1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn thành phố hồ chí minh

96 78 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÙI PHAN QUỲNH CHI TÊN ĐỀ TÀI ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH PHÂN LOẠ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

BÙI PHAN QUỲNH CHI

TÊN ĐỀ TÀI

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI NGUỒN

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Quản lý môi trường

Mã số: 608510

KHÓA LUẬN THẠC S Ĩ

Tp.HCM, tháng 12/2016

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG – HCM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Văn Khoa

3 TS Lâm Văn Giang

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá khóa luận và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi khóa luận đã được sửa chữa (nếu có)

PGS.TS Phùng Chí Sỹ

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc _

Ngày, tháng, năm sinh : 21/10/1983

MSHV: 12260643Nơi sinh: TP.HCM

Mã ngành: 60 85 10Chuyên ngành : Quản lý môi trường

TÊN ĐỀ TÀI:

“ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI

NGUỒN TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM”

I NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

- Đề xuất giải pháp pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình

II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ:

III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: (Ghi theo trong QĐ giao đề tài)

IV CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS.TS LÊ VĂN KHOA

Tp HCM, ngày tháng năm 20

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN ĐÀO TẠO

TRƯỞNG KHOA….………

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, tôi đã nhận được sự quan tâm, hỗ trợ và giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân

và đơn vị

Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy, Cô trong Bộ môn Quản lý Môi trường, Khoa Môi trường Tài nguyên – Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốt khóa học đào tạo thạc sĩ tại trường

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Lê Văn Khoa, người Thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận này Nguồn động viên tinh thần cũng như những lời khuyên chuyên môn quí báu của Thầy đã bổ sung thêm rất nhiều cho cách tiếp cận vấn đề, phương pháp nghiên cứu và giải pháp quản lý của tôi

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các anh chị chuyên viên Phòng Quản

lý Chất thải rắn, Sở Tài nguyên và Môi trường đã nhiệt tình giúp đỡ, chia sẻ thông tin, tài liệu và kinh nghiệm thực tiễn trong việc quản lý lực lượng thu gom rác dân lập, giúp tôi có nhiều thông tin số liệu hữu ích để hoàn thành khóa luận này

Xin cảm ơn những cán bộ quản lý môi trường của Phòng Tài nguyên Môi trường các quận huyện trên địa bàn thành phố đã nhiệt tình hỗ trợ cung cấp thông tin cho tôi trong quá trình khảo sát thu thập số liệu

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp và các bạn học viên đã tận tình trao đổi, đóng góp và động viên tôi rất nhiều để giúp đỡ tôi hoàn thành được khóa luận này

Trân trọng

Trang 5

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước Bên cạnh việc sản xuất ra một khối lượng lớn sản phẩm phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, Thành phố cũng đồng thời thải vào môi trường một khối lượng tương ứng các loại chất thải, trong đó chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và vận chuyển lên về các khu

xử lý khoảng 7.000 - 7.500 tấn/ngày với tỷ lệ chất thải rắn hữu cơ dễ phân hủy sinh học chiếm 80% khối lượng, đây là là nguồn nguyên liệu to lớn để sản xuất phân hữu cơ và tái sinh năng lượng

Theo xu hướng chung của thế giới, chất thải rắn phát sinh phải được phân loại từ nguồn Từ năm 2004, Ủy ban nhân dân thành phố đã quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn Đến nay, nhiều chương trình đã được triển khai với các quy mô khác nhau; tuy nhiên, chương trình vẫn chưa triển khai rộng khắp địa bàn thành phố do nhiều nguyên nhân khác nhau tại từng thời điểm

Để giúp cho cơ quan quản lý nhà nước có giải pháp đúng đắn triển khai chương trình trong thời gian tới; trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm từ thực tế triển khai chương trình tại các nước tiên tiến, tìm hiểu các chính sách quy định liên quan đến chương trình

và diễn tiến triển khai các chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn trong thời gian qua tại thành phố Hồ Chí Minh; tác giả đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chương trình trong thời gian tới như: về hệ thống kỹ thuật, quản lý nhà nước, tài chính

và công tác tuyên truyền

Trang 6

SUMMARY

Ho Chi Minh City is a large megacity, centers of economic, cultural, education and training, science and technology, with important political positions in the country Besides producing a large volume of products to serve the domestic demand and exports, the City also releases into the environment a corresponding volume of waste, in which the total volume of solid waste collected and transported to the treatment zone is around 7000-7500 tonnes/ day with the rate of easily biodegradation organic solid waste

is 80% of weight, this is the large material resources for the production of organic fertilizers and renewable energy

According to the general trend of the world, solid waste must be segregated at source Since 2004, the city People's Committee was interested in directing the implementation of solid waste sorting at source So far, several programs have been implemented with different scales; however, the program is not yet widely deployed all the city due to many different reasons from time to time

To help the goverment authorities have the right solution to deploy the program

in the near future; on the basis of experience drawn from the actual programs implemented in the advanced countries, research the policy relating to and implemented progress of solid waste sorting at source during through Ho Chi Minh city; authors offer solutions to improve the efficiency of programs in the coming period, such as: technical systems, state management, financial and propaganda

Trang 7

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Một số đề tài nghiên cứu liên quan 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Đối tượng nghiên cứu 4

5 Nội dung nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Ý nghĩa của đề tài 6

8 Giới hạn của đề tài 7

CHƯƠNG 1 8

TỔNG QUAN 8

1.1 Cơ sở lý thuyết – khái niệm 8

1.1.1 Các định nghĩa liên quan đến quản lý CTR 8

1.1.2 Quản lý tổng hợp CTR 9

1.2 Cơ sở thực tiễn 9

1.2.1 Cơ cở thực tiễn trong nước 9

1.2.2 Cơ sở thực tiễn các nước trên thế giới 11

1.2.1.1 Osaka Nhật Bản 11

1.2.1.2 Đài Loan 14

1.2.1.3 Bài học kinh nghiệm áp dụng cho TP.HCM 18

1.3 Cơ sở pháp lý 19

1.3.1 Căn cứ pháp lý liên quan trực tiếp đến PLCTRTN 19

1.3.1.1 Trung ương 19

1.3.1.2 Thành phố Hồ Chí Minh 20

1.3.2 Căn cứ pháp lý khác có liên quan, tác động đến PLCTRTN 20

1.3.3 Những bất cập liên quan đến văn bản pháp lý và các chính sách về PLCTRTN 21

CHƯƠNG 2 23

HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG KỸ THUẬT VÀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI TP.HCM 23

2.1 Nguồn phát sinh, thành phần và khối lượng CTRSH TP.HCM 23

2.1.1 Nguồn phát sinh 23

2.1.2 Thành phần 23

2.1.3 Khối lượng 26

2.2 Hiện trạng hệ thống kỹ thuật 26

2.2.1 Công đoạn lưu chứa 27

2.2.2 Công đoạn thu gom tại nguồn 28

2.2.3 Công đoạn vận chuyển và hệ thống điểm hẹn, trạm trung chuyển 31

2.2.4 Công tác xử lý 34

2.3 Hệ thống quản lý nhà nước 36

2.3.1 Cơ cấu tổ chức của hệ thống quản lý Nhà nước 37

2.3.2 Chức năng của từng đơn vị trong hệ thống quản lý Nhà nước 38

2.3.3 Hệ thống kiểm tra giám sát 39

2.3.4 Chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ quản lý 40

CHƯƠNG 3 42

Trang 8

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÂN

LOẠI CHẤT THẢI RẮN TẠI NGUỒN QUA CÁC NĂM 42

3.1 Chương trình triển khai giai đoạn năm 1999 đến năm 2013 42

3.1.1 Chương trình phân loại CTRTN do ENDA thực hiện 42

3.1.2 Chương trình phần loại CTRTN quận 5 (EU) 42

3.1.3 Chương trình phân loại CTRTN ở quận 6 42

3.1.4 Chương trình phân loại CTRTN ở hệ thống Khu công nghiệp – Khu chế xuất và hệ thống siêu thị 48

3.2 Chương trình PLCTRTN hiện nay đang triển khai tại 06 quận 50

3.2.1 Chương trình phân loại CTRTN tại phường 12 quận 6 50

3.2.1.1 Quy mô và các nội dung thực hiện 51

3.2.1.2 Hướng dẫn kỹ thuật phân loại 52

3.2.1.3 Hệ thống thu gom tại nguồn, vận chuyển, xử lý 53

3.2.1.4 Mức phí thu gom rác 54

3.2.1.5 Kết quả thực hiện 54

3.2.2 Chương trình phân loại CTRTN các quận 1, 3, 5, 12, Bình Thạnh 59

3.3 Đánh giá thực trạng Chương trình PLCTRTN dựa trên phân tích SWOT 62

3.3.1 Xác định SWOT 62

3.3.1.1 Điểm mạnh (S: Streghth) 62

3.3.1.2 Điểm yếu (W: Weakness) 62

3.3.1.3 Cơ hội (O: Opportunities) 69

3.3.1.4 Thách thức (T: Threats) 69

3.1.1 Phân tích giải pháp 70

3.1.1.1 Giải pháp S/O (phát huy điểm mạnh để tận dụng thời cơ) 70

3.1.1.2 Giải pháp S/T (phát huy điểm mạnh để vượt qua thử thách) 70

3.1.1.3 Giải pháp W/O (không để điểm yếu làm mất cơ hội) 71

3.1.1.4 Giải pháp T/W (không để thử thách làm phát triển điểm yếu) 71

3.1.2 Nhận xét 71

CHƯƠNG 4 … ……73

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỂ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 73

4.1 Các giải pháp về hạ tầng, kỹ thuật 73

4.2 Các giải pháp về quản lý Nhà nước 74

4.3 Xây dựng các chương trình tuyên truyền phong phú và phù hợp thực tế 76

4.4 Về giải pháp tài chính cho chương trình 76

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 79

Kết luận 79

Kiến nghị 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CTR Chất thải rắn

CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt

CENTEMA Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng về Công nghệ và Quản lý Môi trường CITENCO Công ty Môi trường đô thị thành phố

CTRTN Chất thải rắn tại nguồn

EPA Cục Bảo vệ Môi trường Đài loan

ETM Trung tâm Công nghệ và Quản lý môi trường

LLTGTN Lực lượng thu gom tại nguồn

KLHXLCTR Khu liên hợp xử lý chất thải rắn

TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

UBNDTP Ủy ban nhân dân thành phố

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê thành phần CTR tại bãi chôn lấp 24

Bảng 2.2 Khối lượng CTRSH được thu gom, xử lý từ năm 2010 đến 2015 26

Bảng 3.1 Tỷ lệ số hộ phân loại đúng yêu cầu trên địa bàn quận 6 45

Bảng 3.2 Tổng kết tình hình thực hiện PLCTRTN đợt 1 54

Bảng 3.3 Tổng kết tình hình thực hiện PLCTRTN đợt 2 57

Bảng 3.4 Số lượng đường dây thu gom CTR sau phân loại 58

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Tỷ lệ % các thành phần tại bãi chôn lấp qua các năm 25

Hình 2.2 Sơ đồ hệ thống quản lý kỹ thuật CTR đô thị tại TP.HCM 26

Hình 2.3.Hình ảnh về hệ thống thu gom, trung chuyển, vận chuyển và xử lý CTR tại TP.HCM 36

Hình 2.4 Hệ thống quản lý hành chính CTR đô thị tại TP.HCM 38

Hình 3.1 Bản đồ ranh giới phường 12, quận 6 (bên trong đường màu đỏ) 51

Hình 3.2 Sơ đồ hướng dẫn CNT về phân loại CTRTN 52

Hình 3.3 Tổng kết tình hình thực hiện phân loại CTRTN đợt 1 56

Hình 3.4 Tổng kết tình hình thực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn đợt 2 58

Hình 3.5 CNT phân loại, lưu giữ chất thải không đúng qui định 67

Hình 4.1 Sơ đồ mô hình hỗ trợ phát triển HTX và hệ thống tái chế 78

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phân loại CTRTN là một trong những chiến lược mà được nhiều nước trên thế giới áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải rắn CTR đô thị

Ở Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng, công tác quản lý CTR, đặc biệt

là CTRSH đang rất được quan tâm Từ năm 2004, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị Quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó đã đặt ra nhiệm vụ cụ thể đối với công

tác quản lý CTR đô thị “…thu gom và xử lý toàn bộ rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp bằng các phương pháp thích hợp, trong đó ưu tiên cho việc tái sử dụng, tái chế chất thải, hạn chế tối đa khối lượng rác chôn lấp, nhất là đối với đô thị thiếu mặt bằng chôn lấp rác…”

Theo đó, tại TP.HCM, từ năm 2004 UBNDTP cũng đã quan tâm, chỉ đạo triển khai thí điểm phân loại CTRSH tại nguồn Hiện nay Chương trình này rất được Đảng bộ thành phố quan tâm Tại Nghị Quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ X nhiệm kỳ

2015 – 2020 của thành phố Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương “nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, hoàn thiện chính sách để xã hội hóa mạnh mẽ công tác bảo vệ

môi trường; kiên quyết tổ chức phân loại CTRTN, vận chuyển, xử lý, tái chế chất

thải”

Hiện nay, thành phố đang tập trung triển khai chương trình phân loại CTRTN

ở quận 1, 3 , 5, 6, 12, Bình Thạnh Tuy nhiên hiện nay chương trình cũng chỉ dừng lại ở giai đoạn thí điểm ở cụm dân cư1 (quận 1, 3, 5, 12, Bình Thạnh) và thực hiện

mở rộng trên 01 phường (phường 12, quận 6) mà vẫn chưa triển nhân rộng trên toàn địa bàn thành phố Điều này có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, từ cơ chế pháp lý hỗ trợ để phát triển chương trình, sự đồng bộ trong hệ thống kỹ thuật, cơ chế quản lý nhà nước, sự phối hợp tham gia của các bên liên quan

Trang 13

Song hành cùng chương trình phân loại CTRTN, thành phố cũng đang triển khai nhiều chương trình quản lý CTR như chương trình thu phí vệ sinh và phí bảo

vệ môi trường đối với CTR thông thường, chương trình tuần lễ thu gom chất thải nguy hại; tuy nhiên các chương trình này triển khai riêng lẽ chưa có sự kết nối với nhau Điều này cũng dẫn đến giảm hiệu quả của chương trình phân loại CTRTN Hiện nay, thành phố đang đi theo định hướng của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 12/12/2009 về phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050, theo đó mục tiêu

đến năm 2025 về quản lý CTR “hệ thống quản lý tổng hợp CTR được xây dựng, theo đó CTR được phân loại tại nguồn, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý triệt

để bằng những công nghệ tiên tiến và phù hợp, hạn chế tối đa lượng chất thải phải chôn lấp nhằm tiết kiệm tài nguyên đất và hạn chế gây ô nhiễm môi trường” Việc

triển khai chương trình PLCTRTN sẽ dần từng bước được nhân rộng trên toàn địa bàn thành phố

Vì vậy, việc đánh giá lại toàn bộ quá trình triển khai thực hiện phân loại CTRTN trên địa bàn thành phố là cần thiết trong giai đoạn này, là cơ sở để xác định các giải pháp nâng nhằm triển khai hiệu quả trên toàn thành phố Trên cơ sở đó, đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai chương trình phân loại CTRSH tại nguồn trên địa bàn TPHCM” đã được tác giả chọn lựa thực hiện

2 Một số đề tài nghiên cứu liên quan

- Nguyễn Thị Thanh Mỹ và Nguyễn Thanh Hùng, 2007 Nghiên cứu xây dựng khung chính sách hỗ trợ và các quy định về phân loại rác sinh hoạt tại nguồn ở TPHCM Đề tài nghiên cứu khoa học – Viện Môi trường và Tài nguyên

Đề tài đề xuất khung chính sách hỗ trợ và các quy định về phân loại CTRSH tại nguồn nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện chương trình phân loại CTRTN thí điểm ở 6 Quận gồm Quận 1, 4, 5, 6, 10 và Huyện Củ Chi Tuy nhiên, đề tài thực hiện năm 2007 nên chưa cập nhật các quy định liên quan, ảnh

Trang 14

hưởng đến chương trình như Quyết định 88/2008/QĐ-UBND của UBNDTP về phí

vệ sinh và phí bảo vệ môi trường, Nghị định 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu

- Hoàng Thị Kim Chi, 2008 Các hình thức tổ chức thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn TP.HCM – Thực trạng và các đề xuất bổ sung, Viện Kinh tế Đề tài nghiên cứu khoa học - Viện Kinh tế

Đề tài thực hiện đánh giá, so sánh các hình thức tổ chức thu gom rác sinh hoạt đã được hình thành trên địa bàn TP.HCM Đánh giá hiện trạng cơ chế chính sách liên quan đến dịch vụ vệ sinh môi trường và công tác thu gom rác thải và đề xuất hình thức tổ chức thu gom rác sinh hoạt, cơ chế quản lý và chính sách thích hợp Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập đến ảnh hưởng đối với lực lượng thu gom khi thực hiện chương trình phân loại CTRTN

- Trần Thị Diễm Châu, 2014 Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lực lượng thu gom chất thải rắn sinh hoạt dân lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Khóa luận Thạc sỹ - Trường Đại học Bách khoa

Đề tài đã nêu lên được hiện trạng quản lý rác dân lập tại Tp.HCM; để xuất điều chỉnh cơ chế quản lý và hỗ trợ các loại hình hoạt động của rác dân lập để tăng hiệu quả hoạt động Hạn chế của đề tài là chưa kết nối với chương trình phân loại CTRTN đang thí điểm ở thành phố

- Đồng Văn Thanh, 2015 Đánh giá việc áp dụng thu phí vệ sinh, phí bảo vệ môi trường trong lĩnh vực chất thải rắn tại thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một

số giải pháp điều chỉnh Luận văn Thạc sỹ - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

Đề tài đã đánh giá hiệu quả của việc áp dụng Quyết định 88/2008/QĐ-UBND

và xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến thu phí, tác động đến các đối tượng liên quan, trong đó có lực lượng thu gom tại nguồn Đề xuất giải pháp tăng hiệu quả hoạt động, trong đó xác định mức phí đề xuất tăng Tuy nhiên, chưa đề cập đến mức hỗ trợ cho lực lượng thu gom khi thực hiện chương trình phân loại CTRTN

Trang 15

Nhìn chung trong thời gian qua, việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTR nhằm tăng cường chất lượng vệ sinh trên địa bàn TPHCM đã được nhận sự quan tâm khá lớn Trong thời điểm hiện nay, chương trình chịu sự tác động của nhiều yếu tố (quản lý rác dân lập, Quyết định 88/2008/QĐ-UBND,…) dẫn đến chương trình còn gặp nhiều khó khăn khi triển khai Do đó, cần dựa trên các nghiên cứu trước đây và từ thực tiễn triển khai để đánh giá lại toàn bộ chương trình, đề ra các giải pháp để khắc phục khó khăn nhằm triển khai hiệu quả chương trình, phù hợp với quy định của pháp luật

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai chương trình phân loại CTRSH tại nguồn trên địa bàn TPHCM

4 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động triển khai phân loại CTRTN tại TP.HCM cho các đối tượng hộ gia đình và chủ nguồn thải

5 Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu được thực hiện theo trình tự như sau:

Trang 16

Nội dung 4:

Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình phân loại CTRTN trên địa bàn TP.HCM

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp tổng quan tài liệu

Thông qua việc thu thập, chọn lọc và tổng hợp tài liệu nhằm thu thập và kế thừa các thông tin, tài liệu và số liệu từ các nguồn tài liệu của sách, tạp chí nghiên cứu, báo cáo, tài liệu hội thảo, các nguồn từ internet Các thông tin, số liệu thu thập

và kế thừa hỗ trợ cho đề tài nghiên cứu bao gồm:

+ Các nghiên cứu và kinh nghiệm quản lý liên quan đến hệ thống quản lý thu gom CTRSH trong và ngoài nước

+ Cơ sở dữ liệu điều tra khảo sát của Sở TNMT

6.2 Phương pháp điều tra, khảo sát

Tác giả đã cùng đơn vị tư vấn của Sở TNMT là Viện Môi trường Tài nguyên

và Trung tâm Công nghệ và Quản lý Môi trường tiến hành khảo sát thực tế các đối tượng tham gia chương trình phân loại CTRTN nhằm đánh giá kết quả thực hiện Kết quả từ quá trình khảo sát thực tế được thể hiện trong các báo cáo của các đơn vị

tư vấn và của Sở TNMT năm 2015, 2016

Trao đổi trực tiếp, ghi nhận thông tin từ cán bộ quản lý của Sở TNMT, Phòng TNMT quận huyện, UBND phường trong các cuộc họp

6.3 Phương pháp thống kê mô tả

Các thông tin, tài liệu, số liệu thu thập được sẽ tổng hợp thống kê và biểu diễn ở dạng văn bản hoặc bảng, biểu, sơ đồ nhằm thể hiện các thông tin cô đọng và

cụ thể nhất về hiện trạng hệ thống quản lý CTRSH và hiện trạng triển khai phân loại CTRTN

6.4 Phương pháp chuyên gia

Trang 17

Sử dụng kinh nghiệm và kiến thức chuyên gia thông qua việc tham khảo ý kiến cán bộ quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước thông qua các cuộc trao đổi tại các buổi họp, hội thảo

6.5 Phương pháp phân tích WSOT

Thông qua việc phân tích SWOT xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội

và thách thức diễn ra trong thực tế triển khai chương trình, phát huy những ưu thế trong quá trình thực hiện để khắc phục khó khăn và vượt qua những trở ngại trong quá trình triển khai thực tế chương trình gặp phải Từ đó xác định các giải pháp cần thực hiện phù hợp với tình hình thực tế

7 Ý nghĩa của đề tài

7.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài góp phần hệ thống hóa lý luận về quản lý CTR, làm cơ sở khoa học cho việc triển khai chương trình phân loại CTRTN tại TP.HCM và đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Phân loại CTRTN là một trong những chương trình trọng điểm về giảm thiểu

ô nhiễm của thành phố giai đoạn 2016-2020 Vấn đề các nhà quản lý quan tâm hàng đầu hiện nay là làm sao triển khai một cách hiệu quả chương trình khi mở rộng phạm vi thực hiện Do đó, cần xem xét tổng thể mối quan hệ giữa các bên liên quan, những khó khăn, vướng mắc chương trình đang diễn ra và xác định được các giải pháp then chốt Kết quả nghiên cứu đề tài giúp thành phố xây dựng kế hoạch quản lý và triển khai chương trình phân loại CTRTN một cách đồng bộ và hiệu quả nhất Ngoài ra, khi triển khai các giải pháp này thì các đối tượng : Chủ nguồn thải, đơn vị thu gom, xử lý, Doanh nghiệp cung ứng bao bì chứa chất thải, thiết bị thu gom, sẽ được hưởng lợi Như vậy, tổng thể khi triển khai chương trình phân loại CTRTN lâu dài thì cộng đồng dân cư sẽ được hưởng lợi

7.3 Tính mới của đề tài

Trang 18

Lần đầu tiên đánh giá thực hiện chương trình phân loại CTRTN và phân tích mối liên hệ giữa các bên liên quan có kết nối với các chương trình đang triển khai tại thành phố và các quy định hiện hành (Nghị định 38/2015/NĐ-CP, Quyết định 88/2008/QĐ-UBND, ,…) Kết quả của đề tài giúp thành phố ứng dụng vào thực tế cho các quận huyện

8 Giới hạn của đề tài

Đề tài chỉ tập trung cho phạm vi hệ thống quản lý CTRSH và chương trình phân loại CTRTN ở thành phố Hồ Chí Minh (triển khai tại 06 quận thí điểm), các giải pháp và tổ chức quản lý đề xuất thực hiện trong giai đoạn 2016-2020

Đề tài chỉ đề xuất thực hiện trong kế hoạch ngắn hạn với mục đích phục vụ cho công tác quản lý nhà nước để triển khai chương trình hiệu quả Hiện nay, chưa

có tỉnh thành nào triển khai thành công phân loại CTRTN với quy mô lớn, do đó thành phố cũng phải từng bước thực hiện và hoàn thiện theo yêu cầu thực tế

Trang 19

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Cơ sở lý thuyết – khái niệm

1.1.1 Các định nghĩa liên quan đến quản lý CTR

 CTRSH (còn gọi là rác sinh hoạt) là CTR phát sinh trong sinh hoạt thường

ngày của con người (Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015)

 CTR cồng kềnh là CTR có kích thước lớn như vật dụng từ gia đình (tủ,

giường, nệm, bàn, ghế salon, tranh,…), gốc cây, thân cây và nhánh cây

 Phân loại CTRSH là hoạt động phân tách chất thải (đã được phân định) trên

thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có các quy trình quản lý khác nhau

CTRSH được phân loại tại nguồn phù hợp với mục đích quản lý, xử lý thành các nhóm như sau:

+ Nhóm hữu cơ dễ phân hủy (nhóm thức ăn thừa, lá cây, rau, củ, quả, xác động vật);

+ Nhóm có khả năng tái sử dụng, tái chế (nhóm giấy, nhựa, kim loại, cao su, ni long, thủy tinh);

+ Nhóm còn lại

(Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015)

 Thu gom CTRSH tại nguồn là quá trình thu gom và chuyên chở CTRSH từ

các cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải , nơi công cộng đến các điểm hẹn hoặc trạm trung chuyển

 Vận chuyển CTRSH là quá trình thu gom và chuyên chở CTRSH từ các

điểm hẹn hoặc trạm trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng

Trang 20

 Xử lý CTR là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để làm

giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải

1.1.2 Quản lý tổng hợp CTR

- Quản lý tổng hợp CTR là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó Nhà nước có vai trò chủ đạo, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động tối đa mọi nguồn lực, tăng cường đầu tư cho công tác quản lý tổng hợp CTR

- Quản lý tổng hợp CTR được thực hiện liên vùng, liên ngành, đảm bảo sự tối ưu

về kinh tế, kỹ thuật, an toàn về xã hội và môi trường, gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch xây dựng và các quy hoạch phát triển khác

- Quản lý tổng hợp CTR là một trong những ưu tiên của công tác bảo vệ môi trường, góp phần kiểm soát ô nhiễm, hướng tới phát triển bền vững đất nước

- Quản lý tổng hợp CTR phải đáp ứng theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, theo đó các tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm đóng góp kinh phí, khắc phục, bồi dưỡng thiệt hại theo quy định của pháp luật

- Quản lý CTR phải được thực hiện theo phương thức tổng hợp, nhằm phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải tại nguồn là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, tăng cường tái sử dụng, tái chế để giảm khối lượng chất thải phải chôn lấp

(Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Chính phủ)

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Cơ cở thực tiễn trong nước

Từ trước đến nay, người dân thành phố đã có thói quen phân loại, lưu giữ riêng các chất thải có giá trị như : giấy, báo, nylon, lon bia, chai nhựa, Những loại chất thải này thường được gọi chung là phế liệu Các loại phế liệu này được bán cho lực lượng thu gom ve chai Do đó, khi tuyên truyền về thực hiện chương trình được nhiều thuận lợi về sự đồng thuận, ủng hộ của người dân

Trang 21

Có thể tóm tắt sơ lược về các chương trình PLCTRTN Thành phố đã triển khai từ

năm 2008 đến nay và đánh giá sơ bộ kết quả như sau (nguồn: báo cáo UBNDTP của

Sở TNMT, 2015):

- Bắt đầu từ năm 2008, Sở TNMT đã triển khai thí điểm phân loại CTRSH tại nguồn tại một số phường trên địa bàn quận 5, quận 6 Kết quả sau một năm triển khai thí điểm, có trên 60% người dân tham gia chương trình Tuy nhiên, điểm hạn chế tại thời điểm triển khai Chương trình do thành phố chưa có Nhà máy tiếp nhận chất thải

vô cơ để tái chế và chất thải thực phẩm (chất thải hữu cơ) xử lý thành phân compost

- Năm 2011, triển khai thực hiện tại các hệ thống siêu thị Co.opmart, Lottemark, Big C, Metro, các Công ty đang hoạt động tại các Khu Công nghệ cao (quận 9) và Khu chế xuất Tân Thuận (quận 7) Bước đầu, các đơn vị đều tích cực tham gia nhưng đến nay các chương trình trên đã tạm ngưng do thành phố tập trung triển khai cho 06 quận thí điểm

- Trong năm 2013, trong khuôn khổ hợp tác giữa Tp.HCM-Thành phố Nhật Bản, Văn Phòng Biến đổi Khí hậu thuộc Sở TNMT đã phối hợp với Ủy ban nhân dân quận 1 tổ chức thí điểm phân loại CTRSH tại 01 cụm dân cư khoảng 100 hộ dân tại hẻm 25 của phường Bến Nghé, quận 1 Sau một năm triển khai thí điểm, có khoảng 70-80% chủ nguồn thải tham gia thực hiện phân loại

Osaka Từ kết quả của quận 1, trong năm 2014 UBNDTP đã chỉ đạo triển khai nhân rộng mô hình tại các quận 3, 5, 12, Bình Thạnh theo mô hình PLCTRTN của quận 1 Tuy nhiên qui mô dân số triển khai chỉ từ 100 – 600 chủ nguồn thải cho mỗi chương trình

Cũng trong năm 2014, UBNDTP đã chỉ đạo Sở TNMT triển khai thí điểm PLCTRTN trên toàn phường 12, quận 6 Đây là Chương trình thí điểm có qui mô lớn nhất và địa điểm được chọn có tính chất phức tạp về thành phần chủ nguồn thải, đơn vị thu gom, điều kiện hạ tầng kỹ thuật, Mục đích của chương trình là sau thời gian thí điểm, đúc kết ra những kinh nghiệm, những tồn tại về văn bản pháp lý, hệ thống quản

lý kỹ thuật, công tác chuẩn bị và triển khai chương trình, để hình thành mô hình khung nhân rộng cho toàn địa bàn thành phố

Trang 22

Các Chương trình PLCTRTN đang triển khai tại các quận 1, 3, 5 ,6 ,12, Bình Thạnh nên những phân tích đánh giá và đề xuất giải pháp cho chương trình của đề tài

có cơ sở thực tiễn cao

1.2.2 Cơ sở thực tiễn các nước trên thế giới

Tổng hợp tài liệu từ các chuyến tham gia học tập thực tế tại Nhật Bản, Đài Loan của các chuyên viên Sở TNMT và qua trao đổi với các chuyên gia Nhật Bản trong chương trình hợp tác với OSAKA, tác giả tổng hợp thông tin về về quá trình triển khai

và thực hiện chương trình phân loại CTRTN các nước như sau:

1.2.1.1 Osaka Nhật Bản

Osaka là một thành phố của Nhật Bản có nền kinh tế phát triển, trình độ dân trí cao, chấp hành kỹ luật và tuân thủ pháp luật tốt nhất Châu Á và thế giới Trong thời gian đầu triển khai chương trình phân loại CTRTN không được sự đồng thuận của cộng đồng, doanh nghiệp và gặp khó khăn về hạ tầng kỹ thuật, văn bản pháp luật, công tác tuyên truyền,… Từ năm 1994, Thành phố Osaka đã chia thành phố thành 11 khu, tất cả các khu này có quy trình phân loại và thu gom chất thải, hệ thống văn bản và công tác tuyên truyền đều đồng bộ và thống nhất với nhau

a Về việc phân loại, thu gom và xử lý CTRTN:

CTR tại hộ gia đình của thành phố Osaka được phân loại thành 04 loại như sau:

- CTRTSH (chất thải này có kích thước dưới 30cm): bàn ủi, máy sấy tóc, thực phẩm dư thừa, cây dù,…

- CTR tài nguyên: lon, chai thủy tinh, chai nhựa PET,…)

- CTR từ vỏ hộp đựng bằng nhựa: hộp cơm nhựa, hộp đựng trứng, khay nhựa, chén nhựa,…

- CTR kích thước cỡ lớn (bắt buộc thu phí): ghế, bàn, tủ, máy hút bụi, quạt, ghế sofa,…

Chính quyền Thành phố Osaka qui định cụ thể về màu sắc bao bì chứa chất thải, biện pháp lưu giữ và chuyển giao chất thải Người dân phải mua bao bì chứa chất thải tại các siêu thị và cửa hàng Tiền bao bì chứa chất thải bao gồm tiền xử lý chất

Trang 23

thải Mỗi nhóm chất thải có giá xử lý khác nhau Do đó, muốn tiết kiệm chi phí thì người dân phải phân loại chất thải đúng

Tùy từng loại CTR, đơn vị thu gom sẽ vận chuyển đến nhà máy đốt chất thải hoặc trạm trung chuyển chất thải để chuyển giao cho các nhà máy tái chế (Thành phố Osaka không có bãi chôn lấp CTR như Việt Nam, tất cả chất thải hoặc tái chế hoặc đem đốt) Chi phí đốt chất thải rất cao (trung bình 50 USD/tấn) nên Thành phố phải thực hiện phân loại CTRTN nhằm giảm khối lượng chất thải đem đốt và bảo vệ môi trường

b Về công tác xây dựng các qui định liên quan đến phân loại CTRTN:

Để đảm bảo chương trình phân loại CTRTN thành công, chính quyền Thành phố Osaka đã xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến môi trường, bao gồm:

(1) Luật Môi trường cơ bản thực thi từ tháng 08/1994

(2) Luật xúc tiến sử dụng tài nguyên hiệu quả thực thi từ tháng 04/2001, trong

đó nêu bật được các nội dung: Sử dụng các tài nguyên tái chế, linh kiện tái chế; thiết

kế, chế tạo các sản phẩm trên suy nghĩ về giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế; phân loại CTR và thu gom; chủ động thu hồi, tái chế các sản phẩm đã qua sử dụng

(3) Luật xử lý chất thải chỉnh sửa từ tháng 06/2006

(4) Ngoài ra, còn có những luật khác bao gồm: luật tái chế vỏ hộp đựng, luật tái chế đồ điện gia dụng, luật tái chế thức ắn, luật tái chế chất thải xây dựng, luật tái chế

xe hơi

c Về công tác tuyên truyền phân loại CTRTN:

Để chương trình phân loại CTRTN đạt hiệu quả, chính quyền thực hiện đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, cụ thể như sau:

- Phổ biến rộng rãi trên tất cả các phương tiện truyền thông, tờ rơi, sổ tay hướng dẫn phân loại, VCD về cách thức phân loại để cộng đồng cùng hiểu Chính quyền thông tin về thời gian thu gom các loại chất thải thông qua phần mềm ứng dụng trên điện thoại để người dân dễ dàng tra cứu thông tin

Trang 24

- Đưa các nội đưa các nội dung về tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện phân loại chất thải, mục đích ý nghĩa thực hiện vào tất cả các trường học từ cấu nhà trẻ đến trung học Chính quyền soạn và in nội dung hướng dẫn thực hiện thành sách và số tay phù hợp với từng lứa tuổi để các giáo viên tham khảo và thực hiện hướng dẫn cho học sinh Ngoài ra, nhân viên hành chính của thành phố cũng mang xe thu gom rác đến các trường tiểu học để hướng dẫn và cho các em thực hành thực tế như hình thức cho các giờ học trải nghiệm

- Cùng với việc nỗ lực tuyên truyền thông tin một cách tích cực, chính quyền thành phố rất quan tâm và xem việc gắn kết, tạo môi trường giao tiếp năng động, mối liên lạc giữa người dân và các cơ sở kinh doanh trong thành phố là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện giảm thiểu lượng rác thải và rác tái chế

- Bên cạnh đó, tại mỗi khu vực của thành phố Osaka, cộng đồng thường tổ chức những buổi tuyên truyền không phân biệt tuổi tác cùng tham gia vào chương trình để thu gom nguồn CTR tài nguyên

- Chính quyền tổ chức trao bằng khen cho các tập thể và cá nhân thực hiện các hoạt động thu gom chất thải tái chế góp phần làm sạch đẹp địa phương trong khoảng thời gian dài như tham gia nhặt rác công viên, trên đường lộ (Chủ tịch UBNDTP và quận trưởng sẽ trao giấy khen đến các tổ chức có công làm giảm lượng rác bằng hình thức thu gom rác tái chế như chai lọ, lon hay báo và vải cũ)

- Đối với cơ sở kinh doanh có thành tích xuất sắc trong việc xử lý đúng quy định, giảm lượng rác thải được khen gợi trong một thời gian dài nhất định sẽ được nhận huân chương khen tặng từ Cục trưởng cục môi trường và Chủ tịch thành phố

- Ngoài ra, trên trang web của thành phố, thông tin hướng dẫn thực hiện được thể hiện bằng tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn Quốc để du khách hoặc người lao động nước ngoài có thể biết cách thực hiện

d Về công tác giám sát, xử phạt:

Các đơn vị vận hành cho từng công đoạn sẽ kiểm tra các loại chất thải người dân

có phân loại phù hợp hay không:

- Đối với các hộ gia đình chuyển giao chất thải không đúng thời gian quy định, lực lượng thu gom sẽ từ chối không thu gom rác và dán nhãn cảnh báo vào túi rác

Trang 25

Trường hợp chuyển giao CTR và phân loại sai thường xuyên, đơn vị thu gom sẽ thông báo với chính quyền thành phố và sẽ có nhân viên nhà nước đến nhắc nhở, hướng dẫn thực hiện

- Riêng đối với các cơ quan, đơn vị có hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ bị chính quyền xử phạt nếu như thực hiện phân loại sai hoặc chuyển giao chất thải không đúng thời gian quy định

- Trường hợp đơn vị vận chuyển các loại rác sai quy định vào bãi, đơn vị quản lý bãi sẽ trao đổi với đơn vị thu gom rác và đề xuất các biện pháp xử lý thích hợp

e Kết quả thực hiện PLCTRTN:

Với cách thức phân loại CTRTN triệt để, hệ thống pháp luật chặt chẽ và tuyên truyền liên lục, sau gần 20 năm, thống kê cho thấy khối lượng CTR đem xử lý tại lò đốt năm 2010 giảm đến 47% so với năm 1991 khi chưa triển khai chương trình

Như vậy, với sự kiên trì thực hiện mà người Nhật mất gần 20 năm, công tác phân loại CTRTN mới đạt 47% Điều này cho thấy phân loại CTRTN là một việc làm hết sức khó khăn, phức tạp ngay cả ở nước văn minh, tiên tiến như Nhật Bản Bởi vì đối tượng thực hiện phân loại CTRTN là người dân nên cần phải triển khai trong thời gian lâu dài mới có hiệu quả

1.2.1.2 Đài Loan

Cùng với sự phát triển kinh tế của Đài Loan và những thay đổi trong thói quen

ăn uống, khoảng 20-30% khối lượng CTR phát sinh là chất thải nhà bếp, trong đó bao gồm các bữa ăn còn sót lại, lá rau, trái cây và thực phẩm Trong xã hội cũ nông nghiệp Đài Loan, các chất thải trên được sử dụng để nuôi heo Ngày nay, trong các thành phố phát triển, sử dụng chất thải nhà bếp để chăn nuôi heo là không phù hợp và bị người dân phản đối Vì vậy, trước năm 2001, hầu hết các chất thải nhà bếp tại Đài Loan được

xử lý bằng cách chôn lấp hoặc thiêu đốt

Nhận thấy các ảnh hưởng tác động đến môi trường từ việc làm này, từ năm

2001 Cục Bảo vệ Môi trường Đài loan (EPA) đã phát động và thực hiện chương trình tái sử dụng và tái chế chất thải nhà bếp tại một số địa phương, mở đầu cho chương trình phân loại CTRTN đến ngày nay

Trang 26

a Về việc phân loại, thu gom và xử lý CTRTN:

CTR phát sinh từ hộ gia đình được phân loại và thu gom thành các loại sau:

- Nhóm 1: Chất thải thực phẩm: hộ gia đình có thể sử dụng bất kỳ bao bì nào để đựng

- Nhóm 2: Chất thải bao bì giấy, nhựa, đồ hộp, không thể tái chế - thích hợp để đốt: được đựng trong túi chứa rác (nylon màu xanh) và phải trả phí trên dung tích chứa của bao bì

- Nhóm 3: Chất thải cồng kềnh: bàn, ghế, tủ, giường,

- Nhóm 4: Chất thải nguy hại: pin, bóng đèn, đồ điện tử,

- Phế liệu: Giấy tập, báo, chai nhựa, lon nhôm, thủy tinh: chuyển giao riêng cho đơn vị thu gom, không cần thiết phải chứa trong bao bì theo qui định

Chính quyền quận thu gom trên các tuyến đường lớn theo các ngày trong tuần đối với các loại rác khác nhau và theo thời gian trong ngày đối với từng tuyến đường khác nhau Đồng thời nhận rác trung chuyển từ các đơn vị thu gom rác tư nhân Thông thường, hàng ngày, chất thải thuộc nhóm 1,2 sẽ được thu gom bằng xe chuyên dụng Nhóm 3, 4 và phế liệu được thu gom các ngày còn lại với tần suất ít hơn (1-2 lần/tuần) Toàn bộ chất thải được thu gom đưa về nhà máy xử lý tập trung:

- Nhóm 1: Vận chuyển đến trang trại chăn nuôi heo

- Nhóm 2: Đốt hoặc chôn lấp (tùy theo địa phương có lò đốt hay chưa)

- Nhóm 3: Đưa về Công ty phục hồi đồ dùng gia đình (thuộc Quỹ tái chế) để chỉnh sửa và bán lại

- Nhóm 4: Xử lý

- Phế liệu: Phân về cho các nhà máy tái chế theo từng loại phế liệu Thực tế tồn tại các Công ty tư nhân mua phế liệu trực tiếp từ nhà dân Trường hợp người dân không bán, thì giao cho nhà nước tái chế

Trang 27

Các đơn vị thu gom rác tư nhân hoạt động theo hợp đồng thu gom với các hộ gia đình và tổ chức trên những tuyến như đường hẻm, khu chung cư, khu văn phòng hoặc những hộ dân mà chính quyền quận không tới được

Các phương tiện thu gom được đầu tư phù hợp với việc phân loại rác từ nguồn Người dân phải mua bao bì chứa chất thải từ đơn vị thu gom Giá của túi chứa rác

do Sở Tài nguyên môi trường địa phương ban hành Do đó, để tiết kiệm chi phí mua túi rác, người dân phải phân loại đúng theo quy định

b Về công tác xây dựng các quy định liên quan đến phân loại CTRTN:

Để đảm bảo chương trình phân loại CTRTN thành công, EPA đã xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến môi trường, bao gồm:

- Quy định về phân loại chất thải bếp ăn và tái chế đồ dùng gia đình:

+ Bắt đầu từ năm 2003, EPA đã triển khai thu gom chất thải nhà bếp trên toàn quốc Hiện nay, tất cả 319 thành phố và thị trấn chính phủ địa phương trên toàn quốc đang thực hiện chương trình tái chế chất thải nhà bếp

+ Kể từ năm tài chính 2007, chương trình tái chế chất thải nhà bếp được EPA kết hợp phá triển thành "Chương trình tài nguyên chất thải Khuyến khích tái chế", để đạt mục tiêu "Zero, Xử lý chất thải" Trong năm 2009, hơn 720.000 tấn chất thải nhà bếp được tái chế tại Đài Loan, năm 2011 đạt 730.000 tấn và năm 2012 đạt 766.500 tấn

- Quy định về hạn chế sử dụng bao bì gói và bộ đồ ăn dùng 01 lần:

Năm 2006, EPA yêu cầu các cơ quan chính phủ ngăn chặn sử dụng bộ đồ ăn dùng một lần và các lệnh cấm tương tự đã được áp dụng đối với tất cả các trường học Kể từ năm 2007, những chiếc cốc giấy không được phép để được sử dụng trong các cơ quan chính phủ và trường học

- Các quy định và chính sách khác

+ Năm 2010, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Đài Loan vừa ban hành một luật mới

Theo đó, mọi công ty, tổ chức phi lợi nhuận, trường học phải tổ chức những bài học về môi trường trong thời gian tối thiểu 4 giờ mỗi năm Những cơ sở vi phạm luật sẽ phải

Trang 28

đóng cửa Luật được ban hành nhằm bảo vệ môi trường của đảo, sẽ đưa hoạt động bảo

vệ môi trường của đảo bước vào kỷ nguyên mới

+ Trong nhiều năm qua, chính phủ đảo Đài Loan cũng đã ban hành nhiều chính

sách khuyến khích phát triển và ứng dụng những công nghệ sạch nhằm giảm lượng khí thải CO2 Năm 2009, Cơ quan lập pháp của đảo thông qua một đạo luật về năng lượng tái sinh Theo luật đó, Đài Loan sẽ cố gắng sản xuất 6.500-10.000 MW điện từ năng lượng tái sinh trong vòng 20 năm tới Hiện tại các nguồn năng lượng tái sinh cung cấp 2.278 MW điện cho đảo

c Về công tác tuyên truyền phân loại CTRTN:

Suốt thời gian dài, EPA thực hiện các biện pháp tuyên tuyên truyền thông qua nhiều hình thức:

- Giới thiệu "Hạn chế sử dụng bao bì quá nhiều để điều chỉnh kích thước của bao

bì cho các sản phẩm như: đĩa CD phần mềm, hộp quà tặng, bao bì thực phẩm,…

- Phổ biến rộng rãi về cách thức phân loại và thời gian thu gom thông qua tờ rơi,

sổ tay hướng dẫn, thông tin trên website của thành phố để người dân dễ tra cứu thông tin

- Thành lập các lực lượng tình nguyện thúc để thúc đẩy quá trình phân loại CTR của các hộ gia đình

- Đưa nội dung giáo dục phân loại CTR vào các trường học

- Người thu gom sẽ trực tiếp kiểm tra việc thực hiện phân loại và chuyển giao chất thải của người dân có đúng quy định của thành phố và được quyền từ chối tiếp nhận CTR nếu người dân thực hiện không đúng

Trang 29

Việc giám sát thực hiện khá nghiêm ngặt nên người dân phải tuân thủ theo quy định để đảm bảo chất thải trong nhà được giao đúng thời gian quy định

e Kết quả thực hiện PLCTRTN

Thông qua những nỗ lực kết hợp của EPA và chính quyền địa phương, 1.977 tấn chất thải nhà bếp tại Đài Loan được tái chế mỗi ngày, làm giảm sự cần thiết phải xây dựng hai lò đốt tấn rác 900 tấn/ngày Ngoài ra, tăng thu 2,7 tỷ đô la Đài Loan mới mỗi năm trong lợi ích kinh tế do việc tái chế và tái sử dụng chất thải nhà bếp

Từ mô hình phân loại CTR tại Đài Loan cho thấy rằng, mô hình được thực hiện tại các trung tâm thành phố, thị trấn sau đó nhân rộng cho các vùng ven và nông thôn của Đài Loan Mô hình triển khai theo đúng định hướng mà Đài Loan đề ra và thực hiện kiểu cuốn chiếu cho từng địa phương Ngoài ra, kế hoạch thực hiện chương trình được xây dựng cụ thể cho từng giai đoạn và có nguồn kinh phí phân bổ từ trung ương đến địa phương phục vụ chương trình phân loại CTR tại nguồn

1.2.1.3 Bài học kinh nghiệm áp dụng cho TP.HCM

Trên cơ sở phân tích hai mô hình của Nhật Bản và Đài loan, kinh nghiệm rút ra

từ các nước trên phục vụ cho xây dựng chương trình phân loại CTRTN tại TP.HCM gồm những nội dung sau:

Thứ nhất là: Phải có mục tiêu cụ thể cho chương trình Có 03 mục tiêu lớn: (1) Phân loại thành nhiều loại càng tốt để tái sử dụng chất thải (2) tăng cường hiệu quả của hệ thống tái chế và xử lý chất thải (3) nâng cao nhận thức người dân về bảo vệ môi trường

Thứ hai là: Đầu tiên phải đồng bộ hạ tầng kỹ thuật từ hệ thống thu gom, vận chuyển, trung chuyển và xử lý chất thải Đối với hệ thống xử lý chất thải phải đảm bảo

có đủ nhà máy tái chế theo từng loại chất thải được phân loại

Thứ ba là: Hệ thống văn bản pháp lý đầy đủ trước khi thực hiện Đây là nội dung quan trọng nhất, vì có cơ sở pháp lý đầy đủ mới có thể triển khai chương trình, từ tuyên truyền đến xử lý các hành vi vi phạm trong phân loại; kêu gọi các đơn vị tư nhân tham gia đầu tư xây dựng trạm trung chuyển cũng như tái chế phế liệu thu gom được

Trang 30

từ chương trình; kêu gọi các tổ chức xã hội tham gia tuyên truyền trong cộng đồng địa phương về phân loại CTR tại nguồn,

Thứ tư là: Công tác tuyên truyền luôn được đặt lên hàng đầu và thực hiện liên tục bằng nhiều hình thức và nội dung khác nhau

Thứ năm là: phân loại CTRTN được xây dựng kế hoạch trong 05 năm và ước tính chi phí thực hiện cho cả giai đoạn trên

Thứ sáu là: Sự thống nhất về mục tiêu thực hiện của hệ thống chính trị từ thành phố đến địa phương và duy trì ổn định qua các thế hệ lãnh đạo

Thứ bảy là: Nhân sự thực hiện chương trình phân loại CTRTN từ trung ương đến địa phương phải được đào tạo chuyên sâu và đáp ứng đủ số lượng cho chương trình

năm 2050; quy định “Hệ thống quản lý tổng hợp CTR được xây dựng, theo đó CTR

được phân loại tại nguồn,…”;

Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014, có hiệu lực từ ngày

01/01/2015; nội dung tại Điều 85 qui định: “Chất thải phải được quản lý trong toàn

bộ quá trình phát sinh, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và tiêu hủy”

Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định về quản

lý chất thải và phế liệu, có hiệu lực từ ngày 15/6/2015; Nội dung tại Điều 15 qui định:

CTRSH được phân loại tại nguồn phù hợp với mục đích quản lý, xử lý thành các nhóm như sau: (1) Nhóm hữu cơ dễ phân hủy.(2) Nhóm có khả năng tái sử dụng, tái chế (3)Nhóm còn lại

Trang 31

Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ TNMT về quản lý chất thải nguy hại

1.3.1.2 Thành phố Hồ Chí Minh

Nghị Quyết Đại hội Đảng bộ TP.HCM lần X nhiệm kỳ 2015 – 2020, đã đề ra

chủ trương “nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, hoàn thiện chính sách để xã hội

hóa mạnh mẽ công tác bảo vệ môi trường; kiên quyết tổ chức phân loại CTR từ nguồn, vận chuyển, xử lý, tái chế chất thải”

Quyết định số 3167/QĐ-UBND ngày 29/6/2015 của UBNDTP về ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Chương trình thí điểm phân loại CTRTN trên địa bàn Thành phố

Chương trình hành động số 13-CTrHĐ/TU ngày 25/10/2016 của Thành ủy về thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X về Chương trình giảm ô nhiễm môi trường giai đoại 2016-2020

1.3.2 Căn cứ pháp lý khác có liên quan, tác động đến PLCTRTN

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 do Quốc hội ban hành;

theo đó từ ngày 01/01/2017 “Phí vệ sinh” được chuyển sang tên giá sản phẩm, dịch vụ

là “Dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt” và “Phí bảo vệ môi trường đối

với CTR” được chuyển sang tên giá sản phẩm, dịch vụ là “Dịch vụ xử lý CTR sinh hoạt”

Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Quyết định số 88/2008/QĐ-UBND, ngày 20/12/2008 của UBNDTP về thu phí

vệ sinh và Phí bảo vệ môi trường đối với CTR thông thường trên địa bàn Tp.HCM (gọi tắt là Quyết định 88)

- Quyết định 5424/QĐ-UB-QLĐT ngày 15/10/1998 của UBNDTP về quy định qui chế tổ chức và hoạt động lực lượng làm dịch vụ thu gom rác dân lập (gọi tắt là Quyết định 5424)

Trang 32

- Công văn số 2516/TNMT-CTR ngày 20/4/2015 của Sở TNMT về ban hành hướng dẫn kỹ thuật phân loại CTRTN cho các quận thí điểm trên địa bàn TP.HCM

1.3.3 Những bất cập liên quan đến văn bản pháp lý và các chính sách về PLCTRTN

- Mặc dù Luật bảo vệ môi trường, Nghị định 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ có quy định hộ gia đình, chủ nguồn thải phải thực hiện phân loại CTRTN Tuy nhiên, đến nay (năm 2016) Chính phủ vẫn chưa ban hành Nghị định hướng dẫn xử phạt vi phạm đối với hộ gia đình, chủ nguồn thải , đơn vị thu gom, vận chuyển không tuân thủ tham gia chương trình Việc đề nghị các đối tượng tham gia chương trình chủ yếu bằng hình thức vận động, thuyết phục là chính do vậy hiệu quả Chương trình đến nay phụ thuộc hoàn toàn vào ý thức của người dân

- Thành phố chưa ban hành cụ thể về qui định quản lý CTR sinh hoạt, cơ chế chính sách ưu đãi để khuyến khích việc thu gom và vận chuyển, xử lý và tái chế chất thải sinh hoạt theo qui định tại khoản 2 – Điều 28 của Nghị định số 38

- Sở TNMT đã ban hành Hướng dẫn kỹ thuật phân loại CTR sinh hoạt tại nguồn

áp dụng cho các quận thí điểm tại Công văn số 2516/TNMT-CTR ngày 20/4/2015 Tuy nhiên, đây chỉ là hướng dẫn kỹ thuật nên còn hạn chế về hiệu lực pháp lý

- Chưa có quy định về phân loại CTR sinh hoạt tại nguồn, bao gồm: Quy định cách thức phân loại, lưu trữ và chuyển giao chất thải; quy định về thời gian thu gom;

về hạ tầng kỹ thuật bao gồm trang thiết bị, phương tiện phục vụ hành nghề thu gom vận chuyển, trung chuyển CTR sinh hoạt; qui định xử phạt đối với hành vi không thực hiện phân loại chất thải tại nguồn

- Chưa có quy định và chính sách hỗ trợ các đơn vị đầu tư đổi mới phương tiện thu gom phù hợp với yêu cầu kỹ thuật phân loại CTR tại nguồn (trong trường hợp đơn

vị đang thu gom, vận chuyển CTR không phân loại trúng thầu thu gom, vận chuyển CTR đã phân loại tại nguồn);

- Mức phí vệ sinh và phí bảo vệ môi trường được ban hành theo quyết định số 88/2008/QĐ-UBND ngày 20/12/2008 của Ủy ban nhân dân Thành phố không còn phù

Trang 33

hợp vì mức phí thấp, không phù hợp với hiện tại, đặc biệt là khu vực có triển khai chương trình phân loại CTRTN

Trang 34

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG KỸ THUẬT VÀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT

THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI TP.HCM

2.1 Nguồn phát sinh, thành phần và khối lượng CTRSH TP.HCM

2.1.1 Nguồn phát sinh

Theo Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015, CTRSH được hiểu là CTR phát sinh trong quá trình sinh hoạt thường ngày của con người Như vậy, với khái niệm như trên, có thể hiểu rằng tất cả mọi hoạt động của người dân đều phát sinh rác sinh hoạt, chẳng hạn như các hoạt động cá nhân, các khu nhà ở (biệt thự, hộ gia đình riêng lẻ, chung cư,…), khu vực thương mại và dịch vụ (cửa hàng, chợ, siêu thị, quán

ăn, nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, trạm dịch vụ,…), khu cơ quan (trường học, viện và trung tâm nghiên cứu, các cơ quan hành chính nhà nước, văn phòng công ty, nhà tù,…), các hoạt động dịch vụ công cộng (quét dọn và vệ sinh đường phố, công viên, khu giải trí, tỉa cây xanh,…), sinh hoạt (ăn uống, vệ sinh,…), các cơ sở y tế (phòng khám, trung tâm đa khoa, bệnh viện không lây nhiễm,…), sinh hoạt của cán bộ, công nhân (văn phòng, căn tin, nhà ăn, nhà vệ sinh,…), các cơ sở công nghiệp (khu công nghiệp, nhà máy, cơ sở sản xuất)

Theo Sở TNMT TP.HCM, 2011; trên địa bàn thành phố có 7 nhóm nguồn phát sinh CTRSH gồm:

(1) Khu vực dân cư;

(2) Khu vực cơ quan;

(3) Khu vực thương mại;

Trang 35

Thành phần CTRSH phát sinh tại các hộ gia đình, CNT trên địa bàn TP.HCM qua các năm đều cho thấy thành phần CTR thực phẩm chiếm tỷ lệ chủ yếu (khoảng 56% năm 2009, năm 2015 dao động từ 17,8% đến 71,8% tùy vào từng loại nguồn thải

riêng biệt) (Trung tâm ETM, 2016)

Xét thành phần CTR tại bãi chôn lấp, CTR thực phẩm vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất (59,54% – 88,9%) Mặc dù tỷ lệ CTR thực phẩm tại bãi chôn lấp có chiều hướng giảm (88,9% năm 2009 giảm còn 59,54 % năm 2015) do việc điều phối các nguồn thải có tỷ

lệ CTR thực phẩm cao (chợ) về các các nhà máy sản xuất compost; tuy nhiên thành phần CTR thực phẩm vẫn chiếm tỷ lệ vượt trội so với các thành phần còn lại Chi tiết

tại bảng 2.1 và hình 2.1

Bảng 2.1 Thống kê thành phần CTR tại bãi chôn lấp

Mốp xốp 0,1 - 0,6 0,2 - 0,3 Styrofoam 0

Xà bần 0 - 1,4

Trang 36

Stt Chỉ tiêu Thời gian

Hỗn hợp mùn 15,4 - 29,4

(Nguồn: Trung tâm ETM, 2016)

Hình 2.1 Tỷ lệ % các thành phần tại bãi chôn lấp qua các năm

(Nguồn: Trung tâm ETM, 2016)

Trang 37

2.1.3 Khối lượng

Với hơn 9 triệu dân, tổng khối lượng CTR đô thị phát sinh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh được khoảng 8.000 – 8.500 tấn/ngày Trong đó, khối lượng CTRSH thu gom và vận chuyển về khu xử lý khoảng 7.000 – 7.500 tấn/ngày, phần còn lại là phế liệu được mua bán để tái chế Chỉ có một phần nhỏ, chủ yếu là các chất thải hữu

cơ xả xuống đồng ruộng ở vùng ngoại thành Ước tính tỷ lệ gia tăng khối lượng hàng

Trang 38

2.2.1 Công đoạn lưu chứa

Hiện tại các gia đình tự trang bị sử dụng thùng chứa CTR bằng nhựa, một số gia đình sử dụng thùng chứa bằng kim loại hoặc các giỏ tre nứa Phổ biến nhất hiện nay, người dân sử dụng các loại túi xốp, nilon chứa CTR Khi đến thời gian giao rác, thông thường các hộ đem thùng chứa hoặc túi nilon để trước cửa để công nhân thu gom dễ dàng thu gom Đối với những hộ không ở nhà vào thời gian thu gom rác, thường bỏ rác vào các bọc nilon buộc chặt, để trước cửa, chính hành động này đã tạo điều kiện cho những người thu nhặt ve chai có thể bươi, móc gây ô nhiễm, làm mất vẻ mỹ quan

đô thị

Tại các chợ, do diện tích kinh doanh có hạn nên đa số các tiểu thương buôn bán đều tận dụng khoảng trống làm nơi chứa hàng, rất ít nơi có thùng rác tiếp nhận rác, hầu hết rác phát sinh đều được thải bỏ ngay tại các lối đi trong chợ Sau khi tan chợ, công nhân vệ sinh sẽ thu gom rác trong chợ

Các hoạt động mua bán trên đường phố (cố định và di dộng), sinh hoạt đi lại của người dân đang là vấn đề phức tạp và nhức nhối trong việc tổ chức lưu chứa chất thải của mình Tình trạng đường phố đầy rác do các đối tượng này xả thải bừa bãi không đúng nơi quy định là thường xuyên, liên tục và đã thành thói quen xấu khó điều chỉnh Đối với trường học, công sở, nhà hàng, khách sạn, rác được lưu giữ trong các thùng chứa nhỏ được trang bị ngay trong đơn vị Sau đó, hầu hết rác đều được chuyển

ra đổ vào các thùng 240l

Phần lớn các vị trí lưu chứa rác của các hộ gia đình, các khu chưng cư, đặc biệt khu nhà cao tầng, các điểm chợ, các điểm đặt thùng rác công cộng, đều không có lưu ý nghiên cứu thiết kế ban đầu hay có nhưng bố trí không hợp lý, không thuận tiện Tại các khu vực công cộng trên đường phố, vỉa hè, phần lớn chưa được bố trí thùng rác công cộng hoặc có nhưng không đảm bảo phục vụ theo đúng chức năng của thùng rác công cộng

Hiện nay, phần lớn các hộ gia đình, CNT đã thực hiện phân loại tại nguồn chất thải có khả năng tái chế (có giá trị) để bán hoặc cho người thu gom rác, thu gom ve

Trang 39

chai,…nhưng không tận thu triệt để Vì vậy, tỷ lệ chất thải có giá trị tái chế trong rác

thải chiếm tỷ lệ thấp, trung bình 4% (tại bãi chôn lấp) (Sở TNMT, 2012)

về khu vực lưu chứa rác hợp lý Đặc biệt, một số chung cư không có hộc chứa rác riêng biệt (so với một số chung cư mới hiện nay có hai ngăn lưu chứa rác) và không có điểm tập kết rác nên người dân sống trong chung cư khó khăn trong việc giao rác và giao rác đúng qui định Kể cả hiện nay, theo qui định về qui hoạch đô thị cũng chưa qui định về hệ thống thu gom và lưu giữ chất thải đối với các khu đô thị hoặc chung cư mới

Các hoạt động mua bán trên đường phố (cố định và di dộng), sinh hoạt đi lại của người dân đang là vấn đề phức tạp, gây khó khăn trong việc tổ chức lưu chứa chất thải Tình trạng đường phố đầy chất thải rắn do các đối tượng này xả thải không đúng nơi quy định là thường xuyên, liên tục và đã thành thói quen xấu khó điều chỉnh Tại các khu vực công cộng trên đường phố, vỉa hè, phần lớn chưa được bố trí thùng chất thải rắn công cộng hoặc có nhưng không đảm bảo phục vụ theo đúng chức năng của thùng chất thải rắn công cộng

2.2.2 Công đoạn thu gom tại nguồn

Hệ thống thu gom rác tại nguồn do lực lượng công lập của Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị thành phố và Công ty TNHH MTV DVCI của các quận huyện (thu gom khoảng 40% khối lượng CTR phát sinh và hệ thống thu gom dân lập do các cá nhân thu gom rác tự do, các nghiệp đoàn thu gom và các Hợp tác xã vệ sinh môi trường thực hiện (thu gom khoảng 60% khối lượng CTR phát sinh) cùng thực hiện

cung ứng dịch vụ trên toàn địa bàn thành phố (Sở TNMT, 2012) Rác sinh hoạt từ

nguồn thải ra được chứa đựng trong các thùng chứa 660 lít, xe bagác đạp, xe đẩy tay

Trang 40

hoặc các xe lam, xe bagác có gắn động cơ được công nhân vệ sinh hay rác dân lập chuyển đến các điểm hẹn tập trung trên đường phố hoặc các bô, trạm trung chuyển rác gần nhất Ở một số nơi, lực lượng rác dân lập có kết hợp quét dọn vệ sinh khu vực các con hẽm tại khu vực mình cung cấp dịch vụ mà không thu thêm kinh phí

Lực lượng rác dân lập được hình thành từ trước giải phóng đến nay Lực lượng này có xuất thân phức tạp từ những gia đình nghèo, ở nhiều địa phương khác đến cũng như có trình độ văn hóa và hiểu biết thấp Hoạt động của lực lượng này mang tính cha truyền con nối Lực lượng rác dân lập là một một nhóm tư nhân với các cá thể cung cấp dịch vụ độc lập ở một số khu vực nhất định Các khu vực này chủ yếu là những địa bàn, khu dân cư hình thành mới, hoặc ở những vùng sâu vùng xa, những nơi chưa có lực lượng thu gom của nhà nước cung cấp dịch vụ này Những cá nhân này tự tìm kiếm địa bàn và tự trang bị phương tiện thu gom cũng như tự thống nhất về thời gian, giá dịch vụ với các hộ gia đình

Thời gian thu gom diễn ra khác nhau tùy thuộc vào đặc trưng của từng khu vực hoặc do lực lượng thu gom ấn định, thường diễn ra liên tục suốt cả ngày lẫn đêm Địa bàn thu gom rất phức tạp do đặc điểm có quá nhiều các tổ chức nhà nước và tư nhân (trên 30 đơn vị), các cá thể rác dân lập (trên 2.000 người) cùng tham gia cung ứng dịch

vụ trên địa bàn thành phố nói chung và một địa bàn phường xã cụ thể nói riêng

Chất lượng vệ sinh công tác thu gom của lực lượng công lập tốt hơn hệ thống dân lập do các các trang thiết bị, phương tiện thu gom được đầu tư đầy đủ và có kinh phí bảo trì, bảo dưỡng; người lao động được hưởng đầy đủ các chính sách an sinh xã hội

và tuân thủ theo quy định của đơn vị quản lý

Mức thu phí vệ sinh và phí bảo vệ môi trường đối với hộ gia đình, CNT thực hiện theo Quyết định 88 ngày 20/12/2008 của UBNDTP, đối với hộ gia đình từ 15.000 đến 20.000 đồng/tháng, các nhóm CNT ngoài hộ gia đình có mức thu khác nhau tùy theo nhóm đối tượng Tuy nhiên, thực tế mức thu hiện nay đã cao hôn Quyết định 88 và dao động từ 25.000 đến 40.000 đồng/tháng/hộ tùy theo khu vực và thảo thuận giữa lực lượng thu gom và hộ gia đình

Hiện nay về mặt quản lý chuyên ngành do Sở TNMT thực hiện thông qua ngành dọc là các Phòng Tài nguyên Môi trường Quận Huyện nhưng về quản lý hành chính

Ngày đăng: 27/01/2021, 08:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014 do Quốc hội ban hành Khác
2. Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 do Quốc hội ban hành Khác
3. Nghị Quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Khác
4. Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Hà Nội Khác
5. Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu Khác
6. Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ TNMT về quản lý chất thải nguy hại Khác
7. Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 Khác
8. Nghị Quyết Đại hội Đảng bộ TP.HCM lần X nhiệm kỳ 2015 – 2020 Khác
9. Quyết định 5424/QĐ-UB-QLĐT ngày 15/10/1998 của UBNDTP về quy định qui chế tổ chức và hoạt động lực lượng làm dịch vụ thu gom rác dân lập Khác
10. Quyết định 88/2008/QĐ-UBND ngày 20/12/2008 của UBNDTP về thu phí vệ sinh và phí bảo vệ môi trường đối với CTR thông thường Khác
11. Quyết định số 3167/QĐ-UBND ngày 29/6/2015 của UBNDTP về ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Chương trình thí điểm phân loại CTRTN trên địa bàn Thành phố Khác
12. Công văn số 2516/TNMT-CTR ngày 20/4/2015 của Sở TNMT về ban hành hướng dẫn kỹ thuật phân loại CTRTN cho các quận thí điểm trên địa bàn TP.HCM.B. TÀI LIỆU THAM KHẢO Khác
1. Công ty Môi trường Đô thị Thành phố, 1997. Kế hoạch tổ chức lại lực lượng thu gom-vận chuyển rác trên địa bàn TP.HCM. TP.HCM Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm