cao (Công ty Phạm Minh) hoặc chế biến ra sản phẩm thực phẩm tiêu dùng nội địa như rượu, sôcôla, bột ca cao, bánh kẹo, sữa (Công ty Trọng Đức, Vinacacao, Công ty Thành Đạt, ); riêng chỉ có Công ty Grand Place
có nhà máy công nghiệp chế biến sô cô la tại Việt Nam
Giá thu mua hạt ca cao trong các năm qua tăng đều và khá ổn định, năm 2005 giá 1 kg hạt
ca cao là khoảng 15.000 đồng, đến thời điểm hiện nay giá thu mua ca cao đã tăng hơn 50.000 đ/kg hạt Năm 2009, giá thu mua hạt ca cao luôn ổn định và ở mức cao khoảng 40.000 – 60.000đ/kg hạt khô Nhiều điểm sơ chế và thu mua hạt ca cao (trái tươi và hạt khô) phát triển nhanh chóng tại các vùng trồng ca cao Một số ít doanh nghiệp và hộ trồng ca cao đang bắt đầu sản xuất một số sản phẩm từ hạt ca cao như bột ca cao, rượu, kẹo sô cô la, bánh… Một số công ty thu mua, rang xay, chế biến ca cao lớn trên thế giới đang rất quan tâm tới cacao Việt Nam như
Hà Lan, Nhật, Mỹ, Malaysia…
Mới đây, trong tháng 10/2014, Công ty Puratos Grand-Place Vietnam (PGPV) vừa khánh thành Trung tâm Phân phối và nghiên cứu phát triển cacao (IDC) tại KCN Việt Nam – Singapore, Bình Dương Trung tâm IDC sẽ tập trung nghiên cứu, phát triển, sáng tạo những sản phẩm chất lượng trong ngành sô cô la, bánh mì, bánh ngọt cung cấp cho khu vực Đông Nam Á và thế giới IDC ra đời với mục tiêu đem lại lợi ích đảm bảo nguồn thu nhập tốt cho nông dân trồng ca cao Hiện PGPV đang hướng đến mục tiêu là tiên phong quảng bá và đưa hạt ca cao của Việt Nam vào quy trình sản xuất sô cô la bằng mô hình độc đáo “từ hạt ca cao đến sô cô la”, một mô hình kinh doanh theo chiều dọc liên kết trực tiếp người nông dân và hạt ca cao với ngành bánh kẹo Việt Nam
2.1.5 Tình hình nghiên cứu
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên là đơn vị được Bộ NN&PTNT giao nhiệm vụ nghiên cứu cây ca cao về các lĩnh vực chọn tạo, nhân giống, kỹ thuật canh tác và lên men hạt Một số kết quả chính đó là về thu thập, nhập nội giống giai đoạn 1978-1980 chủ yếu
là các nguồn gen sót lại trong nước thuộc tỉnh Cần Thơ, Đắk Lắk và một số giống nhập từ Cuba, Malaysia. [15]
Giai đoạn 1997-2010, Viện đã phối hợp với nhiều chương trình, dự án để tạo nguồn di truyền ca cao, đồng thời cũng đã xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp ghép
và quy trình kỹ thuật canh tác và quản lý sâu bệnh hại cho cây cacao. [15]
2004 [15]
Trang 3021
- Dự án Phát triển ca cao chứng nhận của tổ chức phát triển phi chính phủ Helvetas – Thụy
Sỹ (kết hợp với Đại học Nông Lâm), nhằm phát triển chuỗi ca cao chứng nhận, thực hiện chương trình hỗ trợ và giám sát 21 điểm trình diễn: 11 tại Tiền Giang và 10 tại Bến Tre
- Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) tài trợ chuyến tham quan Ghana cho 02 thành viên của
Bộ NN&PTNT, tổ chức hội thảo về lộ trình phát triển ca cao Việt Nam được đề xuất trong quý IV năm 2010 [15]
- Tổ chức nhân đạo quốc tế Roots of Peace đã chính thức nhận được giấy đăng ký hoạt động và sẽ bắt đầu các hoạt động của dự án tại Bình Phước [15]
- WCF và WWF vẫn tiếp tục thực hiện các hoạt động theo kế hoạch đề ra tập trung vào các hoạt động thúc đẩy sản xuất ca cao bền vững, tập huấn, và hoàn thiện các quy trình: nhân giống, canh tác, lên men…
2.1.7 Công tác khuyến nông
Từ năm 2006-2010: Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư đã phối hợp với các địa phương triển khai được gần 1.000 ha, với tổng kinh phí là: 4.466 triệu đồng xây dựng mô hình trồng thâm canh ca cao (kinh phí khuyến nông dành cho mô hình thâm canh ca cao ngày càng tăng (cụ thể năm 2009: 1,2 tỷ đồng; năm 2010 là 2,170 tỷ đồng) Mô hình trồng thâm canh Ca cao đã giúp cho người nông dân thay đổi tập quán canh tác lạc hậu bằng những kỹ thuật sản xuất
ca cao tiên tiến (giống, thâm canh tổng hợp, tưới nước tiết kiệm, sử dụng phân bón sinh học ) đang được áp dụng rộng rãi trong nước và thế giới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng Năng suất bình quân của mô hình trình diễn đạt 2 tấn hạt/ha có nơi đạt 2,5 tấn hạt/ha (trồng năm 2000 tại Bù Đăng Bình Phước), năng suất của mô hình hết thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB) đạt 500 đến 1.000 kg hạt khô/ha (trồng năm 2005) [15]
Đã có nhiều điển hình thâm canh ca cao tốt ở các tỉnh, mô hình ca cao hữu cơ ở Bà Rịa Vũng Tàu Chương trình đã tập huấn cho khoảng 7.500 lượt người về kỹ thuật trồng thâm canh cây ca cao, tổ chức diễn đàn công nghệ về ca cao tại Bến Tre, ca cao xen trong vườn điều tại Bình Phước Chương trình đã hoàn thiện nội dung cuốn sách Kỹ thuật trồng cây ca cao và phát hành đến các tỉnh có trồng ca cao Thiết lập trên trang web Khuyến nông chuyên mục ca cao Việt nam nhằm cập nhật thông về kỹ thuật, kinh tế, giá cả ca cao trên thế giới cũng như trong nước (WCF) [15]
Trường Đại học Nông lâm TP.HCM đã tiến hành nhiều hoạt động nghiên cứu, nhập nội, tuyển chọn, khảo sát các giống mới Tiến hành điều tra chất lượng biến động theo mùa và theo vùng (xây dựng bản đồ chất lượng) Nghiên cứu các vấn đề phòng trừ sâu bệnh, dinh dưỡng, công thức bón phân, phối hợp với các đơn vị để tiến hành nghiên cứu như: Viện Khoa học Nông lâm Tây Nguyên, Trường Đại học Cần Thơ, Đại học Bách Khoa, Viện Di truyền (đề tài chuyển gen ), Viện Bảo vệ thực vật Với những thực trạng trên, Ban Điều phối Phát triển ca cao Việt Nam (VCC) đã đề nghị Bộ sớm thành lập Hiệp hội Ca cao Việt Nam để điều phối hiệu quả hơn nữa các hoạt động về phát triển ca cao trong cả nước Mặt khác cũng đề nghị Bộ tăng cường kinh phí cho các hoạt động nghiên cứu giống ca cao để cung cấp cho người nông dân Trong thời gian tới VCC sẽ liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp nhằm bảo đảm thu mua hạt ca cao đúng chất lượng, góp phần nâng cao uy tín của chất lượng hạt ca cao Việt Nam trên thị trường thế giới [15]
Trang 31 Khó khăn:
Cơ hội để phát triển ngành ca cao đã có, chất lượng đã được khẳng định nhưng con đường
để tạo dựng thương hiệu ca cao nổi tiếng thế giới và phát triển ngành này bền vững vẫn còn nhiều khó khăn mà nguyên nhân chủ yếu là do sự phát triển thiếu quy hoạch, trình độ canh tác của một
số nông dân còn hạn chế, và rủi ro biến động giá cả Theo thống kê của Cục Trồng trọt, có tới 92% số hạt ca cao sản xuất tại Việt Nam hiện nay được thu mua dưới dạng hạt khô lên men
Đặc biệt, thời gian qua, cây ca cao còn phải đối mặt với các cây trồng cạnh tranh khác đã được canh tác lâu năm tại địa phương cũng như tâm lý hoài nghi của người trồng trong những thời điểm giá cả biến động, dẫn đến sự chặt bỏ hàng loạt cây ca cao cuối năm 2012 và trong năm
2013
Giải quyết được vấn đề về quy hoạch vùng trồng và các mô hình trồng hợp lý, hỗ trợ vốn,
kỹ thuật và thông tin đầy đủ và kịp thời trong quá trình trồng và sơ chế theo hướng sinh thái bền vững, sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia, cải thiện sinh kế người nông dân và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
2.2 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA TỈNH BẾN TRE
2.2.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Bến Tre là một trong 13 tỉnh thành của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, có hình dạng rẻ quạt, đầu nhọn nằm ở thượng nguồn, với các hệ thống kênh rạch chằng chịt Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền, phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, có ranh giới chung là sông Cổ Chiên, phía Đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 65 km [40]
Bến Tre có bốn con sông lớn là Tiền Giang, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên bao bọc, đồng thời chia Bến Tre thành ba phần là cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh. [40]
Điểm cực Nam nằm trên vĩ độ 9o48’ Bắc, cực Bắc nằm trên vĩ độ 10o20’ Bắc, cực Đông nằm trên kinh độ 106o48’ Đông và cực Tây nằm trên kinh độ 105o57’ Đông. [40]
Trang 3223
Về hành chính, tỉnh Bến Tre hiện có 9 đơn vị cấp huyện, bao gồm 1 thành phố và 8 huyện: Thành phố Bến Tre; huyện Ba Tri, huyện Bình Đại, huyện Châu Thành, huyện Chợ Lách, huyện Giồng Trôm, huyện Mỏ Cày Bắc, huyện Mỏ Cày Nam, huyện Thạnh Phú. [40]
là các bãi bồi rộng với thành phần chủ yếu là bùn hoặc cát Khi triều rút, các bãi bồi nổi lên và trải rộng ra biển hàng nghìn mét, tạo thuận lợi cho nuôi trồng hải sản. [40]
Bến tre có 4 nhóm đất chính là nhóm đất cát, nhóm đất phù sa, nhóm đất phèn và nhóm đất mặn Trong đó, nhóm đất mặn chiếm diện tích lớn nhất trong các loại đất của tỉnh 43,11%, nhóm đất phù sa chiếm 26,9% diện tích toàn tỉnh, nhóm đất phèn, chiếm khoảng 6,74% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, nhóm đất cát chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích thấp nhất 6,4% diện tích toàn tỉnh. [40]
Trang 3324
2.2.3 Khí hậu
Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng lại nằm ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nên nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 26°C – 27°C Tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc từ tháng 12 đến tháng
4 năm sau và gió mùa tây nam từ tháng 5 đến tháng 11, giữa 2 mùa này thời kỳ chuyển tiếp có hướng gió thay đổi vào các tháng 11 và tháng 4 tạo nên 2 mùa rõ rệt. [40]
Mùa gió đông bắc là thời kỳ khô hạn, mùa gió tây nam là thời kỳ mưa ẩm Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.250 mm – 1.500 mm Trong mùa khô, lượng mưa vào khoảng 2% đến 6% tổng lượng mưa cả năm Khí hậu Bến Tre cũng cho thấy nơi đây thích hợp với nhiều loại cây trồng Tuy nhiên, ngoài thuận lợi trên, Bến Tre cũng gặp những khó khăn do thời tiết nóng ẩm nên thường có nạn sâu bệnh, dịch bệnh, và nấm mốc phát sinh, phát triển quanh năm Trở ngại đáng kể trong nông nghiệp là vào mùa khô, lượng nước từ thượng nguồn đổ về giảm nhiều và gió chướng mạnh đưa nước biển lấn sâu vào nội địa, làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng đối với các huyện gần phía biển và ven biển. [40]
2.2.4 Thủy văn
Bến Tre nằm ở hạ lưu sông Mekong, giáp với biển Đông, với mạng lưới sông ngòi chằng chịt có tổng chiều dài xấp xỉ 6.000 km, trong đó có sông Cổ Chiên dài 82 km, sông Hàm Luông dài 71 km, sông Ba Lai dài 59 km, sông Mỹ Tho dài 83 km Hệ thống sông ngòi ở Bến Tre rất thuận lợi về giao thông đường thủy, nguồn thủy sản phong phú, nước tưới cho cây trồng ít gặp khó khăn, tuy nhiên cũng gây trở ngại đáng kể cho giao thông đường bộ, cũng như việc cấp nước vào mùa khô, khi thủy triều biển Đông đưa mặn vào sâu trong kênh rạch vào mùa gió chướng. [40]
2.3 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH BẾN TRE
Diện tích của tỉnh Bến Tre hiện tại là 2359,8 km2, dân số đạt khoảng 1.262.205 người (Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre 2014)
Hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Bến Tre tính đến năm 2014 như sau:
Bảng 2 1.Hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Bến Tre tính đến năm 2014
ĐVT: ha
Tên huyện thị Tổng diện
tích
Trong đó Đất sản xuất
nông nghiệp Đất lâm nghiệp Đất chuyên dùng Đất ở
Trang 3425
Nguồn: Niên giám thống kê, 2014
Theo báo cáo số 360/BC-UBND ngày 06/11/2014 về tình hình thực hiện Nghị quyết hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre về phát triển kinh tế - xã hội năm 2014, kết quả thực hiện các chỉ tiêu
và hiện trạng kinh tế - xã hội tại tỉnh như sau: [14]
2.3.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu
Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt được trong năm 2014 của Tỉnh Bến Tre cụ thể như sau: [14]
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) ước tăng 7,7%; trong đó:
Giá trị tăng thêm khu vực nông lâm thủy sản ước đạt 3,8%; trong đó nông nghiệp tăng 5,39%, thuỷ sản tăng 2,24% Nguyên nhân tăng là do giá cả và tiêu thụ hàng nông sản biến động theo hướng có lợi cho người dân
Giá trị tăng thêm khu vực công nghiệp - xây dựng ước đạt 14,49%, trong đó ngành công nghiệp tăng 15,91%, ngành xây dựng tăng 9,15% Hoạt động của một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng chậm lại, sản xuất thuốc lá, đường, may mặc, túi xách giảm so năm trước
Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ ước đạt 7,74% Nguyên nhân đạt thấp là do các hoạt động tài chính ngân hàng, vận tải, giáo dục, quản lý nhà nước, vui chơi, giải trí… tăng trưởng chậm so với cùng kỳ
GDP bình quân đầu người: 31,15 triệu đồng;
Cơ cấu kinh tế: khu vực I chiếm 43,5%; khu vực II chiếm 21,3%, khu vực III chiếm 35,2%;
Tổng kim ngạch xuất khẩu ước 624,3 triệu USD;
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước 12.603 tỷ đồng;
Tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 48,7%; tạo việc làm cho 23.713 lao động, , trong
đó xuất khẩu lao động 516 người;
Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 7% ;
Tỷ suất sinh giảm 0,05%;
Đạt 24,57 giường bệnh/vạn dân; 6,3 bác sĩ/vạn dân;
Vận động nhân dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 65%; trong đó bảo hiểm y tế tự nguyện đạt 13,5%;
Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn 12,3%;
Công nhận 8 xã, phường, thị trấn văn hóa;
Tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 99,65%;
Tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 84%; trong đó hộ được sử dụng nước sạch 39%;
Trang 3526
2.3.2 Kết quả thực hiện các ngành, lĩnh vực chủ yếu
Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp
Đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp của tỉnh bước đầu được các ngành, các cấp quan
tâm triển khai thực hiện, đặc biệt là ngành nông nghiệp đã tổ chức, hướng dẫn người dân lai tạo và lựa chọn giống mới, chất lượng tốt để nuôi, trồng như nuôi bò Zébu, bò lai Sind, trồng dưa hấu không hạt, bưởi da xanh, ổi không hạt, lúa thơm, Đồng thời, đang tiến hành rà soát các quy hoạch để phân vùng sản xuất và định hướng cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm hướng dẫn người dân bố trí mùa vụ sản xuất, chủ động rải vụ để tránh được những tác động xấu của thị trường và giảm thiểu rủi ro; lựa chọn đối tượng nuôi, trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và nhu cầu của thị trường; qua đó đã khắc phục tình trạng sản xuất mang tính tự cung tự cấp, cụ thể là phần lớn diện tích vườn tạp trong tỉnh đã được cải tạo, từng bước hình thành khá rõ nét các vùng sản xuất như vùng chuyên canh cây ăn trái, cây giống và hoa kiểng tại Chợ Lách; vùng nuôi thủy sản tập trung ở các huyện biển Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú; vùng canh tác dừa, cây màu ở Mỏ Cày, Giồng Trôm Mô hình làng nghề cây giống, hoa kiểng tại Chợ Lách; mô hình nuôi bò ở Ba Tri được nhiều tổ chức, cá nhân trong ngoài tỉnh đánh giá cao và
tổ chức các đoàn đến tham quan, học tập kinh nghiệm; [14]
- Diện tích lúa tiếp tục giảm do người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng Tuy diện tích
giảm nhưng năng suất tăng 4,6% so cùng kỳ nhờ thời tiết khá thuận lợi, tình hình sâu, bệnh được kiểm soát Trong năm 2014, tỉnh đã giải ngân chính sách hỗ trợ bảo vệ đất trồng lúa theo Nghị định 42/2012/NĐ-CP của Chính phủ, với số tiền 29,1 tỷ đồng cho 25.840 ha, góp phần giảm bớt khó khăn của người trồng lúa Mô hình “cánh đồng mẫu” tiếp tục được thực hiện và mang lại hiệu quả, với tổng diện tích đạt 1.712 ha (3 vụ). [14]
- Diện tích rau, đậu các loại được mở rộng do người dân thực hiện chủ trương đưa
cây màu xuống đồng ruộng luân canh cây màu theo cơ cấu hai vụ lúa-một vụ màu, bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cao, diện tích gieo trồng đạt 6.647ha, tăng 100 ha, sản lượng 125.082 tấn, tăng 3,65% so năm 2013 [14]
- Diện tích mía toàn tỉnh hiện còn 3.463 ha, giảm 1.005 ha so cùng kỳ Nguyên nhân
giảm là do dừa trồng xen với mía đã lớn, một số diện tích bị thiệt hại vì nước mặn xâm nhập, Bên cạnh đó, lực lượng lao động ở nông thôn thiếu và giá mía thấp nên người dân chuyển qua các loại cây trồng khác hiệu quả hơn. [14]
- Diện tích và sản lượng dừa đều tăng qua từng năm, chiếm gần 70% tổng diện tích
cây lâu năm toàn tỉnh, với khoảng 65.365 ha, sản lượng ước 510,6 triệu trái Trong năm, giá dừa khô trái tuy có biến động nhưng vẫn ở mức cao nên đời sống người trồng dừa ổn định, nông dân quan tâm đầu tư thâm canh, mở rộng diện tích [14]
- Diện tích ca cao trồng xen trong vườn dừa giảm, hiện còn khoảng 4.852 ha, trong đó
có khoảng 4.000 ha cho trái; mặc dù có biến động về diện tích và giá cả nhưng đây vẫn là mô hình có hiệu quả, góp phần gia tăng thu nhập cho người trồng dừa [14]
- Cây ăn trái phát triển khá thuận lợi, một số diện tích cây đặc sản có giá trị cao như:
bưởi da xanh, chôm chôm, sầu riêng được mở rộng, giá bán tương đối cao nên người làm vườn có thu nhập khá Trong năm, có 04 mô hình được chứng nhận VietGap, lũy kế đến nay toàn tỉnh 15 mô hình sản xuất cây ăn trái theo tiêu chuẩn GAP, với diện tích trên 230 ha, đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng nông sản. [14]
- Chăn nuôi thuận lợi so với năm 2013, giá bán gia súc, gia cầm duy trì ở mức khá cao
nên người chăn nuôi có lãi Mô hình nuôi heo trên đệm lót sinh học được người dân áp dụng
Trang 3627
và duy trì tại 50 hộ nuôi tại huyện Mỏ Cày Nam, bước đầu đem lại hiệu quả khá tốt, khắc phục được tình trạng ô nhiễm môi trường, mở ra hướng phát triển chăn nuôi bền vững Chăn nuôi gia cầm tương đối ổn định, nhất là nuôi gà thả vườn được các hộ đầu tư phát triển [14]
- Công tác chăm sóc, bảo vệ rừng được duy trì thường xuyên; đã trồng mới 100 ha
rừng phòng hộ, đạt 100% kế hoạch [14]
- Diện tích sản xuất muối niên vụ 2013-2014 tăng 10,7% so kế hoạch và bằng so cùng
kỳ; mặc dù giá bán muối bình quân khá cao nhưng do ảnh hưởng của mưa trái mùa gây thiệt hại 843 ha với 3.891 tấn muối, làm ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. [14]
- Nuôi thủy sản tiếp tục phát triển, diện tích và sản lượng đều tăng so kế hoạch và cùng
kỳ; các địa phương tập trung triển khai các giải pháp quản lý quy hoạch đối với việc nuôi tôm biển trong vùng ngọt hóa Tổng diện tích nuôi thuỷ sản ước 47.202 ha, tăng 5,4% so cùng kỳ, trong đó nuôi tôm biển thâm canh, bán thâm canh 6.340 ha, tăng 15,7% Nuôi cá tra thâm canh tiếp tục duy trì, giá bán thấp nên thu nhập của người nuôi không ổn định Phong trào nuôi cá lồng bè ở các xã ven sông Tiền phát triển khá, chủ yếu nuôi cá điêu hồng Tổng sản lượng thủy sản nuôi các loại ước 245.300 tấn, đạt kế hoạch và tăng 2,8% so cùng kỳ [14]
- Hoạt động khai thác thủy sản ổn định, ngư dân bám biển được dài ngày, cùng với việc
phát triển mô hình tổ, đội đánh bắt trên biển đã giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả khai thác Trong năm đã xây dựng được 19 tổ đội hợp tác khai thác trên biển, nâng tổng số đến nay có 124 tổ đội hợp tác, với 996 tàu Sản lượng khai thác ước đạt 160.006 tấn, tăng 1,3% so cùng kỳ [14]
* Chương trình xây dựng nông thôn mới: Trong năm 2014, tỉnh đã tăng cường chỉ đạo
và tập trung nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới, ưu tiên phân bổ vốn đầu tư cho các xã điểm năm 2014 và 2015 Tập trung thực hiện các tiêu chí quan trọng như: giao thông nông thôn, phát triển sản xuất, môi trường, nhà ở dân cư để làm tiền đề cho việc thực hiện các tiêu chí còn lại Đã huy động các nguồn vốn để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu với số tiền 12.778,7 tỷ đồng, trong đó vốn Trung ương 969,3 tỷ đồng, vốn ngân sách tỉnh, huyện, xã 134,9 tỷ đồng, vốn tín dụng 11.300 tỷ đồng, vốn huy động từ DN và các tổ chức kinh tế khác 104,4 tỷ đồng, vốn huy động từ dân 210,89 tỷ đồng, vốn huy động từ nguồn khác 59,165 tỷ đồng [14]
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
- Giá trị SXCN - TTCN ước đạt 7.590 tỷ đồng (theo giá CĐ 94) tăng 19,5% so với năm
2013 Phần lớn sản phẩm chủ yếu đều giữ được tốc độ tăng trưởng khá cao so với cùng kỳ như: thủy sản đông lạnh tăng 38,4%, sữa dừa tăng 16,3%, chỉ xơ dừa tăng 42%, cơm dừa nạo sấy tăng 24,2%, thức ăn thủy sản tăng 89,4%, thức ăn gia súc tăng 50,1%, giá trị cơ khí tăng 42,2% Các làng nghề tiếp tục duy trì hoạt động, góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động ở nông thôn; toàn tỉnh hiện có 18 làng nghề tiểu thủ công nghiệp, nhưng quy mô sản xuất còn nhỏ, chất lượng sản phẩm chưa được cải thiện rõ nét, thị trường tiêu thụ không ổn định, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp nông thôn. [14]
- Hoạt động sản xuất trong các KCN, CCN ổn định và tăng trưởng khá; giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu đều tăng so với cùng kỳ; qua đó góp phần tạo việc làm ổn định cho khoảng 23.000 lao động tại địa phương. [14]
- Hạ tầng trong các khu, cụm công nghiệp tiếp tục được đầu tư; đến nay cơ sở hạ tầng KCN Giao Long giai đoạn 1 thực hiện được khoảng 88,63%, KCN Giao Long giai đoạn 2 đạt
Trang 3728
55,07%, và KCN An Hiệp đạt 80,12% tổng mức đầu tư CCN Phong Nẫm đã lấp đầy giai đoạn
I, đang triển khai mở rộng giai đoạn 2 (40,3 ha); CCN Thị trấn Ba Tri - An Đức (20,568 ha) đã cho thuê 3,8 ha để đầu tư bãi vật liệu và đang làm thủ tục cho thuê 4,7 ha; CCN Phú Hưng (30 ha) đang triển khai lập quy hoạch tiết 1/500 Ngoài ra, đang tiến hành làm thủ tục để thành lập CCN Bình Thới (Bình Đại), CCN An Hòa Tây (Ba Tri), CCN An Nhơn (Thạnh Phú) làm cơ sở kêu gọi đầu tư. [14]
Thương mại – dịch vụ
- Hoạt động thương mại nội địa tương đối ổn định, hàng hóa đa dạng, dồi dào, lưu thông thông suốt; các chương trình khuyến mãi, giảm giá, đưa hàng Việt về nông thôn được đẩy mạnh, đảm bảo phục vụ tốt cho nhu cầu mua sắm của người dân Trong năm đã tổ chức 8 phiên chợ đưa hàng Việt về nông thôn thu hút sự tham gia của nhiều doanh nghiệp và người tiêu dùng Bên cạnh đó, tỉnh đã tổ chức hội chợ Công nghiệp-Thương mại-Làng nghề năm 2014, với hơn
349 gian hàng, với doanh thu đạt trên 10 tỷ đồng Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ước đạt 26.732 tỷ đồng, tăng 13,6% so cùng kỳ. [14]
- Xuất, nhập khẩu tăng trưởng khá; thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng từ 66 nước tăng lên 77 nước, qua đó kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 624,3 triệu USD, tăng 19,7%
so cùng kỳ; nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh duy trì tốc độ tăng cao như: than hoạt tính tăng 12,8%, thủy hải sản tăng 11,6%, cơm dừa nạo sấy 74,1%, bộ dây điện ô tô tăng 16,58%; bên cạnh đó, một số mặt hàng xuất khẩu bị suy giảm như than thiêu kết giảm 25%, sữa dừa giảm 2,7%, hàng may mặc giảm 20,2% Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 258 triệu USD, tăng 5,5% so với năm 2013, chủ yếu là nhập khẩu nguyên phụ liệu may, lưới bảo hộ lao động, nguyên phụ liệu sản xuất dây điện, nguyên liệu dược, dược phẩm [14]
2.4 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CA CAO TẠI BẾN TRE
Quá trình phát triển ca cao tại Bến Tre diễn tiến qua các mốc thời gian như sau:
Bắt đầu từ năm 2004, chương trình Giải pháp kinh doanh ca cao bền vững cho các nông
hộ nhỏ (Success Alliance) được Chính phủ phê duyệt thực hiện tại 5 tỉnh: Bình Phước, Bến Tre,
Bà Rịa- Vũng Tàu, Đăk Lăk, Tiền Giang với sự hợp tác của tổ chức ACDI/VOCA và Tổ chức ca cao thế giới (WCF), Công ty Mars (Mỹ)… nhằm giới thiệu hệ thống nông lâm bền vững, đa dạng dựa trên cây ca cao [16]
Do có sự hỗ trợ từ dự án Success Alliance, cây ca cao ở Bến Tre bắt đầu được trồng nhiều
từ năm 2004 với sự hỗ trợ giống hoàn toàn, đến năm 2007 diện tích thu hoạch đạt 982 ha Năm
2007, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre phê duyệt Dự án 10.000 ha ca cao phục vụ xuất khẩu đến năm 2016 [16]
Tham gia dự án, nông dân sẽ được hỗ trợ 40% chi phí cây giống, được tổ chức tập huấn và trao đổi thông tin về kỹ thuật trồng ca cao định kỳ hàng tháng Bên cạnh đó, người dân ngày càng nhận thấy được giá trị kinh tế mà cây ca cao mang lại nên đã có sự thay đổi lớn trong nhận thức Cây ca cao từ một loại cây kinh tế phụ, giúp sử dụng tối đa lực lượng lao động nhàn rỗi để kiếm thêm thu nhập, đã trở thành loại cây kinh tế chính góp phần gia tăng thu nhập của nông dân và được đầu tư trồng thêm ngày càng nhiều
Đến năm 2009, Dự án phát triển ca cao có chứng nhận do tổ chức HELVETAS hỗ trợ tại hai tỉnh Bến Tre và Tiền Giang phát huy hiệu quả khi cung cấp những công cụ hỗ trợ hiệu quả cải thiện chất lượng ca cao, đồng thời giúp tăng thu nhập Trên cơ sở đó, Chính phủ Hà Lan cùng các doanh nghiệp nước này gồm Rabobank, Mars, Cargill, IDH cam kết hỗ trợ Chính phủ Việt Nam thúc đẩy chương trình hợp tác công tư trong lĩnh vực cây ca cao Mục tiêu chính của dự án này
Trang 38Bến Tre là tỉnh có diện tích trồng dừa lớn nhất nước So với các địa phương trong cả nước, việc trồng ca cao ở Bến Tre có đặc thù riêng, đó là hầu hết được trồng xen trong vườn dừa Mô hình trồng ca cao xen dừa cho trái ca cao nhiều, lại tăng năng suất dừa nhờ tăng độ che phủ gốc
và giúp đất tơi xốp Trồng ca cao xen dừa chỉ cần một tuần tưới nước một lần, rồi bón phân, tỉa cành, tạo tán cho cây đủ ánh sáng, nên cây cho trái suốt năm Với những lợi ích thiết thực đó, việc trồng ca cao xen trong vườn dừa ở Bến Tre trở nên có sức hấp dẫn đối với người dân và được sự quan tâm sâu sắc của các cấp, các ngành và nhân dân trong tỉnh, được xem như một trong những biểu thị của sự thành công trong việc đa dạng hóa sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2011, diện tích trồng ca cao xen trong vườn dừa ở Bến Tre nói riêng và cả nước nói chung đang có xu thế gia tăng Đặc biệt tại tỉnh Bến Tre, được sự quan tâm lớn của lãnh đạo tỉnh và sự hỗ trợ từ các dự án với các tổ chức quốc tế, ngành nông nghiệp sản xuất ca cao không ngừng lớn mạnh cả về chất lẫn về lượng Ca cao từng bước khẳng định vị thế của mình là một loại cây trồng xen trong vườn dừa mang lại hiệu quả cao, góp phần tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nâng cao thu nhập cho nông dân
Bảng 2 2 Diện tích ca cao trồng xen dừa ở Bến Tre phân theo huyện
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre, 2012
Tính đến cuối năm 2011, diện tích ca cao đã được trồng xen tại Bến Tre là hơn 7.000 ha, theo định hướng phấn đấu đến năm 2015 đạt 15.000 ha Bến Tre có gần 50.000 ha đất trồng dừa
và đang có xu hướng tăng lên về mặt diện tích Đây cũng là một lợi thế quan trọng để mở rộng quy mô sản xuất ca cao trong tỉnh; ngược lại cây ca cao đã góp phần tạo thế đứng vững chắc, ổn định cho cây dừa Trồng ca cao xen trong vườn dừa không những góp phần đảm bảo về mặt kinh
tế, xã hội, môi trường mà còn thể hiện khả năng thích nghi tốt hơn của một mô hình sản xuất phù hợp trước những tác động xấu của biến đổi khí hậu so với một số cây trồng khác
Trang 3930
Bảng 2 3 Diễn biến diện tích - năng suất - sản lƣợng ca cao xen dừa năm 2007 – 2011
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre, 2012
Tại quý 1/2011, được sự chấp thuận của Ủy ban Nhân dân tỉnh và Sở NN & PTNT, Ban quản lý dự án “Phát triển ca cao chứng nhận” tài trợ bởi Helvetas đã được thành lập và bắt đầu hoạt động từ quý 2/2011, nhằm điều hành các hoạt động của dự án tại Bến Tre và hỗ trợ khuyến khích hoạt động trồng và chế biến của doanh nghiệp và nông hộ về phương diện đào tạo kỹ thuật
và cung cấp nông cụ Đến năm 2012, dự án đã tích cực vận động, tổ chức, thực hiện thành lập và đưa vào vận hành hoạt động 64 Câu lạc bộ Ca cao chứng nhận tại 4 huyện trọng điểm là Châu Thành, Giồng Trôm, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam với sự tham gia của 1.253 nông dân và 04 doanh nghiệp thu mua, chế biến ca cao Tham gia vào dự án, các thành viên được tổ chức chứng nhận ca cao toàn cầu Solidaridad hỗ trợ 1 triệu đồng để xây dựng hố xí tự hoại, tập huấn kỹ thuật
cơ bản trồng ca cao sạch theo bộ tiêu chí của chuẩn UTZ về phương pháp canh tác ca cao, vệ sinh
an toàn lao động, sử dụng an toàn thuốc bảo vệ thực vật, sản xuất quản lý sâu bệnh, dịch hại theo cách giảm thiểu ảnh hưởng sức khỏe con người và môi trường và được bao tiêu sản phẩm tại các công ty thu mua địa phương
Bên cạnh đó, dự án cũng vận động những hộ đã áp dụng trồng ca cao theo chuẩn UTZ chuyển đổi sang mô hình ca cao hữu cơ nếu họ có điều kiện đáp ứng tiêu chuẩn hữu cơ Nông hộ
sẽ được hỗ trợ vi sinh ủ phân hữu cơ và tiền thưởng UTZ từ công ty sở hữu chứng nhận
Ngày 19/01/2012, Công ty Phạm Minh cùng với 86 hộ sản xuất lên men của 9 câu lạc bộ
ca cao chứng nhận đã được Công ty Cổ phần giám định cà phê và hàng hóa xuất nhập khẩu (Cafecontrol) chứng nhận đạt tiêu chuẩn UTZ lần đầu tiên cho sản phẩm hạt ca cao tại Bến Tre Đây là một tiêu biểu cho sự kết hợp của doanh nghiệp với ban quản lý dự án hỗ trợ các nông hộ Ngoài việc hỗ trợ kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ca cao tại vườn cây, hướng dẫn tham gia tiêu chuẩn UTZ do Helvetas Thụy Sỹ và Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bến Tre tổ chức, doanh nghiệp cũng thay nông dân phối hợp nghiên cứu quy trình lên men với các nhà khoa học để đạt chất lượng như mong muốn Đối với những vườn ca cao được chứng nhận UTZ và hạt ca cao lên men đạt chất lượng, công ty thu mua với giá cao hơn so với giá thị trường, nhằm tạo niềm phấn khởi cho nông hộ trong sản xuất [32]
Cuối năm 2013, Bến Tre có 76 câu lạc bộ, với 1.419 hộ dân trồng ca cao tham gia dự án đạt chứng nhận UTZ, tổng diện tích tham gia chứng nhận gần 812 ha, tăng 34% so với năm 2012 Đặc biệt, có 3 câu lạc bộ ca cao chứng nhận đã phát triển thành tổ hợp tác ca cao chứng nhận Thông qua việc áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, năng suất ca cao chứng nhận UTZ tăng bình quân 2,1 tấn hạt khô/năm, tăng 31% so với năm 2012, giá trị tăng thêm từ sản xuất ca cao
Trang 4031
UTZ tăng 37% so với năm 2012 Cũng trong năm 2013, đã có 4 công ty là Công ty TNHH Ca Cao Phạm Minh, Doanh nghiệp tư nhân Lâm Tùng, Công ty TNHH Ca Cao Hương Việt, Doanh nghiệp tư nhân Phú Bình đã được trao giấy chứng nhận UTZ [41]
Thời gian qua đã có nhiều tập đoàn lớn tìm đến tại Bến Tre đặt trạm thu mua hạt ca cao để xuất khẩu như: Masterfoods (Mỹ), Cargill (Mỹ), ED & F Man (Anh), Mitsubishi (Nhật), Grand Place (Bỉ), Armajaro (Anh), Các công ty trong nước như: Phạm Minh, Thành Hưng Thịnh, Lâm Tùng, Hương Việt, Từ năm 2003 đến năm 2004, công ty ED & F Man đã bắt đầu phân phối cây giống cho nông dân và trở thành nhà thu mua ca cao đầu tiên tạo thị trường cho ca cao do người dân sản xuất Năm 2005, công ty Cargill đã đầu tư vào các trạm thu mua tại Bến Tre và hiện nay trở thành nhà thu mua ca cao lớn nhất tại Việt Nam Các công ty đặt trạm thu mua và điểm thu mua khắp các khu vực trồng ca cao trong tỉnh Bến Tre nhưng chủ yếu tập trung tại huyện Châu Thành, huyện tiên phong trong phong trào trồng ca cao xen trong vườn dừa, với năng suất chất lượng cao để đảm bảo nguồn cung ổn định Đồng thời, khu công nghiệp lớn nhất Bến Tre, khu công nghiệp Giao Long cũng đặt tại Châu Thành, điều này tạo thuận lợi cho các công ty trong việc xây dựng các nhà máy chế biến trong khu công nghiệp Ở các huyện khác thì chủ yếu có các điểm thu mua và vựa thu mua trực tiếp từ nông dân Công ty TNHH Ca Cao ED & F Man Việt Nam đã mở rộng gần 40 điểm thu mua hạt ca cao tại huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Mỏ Cày, Chợ Lách và thị xã Bến Tre Công
ty Cargill cũng có hàng chục điểm thu mua hạt ca cao đặt tại các huyện trên Ngoài ra, các công ty bánh kẹo ở thành phố Hồ Chí Minh cũng thường xuyên đến Bến Tre thu mua hạt ca cao Qua đó, đã tạo sự an tâm, góp phần khuyến khích nhà vườn tích cực trồng mới và chăm sóc vườn cây để tăng năng suất, hiệu quả.[16]
Mặc dù mô hình ca cao đã được đầu tư khuyến khích và có nhiều công ty bảo đảm thu mua, nhưng từ cuối năm 2012 trở lại đây, tổng diện tích trồng ca cao có xu hướng giảm Theo số liệu của Cục Thống kê, diện tích ca cao tỉnh Bến Tre đến hết năm 2013 là 5.211 ha, giảm gần 37% so với cuối năm 2012 Nguyên nhân diện tích ca cao giảm là do người dân chuyển sang trồng các loại cây có múi trong giai đoạn mức giá ca cao giảm xuống thấp và giá các loại cây có múi như bưởi da xanh ở mức cao (cuối năm 2012 đến giữa cuối năm 2013) Một số lý do khác là
do ảnh hưởng của hạn hán và xâm nhập mặn tại một số khu vực trong tỉnh làm nhiều cây ca cao
bị chết, một số bệnh thối trái vào mùa mưa làm giảm chất lượng ca cao, và sự phát triển mạnh các loài côn trùng, gặm nhấm Thông tin người dân thi nhau chặt bỏ ca cao khiến nhà đầu tư nhà máy chế biến ca cao lo ngại cho khả năng cung cấp đầu vào của nguồn nguyên liệu để nhà máy có thể hoạt động [16]
Bảng 2 4 Diện tích ca cao trồng xen dừa phân theo huyện giai đoạn 2010 -2015
Tên huyện thị 2010 2011 2012 2013 2014
TP Bến Tre 190 254 295 161 42 Châu Thành 2.452 2.583 2.780 1.659 1.111 Chợ Lách 4 4 3 21 14
Mỏ Cày Nam 887 1.128 1.385 1.216 633
Mỏ Cày Bắc 954 1.277 1.437 1.027 620 Giồng Trôm 1.563 1.821 1.716 615 212 Bình Đại 156 224 331 244 41