1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CHO CÁC DÂN TỘC RẤT ÍT NGƯỜI

11 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 199,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà nƣớc dành riêng chỉ tiêu cử tuyển đối với những dân tộc thiểu số chƣa có hoặc có rất ít cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp; có chính sách tạo nguồn tuyển sinh trên cơ[r]

Trang 1

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CHO CÁC DÂN TỘC RẤT ÍT NGƯỜI

PGS.TS Ngô Quang Sơn

Phó Vụ trưởng

Vụ Giáo dục Dân tộc, Bộ Giáo dục và Đào tạo

TS Nguyễn Thị Kim Thành

Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội

I QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CHO CÁC DÂN TỘC RẤT ÍT NGƯỜI

1 Khái quát về các dân tộc rất ít người

Việt Nam có 54 dân tộc anh em, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với khoảng 11 triệu người, chiếm 13,7% dân số cả nước Đặc điểm phân bố dân cư của các dân tộc thiểu số là sống phân tán và đan xen Mỗi dân tộc cũng có những địa bàn quần tụ đông đảo

Theo tiêu chí: các dân tộc có dưới 5000 người và dưới 1000 trẻ em trong độ tuổi từ 1- 14 tuổi là dân tộc rất ít người Nước ta có 9 dân tộc rất ít người : Cơ Lao,

Bố Y, Cống, Mảng, Brâu, Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Ơ Đu (theo Báo cáo số 1696/BGDĐT - VP ngày 04/3/2008 về tình hình thực hiện chính sách của Nhà nước đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và việc phòng chống tai nạn, thương tích trẻ em) Các dân tộc trên chỉ có từ 60 đến 900 trẻ em trong độ tuổi từ 1 đến 14 tuổi

Theo báo cáo của Uỷ ban nhân dân 6 tỉnh Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Nghệ An, Kon Tum (tháng 8/2009), dân tộc Mảng có dân số là 4376 người, dân tộc Cơ Lao có dân số 2334 người, dân tộc Cống có dân số là 2612 người, dân tộc Si La có dân số là 656 người, dân tộc Bố Y có dân số là 1824 người; dân tộc Pu Péo có dân số là 404 người, dân tộc Rơ Măm có dân số là 398 người, dân tộc Brâu

có dân số là 499 người, dân tộc Ơ Đu có dân số là 381 người Những dân tộc nói trên chủ yếu cư trú trên địa bàn các tỉnh miền núi biên giới như Hà Giang, Lào Cai,

Trang 2

Kon Tum, Lai Châu, Điện Biên, Nghệ An đang có nguy cơ suy giảm về mọi mặt, cần được Nhà nước quan tâm để bảo tồn và phát triển

Dân số các dân tộc rất ít người phát triển chậm, do tình trạng hữu sinh vô dưỡng, công tác y tế chưa đảm bảo Nhiều cặp vợ chồng không có con dẫn đến dân

số tăng chậm và có nguy cơ suy thoái nòi giống do quan hệ hôn nhân cận huyết thống Tuổi thọ trung bình của người dân chỉ khoảng 45 tuổi Quy mô gia đình các dân tộc rất ít người nhỏ, chỉ gồm bố mẹ và có từ 1 đến 2 con, mặc dù Nhà nước cho sinh đến con thứ 3

Những dân tộc rất ít người cư trú ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới của các tỉnh miền núi, nơi có điều kiện địa lí đặc biệt khó khăn, sản xuất còn mang nặng tính tự cấp, tự túc và chưa biết sản xuất hàng hóa (người Si La, Brâu, Ơ Đu, Rơ Măm, Cống, Mảng làm nương rẫy với phương thức canh tác lạc hậu, chọc lỗ, tra hạt), giữ tập quán du canh, du cư, săn bắt và hái lượm Chăn nuôi thả rông, chưa có chuồng trại

Tỉ lệ đói nghèo của các dân tộc rất ít người cao nhất nước Tỉ lệ hộ nghèo của dân tộc Si La là 80% - 90%, Ơ Đu: 85,5%, Pu Péo: 38%, Brâu: 51% Thu nhập bình quân đầu người rất thấp (dân tộc Ơ Đu: 25.000đ/tháng, dân tộc Pu Péo: 16.000đ - 24.000đ/tháng, dân tộc Brâu 36.000đ/tháng), lương thực không đủ ăn (thiếu ăn từ 3 đến 6 tháng trong năm)

Điều kiện sống của các dân tộc rất ít người còn găp nhiều khó khăn Nhiều dân tộc cư trú ở các vùng sâu còn chưa có điện sinh hoạt 94,2 % số hộ người Cống chưa có điện; 100% số hộ người Mảng chưa có điện

Cả 9 dân tộc này chỉ có tiếng nói, không có chữ viết Bản sắc văn hóa dân

tộc đang bị mai một Văn hóa dân tộc chỉ được lưu giữ qua truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác

Hiện nay dân tộc Ơ Đu chỉ còn 8 người biết tiếng mẹ đẻ Chủ yếu họ nói tiếng Thái, tiếng Khơ Mú Dân tộc Ơ Đu, từ nhà cửa đến trang phục, cưới hỏi, ma chay,… đều pha trộn, vay mượn của người Thái và người Khơ Mú trong vùng

Ngôn ngữ của dân tộc Brâu có xu hướng pha lẫn với các dân tộc khác như

Ba Na, Xê Đăng, Ka Dong

Hiện nay ở một số vùng, trẻ em dân tộc Pu Péo nói tiếng H’mông sõi hơn tiếng mẹ đẻ

Trang 3

Cho đến nay, do các yếu tố lịch sử để lại, điều kiện tự nhiên quá khó khăn, các dân tộc rất ít người đang ở tình trạng đói nghèo, lạc hậu, có nguy cơ suy giảm

về mọi mặt, không tự phát triển được Có những dân tộc rất ít người chưa có người nào tốt nghiệp trung học phổ thông và vào cao đẳng, đại học (Brâu, Rơ Măm)

2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục cho các dân tộc rất

ít người

Các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc rất ít người nói riêng luôn được Đảng

và Nhà nước ta quan tâm phát triển về mọi mặt, đặc biệt là về giáo dục, nhằm nhanh chóng đưa miền núi, vùng dân tộc thiểu số thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, từng bước rút ngắn dần khoảng cách về mọi mặt giữa miền núi, vùng dân tộc thiểu

số với các vùng khác

Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện chính sách ưu tiên đảm bảo phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn

Chủ trương phát triển giáo dục dân tộc được quan tâm cụ thể ở các lĩnh vực như: phát triển mạng lưới trường lớp và nâng cao dân trí, ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất các cấp học, mở thêm các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú và có chính sách đào tạo đủ giáo viên cho các vùng này

Việc xây dựng, quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có vị trí đặc biệt quan trọng trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Nhà nước dành riêng chỉ tiêu cử tuyển đối với những dân tộc thiểu số chưa có hoặc có rất ít cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp; có chính sách tạo nguồn tuyển sinh trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi để học sinh các dân tộc này vào học trường phổ thông dân tộc nội trú, dự bị đại học dân tộc và tăng thời gian học dự bị đại học Những chủ trương và chính sách của Đảng dành cho đồng bào dân tộc thiểu số

là không phân biệt về số dân của từng tộc người

Nghị quyết số 22/NĐ-CP ngày 28/5/2009 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số nhiệm vụ giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi

Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nêu rõ: “cần quan tâm đầu

tư phát triển các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”

Trang 4

Nhà nước ta rất quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển các dân tộc rất ít người Trong những năm gần đây, để bảo tồn và hỗ trợ các dân tộc rất ít người phát triển về mọi mặt, đã có một số Đề án được Chính phủ chỉ đạo thực hiện Theo công văn số 933/CP - ĐP của Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban dân tộc cùng các tỉnh Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, Lao Cai, Nghệ An, Kon Tum triển khai các Dự án bảo tồn 5 dân tộc Pu Péo, Si La, Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu Hỗ trợ về giáo dục đối với những dân tộc này là một cấu phần của Dự án

Tại phiên họp Ban Cán sự Đảng ngày 24/9/2008 bàn về một số biện pháp phát triển giáo dục cho các dân tộc rất ít người, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân kết luận: cần quan tâm phát triển giáo dục đào tạo đối với các dân tộc rất ít người

Thực tế hiện nay, đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết đòi hỏi Nhà nước phải có sự

hỗ trợ tập trung và đủ mạnh để tạo điều kiện cho các dân tộc rất ít người đang có nguy cơ suy giảm về mọi mặt được thực hiện quyền bình đẳng của dân tộc mình trong mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội, đặc biệt là quyền được đến trường, được học tập nâng cao trình độ

Các dân tộc rất ít người cần được sự quan tâm đặc biệt hơn nữa, xây dựng và triển khai thực hiện những chính sách đặc biệt để con em đồng bào DTRIN có điều kiện theo học liên tục tại các cơ sở giáo dục Góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các dân tộc rất ít người ở địa phương

II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CHO CÁC DÂN TỘC RẤT ÍT NGƯỜI

1 Những thành quả đạt được

Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, cùng với sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của cộng đồng các dân tộc, giáo dục cho các vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và vùng DTRIN nói riêng đã đạt được một số kết quả

1.1 Mạng lưới trường lớp

Mạng lưới trường lớp đã phủ kín tới các xã có đồng bào DTRIN sinh sống Trường lớp mầm non, tiểu học, trung học cơ sở đã có đến tận trung tâm xã, thị trấn 100% các thôn bản vùng đặc biệt khó khăn đều có điểm trường lẻ Ở các địa bàn khó khăn, các điểm trường tiểu học dạy đến hết lớp 3 Từ lớp 4, 5 học sinh ra học tại điểm trường chính tại trung tâm xã Đa số các trường tiểu học ở địa bàn khó khăn tổ chức bán trú cho HS ở cách xa trường Các huyện đều đã có trường THPT

Trang 5

Đặc biệt, 100% số huyện có DTRIN sinh sống đều có trường PTDTNT cấp huyện Nhiều huyện có thêm trường PTDTNT cụm xã

1.2 Tỷ lệ huy động học sinh dân tộc rất ít người đến trường

Việc huy động học sinh DTRIN đến trường đạt được kết quả khả quan trong những năm gần đây

Năm học 2009-2010, tỷ lệ huy động học sinh DTRIN cấp tiểu học trung bình của cả 9 dân tộc vào khoảng 94,5%; tỷ lệ này ở cấp trung học cơ sở vào khoảng 91,3% Ở tỉnh Hà Giang, tỷ lệ này lần lượt là 96,8% và 94%; ở tỉnh Lào Cai là 100% và 98,8% Ở xã Chung Chải và Pa Tần, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tỷ

lệ huy động học sinh DTRIN ở tiểu học và THCS đạt tới 100%

1.3 Chất lượng giáo dục

Học sinh DTRIN nói chung đều ngoan và thực hiện đúng nội quy, quy định của nhà trường Trong 3 năm học 2007-2008, 2008-2009, và học kỳ I năm học

2009-2010, có khoảng 93% học sinh DTRIN đạt hạnh kiểm khá và tốt ở tất cả các cấp học

Về kết quả học tập, tuy số lượng không nhiều, nhưng vẫn có học sinh DTRIN đạt học lực khá, giỏi ở tất cả các cấp học Năm học 2008-2009, tỷ lệ HS tiểu học đạt HS giỏi của cả 9 dân tộc khoảng 8,5% Ở trung học cơ sở, tỷ lệ HS đạt học lực giỏi khoảng 1,5% và tỷ lệ này ở trung học phổ thông là dưới 1% Cá biệt, có học sinh DTRIN thi đỗ thẳng vào trường đại học, cao đẳng không qua cử tuyển

1.4 Chính sách

Những chính sách giáo dục đã và đang thực hiện cho học sinh các dân tộc rất ít người nhằm tạo sự bình đẳng về văn hoá giáo dục, khuyến khích, động viên các em

đi học Các dân tộc rất ít người đã và đang được hưởng những chính sách về giáo dục dân tộc giống như những dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam

2 Những hạn chế

2.1 Mạng lưới trường lớp và cơ sở vật chất mặc dù đã được quan tâm đầu tư song vẫn chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục

Khảo sát thực tế tại các tỉnh có DTRIN sinh sống cho thấy: cơ sở vật chất ở nhiều điểm trường tiểu học còn nhiều phòng học tạm, thiếu nhà công vụ cho giáo viên, thiếu công trình vệ sinh, công trình nước sạch Thiết bị dạy học trong các trường còn thiếu

Trang 6

Trong tổng số 20 bản dân tộc Mảng sinh sống mới có 7/20 bản có phòng học kiên cố và bán kiên cố, còn lại là nhà tạm Một số bản của huyện Mường Tè tuy đã

có lớp học mầm non, song số phòng học này đều ở dạng bán kiên cố và nhà tạm Phần lớn các điểm trường tại nơi dân tộc Bố Y, Cờ Lao, Pu Péo sinh sống chưa có điều kiện tách riêng cơ sở vật chất của trường mầm non và trường tiểu học

Tại các điểm trường chính, các trường THCS xã và cụm xã, trường PTDTNT cấp huyện, cấp tỉnh còn nhiều trường chưa có phòng thí nghiệm thực hành, phòng học bộ môn, thư viện, nhà công vụ cho giáo viên

Nhiều trường mầm non có học sinh DTRIN ở 6 tỉnh trong phạm vi của Đề án chưa có đủ phòng học, nhà bếp và các phương tiện phục vụ việc tổ chức nấu ăn cho trẻ

2.2 Tỷ lệ huy động học sinh ở các cấp chưa đồng đều, càng lên cao càng thấp

Tỷ lệ huy động học sinh DTRIN ở cấp tiểu học và trung học cơ sở chưa đồng đều ở các tỉnh có DTRIN cư trú Ở tỉnh Lai Châu, tỷ lệ này là thấp (Tỷ lệ huy động học sinh DTRIN ở cấp tiểu học khoảng 74% và trung học cơ sở khoảng 85,5% ) Càng lên cấp học cao hơn, số học sinh DTRIN càng ít Tỷ lệ học sinh DTRIN học lên THPT năm học 2009 - 2010 trung bình của cả 9 dân tộc chỉ vào khoảng 45% với 189 học sinh Năm học 2008-2009, dân tộc Brâu và dân tộc Rơ Măm không có học sinh nào học trung học phổ thông Năm học 2009-2010, có 4 học sinh người Brâu và 3 học sinh người Rơ Măm học lớp 10 Tỷ lệ học sinh DTRIN vào học THPT tại 2 xã Chung Chải và Nậm Kè, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện biên chỉ vào khoảng 28% Tỷ lệ này ở Lai Châu còn thấp hơn, vào khoảng 20%

Số học sinh DTRIN được vào học các trường PTDTNT cấp huyện, cấp tỉnh còn rất ít: năm học 2008-2009 có khoảng 200 học sinh của 9 DTRIN học tại các trường PTDTNT tỉnh và huyện Ở một số tỉnh, học sinh các DTRIN không đủ điều kiện để có thể ưu tiên cử tuyển vào các trường PTDTNT cấp tỉnh và huyện Ở một

số tỉnh khác, học sinh DTRIN lại ít có cơ hội được vào học tại các trường PTDTNT huyện và tỉnh

Tỷ lệ học sinh DTRIN được vào học tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và trường nghề còn rất thấp Các tỉnh có DTRIN đã quan tâm đến việc cử tuyển học sinh vào các trường đại học và cao đẳng nhưng nguồn học sinh có đủ tiêu chuẩn để cử tuyển còn rất hạn chế Vì vậy, số học sinh các DTRIN theo học tại các trường đại học, cao đẳng hầu như không có Số ngườicó trình độ cao đẳng, đại học rất ít Tính đến năm 2007, sau 15 năm thực hiện chế độ cử tuyển, mới có 29 học

Trang 7

sinh các DTRIN được cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng trung ương và địa phương

2.3 Chất lượng học tập của học sinh dân tộc rất ít người thấp

Càng lên cấp học cao, tỷ lệ học sinh DTRIN đạt học lực khá, giỏi càng thấp Năm học 2008-2009, tỷ lệ HS tiểu học đạt HS giỏi của cả 9 dân tộc khoảng 8,5%

Ở Trung học cơ sở, tỷ lệ HS đạt học lực giỏi chỉ khoảng 1,5% và tỷ lệ này ở THPT

là dưới 1% Tỷ lệ học sinh yếu, kém tính chung cho cả 9 dân tộc khoảng 9,1% ở THCS và gần 60% ở THPT Tỷ lệ HS yếu, kém ở THPT của học sinh Brâu là 75%

và tỷ lệ HS yếu, kém ở THPT của học sinh Rơ Măm là 100%

2.4 Một số chính sách chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển giáo dục cho các dân tộc rất ít người

Học sinh DTRIN được hưởng các chế độ chính sách chung như học sinh DTTS

Đã có một số Chương trình, Dự án hỗ trợ học sinh DTRIN, nhưng các Chương trình và Dự án cũng chưa hỗ trợ việc nuôi dưỡng các trẻ mầm non DTRIN, đảm bảo cho các em được ăn no, mặc ấm, đủ sức khỏe để phát triển

Các Đề án hỗ trợ phát triển các dân tộc rất ít người của Uỷ ban Dân tộc theo công văn số 933/CP – ĐP ngày 14/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ phát triển các dân tộc rất ít người (dưới 1000 người) như Pu Péo, Si La, Brâu, Rơ Măm,

Ơ Đu tại các tỉnh Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, Lao Cai, Nghệ An, Kon Tum đến năm 2010 kết thúc Như vậy, rất cần có một chính sách tiếp tục hỗ trợ cho trẻ

em và học sinh 5 dân tộc này để động viên các em đến trường

Còn có nhiều điểm trường tiểu học có học sinh các DTRIN chưa được các Chương trình, Dự án đầu tư, hỗ trợ do nằm ở nơi có địa hình, giao thông quá khó khăn

Thu nhập của đồng bào DTRIN thấp, đời sống khó khăn, mức trợ cấp cho học sinh DTTS như hiện nay là quá thấp, học sinh các DTRIN khó có thể theo học

3 Nguyên nhân của những hạn chế

3.1 Trình độ dân trí của các dân tộc rất ít người nói chung còn thấp, việc triển khai công tác giáo dục đối với các DTRIN còn gặp nhiều khó khăn

Trình độ văn hoá chung của đồng bào các DTRIN chủ yếu mới chỉ là thoát nạn

mù chữ và phổ cập tiểu học Số người còn mù chữ, tái mù chữ, thất học chiếm tỉ lệ cao: dân tộc Cống: 70,3 %, dân tộc Brâu: 68,6%; Si La: 73% Tỉ lệ người biết tiếng phổ thông thấp Đa số con em các DTRIN chỉ học hết lớp 2,3 Hiện nay, trong số

Trang 8

những dân tộc nói trên, dân tộc Brâu chưa có người nào có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên

Khả năng tiếng Việt của học sinh DTRIN còn hạn chế, có nơi trẻ vào lớp 1 chưa biết tiếng Việt Học kỳ 1 năm học 2009-2010, có tới 46,5% HS tiểu học người Brâu có học lực yếu môn Tiếng Việt

Khả năng nhận thức của học sinh DTRIN còn hạn chế Trong quá trình học tập,

HS thụ động, thiếu chủ động, sáng tạo, hay quên Rất ít học sinh có phương pháp học tập hiệu quả

Tâm lý người dân tộc thiểu số nói chung và đặc biệt là DTRIN cũng không muốn cho con em đi học nghề xa nhà Nhận thức của đồng bào về giáo dục nghề nghiệp chưa có chuyển biến tích cực Đồng bào chưa nhận thức được lợi ích của việc học nghề để nâng cao năng suất lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống

Ở một số địa phương có đồng bào DTRIN sinh sống, tình trạng nghiện hút vẫn tồn tại

3.2 Điều kiện kinh tế quá khó khăn

Tỉ lệ đói nghèo của các dân tộc rất ít người cao nhất nước, đời sống của các DTRIN rất khó khăn, sức khoẻ của HSDTRIN còn hạn chế, giao thông đi lại khó khăn Do thu nhập thấp, đời sống khó khăn, nhiều hộ gia đình các DTRIN còn thiếu

ăn, thiếu mặc, không đủ khả năng chu cấp cho con em đi học phổ thông, học nghề, học trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng đại học

3.3 Chưa có sự quan tâm đặc biệt và thường xuyên của chính quyền và cộng đồng địa phương đối với các DTRIN

Chính quyền địa phương, nơi có đồng bào các DTRIN cư trú chưa thực sự quan tâm đến những nguy cơ đối với các DTRIN: ngoài việc dân số giảm, suy thoái nòi giống, văn hóa mai một và bị đồng hóa, các dân tộc này còn không có điều kiện để tiếp cận giáo dục ở trình độ cao, thậm chí ngay cả trình độ THPT Ở một số tỉnh như Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai chưa có chính sách hỗ trợ đặc biệt cho học sinh DTRIN và chưa tăng chỉ tiêu cử tuyển học sinh DTRIN vào các trường PTDTNT huyện và tỉnh so với các học sinh DTTS khác

3.4 Số lượng, chất lượng giáo viên tại các vùng có DTRIN còn thiếu và yếu

Ở các tỉnh miền núi, những năm trước do thiếu nguồn tuyển, một bộ phận giáo viên được đào tạo cấp tốc, chất lượng đầu vào thấp, năng lực sư phạm và kiến thức còn yếu nên chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn Giáo viên tiểu học ở vùng dân tộc còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, còn một tỉ lệ giáo viên chưa đạt chuẩn

Trang 9

Đội ngũ giáo viên có nhiệt tình, tâm huyết nhưng còn thiếu hiểu biết về tâm lý

HS dân tộc Một khó khăn lớn là giáo viên dạy HS các DTRIN không biết tiếng dân tộc, HS hạn chế về tiếng Việt Vì vậy, thầy trò giao tiếp gặp rất nhiều khó khăn Một số cán bộ quản lý giáo dục năng lực còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm trong công tác quản lý chỉ đạo HS các DTRIN

Chưa có chính sách thoả đáng khuyến khích giáo viên có trình độ, có tâm huyết công tác lâu dài, ổn định ở vùng có HS DTRIN

3.5 Chưa có chính sách giáo dục đặc thù cho học sinh các dân tộc rất ít người

Sự hỗ trợ cho học sinh các DTRIN về giáo dục là đã có, xong còn tản mạn, lẻ

tẻ, chưa đồng bộ Mặc dù Nhà nước đã quan tâm hỗ trợ bảo tồn, phát triển cho một

số DTRIN, nhưng hiện nay vẫn chưa có chính sách giáo dục đặc thù cho trẻ em, học sinh, sinh viên DTRIN để hỗ trợ, động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho các em đi học và học lên các bậc học cao hơn

Cần xây dựng những chính sách riêng cho HS các DTRIN Mức trợ cấp cho HSDT hiện nay là quá thấp, HS các DTRIN khó có đủ điều kiện theo học Cần điều chỉnh tương ứng với mức lương tối thiểu chung để trẻ em, HS, SV các DTRIN có điều kiện theo học Cần nghiên cứu xây dựng một chính sách đặc biệt cho đối tượng HS các DTRIN để giúp cho trẻ em, HS, sinh viên DTRIN có thể học tiếp lên

III MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CHO CÁC DÂN TỘC RẤT

ÍT NGƯỜI

1 Tăng cường công tác truyền thông nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải phát triển giáo dục cho các DTRIN

Tăng cường công tác truyền thông nhằm:

+ Nâng cao nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền, cộng đồng, phụ

huynh HS, giáo viên, CBQLGD, nhân viên và HS để thấy rõ việc phát triển giáo dục đối với các DTRIN là rất quan trọng và cấp thiết

+ Vận động các gia đình DTRIN cho con em đến trường mầm non, theo học

phổ thông, học đại học, cao đẳng, TCCN

+ Vận động sự tham gia của cộng đồng phát triển giáo dục cho 9 DTRIN + Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của đồng bào các DTRIN về việc bảo

vệ môi trường, giáo dục kĩ năng sống và phòng chống các tệ nạn xã hội

Trang 10

+ Tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục, huy động các nguồn lực trong

nước và các tổ chức quốc tế để phát triển giáo dục cho các DTRIN

2 Đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục có HS DTRIN

Hoàn thiện hệ thống trường, lớp tại các thôn bản có HS DTRIN để đảm bảo huy động học sinh DTRIN các cấp học phổ thông đến trường Xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư thiết bị dạy học cho các trường mầm non, tiểu học, phổ thông dân tộc nội trú có HS DTRIN đảm bảo đủ điều kiện để nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em, HS các DTRIN

Đảm bảo đủ phòng học, công trình phụ, công trình vệ sinh, công trình nước sạch, trang bị đồ dùng dạy học tại các điểm trường ở các thôn bản có HS các DTRIN

3 Nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục

3.1 Biên soạn tài liệu

Biên soạn tài liệu về bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của các DTRIN ; tài liệu hỗ trợ GV dạy mẫu giáo cho 9 DTRIN; tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học phù hợp đối tượng HS DTRIN ở các bậc học mầm non (mẫu giáo), tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông; tài liệu hỗ trợ HS DTRIN nâng cao khả năng tiếng Việt; tài liệu giáo dục kĩ năng sống cho HS DTRIN (phòng chống HIV/AIDS, ma túy )

3.2 Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục ở các cơ sở giáo dục có HS các DTRIN

- Bồi dưỡng giáo viên

- Bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục

3.3 Tổ chức cho GV, CBQLGD tham quan học tập, nghiên cứu ngắn hạn ở nước ngoài

4 Xây dựng và triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ trẻ em, HS, sinh viên các dân tộc rất ít người

Xây dựng chính sách phù hợp cho trẻ em, học sinh và sinh viên các DTRIN

- Xây dựng chính sách cho trẻ mẫu giáo DTRIN tại các trường, lớp mầm non công lập

- Xây dựng chính sách cho HS các DTRIN tại các trường tiểu học

Ngày đăng: 27/01/2021, 05:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w