1. Trang chủ
  2. » Manhua

Di sản văn hóa, thiên nhiên thế giới và quyền văn hóa

13 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 449,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể quyết định này là phù hợp với quy định bảo vệ di sản nhưng nó đã không tính đến quyền được tham gia vào đời sống văn hóa của người dân địa phương, cũng như là yếu [r]

Trang 1

DI SẢN VĂN HOÁ, THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI

VÀ QUYỀN VĂN HOÁ

TS Nguyễn Linh Giang100 ThS Nghiêm Hoa101

Việt Nam đã có 8 danh thắng được công nhận là di sản thế giới theo Công ước Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới 1972.102 Việc bảo vệ và quản lý các di sản được công nhận không chỉ mang ý nghĩa thực thi các nghĩa vụ theo Công ước mà Việt Nam đã gia nhập từ tháng 10/1987 Được nâng lên thành niềm tự hào quốc gia, Di sản Thế giới ở Việt Nam nhận được mối quan tâm lớn của nhiều bên liên quan, từ các nhà hoạch định chính sách, quản lý, các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp, và cộng đồng từ nhiều góc độ khác nhau Từ góc độ tiếp cận dựa trên quyền, bài viết này điểm qua quá trình kết nối vấn đề nhân quyền, cụ thể là quyền văn hóa, và Di sản Thế giới qua thực tiễn phát triển của các định chế quan trọng về bảo tồn di sản trên thế giới trong vài thập kỷ qua Tiếp theo, bài viết thảo luận một

số vấn đề đặt ra với vấn đề quản lý di sản thế giới và di sản nói chung ở Việt Nam

từ góc độ khung tiếp cận về quyền văn hóa, từ đó gợi ý một số bước tiếp theo về nghiên cứu cũng như về hoạch định chính sách Nhiều thông tin về các thực hành ở các khu di sản thế giới được chúng tôi thu thập trong Nghiên cứu “Tiếp cận quyền ở các khu di sản thế giới ở Việt Nam” năm 2015-2016.103

1 Từ bảo tồn đến tiếp cận mang tính quá trình với tài nguyên và tôn trọng quyền con người: diễn biến qua sự ra đời của các chuẩn mực quốc tế liên quan

Cách tiếp cận truyền thống trong quản lý di sản thường lấy đối tượng trung tâm là di sản như một thực thể độc lập, và mục tiêu của các hoạt động quản lý là bảo tồn di sản Tiếp cận mang tính bảo tồn trong nhiều năm đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm số một của quản lý di sản văn hóa và di sản thiên nhiên Cách thức truyền thống trong bảo tồn nghiêm ngặt có thể được lấy ví dụ từ hai hình thức can thiệp

100 Tiến sỹ Nguyễn Linh Giang, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Email: lgiang77@gmail.com

101 Thạc sỹ Nghiêm Hoa, nghiên cứu độc lập Email: nghiemhoa@gmail.com

102 Thường được gọi tắt là Công ước Di sản Thế giới 1972 Việt Nam tham gia Công ước này năm 1987 Hiện nay, 8 di sản của Việt Nam được công nhận theo Công ước Di sản thế giới gồm có: 5 di sản văn hóa: Quần thể di tích Cố đô Huế, (1993); Thánh địa Mỹ Sơn (công nhận năm 1999), Phố cổ Hội An (1999); Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội (2010); Thành nhà Hồ (2011); 2 di sản thiên nhiên là Vịnh Hạ Long (được công nhận năm 1994 theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ cảnh quan và năm 2000 theo tiêu chí địa chất địa mạo) và Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng (được công nhận năm 2003 theo tiêu chí địa chất địa mạo và năm 2015 với tiêu chí về đa dạng sinh học và sinh cảnh); một khu di sản phức hợp văn hóa – thiên nhiên là Tràng An (được công nhận năm 2014 theo các tiêu chí về giá trị lịch sử về tương tác và thích ứng của con người với thiên nhiên, về giá trị thẩm mỹ và địa chất) Theo https://whc.unesco.org/en/statesparties/vn, truy cập 10/6/2019

103 Thông tin về nghiên cứu có tại http://projects.snis.ch/rights-world-heritage-system/2017/09/29/policy-document-on-vietnamese-world-heritage/

Trang 2

tiêu biểu: với di sản văn hóa vật thể là đưa vào bảo tàng, và với di sản thiên nhiên là lập ra các khu bảo tồn nghiêm ngặt Cả hai hình thức này đều đặt mục tiêu là giảm thiểu tác động lên đối tượng được bảo vệ, vì vậy yêu cầu đặt ra là hạn chế kết nối và tiếp xúc gần gũi giữa đối tượng được bảo vệ là di sản và con người Chẳng hạn, Công ước Di sản Thế giới 1972 – với tư cách là một định chế tiêu biểu về quản lý những di sản được coi là quan trọng và nổi bật toàn cầu - đã đưa ra định nghĩa về di sản một cách thực dụng theo cách liệt kê các loại di sản, và mô tả hình thức của các loại di sản này, cùng với các nghĩa vụ trực tiếp của Nhà nước trong việc bảo vệ di sản.104

Khái niệm Vườn Quốc gia và khu bảo tồn phổ biến trong khoảng một thế kỷ lại đây ở nhiều quốc gia, và bắt đầu phát triển mạnh trên toàn cầu cùng với sự ra đời của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế - IUCN năm 1948 IUCN đã đưa ra một loạt các nguyên tắc và chuẩn mực về bảo tồn thiên nhiên, trong đó định nghĩa các khu bảo tồn và yêu cầu bảo tồn thiên nhiên – các giống loài và sinh cảnh - trong giai đoạn 1960-1970 và tiếp tục làm mới và bổ sung thêm khung nguyên tắc này cho tới nay.105

Tiếp cận bảo tồn giúp bảo vệ di sản cả văn hóa và tự nhiên khỏi nguy cơ bị tàn phá bởi thiên nhiên – nhưng hơn cả là từ các hoạt động khai thác và xâm hại của con người Nhưng tiếp cận mang tính bảo tồn cũng gặp phải những thách thức lớn trong thực tế, cả về đạo đức lẫn tính hiệu quả: từ tính chính danh của việc đưa vào các bảo tàng quốc gia những di sản của các dân tộc thuộc địa bị tước đoạt, cho tới việc cách ly các dân tộc bản địa và các cộng đồng truyền thống khỏi một khu vực vốn là nơi gắn bó truyền thống về sinh kế hay tâm linh với họ khi nơi đó được

“công nhận” là một khu bảo tồn đặt trong sự bảo vệ của nhà nước

Việc được công nhận là một di sản - ở quốc gia hay quốc tế - không chỉ đơn thuần là trao một danh hiệu Sự công nhận có thể là điểm khởi đầu của một chuỗi các thay đổi về vị thế pháp lý, tư cách sở hữu và chủ quyền với di sản, khả năng tiếp cận di sản và sự quan tâm cũng như lợi ích của nhiều bên liên quan Các lợi ích phát sinh từ danh hiệu di sản như phát triển du lịch và các hoạt động kinh tế liên quan tới các khu di sản có thể có những tác động lớn lên chính di sản và sự diễn giải về di sản, cũng như tác động xã hội trực tiếp lên các nhóm người khác nhau Trong quá trình phức tạp này, có không ít các nhóm người trở nên bị lề hóa, trở thành bị tổn thương trong mối quan hệ của họ với di sản hoặc với các tiến trình pháp lý, xã hội

và kinh tế liên quan tới di sản Thực tế này đặt ra yêu cầu nhìn nhận lại và phát triển các quan niệm cũng như công cụ trong quản lý di sản để giải quyết những vấn đề xã hội liên quan đến di sản hoặc khu bảo tồn

Cùng với sự phát triển đan xen của các định chế quốc tế và các giá trị phổ

104 Tham khảo nội dung Công ước tại http://www.un.org.vn/vi/publications/doc_details/405-cong-uc-bo-v-di-sn-van-hoa-va-thien-nhien-th-gii-1972.html Truy cập ngày 10/6/2019

105 Xem thêm về lịch sử IUCN tại https://www.iucn.org/about/iucn-a-brief-history Truy cập ngày 10/6/2019

Trang 3

quát, quan niệm về di sản ngày càng được bổ sung và củng cố bằng nhiều góc tiếp cận khác Với di sản văn hóa, bước phát triển tiêu biểu là sự công nhận tầm quan trọng của văn hóa phi vật thể và một khái niệm mở rộng và đa chiều về văn hóa, coi văn hóa không phải là bất biến mà là một tiến trình biến đổi trong sự đa dạng và bình đẳng.106 Hai góc nhìn này đã được đưa vào luật quốc tế, trở thành Công ước UNESCO về bảo vệ văn hóa phi vật thể (2003), và Công ước UNESCO về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa (2005).107 Ở diễn biến này, trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên có sự ra đời của Công ước Đa dạng Sinh học 1992, trong đó công nhận khái niệm về đa dạng sinh học và đặc biệt là mối quan hệ giữa đa dạng sinh học và các nhóm có những gắn bó mật thiết và nhu cầu và vai trò quan trọng của

họ với nguồn đa dạng sinh học: các cộng đồng bản địa và tri thức bản địa.108

Sự ra đời của các điều ước mới này đánh dấu sự công nhận của góc nhìn mới

về di sản, trong đó giá trị văn hóa hay tự nhiên không chỉ đơn thuần là tài sản mà được coi là tài nguyên - có khả năng biến đổi và được sử dụng Quan trọng hơn là mối quan hệ giữa di sản và con người – đặc biệt là các cộng đồng có gắn bó mật thiết với di sản – dịch chuyển thành một vấn đề quan trọng trong quan niệm về di sản Trong khi Công ước Đa dạng sinh học dừng lại ở mức độ công nhận tầm quan trọng của mối quan hệ này, hai Công ước về văn hóa của UNESCO nêu cụ thể căn cứ là các nguyên tắc và chuẩn mực về quyền con người trong Luật Nhân quyền quốc tế.109

Sự công nhận trực tiếp này cho phép làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và quyền con người, đồng thời giúp làm rõ nội hàm văn hóa trong ý niệm về quyền văn hóa

Quyền văn hóa từ góc độ quyền tham gia vào đời sống văn hóa, được Ủy ban

về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa giải thích là một quyền tự do, nghĩa là một

cá nhân có lựa chọn tham gia hoặc không tham gia vào đời sống văn hóa, và nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng (bao gồm cả tránh can thiệp), bảo vệ và hỗ trợ việc thụ hưởng quyền đó trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt đối xử.110UNESCO đã đưa các diễn giải mang tính nguyên tắc về quyền văn hóa của Báo cáo viên đặc biệt của

106 Xem Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thế, 2003

http://www.unesco.org/new/fileadmin/MULTIMEDIA/FIELD/Hanoi/pdf/Convention_2003.pdf Truy cập 07/6/2019

107 Xem Công ước UNESCO về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa, 2005

http://www.unesco.org/new/fileadmin/MULTIMEDIA/FIELD/Hanoi/pdf/Convention_2005.pdf Truy cập 07/6/2019

108 Xem Công ước về Đa dạng sinh học 1992

http://vea.gov.vn/vn/hoptacquocte/conguoc/Pages/C%C3%B4ng%C6%B0%E1%BB%9Bcv%E1%BB%81

%C4%90ad%E1%BA%A1ngsinhh%E1%BB%8Dc.aspx Truy cập 10/6/2019

109 Cụ thể là dẫn chiếu đến Tuyên ngôn Nhân quyền Phổ quát 1948 và hai Công ước chính năm 1966: Công ước về các quyền dân sự và chính trị; và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

110 Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 2009 Bình luận chung số 21 về quyền tham gia vào đời sống văn hóa E/C.12/GC/21 (Xem tại

https://tbinternet.ohchr.org/_layouts/15/treatybodyexternal/TBSearch.aspx?Lang=en&TreatyID=9&DocTy peID=11 truy cập 10/6/2019)

Trang 4

Hội đồng nhân quyền về các quyền trong lĩnh vực văn hóa111vào công cụ quản lý di sản văn hóa, trong đó nhấn mạnh quyền văn hóa không thể tách rời khỏi các quyền

con người khác, bao gồm các khía cạnh “tiếp cận đến, tham gia vào và thụ hưởng văn hóa Quyền này bao gồm quyền của các cá nhân được biết, hiểu, thăm viếng, duy trì, trao đổi và phát triển di sản văn hóa và biểu đạt văn hóa, cũng như hưởng lợi từ các di sản văn hóa và biểu đạt văn hóa.”112 Quyền văn hóa có quan hệ mật

thiết với tự do thông tin, tự do biểu đạt và quyền giáo dục, cũng như quyền có mức sống thích đáng, và đặc biệt là quyền tự quyết của các dân tộc,trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau chứ không phải là kìm hãm nhau

Mặc dù đã có nhiều sự phát triển để mục tiêu quan trọng nhất trong quản lý

di sản là bảo vệ di sản và yêu cầu về tôn trọng và bảo vệ quyền con người ngày càng tương thích và bổ trợ lẫn nhau trong quản lý di sản, hai mục tiêu này không phải lúc nào cũng hòa hợp Dẫn luận về khả năng và hạn chế của tiếp cận dựa trên quyền với thực hành di sản của Kraak và Aykan (2018) dẫn trường hợp “Liệu (cư dân) khu ổ chuột dựng trên một khu di sản thế giới ở thành phố Mexico có quyền?”.113 Bài báo này mô tả tình trạng của một khu dân cư sống trên khu di sản thế giới Xochimilco ở thành phố Mexico có thể bị cưỡng chế bất kỳ lúc nào như một lưỡng nan về quản lý di sản và quyền con người.114 Cưỡng chế một khu ổ chuột vừa có thể là một biện pháp mạnh để bảo vệ “giá trị nổi bật toàn cầu” của một di sản thế giới, nhưng cưỡng chế di dời trong bất kỳ trường hợp nào đồng thời cũng có thể được coi là một vi phạm quyền con người hiển nhiên Trường hợp Xochimilco gợi ý cần xem xét mối quan hệ giữa nguyên tắc và quy trình Trong khi bảo vệ di sản là mục tiêu khó có thể thay đổi, biện pháp cưỡng chế di dời để bảo vệ di sản là thứ có thể thảo luận và thay thế được để đảm bảo mục tiêu còn lại là tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong quá trình di sản

Để giải quyết các lưỡng nan tương tự, đồng thời để đưa sự công nhận về nguyên tắc và chuẩn mực quyền con người thành một chỉ dẫn mang tính thực hành trong khuôn khổ về quản lý di sản thế giới, năm 2015, các quốc gia thành viên của Công ước Di sản Thế giới 1972 đã thông qua Chính sách Lồng ghép phát triển bền vững vào

111 Tham khảo thêm các báo cáo chuyên đề của cơ chế này tại

https://www.ohchr.org/EN/Issues/CulturalRights/Pages/SRCulturalRightsIndex.aspx Truy cập 10/6/2019

112 UNESCO The right to culture: Question and Answer Xem tại http://www.unesco.org/culture/culture-sector-knowledge-management-tools/10_Info%20Sheet_Right%20to%20Culture.pdf truy cập 10/6/2019

113

https://www.theguardian.com/cities/2015/nov/13/slum-on-world-heritage-site-mexico-city-rights-xochimilco

114 Mô tả của Anna-Laura Kraak và Bahar Aykan trong Editorial: The possibilities and limitations of rights-based approach to heritage practices International Journal of Cultural Property Volume 25, Issue 1 February 2018, pp 1-10 Truy cập tại

https://www.cambridge.org/core/journals/international-journal-of-cultural-property/article/editorial-the-

possibilities-and-limitations-of-rightsbased-approaches-to-heritage-practice/7D0A9532FEA14CC138E6885A26A888B6 ngày 10/6/2019

Trang 5

các quy trình của Công ước Di sản Thế giới.115 Trong Chính sách này, Nhân quyền cùng với Bình đẳng và Bền vững với tầm nhìn lâu dài là một trong ba nguyên tắc cần

được thực hiện xuyên suốt trong các quy trình của Công ước Di sản thế giới

Chính sách này kêu gọi các quốc gia thành viên của Công ước phải có cách tiếp cận dựa trên quyền trong quá trình công nhận và quản lý các di sản thế giới Chính sách này gợi ý các hành động để đảm bảo nhân quyền trong bốn lĩnh vực: 1 Đảm bảo một quy trình đầy đủ của Di sản thế giới từ quá trình làm hồ sơ công nhận đến việc quản lý di sản đều phải phù hợp và ủng hộ cho nhân quyền; 2 Thông qua các chính sách về tiếp cận dựa trên quyền để thúc đẩy việc sở hữu di sản như là một

ví dụ điển hình cho việc áp dụng các tiêu chuẩn cao nhất về tôn trọng và thực thi quyền con người; 3 Phát triển các chuẩn mực, hướng dẫn các công cụ, xây dựng cơ chế thực thi cho việc tiếp cận, công nhận, quản lý, đánh giá và báo cáo phù hợp với cách tiếp cận dựa trên quyền đối với các di sản hiện có hoặc tiềm năng, thông qua

sự tham gia bình đẳng của những người có liên quan 4 Thúc đẩy hợp tác kỹ thuật

và nâng cao năng lực để đảm bảo sự tiếp cận dựa trên quyền hiệu quả

Trong thực tế, từ công nhận về nguyên tắc, đến đưa ra chính sách định hướng

và thực sự bắt tay vào thực hành là một quãng đường xa, nhất là với các nghị sự mang tính toàn cầu như vấn đề di sản hay vấn đề nhân quyền Quan sát tiến trình này, nhiều nhà nghiên cứu gợi ý một cách tiếp cận bổ sung là cần có những thực hành “từ dưới lên”, trong đó những khuôn khổ bảo vệ quyền ở cấp quốc gia và địa phương, hay những sáng kiến ở từng khu di sản có thể được khơi mở để đưa mục tiêu bảo vệ di sản và thực thi nhân quyền trở nên song hành (Peter Larsen và cộng

sự, 2018).116

2 Một số vấn đề về thực thi quyền văn hóa trong việc quản lý các di sản thế giới ở Việt Nam

Trong phần này, chúng tôi thảo luận một số thực hành ở các khu di sản thế giới ở Việt Nam nhìn từ các khía cạnh của quyền văn hóa nêu trong phần một Chúng tôi cũng đưa vào một số vụ việc, thực hành hoặc thảo luận về di sản nói chung và di tích quốc gia, trên cơ sở cho rằng hai chủ thể này và các cách tiếp cận liên quan đến chúng là có liên quan đến nhau Trong khuôn khổ chỉ có thể mô tả tóm tắt, những thực hành này dù được coi là tích cực hay tiêu cực về quyền cần được nhìn nhận từ góc độ năng lực diễn giải và thực hành quyền của cơ quan quản

lý nhà nước và người dân, và trên hết là trong một bối cảnh đa chiều về phát triển kinh tế và xã hội

115 Tham khảo tại https://whc.unesco.org/en/sustainabledevelopment/ Truy cập 10/6/2019

116Larsen, Peter B., ed 2018 World Heritage and Human Rights: Lessons from the Asia-Pacific and Global Arena London: Routledge

Trang 6

2.1 Quyền duy trì các thực hành văn hóa truyền thống, và phát triển những thực hành mới

Quyền duy trì các thực hành văn hoá truyền thống của dân tộc là một quyền văn hoá quan trọng của con người, đặc biệt là đối với các dân tộc thiểu số Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, các giá trị và các thực hành văn hoá của các dân tộc đang dần bị mai một đi Sự biến đổi này có thể là quá trình tự nhiên, là lựa chọn thay đổi, thích nghi của con người với tình hình phát triển mới Tuy nhiên, sự thay đổi này cũng có thể là do có sự tác động một cách vô ý hay cố ý của nhà quản lý, gây nên những thay đổi về văn hoá, khiến cho một số giá trị văn hoá được nâng cao, phát triển nhưng ngược lại, có thể làm các giá trị khác bị mất đi

Một ví dụ liên quan đến quyền giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong các khu

di sản chính là trường hợp của dân tộc Bru Vân Kiều, dân tộc Chứt trong khu Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng Việc di dời người dân ra khỏi các khu vực lõi của di sản nhằm mục tiêu bảo vệ di sản đã ảnh hưởng đến quyền gìn giữ bản sắc văn hoá của các dân tộc sinh sống trong khu rừng Phong Nha - Kẻ Bàng Đối với nhiều dân tộc thiểu số của Việt Nam, trong đó có dân tộc Bru Vân Kiều, dân tộc Chứt thì việc sinh sống giữa thiên nhiên gắn bó chặt chẽ với bản sắc văn hoá dân tộc của họ Nơi sinh sống của họ thường gắn với các nguồn nước - là con sông, con suối thiêng của dân tộc Con sông, con suối này ngoài việc là nơi cung cấp nguồn nước và thức ăn đảm bảo sự sống cho con người thì nó còn là nơi diễn ra rất nhiều nghi thức văn hoá quan trọng trong cuộc đời của một con người Đó là nơi gắn với các nghi lễ về mùa màng, cầu một mùa cấy trồng, săn bắn bội thu; đó là nơi hẹn hò trai gái; là nơi diễn ra các lễ hội của dân tộc Đối với nhiều dân tộc, các nghi lễ về

ma chay, thờ cúng người chết cũng gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên khi quan tài cho người chết cần được làm từ một loại gỗ đặc biệt trong rừng, khi nơi chôn cất và thờ cúng cũng hoàn toàn là giữa thiên nhiên Do vậy, việc di dời người dân ra khỏi vùng lõi của di sản đến những khu tái định cư do nhà nước xây dựng sẽ đồng thời cắt đứt người dân với những nghi lễ văn hoá, tôn giáo gắn với môi trường sống trong thiên nhiên của họ - tức là gây ảnh hưởng đến quyền duy trì các thực hành văn hóa truyền thống của họ Đồng thời, sự thay đổi về nơi cư trú và khả năng tiếp cận khu vực được bảo vệ và sử dụng các tài nguyên trong đó có thể có những ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền khác về sinh kế bền vững của họ

Các chuyên gia về văn hóa và nhân học cũng đã cảnh báo về một vài chính sách gìn giữ văn hóa tại các khu di sản ở nhiều nơi trên thế giới Theo đó, sẽ có các quy định gìn giữ một vài nghi thức văn hóa nhưng lại không phải là toàn bộ Cán bộ

ở các khu di sản thường quan tâm đến việc sưu tập và “chọn lọc” các nghi lễ truyền thống, lễ hội hoặc thực hành văn hóa được xem là “giá trị”,nhất là giá trị kinh tế khi các thực hành này có thể thu hút khách du lịch Việc “bảo tồn có chọn lọc” hoặc

Trang 7

“phát triển sản phẩm du lịch văn hóa” đi kèm với các chính sách hỗ trợ một số thực hành văn hóa hoặc kiểm soát hạn chế một số thực hành khác có thể đi ngược lại với nguyên tắc “không phân biệt đối xử” và nghĩa vụ “tôn trọng” của nhà nước đối với quyền văn hóa của người dân Đặc biệt, rủi ro vi phạm quyền này lớn hơn khi các quyết sách này được đưa ra bởi nhà quản lý và/hoặc chuyên gia mà không có sự tự quyết của cộng đồng hoặc cá nhân liên quan

Đôi khi, sự đánh giá của người dân địa phương với các chuyên gia là khác nhau Ví dụ như trong lễ hội Hoa Lư ở Tràng An, người dân địa phương rất thích thú với việc mở ra một khu hội chợ với các hoạt động biểu diễn và mua bán Tuy nhiên, việc mở hội chợ đã không được thực hiện vì nó được các chuyên gia và cơ quan quản lý cấp tỉnh đánh giá là nó không phải là một phần thực sự của lễ hội dân gian và nó quá “phức tạp” cho việc bảo vệ an ninh Có thể quyết định này là phù hợp với quy định bảo vệ di sản nhưng nó đã không tính đến quyền được tham gia vào đời sống văn hóa của người dân địa phương, cũng như là yếu tố của “quyền phát triển di sản văn hóa” như đề xuất của Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp quốc

về các quyền trong lĩnh vực văn hóa.117 Nhất quán với đặc tính của quyền văn hóa

là một quyền tự do và có liên quan mật thiết đến sự tự quyết, bất kỳ một quyết định lựa chọn hay loại bỏ một thực hành văn hóa nào nên được coi là một quá trình thảo luận và lựa chọn mang tính “thách thức từ bên trong”118 nội tại của cộng đồng sở hữu và liên quan trực tiếp đến thực hành đó

2.2 Quyền tham gia vào các hoạt động văn hoá

Việc một khu vực được công nhận là di sản thế giới thường sẽ kéo theo đó những quy định mới về quản lý di sản, bao gồm các quy định về bán vé thăm quan, chính sách bảo vệ nghiêm ngặt Những điều này kéo theo sự ngăn chặn khả năng tiếp cận di sản một cách tự do của người dân như trước kia họ vẫn từng làm Trong quá trình thực hiện, tùy thuộc từng nơi, có thể cán bộ quản lý sẽ cho phép các trường hợp được tiếp cận di sản của người dân địa phương, nhưng điều này hoàn toàn tùy thuộc vào quy định của mỗi địa phương chứ không phải là yêu cầu bắt buộc từ pháp luật của Nhà nước Điều này, đã phần nào làm hạn chế quyền tiếp cận di sản của người dân, từ đó gây ảnh hưởng đến quyền thụ hưởng và tham gia vào các hoạt động văn hoá diễn ra trong các khu di sản và có thể là cả sinh kế của người dân

Chính vì vậy, nếu như trước đây, người dân địa phương đã từng có một số quyền và được tham gia vào một số hoạt động văn hóa tại nơi họ sinh sống, họ đại diện cho văn hóa mà họ gìn giữ Nhưng hiện nay, khi nơi sống của họ trở thành di sản

117 Chuyên gia độc lập của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc trong lĩnh vực các quyền văn hóa 2011 Báo cáo về nhân quyền và di sản văn hóa Tài liệu của LHQ mã A/HRC/17/38, đoạn 60

118 Trích khuyến nghị của Báo cáo viên đặc biệt trong lĩnh vực các quyền văn hóa trong chuyến thăm Việt Nam năm 2013 Báo cáo viên đặc biệt trong lĩnh vực các quyền văn hóa Báo cáo chuyến thăm đến Việt Nam năm 2013 Tài liệu A/HRC/28/57/Add.1 Đoạn 115

Trang 8

thế giới, Nhà nước quản lý khu di sản và bán vé, người dân địa phương không có bất

cứ lợi ích gì nên họ không quan tâm nữa Đồng thời, nhìn rộng hơn, việc bán vé tham quan ở các khu di sản cũng hạn chế cả quyền tham gia vào các hoạt động văn hoá của những người khác, không chỉ là người dân trước đây sống trong khu di sản

2.3 Quyền tham gia thảo luận và đưa ra các quyết định về quản lý di sản

Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và

xã hội, tham gia vào thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của

cơ sở, địa phương và nhà nước Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản

lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” Nhóm quyền này còn được thể hiện qua các quy định liên quan đến quyền tiếp cận thông tin; quyền tham gia vào quá trình ra quyết định trong các văn bản pháp luật, các chính sách có liên quan

Tuy nhiên, Luật Di sản văn hóa không có bất cứ quy định nào liên quan đến quyền của người dân hay cộng đồng được tham gia vào quá trình tranh luận và ra quyết định liên quan đến các di sản mà họ sở hữu hay gìn giữ Chính vì vậy mà đôi khi các quyết định của cơ quan nhà nước liên quan đến việc quản lý di sản gặp phải

sự phản đối từ phía người dân Trường hợp người dân huyện Vụ Bản, Nam Định làm đơn kiến nghị gửi lên Bộ Văn hóa Thông tin về việc UBND huyện Vụ Bản ban hành quy chế quản lý Phủ Dầy mà không thông qua sự thảo luận và đồng thuận từ phía người dân đã là một ví dụ điển hình cho việc xem nhẹ sự tham gia của người dân119

Vụ việc này cho thấy các quy định quản lý về di sản của các cấp chính quyền cần phải luôn tôn trọng sự tham gia của người dân địa phương Nếu không nhận được sự đồng thuận của nhân dân thì các quy định sẽ không thể thực hiện được

Nghị định 70/2012/NĐ-CP về Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh cũng có quy định về việc lấy ý kiến của các tổ chức và cá nhân có liên quan về đồ án quy hoạch di tích Tuy nhiên, quy định này cũng không rõ ràng

vì không có định nghĩa ai là tổ chức và cá nhân có liên quan? Họ là ai, là các chuyên gia về quy hoạch, chuyên gia về di sản hay là người dân sinh sống trong khu

di sản, người dân sống xung quanh khu di sản hay người dân đang kinh doanh, làm việc, trồng trọt, canh tác trong khu di sản

Liên quan đến quyền tham gia, trong lĩnh vực quản lý di sản, cũng cần đề

119 Ngày 06/01/2015, UBND huyện Vụ Bản đã ban hành Quyết định số 06/2015/QĐ-UBND liên quan đến

“Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị quần thể di tích lịch sử - văn hoá hoá Phủ Dầy” Quy chế có

18 điều, trong đó có 13 điều về tiêu chuẩn, điều kiện, liên quan đến người quản lý, bảo vệ di tích Phủ Tiên Hương Theo đó, việc chọn người trông coi di tích được thông qua cơ chế bầu cử, được ký hợp đồng với UBND xã với thời hạn 5 năm

Trước sự can thiệp nói trên của chính quyền địa phương, gần 2000 người dân đã làm đơn kiến nghị vì cho rằng Quy chế đã không tôn trọng nhân dân, đi ngược lại với đạo đức và truyền thống

Trang 9

cập đến Luật Xây dựng 2014 Luật này cũng quy định về trách nhiệm lấy ý kiến của

cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan về đồ án quy hoạch xây dựng Các ý kiến đóng góp phải được tổng hợp đầy đủ, giải trình và tiếp thu, báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định Đồng thời, Luật Xây dựng cũng quy định

về nghĩa vụ cung cấp thông tin về quy hoạch xây dựng của cơ quan quản lý quy hoạch xây dựng Đây là những quy định khá tốt nhưng hiệu lực thực tế không nhiều Mặc dù các ý kiến đóng góp đã được ghi nhận nhưng được tiếp thu bao nhiêu phần trăm, ai giám sát quá trình đó, vấn đề thực thi thế nào? đều là những câu hỏi còn bỏ ngỏ

Thực tế cho thấy, khi một di sản trở thành di sản thế giới, nó sẽ có được sự quan tâm cao nhất từ các cấp chính quyền và các chuyên gia Cũng có những điển hình tốt và ban quản lý các khu di sản đã có vai trò khá năng động khi tiếp cận với các nhóm người dân khác nhau, làm việc cùng họ dựa trên khả năng và mối quan hệ với di sản Mặc dù, đó chưa phải là cách tiếp cận dựa trên quyền, nhưng việc làm này đã giúp thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong quá trình ra quyết định và từ

đó khiến cho quá trình ra quyết định cũng tốt hơn Trong lĩnh vực này, Hội An là một ví dụ tích cực điển hình Tuy vậy, sự tham gia của người dân ở Hội An cũng phần nhiều mang tính bị động Người dân Hội An chủ yếu tham gia bàn bạc các quyết định khi họ được mời đến các cuộc họp do cơ quan nhà nước tổ chức, ở đó họ được tranh luận và đưa ra ý kiến

Việc quản lý các khu di sản ở Việt Nam vẫn theo cách tiếp cận dựa trên sự quản lý của Nhà nước Một khi được công nhận, một cơ quan hành chính nhà nước

sẽ chịu trách nhiệm quản lý di sản Mặc dù Luật Di sản quy định di sản có thể thuộc

sở hữu cá nhân hoặc tổ chức (Điều 14 Luật Di sản Văn hóa), vai trò của các cơ quan hành chính có thể làm ảnh hưởng đáng kể đến diễn giải trong thực tế về quyền sở hữu, bảo vệ và định đoạt di sản, từ đó xem nhẹ vai trò của người dân hoặc cộng đồng liên quan đến di sản Ví dụ, trong vụ kiện dân sự về xâm chiếm Bắc Đế Miếu

ở An Giang, quá trình công nhận di tích – hành chính hóa việc quản lý đã không công nhận tư cách của người được cộng đồng liên quan đến di sản giao phó làm đại diện, mà xét “Theo quy định của Bộ luật Dân sự về các hình thức sở hữu và quy định của Luật di sản văn hoá thì Chùa Ông Bắc là di tích quốc gia được công nhận

là “sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý” Khoản 4 Điều 55 Luật Di sản văn hoá quy định: Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hoá ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ Ban tế tự Chùa Ông Bắc không phải là cơ quan nhà nước về quản lý di sản văn hoá nên không có quyền khởi kiện.”120Tiếp theo, Toà dân sự Toà

120 Trích bản án bản án phúc thẩm số 375/DSPT ngày 03/6/2002, TAND tỉnh An Giang Dẫn chiếu tại Ai là chủ sở hữu của một tài sản được công nhận là di sản văn hóa? 18/11/2005,

Trang 10

http://vietnamese-law-án nhân dân Tối cao (TANDTC) phân định như sau: "Ngày 6/12/1989 chùa Ông Bắc được Bộ Văn hoá công nhận di tích lịch sử văn hoá Tại Khoản 4 Điều 55 Luật

Di sản văn hoá quy định: Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hoá ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ Căn cứ vào Điều 30 Luật Di sản văn hoá thì Chùa Ông Bắc được xếp hạng di tích quốc gia Vì vậy, Ban tế tự Bắc Đế Miếu không phải là cơ quan nhà nước về quản lý di sản văn hoá nên không có quyền khởi kiện.”121 Kết cục là người đại diện cho cộng đồng không được coi là có tư cách để bảo vệ di sản của họ khỏi việc xây dựng lấn chiếm của một bên thứ ba

Trong quá trình ra quyết định liên quan đến quản lý di sản, các thành viên của cộng đồng có thể được mời đến để tham vấn, nhưng phụ thuộc vào sự sẵn lòng hay không của cơ quan quản lý Tuy nhiên, trong các cuộc tham vấn này, những người tham gia trực tiếp ít khi được xem là “cộng đồng địa phương” vì họ được đại diện bởi cơ quan nhà nước ở địa phương hoặc ở làng, xã Năm 2013, Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc về quyền văn hóa đã khuyến nghị với Việt Nam rằng, nhà chức trách địa phương không nhất thiết được coi là đại diện cho người dân ở địa phương Báo cáo viên đã gợi ý cần phải có sự tham gia trực tiếp của người dân địa phương trong các hoạt động quản lý di sản văn hóa, một chủ đề có thể có thể xem là cũng liên quan đến di sản thế giới.122

2.4 Quyền khai thác các giá trị về văn hoá để phục vụ cho đời sống và sinh kế

Luật Di sản văn hóa có quy định: Các cơ quan, tổ chức của Nhà nước và các

cá nhân có nghĩa bảo vệ và thúc đẩy các giá trị của di sản văn hóa Tổ chức và cá nhân sở hữu và quản lý di tích, các bộ sưu tập, bảo tàng có quyền kinh doanh Gắn với sinh kế của người dân trong các khu di sản đô thị, có lẽ quyền quan trọng nhất chính là quyền kinh doanh và chia sẻ lợi ích từ di sản Gắn với đó là quyền khai thác các giá trị văn hoá để phục vụ cho đời sống và sinh kế của người dân

Sự phát triển khá nhanh của khu vực tư nhân trong hoạt động du lịch, dịch vụ

cả về di sản văn hóa và thiên nhiên có thể làm ảnh hưởng đến quyền tiếp cận với di sản, một phần quan trọng của sinh kế người dân, theo cả cách tích cực và tiêu cực Trường hợp của những người lái thuyền ở Tam Cốc, Tràng An là một ví dụ điển hình về việc chia sẻ lợi ích Cũng có thể xem đây là sự khai thác giá trị văn hoá để phục vụ cho sinh kế của người dân Việc người dân ở Tam Cốc sử dụng các thuyền

consultancy.com/vietnamese/content/browse.php?action=shownews&category=&id=64&topicid=612 Truy cập 05/12/2016

121 Trích Quyết định số 96/2005/DS-GĐT Tòa Dân sự Tòa án Nhân dân tối cao Dẫn chiếu tại Ai là chủ sở hữu của một tài sản được công nhận là di sản văn hóa? 18/11/2005, http://vietnamese-law-consultancy.com/vietnamese/content/browse.php?action=shownews&category=&id=64&topicid=612 Truy cập 05/12/2016

122 Báo cáo viên đặc biệt về các quyền trong lĩnh vực văn hóa Báo cáo chuyến thăm đến Việt Nam năm

2013 Tài liệu A/HRC/28/57/Add.1 Đoạn 111

Ngày đăng: 27/01/2021, 06:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w