1. Trang chủ
  2. » Hoá học lớp 12

Giải quyết tranh chấp và thực thi quyền về sáng chế - kinh nghiệm của Đức và Việt Nam

15 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 332,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này dẫn đến sự tốn kém trong chi phí của Nhà nước trong khi các nước khác như Đức sử dụng cơ chế dân sự để thực thi và giải quyết tranh chấp quyền SHTT nói chung, [r]

Trang 1

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VÀ THỰC THI QUYỀN VỀ SÁNG CHẾ

- KINH NGHIỆM CỦA ĐỨC VÀ VIỆT NAM

TS Phan Quốc Nguyên

Bộ môn Pháp luật Dân sự, Khoa Luật, ĐHQGHN

Sáng chế là một trong những đối tượng quan trọng của quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) Sáng chế là một dạng tài sản trí tuệ (TSTT) đặc biệt, thuộc loại tài sản vô hình (TSVH) và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển Không những thế, sáng chế đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế có tính cạnh tranh cao và đang trở thành nhân tố then chốt, động lực để phát triển kinh tế Bằng sáng chế không những tạo động lực cho nghiên cứu và đổi mới mà còn góp phần thu hút nguồn vốn đầu tư và thúc đẩy chuyển giao công nghệ (CGCN) Khai thác, thương mại hóa hợp lý loại tài sản này sẽ làm gia tăng thu nhập cho doanh nghiệp, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia

Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều thuận lợi cho các quốc gia đang phát triển như Việt Nam nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức cho việc phát triển kinh tế-xã hội cho đất nước Trong giai đoạn hiện nay, việc tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), đặc biệt là quyền SHCN đối với sáng chế, nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của quá trình hội nhập đã trở thành nhu cầu cấp thiết Cục SHTT, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho biết việc ngày càng nhận được nhiều đơn đăng ký xác lập quyền SHCN chứng tỏ kinh

tế đang phát triển và ý thức của xã hội về vấn đề này được nâng cao Theo Cục SHTT, trong năm 2017, số văn bằng bảo hộ cấp cho sáng chế tăng mạnh,

là 1.746 bằng độc quyền sáng chế, 146 bằng độc quyền giải pháp hữu ích (GPHI) tăng 22,6% so với năm 2016 trong khi đó số lượng đơn sáng chế tiếp tục tăng, bao gồm: 5.382 đơn sáng chế; 434 đơn GPHI67

Việc bảo đảm thực thi quyền SHTT bước đầu đã được triển khai và ít nhiều có kết quả tích cực nhưng vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Trên thực tế, tình trạng vi phạm pháp luật về SHTT tại Việt Nam

67 Theo http://dantri.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/so-luong-sang-che-viet-nam-tang-manh-trong-nam-2017-20180130163657936.htm, truy cập ngày 13/03/2018

Trang 2

vẫn xảy ra khá nhiều Các hành vi xâm phạm quyền SHTT có vụ nghiêm trọng và phức tạp, ảnh hưởng không tốt đến việc khuyến khích các nỗ lực sáng tạo, cạnh tranh lành mạnh và đến quá trình hội nhập kinh tế, gây tâm

lý lo ngại, ngờ vực trong xã hội Hơn nữa, xâm phạm quyền SHTT ít nhiều

có dấu hiệu phổ biến Việc xâm phạm quyền SHCN xảy ra khá nhiều đối với các loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dưới dạng xâm phạm quyền đối với sáng chế, sao chép nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp hoặc mang các chỉ dẫn địa lý giả mạo Việc xâm phạm quyền tác giả cũng diễn biến đáng

lo ngại, nạn sao chép lậu xảy ra với nhiều loại hình tác phẩm với các dạng thể hiện khác nhau: sách báo, phim ảnh, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, phần mềm máy tính, v.v

Liên quan đến thực thi quyền SHCN và giải quyết tranh chấp về sáng chế, ngày 16 tháng 11 năm 2017, Bayer SAS- một thành viên của Tập đoàn Bayer (có văn phòng tại nhiều nước Châu Âu trong đó có Đức) đã khởi kiện hành vi xâm phạm quyền SHTT bằng độc quyền sáng chế số 1928 đã được bảo hộ tại Việt Nam từ năm 2000 cho sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật (hỗn hợp của hai hoạt chất Imidacloprid và Fipronil) của Công ty này tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Long An và đã giành thắng lợi trong những vụ kiện dân sự Vụ kiện này có thể được xem là trường hợp đầu tiên mà chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế nước ngoài khởi kiện nhằm thực thi quyền SHCN của chủ sở hữu sáng chế tại tòa án Việt Nam Vào ngày 15 tháng 6 năm 2016, Tòa án Nhân dân Tối cao Thành phố Hồ Chí Minh đã ra phán quyết cuối cùng

về vụ án giữa Bayer SAS và công ty TNHH Thương Mại Nông Phát, trong đó phán quyết đã tuyên chấp nhận tất cả các yêu cầu khởi kiện của Bayer SAS Phán quyết ngày 15 tháng 6 này cũng phù hợp với phán quyết trong phiên tòa

sơ thẩm ngày 2 tháng 2 năm 2015, trong đó kết luận rằng bị đơn đã xâm phạm quyền đối với bằng độc quyền sáng chế của nguyên đơn và tòa án cũng đã chấp nhận các yêu cầu của Bayer đối với bị đơn Vào ngày 21 tháng 11 năm

2017, Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã ban hành bản án theo đó xác định rõ

Bị đơn Công ty TNHH An Nông đã có hành vi xâm phạm quyền đối với bằng độc quyền sáng chế 1928, khi chưa được phép của Bayer SAS mà sản xuất, đóng gói và lưu hành ở thị trường Việt Nam trong thời gian bảo hộ văn bằng

Từ các bản án này, bài viết sẽ nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp

Trang 3

nhằm thực thi quyền SHCN đối với sáng chế tại Việt Nam và Đức để có thể rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam

Cơ chế giải quyết tranh chấp sáng chế tại tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam hiện hành không có quy định về việc giải quyết tranh chấp xảy ra trong quá trình khai thác, sử dụng sáng chế hay khi bị xâm phạm quyền SHCN đối với sáng chế Khi có cơ sở chứng minh sáng chế đang được bảo hộ đang bị xâm hại, chủ sỡ hữu sáng chế sẽ được pháp luật bảo đảm quyền lợi của mình theo quy định tại điều 198 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi năm 2009):

1/ Áp dụng các biện pháp công nghệ nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm 2/ Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm,phải chấm dứt hành

vi xâm phạm, xin lỗi công khai và bồi thường thiệt hại

3/ Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm 4/ Khởi kiện ra tòa để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình

Việc “áp dụng các biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm” là biện pháp được chủ sở hữu sáng chế tiến hành đơn phương nhằm phòng ngừa sớm hành vi xâm phạm; còn việc “yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại” là nỗ lực tự giải quyết tranh chấp giữa các bên mà không

có sự tham gia của các cơ quan chuyên trách có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp Như vậy, về mặt pháp lý, khi tranh chấp trong quá trình sử dụng sáng chế xảy ra, chủ thể quyền có thể sử dụng các thiết chế của nhà nước để tiến hành giải quyết tranh chấp theo hai con đường:

- Khởi kiện ra tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình (biện pháp dân sự), và

- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm (biện pháp hành chính)

Biện pháp dân sự

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 30 và Khoản 1 Điều 37, Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành68, tranh chấp sáng chế vì mục đích lợi nhuận là tranh

68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Trang 4

chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm tại Tòa

án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Kháng cáo bản án sơ thẩm đối với tranh chấp về sáng chế (nếu có) được giải quyết theo trình tự chung dành cho các kháng cáo các bản án dân sự được giải quyết bởi Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao

Khi muốn khởi kiện dân sự, chủ thể quyền có thể cầu Tòa án có thẩm quyền buộc bị đơn chấm dứt hành vi vi phạm; xin lỗi và cải chính công khai; tiêu hủy hàng hòa vi phạm quyền SHCN đối với sáng chế và bồi thường thiệt hại Ngoài ra, khi khởi kiện và trong thời gian tòa thụ lý giải quyết tranh chấp, nguyên đơn có quyền yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp cần thiết

Tuy nhiên, trên thực tế dường như có rất ít tranh luận về sự phù hợp trong việc áp dụng trình tự theo quy định Luật tố tụng dân sự hiện tại trong giải quyết tranh chấp quyền đối với sáng chế nếu có chỉ là một số quan điểm

từ phía các đại diện SHCN đưa ra từ góc độ bảo vệ lợi ích của chủ thể quyền Trong khi đó, các đại diện chủ thể quyền lại cho rằng cơ chế kiện dân sự hiện tại là rườm rà, tốn kém và ít hiệu quả Về phía mình, bên tòa án lại chưa nhận thấy sự cấp thiết phải quy định riêng hoặc hoàn thiện cơ chế hiện tại để giải quyết tranh chấp đối với sáng chế Theo ngành tòa án, có quá ít vụ việc tranh chấp SHTT đặc biệt là tranh chấp sáng chế được nộp cho tòa giải quyết, do vậy, tòa ưu tiên hoàn thiện cơ chế giải quyết các loại vụ việc khác đang cấp bách hơn Do vậy, thực tế này dẫn đến hệ quả là chủ thể quyền không chủ động bảo vệ quyền dân sự bằng biện pháp dân sự Theo hướng ngược lại, cơ chế dân sự có rất ít tác dụng để giải quyết tranh chấp xảy ra trong quá trình sử dụng sáng chế Các báo cáo của ngành Tòa án trong thời gian gần đây cũng không đưa ra được bất cứ số liệu nào về các vụ việc xử lý tranh chấp quyền đối với sáng chế được thụ lý và giải quyết tại tòa án các cấp69

Thông thường, tòa án thụ lý và xét xử mất khoảng 02-03 năm kể từ ngày nguyên đơn biết và nộp đơn kiện sự vi phạm quyền hợp pháp đối với sáng chế của mình, có trường hợp xét xử vi phạm sáng chế của ông Hoàng

69 http://farolaw.vn/index.php/t-vn-phap-lut-s-hu-tri-tu-/492-giai-quyet-tranh-chap-sang-che-tai-hoa-ky-va-kinh-nghiem-rut-ra-cho-viet-nam

Trang 5

Thịnh lên đến hơn 5 năm Trong trường hợp có yếu tố nước ngoài, nguyên đơn cần phải nộp đơn lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố70

Biện pháp hành chính

Chủ thể quyền có thể tìm đến các cơ quan hành chính có thẩm quyền

xử lý xâm phạm quyền SHCN khá đa dạng, tùy thuộc vào chức năng, nhiệm

vụ của các cơ quan thuộc nhiều bộ ngành khác nhau này như: Cục quản lý thị trường (Bộ Công thương), công an kinh tế (Bộ Công an), Hải quan (Bộ Tài chính) và lực lượng Thanh tra (Bộ và các Sở Khoa học và Công nghệ) Tuy nhiên, chỉ có thanh tra khoa học công nghệ là cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với sáng chế do việc xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với sáng chế rất phức tạp, đòi hỏi phải có trình độ pháp lý và kiến thức chuyên sâu nhất định về kỹ thuật

Chủ thể quyền có thể nộp trực tiếp hoặc thông qua tổ chức đại diện SHCN nộp “Đơn yêu cầu xử lý xâm phạm” cho cơ quan thanh tra khoa học công nghệ (thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc thuộc Sở Khoa học và Công nghệ) Đơn yêu cầu xử lý xâm phạm cần nêu rõ đối tượng là sáng chế đang được bảo hộ; giải pháp kỹ thuật bị cho là vi phạm (dưới sạng sản phẩm hoặc quy trình, có kèm theo mẫu nếu có thể); chi tiết về tổ chức, cá nhân vi phạm và biện pháp yêu cầu xử lý

ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đơn, các cơ quan chức năng, đối với sáng chế là Thanh tra khoa học và công nghệ, cần tiến hành xem xét đơn yêu cầu xử lý xâm phạm và các chứng cứ kèm theo Nếu đơn đáp ứng yêu cầu, Cơ quan Thanh tra thông báo cho tổ chức, cá nhân yêu cầu xử lý vi phạm về dự định thời gian, thủ tục và biện pháp xử lý Chủ thể quyền có thể được yêu cầu hợp tác, hỗ trợ trong thanh tra, kiểm tra, xác minh và xử

lý vi phạm Trong quá trình xem xét xử lý đơn, Thanh tra Khoa học Công nghệ có thể yêu cầu bên bị cho là vi phạm cung cấp thông tin, chứng cứ, giải trình; yêu cầu Cục SHTT cho ý kiến chuyên môn hoặc hoặc trưng cầu giám định để xác định yếu tố vi phạm

70 https://www.linkedin.com/pulse/patent-enforcement-vietnam-nguyen-hoa-binh, ngày truy cập 13/03/2018

71 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN

Trang 6

Cho đến thời điểm hiện tại, để xử lý hành vi bị cho là xâm phạm quyền, cơ quan có thẩm quyền gần như dựa hoàn toàn vào ý kiến chuyên môn do Cục SHTT hoặc kết luận giám định của Viện Khoa học SHTT trên

cơ sở trên cơ sở xem xét các tài liệu, thông tin được cung cấp Theo tổng kết hoạt động thực thi quyền SHTT của Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, trong năm 2014 cơ quan quan này đã xử lý 8 vụ việc xâm phạm quyền đối với sáng chế, trong số đó có 6 vụ việc xâm phạm quyền sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm72

Tại Việt Nam, biện pháp hành chính đang là sự lựa chọn ưu tiên nhất vì với biện pháp này bạn có thể nhanh chóng đạt được mục đích là buộc bên bị

tòa án dân sự, cơ chế hành chính được áp dụng khá thường xuyên để giải quyết tranh chấp quyền SHTT nói chung và quyền SHCN đối với sáng chế

nói riêng Biện pháp thường này được nhắc đến với cụm từ “xử lý xâm phạm

quyền” và là một cách thức đặc thù của Việt Nam Với cơ chế này, chủ thể

quyền có thể yêu cầu nhà nước sử dụng các cơ quan hành chính công quyền

có thể nhanh chóng đạt được mục đích là buộc bên bị cáo chấm dứt hành vi vi phạm, để bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể quyền theo quy định74

Trong khi một mặt, các chủ thể sáng chế cho rằng chế tài hành chính còn quá nhẹ, chưa đủ sức răn đe, nhưng mặt khác họ lại khá “thờ ơ” trong việc tiến hành khởi kiện dân sự để yêu cầu áp dụng chế tài mạnh mẽ đối với bên vi phạm như buộc bồi thường thiệt hại Vậy đâu là nguyên nhân của tình trạng mâu thuẫn này? Đâu là những đặc thù cần có của cơ chế giải quyết tranh chấp sáng chế tại Việt Nam?; Và đâu là những bất cập của nó?

Cơ chế giải quyết tranh chấp sáng chế tại Đức

Đức hiện được biết đến như một quốc gia có thủ tục xử lý vi phạm sáng chế rất nhanh Không giống như tại phần lớn các quốc gia thành viên của Hiệp ước Sáng chế Châu Âu75 (EPC)76 khác, hiệu lực của sáng chế không thể

72 http://thanhtra.most.gov.vn

73 Xem thêm http://newvisionlaw.com.vn/giai-quyet-tranh-chap-sang-che.html, truy cập ngày 13/03/2018

74 Theo nhận định tại http://farolaw.vn/index.php/t-vn-phap-lut-s-hu-tri-tu-/492-giai-quyet-tranh-chap-sang-che-tai-hoa-ky-va-kinh-nghiem-rut-ra-cho-viet-nam

75 Hans Marshall, Enforcement of Patent Rights in Germany, IIC, Vol 31, No.6/2000, trang 665

76 Tên tiếng Anh là European Patent Convention (EPC)

Trang 7

bị thách thức trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm đối với sáng chế Các tòa án giải quyết vi phạm đối với sáng chế thường bị giới hạn ở việc xét xử khả năng cấp bằng sáng chế mà không có thẩm quyền ra quyết định về các vấn đề hiệu lực-thường được coi là thẩm quyền duy nhất của Tòa án Sáng chế Liên bang Đức (‘Bundespatentgericht’)77, tòa án liên bang chuyên biệt có hội đồng xét xử (‘Senates’) lên tới 05 thẩm phán mà 03 trong đó phải có đủ khả năng chuyên môn về mặt kỹ thuật

Mức độ tối đa mà bị đơn có thể có đạt được tại các thủ tục xét xử vi phạm quyền là sự trì hoãn các thủ tục này đến khi có quyết định về hiệu lực của sáng chế được tuyên theo thủ tục tuyên bố vô hiệu hoặc theo thủ tục phản đối chạy song song với nhau Tuy nhiên, điều này chỉ có thể xảy ra nếu tòa án

có ý kiến rằng có khả năng cao là bằng sáng chế sẽ được thu hồi78

Thông thường, chỉ có khoảng 10–15% các vụ kiện vi phạm đạt được sự trì hoãn tối đa này79 Trường hợp duy nhất cho sự trì hoãn, mà thông thường

là một ngoại lệ, chỉ xảy ra khi tình trạng kỹ thuật của sáng chế đã được tra cứu cho thấy nó chưa được tìm thấy trong quá trình thẩm định nội dung và nó

đã được bộc lộ trước khi nộp đơn sáng chế

Một khi tòa sơ thẩm (phòng sáng chế của một số tòa sơ thẩm cấp liên bang) ra phán quyết có lợi cho chủ bằng sáng chế, chủ bằng sáng chế

có thể sử dụng quyền của chủ sở hữu sáng chế, bao gồm cả quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Để thực hiện quyền này, chủ bằng phải đặt

xử vi phạm quyền đối với sáng chế được trì hoãn tại cấp phúc thẩm Tuy nhiên, sự trì hoãn tại các thủ tục kháng cáo ngăn chặn một phán quyết trở thành chung thẩm

Vì thời gian có thể kéo dài nhiều năm đến khi đạt được phán quyết cuối cùng trong các thủ tục vô hiệu, điều đó sẽ có ý nghĩa khi bên bị buộc tội là vi phạm sáng chế cố gắng đạt được sự trì hoãn này

77 Hans Marshall, Enforcement of Patent Rights in Germany, IIC, Vol 31, No.6/2000, trang 649

78 BGH GRUR 1987, 284—Transportfahrzeuge

79 Jochen Herr and Marc Grunwald, Speedy patent infringement proceedings in Germany: pros and cons of

the go-to courts, Journal of Intellectual Property Law & Practice, 2012, Vol 7, No 1, trang 44

80 Hans Marshall, Enforcement of Patent Rights in Germany, IIC, Vol 31, No.6/2000, trang 667

Trang 8

Các thủ tục tố tụng xét xử vi phạm thường nhanh hơn rất nhiều thủ tục xét xử vô hiệu tại Đức Kết quả thường diễn ra khi hiệu lực của các bằng độc quyền sáng chế có thể không cần phải chứng minh vẫn có thể được thực hiện tại các thủ tục xét xử vi phạm tại Đức vì sự vô hiệu của bằng sáng chế được đánh giá một cách riêng biệt nhiều tháng sau đó và tòa án không muốn đưa đến sự trì hoàn các thủ tục xét xử vi phạm

Danh tiếng của các thẩm pháp Đức trong các vụ xét xử về sáng chế là một trong những lý do quan trọng giải thích tại sao nước Đức được coi là một trong những trung tâm chính giải quyết các vụ tranh chấp về bằng sáng chế của Châu Âu trong nhiều năm qua

Tòa án xét xử vi phạm bằng sáng chế tại Đức

Theo luật của Đức, các phòng dân sự của tòa án sơ thẩm cấp liên bang (‘Landgerichte’) là nơi có quyền độc quyền xét xử các tranh chấp về bằng sáng chế

Dựa vào sự lựa chọn mang tính lập pháp để tập trung các vụ tranh chấp

về bằng sáng chế vào một số ít các tòa án, 12 tòa án sơ thẩm cấp liên bang được giao thẩm quyền xét xử các vụ vi phạm bằng sáng chế nằm tại các địa phương như: Dusseldorf, Munich, Mannheim, Berlin, Braunschweig, Erfurt, Frankfurt, Hamburg, Leipzig, Nuremberg, Magdeburg, và Saarbrucken

Vì một sự vi phạm bị cáo buộc thực hiện thông qua một sự chào hàng, một sự đề xuất (ví dụ qua Internet) có thể đi đến bất cứ nơi nào tại Đức, trong nhiều trường hợp nguyên đơn có thể tự do lựa chọn theo nguyên tắc ‘forum shopping’, có nghĩa là nguyên đơn có thể tự do lựa chọn một trong số 12 tòa án sơ thẩm cấp liên bang mà nguyên đơn cho rằng phù hợp nhất trong vụ kiện

03 tòa án xét xử vi phạm bằng sáng chế quan trọng nhất

Tòa án sơ thẩm tại 03 địa phương là Dusseldorf, Munich và Mannheim

là các tòa án có số vụ xét xử vi phạm sáng chế cao nhất và là nơi xét xử các tranh chấp về bằng sáng chế phù hợp nhất Khoảng 80% các vụ kiện liên quan đến bằng sáng chế tại Đức được nộp đơn tại 03 tòa án này81 Ví dụ trong năm

81 Hans Marshall, Enforcement of Patent Rights in Germany, IIC, Vol 31, No.6/2000, trang 651

Trang 9

2009, 560 vụ kiện về bằng sáng chế được nộp đơn tại Dusseldorf, 168 tại Munich, và 300 tại Mannheim82

Mặc dù thời gian xét xử vi phạm tại phiên sơ thẩm thường khác nhau giữa các tòa, “quy tắc ngón tay cái” sau đây sẽ được áp dụng83:

Tòa án Dusseldorf

Đây được coi là tòa án uy tín nhất tại Đức xét xử các vụ vi phạm bằng sáng chế, một vụ án thông thường kéo dài khoảng 13–14 tháng nếu không có chứng cứ nào được đưa ra

Tại Dusseldorf, cho đến thời gian gần đây, tòa án này vẫn áp dụng phiên xét xử nghe các bên tranh tụng sớm (khoảng 04 tuần sau khi có khiếu kiện) Trong phiên xét xử sớm này, các bên phải nộp yêu cầu của mình, các mốc thời hạn trả lời ngắn gọn sẽ được đưa ra và ngày cho phiên xét xử tranh tụng chính sẽ được ấn định Tuy nhiên, các bằng chứng của vụ kiện chưa được tranh luận chút nào

Từ năm 2011, điều này đã thay đổi Trong nhiều trường hợp, tòa án sơ thẩm bang Dusseldorf đang tiến hành thủ tục tố tụng chỉ với một phiên nghe tranh tụng duy nhất, được tiến hành sau khi các bên đã trao đổi hồ sơ được nộp Phiên xét xử nghe tranh tụng bằng miệng đã được miễn áp dụng Sau khi

bị đơn đã nộp hồ sơ bảo vệ mình, tòa án ấn định ngày cho phiên tranh tụng Sau cùng, nguyên đơn phúc đáp và bị đơn có thể nộp một bản đối lại

Phiên tranh tụng kéo dài 1-2 tiếng đồng hồ và phán quyết được đưa ra sau đó vài tuần Điều đáng nói ở đây là bang Dusseldorf đã thay đổi hành vi

tố tụng do áp lực công việc quá nặng tại phiên sơ thẩm

Tòa án Mannheim

Trước kia, thủ tục tố tụng xét xử vi phạm tại tòa án sơ thẩm Mannheim thường kéo dài từ 7-8 tháng Không có phiên xét xử tranh tụng sớm Tòa án chỉ ấn định ngày cho phiên tranh tụng chính Không có một đề xuất sơ bộ nào được đưa ra trước phiên xét xử chính

82 Số liệu được trích từ cuộc khảo sát JUVE năm 2010 (JUVE Rechtsmarkt 04/10, 72)—số liệu này bao gồm

cả các vụ xét xử vi phậm về giải pháp hữu ích và tranh chấp liên quan đến sáng chế công vụ

83 Jochen Herr and Marc Grunwald, Speedy patent infringement proceedings in Germany: pros and cons of

the go-to courts, Journal of Intellectual Property Law & Practice, 2012, Vol 7, No 1, trang 45-46

Trang 10

Tòa án Munich

Trong một nỗ lực nhằm cải thiện các phương thức truyền thống đang được áp dụng trong cách thức quản lý các vụ án tại Dusseldorf và Mannheim,

để đưa cho các bên một phiên xét xử sớm hơn, tòa án sơ thẩm Munich đã đưa

ra một cách thức mới hơn được gọi là ‘Thủ tục tố tụng Mới của Munich’

Từ cuối năm 2009, các phòng xét xử tranh chấp về bằng sáng chế của tòa án sơ thẩm Munich đã thực hiện một loại các thay đổi về thủ tục để sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực của các bên Các biện pháp này bao gồm việc thực hiện một phiên xét xử tranh tụng sớm được thực hiện sau khi các bên

đã trao đổi tài liệu (lần đầu) và bao gồm các tranh luận lần đầu về chứng cứ của vụ án

Một sự khác biện đáng kể là chế độ thời gian chặt chẽ Trong các vụ án phức tạp về mặt kỹ thuật đòi hỏi phải có chuyên gia, bên chuyên gia cần được lựa chọn sau phiên xét xử sớm nhưng trước phiên xét xử chính

Một số cải cách khác về mặt thủ tục tố tụng cũng đã được thực hiện Giới hạn thời gian dự kiến, nếu không cần đợi báo cáo bằng văn bản của chuyên gia, rơi vào khoảng 6-10 tháng Nếu các bên lựa chọn phương thức hòa giải và hòa giải đã không thành, phán quyết phải được thực hiện trong thời gian từ 8 đến 10 tháng sau khi nộp khiếu kiện Báo cáo của chuyên gia cần phải có để phán quyết có thể đưa ra sau 15-18 tháng

Có những thuận lợi và bất lợi riêng đối với việc lựa chọn tòa án sơ thẩm xét xử vụ việc vi phạm về bằng sáng chế tại các khu vực khác nhau ở Đức Tại Dusseldorf, thủ tục tố tụng thường kéo dài hơn ở Mannheim và Munich (tòa án sơ thẩm: tối đa đến 14 tháng sau khi nộp đơn, tòa án phúc thẩm: 12 tháng) Lý do chính là có quá nhiều vụ án và thường là phức tạp được xét xử tại đây Việc dịch tài liệu sang tiếng Đức là bắt buộc tại Dusseldorf nên các bên thường phải chi phí rất nhiều cho việc này Tuy nhiên,

vì tòa án sơ thẩm mang tính quốc tế (60% nguyên đơn là các công ty nước ngoài), nên tòa án này đưa ra các phán quyết chất lượng cao, nhiều kinh nghiệm và có nhiều năng lực về mặt kỹ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực dược phẩm, thiết bị y tế, viễn thông và phần mềm máy tính Tòa án sơ thẩm Mannheim đưa ra thủ tục tố tụng nhanh (phiên sơ thẩm thường kéo dài từ 6-7

Ngày đăng: 27/01/2021, 05:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w