mặt xã hội, CMCN 4.0 thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội ở nhiều nước với sự xuất hiện ngày càng đông đảo tầng lớp sáng tạo trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, thiết kế, v[r]
Trang 1HIỂU BIẾT, XÁC ĐỊNH, GIẢM THIỂU VÀ KHẮC PHỤC NHỮNG RỦI RO VỀ QUYỀN CON NGƯỜI MÀ CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0, ĐẶC BIỆT LÀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO, CÓ THỂ ĐẶT RA
Ở VIỆT NAM
Vũ Ngọc Bình
Cố vấn Cao cấp Viện Dân số, Gia đình và Trẻ em (thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam)
Tóm tắt: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (CMCN 4.O) đang diễn ra
khắp trên thế giới và công nghệ, toàn cầu hóa và số hóa đang tác động to lớn lên tất
cả các mặt của cuộc sống, đặc biệt về giáo dục, việc làm và gia đình Trí tuệ nhân tạo (AI) mà thường trước đây được nghĩ là chuyện viễn tưởng khoa học thì giờ đây đang ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền con người theo các cách nghịch lí khác nhau Bài viết này không chỉ nêu lên những cơ hội mà AI đem lại mà còn làm nổi bật những rủi ro về quyền con người mà AI có thể gây ra với những nhóm người đặc biệt dễ bị tổn thương ở Việt Nam và cách xác định, giảm thiểu và khắc phục những rủi ro đó trong bối cảnh hội nhập quốc tế
1 Các cuộc cách mạng công nghiệp trên thế giới
Tính đến nay, nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN)
và bắt đầu bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) Nếu như
CMCN 1.0 sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất, CMCN 2.0 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt, CMCN 3.0 sử dụng điện
tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất, thì CMCN 4.0 được phát triển
từ CMCN 3.0, kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học
CMCN 1.0 (kéo dài khoảng 90 năm từ năm 1784 đến năm 1870) diễn ra từ
thế kỷ 18 đến 19 ở châu Âu và Mỹ khi loài người phát minh động cơ hơi nước, tác động trực tiếp đến các ngành nghề như dệt may, chế tạo cơ khí, giao thông vận tải Trong thời kỳ này, nền kinh tế giản đơn, quy mô nhỏ, dựa trên lao động chân tay được thay thế bằng công nghiệp và chế tạo máy móc quy mô lớn Động cơ hơi nước được đưa vào ôtô, tàu hỏa, tàu thủy, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại Đó là thời kỳ mà hầu hết nông nghiệp, xã hội nông thôn đã trở thành công nghiệp và đô thị Ngành công nghiệp sắt và dệt, cùng với sự phát triển của động cơ hơi nước, đóng vai trò trung tâm trong cách mạng công nghiệp làm thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa và kỹ thuật, bắt đầu từ nước Anh và sau đó lan tỏa ra nhiều nơi trên thế giới (Kaplan, 2016a)
CMCN 2.0 (kéo dài khoảng 100 năm từ năm 1870 đến năm 1969) diễn ra
Trang 2nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt, tạo nên nền sản xuất quy mô lớn với các dây chuyền lắp ráp Loài người phát minh ra động cơ điện, mang lại cuộc sống văn minh, năng suất tăng nhiều lần so với động cơ hơi nước Cuộc cách mạng bắt đầu với sự phát triển sản xuất hàng hóa của ngành công nghiệp dệt Sau đó, với nhu cầu cung cấp máy móc và năng lượng cho công nghiệp dệt, các kỹ thuật gia công sắt thép được cải thiện và than đá sử dụng với khối lượng lớn Thương mại mở rộng tạo điều kiện cho sự ra đời của kênh đào giao thông và đường sắt Bên cạnh đó, đường giao thông được nâng cấp lớn cho hoạt động giao thương nhộn nhịp Động cơ hơi nước sử dụng nhiên liệu than và máy móc dẫn động bằng cơ khí đã đưa đến gia tăng năng suất lao động đột biến Sự phát triển các máy công cụ trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ 19 tạo thuận lợi cho lĩnh vực chế tạo máy, phục vụ những ngành sản xuất khác Thời gian này có sự phát triển của các ngành công nghiệp hóa chất, dầu mỏ, thép và điện lực Sản xuất hàng loạt hàng tiêu dùng được phát triển, các lĩnh vực như đồ uống và thực phẩm, quần áo, vận tải và giải trí gồm rạp chiếu phim, phát thanh, máy ghi âm được thương mại hóa đáp ứng nhu cầu dân chúng và tạo nhiều công ăn việc làm (Kaplan, 2016b)
CMCN 3.0 (chỉ gần 30 năm, từ năm 1969 đến năm 1997) xuất hiện khi con
người phát minh ra máy tính, Internet nên cũng được gọi là cuộc cách mạng số Đây
là thời kỳ mà máy móc tự động hóa thay thế phần lớn chức năng của con người.với
sự tiến bộ của công nghệ từ các thiết bị cơ điện tử tương tự sang công nghệ số ngày nay, được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và internet (thập niên 1990) Con người phát minh ra bóng bán dẫn, điện tử, kết nối thế giới liên lạc được với nhau qua vệ tinh, máy bay, máy tính, điện thoại, Internet…Cho đến cuối thế kỷ 20, quá trình này cơ bản hoàn thành nhờ những thành tựu khoa học công nghệ cao, gồm máy tính cá nhân, Internet, công nghệ thông tin và mạng xã hội Khủng hoảng tài chính châu Á nổ ra năm 1997 đánh dấu sự kết thúc của cuộc cách mạng thứ ba này
(Tegmark, Max (2017)
CMCN 4.0 được đưa ra giới thiệu, thảo luận lần đầu vào năm 2011411
và được mô tả như là sự ra đời của một loạt các công nghệ mới, kết hợp tất cả các kiến thức trong lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học với những yếu tố cốt lõi của
kỹ thuật số là trí tuệ nhân tạo (Artificial Intellegence - AI), vạn vật kết nối (Internet
of Things - IoT) và dữ liệu lớn (Big Data) Hiện tại cả thế giới đang ở trong giai
411 CMCN 4.0 gắn liền với thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” được đưa ra lần đầu tiên tại Hội chợ Công nghệ Ha-nô-vờ ở Cộng hòa Liên bang Đức năm 2011 Trong năm 2012 sau đó, thuật ngữ này được đặt tên cho một chương trình hỗ trợ của Chính phủ Liên bang Đức hợp tác với giới nghiên cứu và các hiệp hội công nghiệp hàng đầu của Đức nhằm cải thiện quy trình quản lý và sản xuất trong các ngành chế tạo thông qua “điện toán hóa” Từ đó đến nay, thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” được sử dụng rộng rãi trên thế giới để
mô tả CMCN 4.0 Diễn đàn kinh tế thế giới ở Đa-vốt (Thụy Sĩ) được khai mạc ngày 20-01-2016 với chủ
đề “Làm chủ CMCN 4.0”
Trang 3đoạn đầu của CMCN 4.0 diễn ra trong vài năm qua tại các nước phát triển như Mỹ, châu Âu và một phần châu Á Khoa học-công nghệ sẽ biến những điều tưởng chừng
như không thể trở thành có thể Năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản phẩm, dịch
vụ tăng; chi phí thương mại giảm sẽ làm tăng doanh thu toàn cầu, thúc đẩy tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, nâng cao tính tiện ích cho cuộc sống cá nhân CMCN
4.0 sẽ làm thay đổi cơ bản lối sống, phong cách làm việc và cách thức giao tiếp412
Kinh nghiệm và thực tiễn thế giới cho thấy CMCN đã tạo ra cơ hội vượt lên phía trước cho một số quốc gia Việc phát minh ra động cơ hơi nước năm 1784 đã giúp nước Anh và châu Âu nổi lên như là các cường quốc trong CMCN 1.0 Phát minh ra động cơ điện năm 1870 mở rộng tầm ảnh hưởng của các cường quốc như
Mỹ, Đức và sau đó là Nhật Bản trong CMCN 2.0, rồi sự ra đời của công nghệ bán dẫn, vi mạch, máy tính và Internet trong CMCN 3.0 trong một thời gian ngắn giúp Hàn Quốc, Đài Loan, Xin-ga-po vốn là những quốc gia, vùng lãnh thổ châu Á đầy khó khăn chính thức gia nhập nhóm các nền kinh tế phát triển nhất Sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc đi trước đón đầu CMCN 4.0 và đã có những khuôn khổ chính sách và pháp luật chuẩn bị như Xin-ga-po năm 2014 với “Sáng kiến quốc gia thông minh”, Trung Quốc năm 2015 với “Sản xuất năm 2025”, Ấn Độ năm
2015 với “Dự án 100 thành phố thông minh”, Hàn Quốc năm 2016 với “Các biện pháp đối phó toàn diện về xã hội trí tuệ nhân tạo”
Đi liền với CMCN 4.0 là các khái niệm rất mới trên rất nhiều lĩnh vực, như
là: kinh tế số, kinh tế chia sẻ, trí tuệ nhân tạo Cuộc cách mạng này sẽ làm thay đổi
hệ thống sản xuất, quản lý, quản trị của các ngành công nghiệp Nó có những tác động to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường ở tất cả các cấp – toàn cầu, khu vực và trong từng quốc gia Nó tác động mạnh mẽ, toàn diện trên các khía cạnh chủ yếu của nền kinh tế mỗi quốc gia như về cấu trúc, trình độ phát triển, tốc độ tăng trưởng, mô hình kinh doanh, thị trường lao động…Đặc tính nổi bật đầu tiên của CMCN 4.0 đó là tốc độ, đặc biệt máy móc không chỉ thay thế công việc chân tay,
mà đang học cả cách tư duy như con người
Trí tuệ nhân tạo (AI) mà thường trước đây được nghĩ là chuyện viễn tưởng
khoa học thì giờ đây đang ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền con người theo các cách nghịch lí khác nhau Đó là trí tuệ của máy móc được tạo ra bởi con người và có thể tư duy, suy nghĩ, học hỏi như trí tuệ con người, song lại xử lý dữ liệu ở mức rộng lớn hơn, quy mô hơn, hệ thống, khoa học và nhanh hơn so với con người Rất nhiều hãng công nghệ nổi tiếng có tham vọng tạo ra được những AI vì giá trị của chúng là vô cùng lớn, giải quyết được rất nhiều vấn đề của con người mà loài người đang chưa giải quyết được Với sự chuyển động của CMCN 4.0, trong khoảng 15 năm tới thế giới sẽ có diện mạo mới, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi Về
412 https://www.weforum.org/agenda/2016/01/the-fourth-industrial-revolution-what-it-means-and-how-to-respond/
Trang 4mặt xã hội, CMCN 4.0 thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội ở nhiều nước với sự xuất hiện ngày càng đông đảo tầng lớp sáng tạo trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, thiết kế, văn hóa, nghệ thuật, giải trí, truyền thông, giáo dục, đào tạo, y
tế, pháp luật, quân sự, an ninh AI có thể được định nghĩa như một ngành của khoa học máy tính liên quan đến việc tự động hóa các hành vi thông minh, do đó nó phải được đặt trên những nguyên lý lý thuyết vững chắc, có khả năng ứng dụng được của
lĩnh vực này Dưới đây là một số ứng dụng điển hình của AI - sự mô phỏng các quá
trình hoạt động trí tuệ của con người bằng máy móc, đặc biệt là các hệ thống máy tính trong những lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, kinh doanh, giáo dục, tài chính, sản xuất, pháp luật…Đây là khả năng do máy móc thể hiện trong điện thoại thông minh,
vi tính, xe cộ tự hành, người máy…là nhiều chức năng từ phụ việc dọn dẹp gia đình cho đến làm công cụ tham gia chiến tranh AI hiện nay chủ yếu học tập những điều tốt đẹp từ con người, chúng bắt chước suy nghĩ của con người và hoàn thành nhiệm
vụ bằng cách lặp đi lặp lại, hoặc nhiều hơn thế một chút Nhưng điều này không làm con người bớt sợ hãi về nỗi lo trí tuệ nhân tạo sẽ tự nhận thức được và thống trị thế giới Nhiều người thì lại cho rằng trí tuệ nhân tạo vẫn chưa thực sự đáng sợ, cần phải thay đổi để khiến nó đáng sợ hơn AI mang lại rất nhiều giá trị cho cuộc sống loài người, nhưng cũng tiềm ẩn những nguy cơ Rất nhiều chuyên gia lo lắng rằng khi trí tuệ nhân tạo đạt tới một ngưỡng tiến hóa nào đó thì đó cũng là thời điểm loài người bị tận diệt Rất nhiều các bộ phim đã khai thác đề tài này với nhiều góc nhìn, nhưng qua đó đều muốn cảnh báo loài người về mối nguy đặc biệt này413
Nhiều chuyên gia lo ngại là AI có thể phát triển lệch lạc, thể hiện tầm nhìn hạn hẹp, thiên vị, thành kiến nếu như những người thiết kế, chế tạo ra chúng đa số vẫn là nam giới như hiện nay Theo một nghiên cứu năm 2013 của Hiệp hội Phụ nữ đại học Mỹ, chỉ có 26% số chuyên gia máy tính là nữ, giảm 9% kể từ năm 1990 Nhiều chuyên gia coi đây là vấn đề nghiêm trọng, bởi các ngành khác như sinh học, hóa học, kỹ thuật đều có tỷ lệ phụ nữ tăng mạnh Về nguyên nhân, một số người cho rằng công nghiệp máy tính thích hợp với nam hơn và văn hóa trong ngành này không hoan nghênh, thậm chí thù địch với nữ Các chương trình được lập trình hôm nay sẽ định hình những hệ thống của tương lai và nếu như mọi nhà thiết kế, lập trình đều có chung một thế giới quan, chúng ta có thể sẽ nhận được các máy tính
với trí óc hẹp hòi Ứng dụng AI trong việc hoạch định chính sách và các lĩnh vực khác có thể gián tiếp dẫn đến sự phân biệt đối xử Đã đến lúc các kỹ sư phần mềm cần cân nhắc về vấn đề quyền con người để không có thể dẫn đến sự phân biệt đối
xử dựa trên chủng tộc, giới tính hoặc sắc tộc
Bên cạnh những cơ hội mới, CMCN 4.0 cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt, đặc biệt với những tiềm ẩn rủi ro khó lường cho những
413 https://khoahoc.tv/tri-tue-nhan-tao-la-gi-ai-artificial-intelligence-la-gi-80106
Trang 5nước đang phát triển Mặt trái của CMCN 4.0 được cho là nó có thể gây ra sự bất bình đẳng, đặc biệt là có thể phá vỡ thị trường lao động AI sẽ dần thay thế lao động phổ thông và nhiều người trong các lĩnh vực với các công việc truyền thống, có tính chu kỳ sẽ ngày càng mất dần vào tay của robot, trí tuệ nhân tạo414 Do đó người lao động phải luôn trau dồi các kỹ năng để có thể cạnh tranh, thích ứng với sự thay đổi của xu thế (UNDP, 2017)
AI đang ngày càng có sức ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong cuộc sống thường nhật Đó là sự hiện diện của các trợ lý ảo thông minh trên điện thoại di động và các trợ lý gia đình ảo Nó xuất hiện trong các thuật toán được thiết kế để cải thiện khả năng chẩn đoán sức khỏe của chúng ta Và nó được áp dụng trong các công cụ hoạch định chính sách được cảnh sát sử dụng trong công tác phòng chống tội phạm
Quy tắc bảo mật và bảo vệ dữ liệu áp dụng cho thông tin liên quan đến sức khỏe của các cá nhân Tương tự, việc ghi chép và sử dụng có hệ thống định vị trên điện thoại thông minh có thể vi phạm các quy tắc bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư
và nó có thể dẫn đến mối lo ngại về việc giám sát kỹ thuật số của các cơ quan công quyền Các kỹ sư phần mềm chịu trách nhiệm thiết kế những thuật toán đằng sau tất
cả các hệ thống này Chính các kỹ sư phần mềm cho phép các trợ lý thông minh trả lời các câu hỏi của chúng ta một cách chính xác hơn, giúp các bác sĩ cải thiện việc phát hiện các rủi ro sức khỏe và cho phép các nhân viên cảnh sát xác định rõ hơn các nguy cơ tội phạm gia tăng
Những bất ổn về kinh tế và xã hội nảy sinh từ CMCN 4.0 sẽ dẫn đến những bất ổn về đời sống Bên cạnh đó, những thay đổi về cách thức giao tiếp trên Internet cũng đặt con người vào nhiều nguy hiểm về tài chính, sức khoẻ Thông tin cá nhân nếu không được bảo vệ một cách an toàn sẽ dẫn đến những hệ lụy khôn lường CMCN 4.0 sẽ càng thêm phức tạp bởi ở nhiều vùng trên thế giới – khi mà CMCN 3.0 và thậm chí là CMCN 2.0 còn chưa hoàn tất mà các công nghệ mới có thể “nhảy cóc” qua những chuyển biến đó, gây ra sự xáo trộn chưa từng thấy với mọi xã hội Công nghệ đang làm thay đổi xã hội nhanh chóng, các chuẩn mực, các giá trị và các trật tự đều có thể được công-nghệ biến đổi khôn lường CMCN 4.0 sẽ rất khác so với ba cuộc cách mạng đã làm thay đổi năng lực sản xuất của con người
trước đó và được dự báo đảo lộn toàn bộ cuộc sống con người (Frankish, Keith &
William M Ramsey, 2014)
Giai đoạn đầu tiên sẽ là thách thức với những lao động văn phòng, trí thức và lao động kỹ thuật Giai đoạn tiếp theo sẽ là lao động giá rẻ, có thể sẽ chậm hơn Xu hướng sản xuất tự động hóa trên toàn cầu sẽ làm giảm thu nhập, do người công
414
https://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/ -asia/ -ro-bangkok/ -ilo-hanoi/documents/publication/wcms_630855.pdf)
Trang 6nhân phải cạnh tranh với máy móc và với chính cả những người đã mất việc do máy móc Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế và khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực thì hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp, mất việc làm sẽ rồi sinh ra rất nhiều tệ nạn, các vấn đề chính trị phức tạp hơn rồi tạo những mối đe doạ lớn đến nhiều người cùng cộng đồng, đặc biệt với những nhóm người yếu thế và dễ bị tổn thương415
Lĩnh vực lao động và việc làm đang trải qua những thay đổi lớn ở quy mô chưa từng có do sự chuyển dịch của một số yếu tố như sự cải tiến của công nghệ, tác động của biến đổi khí hậu, sự thay đổi đặc tính của sản xuất và việc làm Các ngành, lĩnh vực sử dụng nhiều lao động kỹ năng thấp trung hạn và dài hạn sẽ bị tác động trực tiếp và nhiều nhất do nhu cầu sử dụng lao động tay nghề cao tăng trong khi nhu cầu sử dụng lao động kỹ năng thấp ngày càng giảm Nhóm lao động chịu tác động mạnh nhất là lao động phổ thông do rất dễ bị thay thế bởi quá trình tự động hóa và người máy Nhiều ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày sẽ thay đổi công nghệ sản xuất theo hướng tự động hóa, robot hóa, ảnh hưởng đến việc làm của hàng triệu lao động Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu ngày càng xa, dư thừa lao động trình độ thấp, nhập khẩu công nghệ lạc hậu, mất an toàn,
an ninh thông tin, đồng thời chịu tác động nhiều mặt về văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh Hơn thế nữa, thị trường lao động sẽ bị thách thức nghiêm trọng giữa chất lượng cung và cầu lao động cũng như cơ cấu lao động Khi
tự động hóa thay thế con người trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, người lao động chắc chắn sẽ phải thích ứng nhanh với sự thay đổi của sản xuất nếu không sẽ bị dư thừa, bị thất nghiệp Hàng loạt nghề nghiệp cũ sẽ mất đi và thay thế vào đó là những nghề nghiệp mới Thị trường lao động trong nước cũng như quốc tế sẽ phân hóa mạnh mẽ giữa nhóm lao động có kỹ năng thấp và nhóm lao động có kỹ năng cao Lao động giá rẻ không còn là lợi thế cạnh tranh của các thị trường mới nổi ở châu Mỹ La tinh và châu Á Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng cuộc CMCN 4.0 không chỉ đe dọa việc làm của những lao động trình độ thấp mà ngay cả lao động có
415 Hiện trên thế giới không có những khái niệm hay định nghĩa chính thức nào về nhóm người yếu thế/dễ bị
tổn thương (vulnerable groups) trong các văn bản chính thức của Liên Hợp Quốc hay các tổ chức quốc tế
khác Tuy nhiên trên thực tế, nhóm người yếu thế/dễ bị tổn thương lại được sử dụng rộng rãi trên thế giới
và ở các quốc gia với những thuật ngữ hay khái niệm tương đương như nhóm thiệt thòi (disadvantaged groups), nhóm bị lề hóa (marginalized groups), nhóm bị loại bỏ ra ngoài (excluded groups)…tùy theo
nhận thức, pháp luật và ngôn ngữ ở các quốc gia đó Họ thường là phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người thiểu số, những người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBTs)…Tuy nhiên, hiện cũng không có thống kê chính thức nào trên quy mô toàn cầu về những nhóm dân cư này, trừ số liệu ước tính lấy từ những báo cáo của Liên Hợp Quốc, kể trong báo cáo hàng năm của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) về Chỉ số phát triển con người (HDI) Báo cáo năm 2016 do UNDP công bố năm 2017 cho thấy mặc dù tiến bộ trung bình về phát triển con người được cải thiện trên mọi khu vực trên toàn cầu trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2015, nhưng một phần ba dân số thế giới vẫn tiếp tục sống với mức phát triển con người thấp, theo kết quả đo lường HDI
Trang 7
kỹ năng bậc trung (trung cấp, cao đẳng) cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu như họ không được trang bị những kỹ năng mới- kỹ năng sáng tạo cho nền kinh tế 4.0
2 Việt Nam đang ở đâu trong CMCN 4.0 và các cơ hội cùng những thách thức là những gì?
Cuộc cách mạng này cũng đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam với sự cải tiến
và ứng dụng công nghệ tại nơi làm việc ở tốc độ nhanh hơn bao giờ hết và rất đa dạng trong các ngành nghề khác nhau Doanh nghiệp Việt Nam phần lớn là nhỏ và vừa, chưa đủ năng lực cạnh tranh, chưa sẵn sàng tiếp cận công nghệ mới Nhiều doanh nghiệp còn bị động với các xu thế phát triển mới, chưa sẵn sàng chuyển hướng
mô hình tổ chức kinh doanh Trong khi đó, áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt và đứng trước áp lực lớn về nguồn lực để chuyển đổi, đổi mới sáng tạo, tạo đột phá
CMCN 4.0 tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội như công nghiệp, nông nghiệp, tài chính ngân hàng, lao động, việc làm, giao thông vận tải, dệt may,
du lịch, y tế, giáo dục đào tạo, đến doanh nghiệp và các địa phương… Tuy nhiên, cuộc cách mạng này vẫn đang trong giai đoạn khởi phát nên sẽ là cơ hội quý báu mà Việt Nam phải nhanh chóng đón bắt để tranh thủ đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, nếu không định hướng được rõ ràng mục tiêu, cách thức tiếp cận và tham gia thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới giáo dục, phát triển khoa học và công nghệ phù hợp thì sức ép đặt ra cho Việt Nam bởi cuộc cách mạng này là rất lớn
Người máy sẽ thay thế lao động là những gì đang diễn ra tại các quốc gia có lực lượng lao động dồi dào như Việt Nam thì hậu quả của việc áp dụng trí tuệ nhân tạo vào CMCN 4.0 này có thể sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến người lao động Theo ước tính của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) công bố tháng 7 năm 2016 cho thấy Việt Nam có đến 86% lao động cho các ngành dệt may và giày dép có nguy cơ cao mất việc làm dưới tác động của những đột phá về công nghệ do CMCN 4.0 Nguy cơ này có thể chuyển thành con số thiệt hại không nhỏ khi các ngành như dệt may, giày dép đã tạo ra số lượng lớn việc làm cho lao động trong nước (khoảng gần 2,3 triệu người, trong đó khoảng 78% là lao động nữ làm việc trong ngành dệt may) Trong 20 năm trong giai đoạn từ năm 1996 lên năm 2016, tổng số lao động Việt Nam đã tăng thêm khoảng 19 triệu người, từ 35 triệu người lên 54 triệu người ((Viện HLKHXH VN, 2017)
Mất việc làm không chỉ đe dọa lao động trình độ thấp mà còn cả với nhân lực có trình độ đại học, cao đẳng nếu Việt Nam không đổi mới trong giáo dục, dạy nghề Nguồn lao động lúc này cần sẽ là rất ít những đòi hỏi chất lượng nguồn lao động phải rất cao Do đó, nhu cầu đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số ngày càng trở nên cấp bách Nếu như không học hỏi
và không tiếp nhận những công nghệ cùng xu hướng mới thì nguy cơ hoàn toàn sẽ
Trang 8bị tụt hậu và bị đào thải khi AI sẽ làm thay con người trong một số lĩnh vực và khi máy móc làm thay con người, sự dôi dư nguồn nhân lực sẽ trở thành lực cản của quá trình phát triển trong tương lai Điều này tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ bất ổn đối
về xã hội và chính trị
Việt Nam đang bắt đầu bước vào một giai đoạn phát triển và hội nhập mới Trong giai đoạn 2016-2020, công nghiệp hóa theo hướng hiện đại hóa đã được xác định là trọng tâm của chiến lược phát triển quốc gia Sự đẩy mạnh công nghiệp 4.0 dựa trên số hóa và kết nối là xu thế của thế giới và có thể mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời cũng đưa đến những thách thức đối với quá trình phát triển (NHTG & BKHĐT, 2016)
AI phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng tại Việt Nam lĩnh vực này vẫn còn khá mới mẻ Khi công nghệ thông tin ngày càng phát triển, trí tuệ nhân tạo đã và đang thay thế một phần công việc của con người, việc xây dựng cộng đồng trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam phát triển vững mạnh là rất cần thiết Từ đó có thể cùng nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo để giải quyết những vấn đề cụ thể không chỉ ở Việt Nam mà mang tính toàn cầu Phát huy, tận dụng thành tựu và hạn chế những mặt trái của cuộc cách mạng công nghiệp
này như thế nào là vấn đề mà tất cả các quốc gia đều cần giải quyết Với sự chuyển
động của cuộc cách mạng này, trong khoảng 15 năm tới hay xa hơn là thế giới sẽ có diện mạo mới, đòi hỏi có nhiều thay đổi lớn lao Câu hỏi lớn bây giờ là con người
sẽ làm gì để thích nghi với những tiến bộ và ứng đối với các thách thức của cuộc cách mạng này (ILO, 2018)
Mặc dù vậy trong bối cảnh phát triển mới, CMCN 4.0 và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đang đặt ra nhiều thách thức cho Việt Nam trong giai đoạn tới Tăng trưởng kinh tế dựa trên các động lực cũ không còn phù hợp; mô hình tăng trưởng cũ đã thành công trong giai đoạn đầu của đổi mới nhưng dần trở nên không còn phù hợp, thậm chí có thể đem lại nhiều rủi ro cho nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay Việc phát triển nhanh, bền vững là chủ trương và là mệnh lệnh của cuộc sống để rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển trên thế giới Theo đó, tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô, hội nhập kinh tế quốc tế và ngược lại, tăng trưởng nhanh và bền vững sẽ tăng cường ổn định vĩ mô, hội nhập quốc tế Muốn phát triển nhanh, bền vững, không còn cách nào khác là Việt Nam phải chuyển đổi mô hình và tái cơ cấu nền kinh tế vì CMCN 4.0 sẽ diễn
ra trên ba lĩnh vực chính là công nghệ sinh học, kỹ thuật số và vật lý Những lĩnh vực này, dù còn nhiều yếu kém lạc hậu, song Việt Nam hoàn toàn có tiềm năng để phát triển mạnh Các động lực mới cho tăng trưởng phải giúp nâng cao năng suất, cải thiện hiệu quả của nền kinh tế, giúp đạt được mục tiêu tăng trưởng bao trùm và tăng trưởng đi kèm với ổn định của nền kinh tế Động lực cho tăng trưởng cần hướng tới số lượng gắn với chất lượng của tăng trưởng
Trang 9Việt Nam là quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng CMCN 4.0 đang kích hoạt các làn sóng tạo nên những đột phá
xa hơn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm thay đổi một cách toàn diện lối sống và cung cách làm việc CMCN 4.0 đang ở giai đoạn phát triển được tính theo cấp
số nhân và những biểu hiện của cuộc cách mạng này khá rõ ở Việt Nam
CMCN 4.0 được dự đoán sẽ tạo ra nhiều cơ hội trong việc nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh trong chuỗi sản phẩm Nhìn xa hơn, các mô hình số hoá cũng vẽ nên viễn cảnh tác động lên nhiều lĩnh vực hay có thể nói là toàn bộ lĩnh vực của nền kinh tế CMCN 4.0 mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong nâng cao trình độ công nghệ và sức cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh, tạo ra các cơ hội đầu tư hấp dẫn
Với những bước tiến khá nhanh trong thời gian qua về phát triển công nghệ thông tin-truyền thông, Việt Nam đã dần được ghi nhận trên bản đồ công nghệ thông tin-truyền thông thế giới, hạ tầng truyền thông phục vụ cho Chính phủ, doanh nghiệp và người dân được phát triển mạnh mẽ, nguồn nhân lực công nghệ thông tin đang trở thành ngành kinh tế có tốc độ phát triển nhanh, bền vững, doanh thu cao, có giá trị xuất khẩu lớn, đóng góp quan trọng vào GDP quốc gia Chính phủ điện tử qua hai năm triển khai thực hiện đã có những chuyển biến rõ nét từ nhận thức đến hành động, tăng cường kết nối liên thông, mở rộng thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến
Riêng tại Việt Nam là nước có dân số đông, đứng thứ 14 trên thế giới với khoảng 94 triệu dân, thì lại có số người dùng Internet là 53.86 triệu người trong năm 2017, chiếm 54% dân số (đứng thứ năm ở châu Á-Thái Bình Dương) Con số này dự báo sẽ tăng lên thành 59, 48 triệu người trong năm 2022 Số người dùng facebook ở Việt Nam dự kiến là 33, 75 triệu người, tăng lên từ 30 triệu trong năm
2016, đứng thứ bảy trên thế giới về số người dung facebook và dự báo con số này
sẽ lên 40,55 triệu vào năm 2022 Đến nay, Việt Nam đã cơ bản phủ sóng 4G và hơn 95% dân số được phủ sóng, khoảng 55% dân số sử dụng điện thoại thông minh và hơn 90% số này thường xuyên vào mạng xã hội
Nhu cầu nhân sự ngành Công nghệ thông tin (CNTT) tại Việt Nam đang ở mức cao nhất trong lịch sử với gần 15.000 việc làm được tuyển dụng trong năm
2016 Ước tính sẽ có gần 80.000 sinh viên CNTT bước vào thị trường lao động trong hai năm 2017 và 2018 Tuy nhiên so với nhu cầu tính đến cuối năm 2018 thì Việt Nam vẫn sẽ thiếu khoảng 70.000 nhân lực về CNTT và nếu tính tới năm 2020,
số nhân lực thiếu hụt sẽ lên tới hơn 500.000 người hứa hẹn sẽ tạo ra hàng trăm tỷ đô-la mỗi năm Những con số này cho thấy Việt Nam là quốc gia có nhu cầu tương tác và kết nối xã hội cao Đây là một nền tảng quan trọng giúp Việt Nam nắm bắt nhanh chóng những thành tựu công nghệ mới
Trang 10Một thực tế là nhiều người Việt Nam hiện nay đã biết tận dụng sức mạnh của CMCN 4.0 trong việc truy cập thế giới số, dùng sản phẩm công nghệ có thể làm giàu, có thể kinh doanh nhờ cung cấp từ xa cho khách hàng khắp thế giới sản phẩm, dịch vụ tiện lợi, như đặt chỗ, mua bán, thanh toán, vận tải (VNB, 2018)
Song song với sự phát triển thuận lợi trên một số mặt và những cơ hội phát triển thì CMCN 4.0 cũng tạo ra nhiều thách thức và tác động tiêu cực Đây là bài toán chiến lược với các cơ quan liên quan, là giai đoạn then chốt đưa ra những quyết sách để bắt kịp CMCN 4.0 thay vì bỏ lỡ cơ hội và đứng trước nguy cơ tụt hậu khi mà nhiều quốc gia khác đã có sự chuẩn bị cả về chiến lược và chính sách, vì trên thực tế, trình độ sản xuất hiện tại của Việt Nam mới ở giai đoạn 2.0 hoặc 3.0, sản xuất chính vẫn ở trình độ thấp bởi thiếu hụt các công nghệ mới, thiếu thông tin,
kỹ năng, cơ sở hạ tầng và hỗ trợ Mức độ sẵn sàng của Việt Nam đối với CMCN 4.0
ở mức trung bình thấp không chỉ thể hiện qua hai khía cạnh là các chỉ số và công nghệ mà bên cạnh đó, nguồn nhân lực công nghệ ở Việt Nam về cơ bản vẫn chưa sẵn sàng, chưa tương đương với ASEAN Một điểm yếu nữa là năng suất lao động của Việt Nam còn thấp Tuy nhiên, một ưu điểm của Việt Nam là mật độ thuê bao
di động vượt xa các nước có mức thu nhập tương đương trong khu vực ASEAN
Về trước mắt, nếu không bắt kịp nhịp độ phát triển của thế giới và khu vực, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức, tác động tiêu cực như sự tụt hậu về công nghệ, suy giảm sản xuất, kinh doanh, dư thừa lao động có kỹ năng và trình độ thấp gây phá vỡ thị trường lao động truyền thống, ảnh hưởng tới tình hình kinh
tế-xã hội của đất nước, mất an toàn, an ninh thông tin, xâm phạm bản quyền, thiếu hụt nguồn nhân lực trình độ cao…Ngoài ra, còn có khả năng xuất hiện làn sóng đẩy công nghệ lạc hậu từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển và chậm phát triển, trong đó có Việt Nam Mặt khác, các doanh nghiệp phần lớn là nhỏ và vừa, chưa đủ năng lực cạnh tranh, chưa sẵn sàng tiếp cận công nghệ mới, nên nhiều doanh nghiệp còn bị động với các xu thế phát triển mới trong khi áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt Việt Nam lâu nay trông chờ vào dòng vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với sự dịch chuyển công nghệ vốn và quản trị hiện đại Tuy nhiên, hầu hết các ngành nghề thu hút FDI là lao động tay nghề thấp giản đơn, tài nguyên và chi phí rẻ, ưu đãi thuế, đất đai…Xu hướng chung là các dòng vốn FDI sẽ quay đầu chảy về chính quốc để tận dụng sức mạnh của CMCN 4.0 tại đó tốt hơn Khi máy móc làm thay con người, sự dôi dư nguồn nhân lực sẽ trở thành lực cản của quá trình phát triển trong tương lai và thế mạnh nguồn nhân lực giá rẻ rất có thể sẽ trở thành gánh nặng xã hội khi người lao động không có đủ sức cạnh tranh với những
cỗ máy ngày càng thông minh và chi phí cực rẻ, hầu như không sai sót mà năng suất hiệu quả rất cao, làm đặc biệt ảnh hưởng đến những ngành nghề gắn với lao động chân tay, lao động mang tính thao tác lặp đi lặp lại và sản xuất hàng loạt Nhóm