1. Trang chủ
  2. » Ôn thi đại học

Giáo dục gia đình của người Công giáo ở Việt Nam hiện nay

65 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 645,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền tảng đức tin của giới trẻ ngày nay liên quan đến vấn đề giáo dục nền tảng giáo lý đối với mỗi người Công giáo. Việc học giáo lý ngày một sa sút, không những ở thành thị mà cả nông[r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN

KHOA TRIẾT HỌC

- -

PHAN THỊ YẾN

GIÁO DỤC GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH TRIẾT HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH-2016-X

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN

KHOA TRIẾT HỌC

- -

PHAN THỊ YẾN

GIÁO DỤC GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 5

LỜI CẢM ƠN 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 7

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC GIA ĐÌNH VÀ GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO 4

1.1 Khái quát về giáo dục gia đình 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.2 Vai trò và nội dung của giáo dục gia đình 6

1.2 Gia đình Công giáo 13

1.2.1 Khái quát về gia đình công giáo 13

1.2.2 Đặc điểm của gia đình người Công giáo 15

1.2.3 Giá trị của gia đình người Công giáo 18

Tiểu kết chương 1 23

Chương 2: VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG GIÁO DỤC GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 24

2.1 Vai trò giáo dục gia đình của người Công giáo 24

2.1.1 Giáo dục gia đình người Công giáo góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ 25

2.1.2 Duy trì tín ngưỡng tôn giáo, bảo lưu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống 27

2.2 Nội dung cơ bản trong giáo dục gia đình của người Công giáo 29

2.2.1 Giáo dục đức tin tín ngưỡng 29

2.1.2 Giáo dục đạo đức 32

2.1.3 Giáo dục trí thức 38

2.1.4 Giáo dục thể chất và thẩm mỹ 40

2.1.5 Giáo dục giới tính, tình yêu và hôn nhân 41

2.2 Những vấn đề đặt ra và một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò giáo dục gia đình của người Công giáo ở Việt Nam hiện nay 44

Trang 4

2.2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò giáo dục gia đình của người Công

giáo 50

Tiểu kết chương 2 53

KẾT LUẬN 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới

sự hướng dẫn của TS Hà Thị Bắc Các tư liệu, tài liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, khách quan và có nguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, ngày 03 tháng 6 năm 2020

Sinh viên

Phan Thị Yến

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo khoa Triết học – trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - những người thầy đã dạy dỗ tôi trong bốn năm đại học

Và hơn hết, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Hà Thị Bắc, người thầy đã luôn hướng dẫn tôi trong quá trình làm nghiên cứu khóa luận Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng song khóa luận vẫn còn có những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô

và các bạn để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Phan Thị Yến

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Đnl Bài trích sách Đệ Nhị Luật

GĐ Tông huấn về Gia Đình của Đức Giáo hoàng Gioan

Phaolô II, 1981

Rm Trích thư gửi tín tông đồ của thánh Rô- ma

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, hôn nhân chính là điều kiện đầu tiên cần thiết cho sự thiết lập một gia đình và với người dân Công giáo cũng vậy, con người sống không thể tách rời gia đình và gia đình hay giáo dục gia đình luôn in dấu ấn đậm nét nhất trong cuộc đời của mỗi con người bởi gia đình có vai trò trực tiếp tới sự hình thành thể lực, trí lực và nhân cách, văn hóa của mỗi con người

Từ xa xưa, giáo dục là một yếu tố rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của con người Chính vì thế có ý kiến cho rằng, muốn biết tương lai của một xã hội thì hãy nhìn vào thực trạng giáo dục hiện có của

xã hội ấy Thông thường khi nói đến giáo dục, người ta nghĩ ngay đến nhà trường, các mối quan hệ thầy - trò Nhưng quá trình giáo dục của một con người không chỉ ở trên ghế nhà trường, trong các mối quan hệ thầy - trò mà còn xảy ra chính ngay trong gia đình người đó nữa Bởi vậy, người thầy đầu tiên của con trẻ là chính cha mẹ của mình Cho nên, khi nghiên cứu về vấn đề giáo dục gia đình của người Công giáo giúp chúng ta có cách nhìn nhận toàn diện hơn về sự hội nhập, giao thoa của giáo dục gia đình truyền thống với giáo dục gia đình của người Công giáo Hơn nữa, nghiên cứu đề tài này sẽ giúp chúng ta hiểu được vai trò giáo dục gia đình của người Công giáo và một

số vấn đề đang đặt ra trong giáo dục gia đình của người Công giáo đặc biệt là phương pháp giáo dục như thế nào để trở thành một người sống tốt với đời, đẹp đạo đồng thời có trách nhiệm bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc của người Việt

Với những lí do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Giáo dục gia đình của người Công giáo ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận

Trang 9

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đề tài là trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lí luận khóa luận sẽ phân tích vai trò và nội dung giáo dục gia đình của người Công giáo Từ đó phân tích một số vấn đề đặt ra đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò giáo dục gia đình của người Công giáo

Để đạt được mục đích trên, khóa luận tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về giáo dục gia đình và gia đình Công giáo

- Phân tích vai trò và nội dung giáo dục gia đình của người Công giáo

- Phân tích một số vấn đề đặt ra và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò giáo dục gia đình của người Công giáo

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu đề tài là giáo dục gia đình của người Công giáo ở Việt Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu đề tài là: Trong khuôn khổ của đề tài này, khóa luận tập trung nghiên cứu vai trò và nội dung nền giáo dục gia đình của người Công giáo ở Việt Nam hiện nay (Trong đó, chủ thể giáo dục gia đình là cha

mẹ, đối tượng được giáo dục là con cái)

4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên cơ sở lí dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lenin, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, về hôn nhân và giáo dục gia đình

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giả khóa luận chú trọng vận dụng các phương pháp: phân tích

Trang 10

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Ý nghĩa lý luận:

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao nhận thức về vấn đề giáo dục gia đình của người Công giáo và những giá trị của nó đối với người Công giáo nói chung và cộng đồng tín hữu Công giáo nói riêng

Ý nghĩa thực tiễn:

- Nâng cao sự hiểu biết về giá trị giáo dục gia đình Công giáo ở Việt Nam hiện nay, từ đó thay đổi nhận thức và phát huy truyền thống tốt đẹp của nền giáo dục gia đình Công giáo

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 2 chương, 5 tiết và 12 tiểu tiết được chia phù hợp với kết cấu của bài

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC GIA ĐÌNH

VÀ GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO 1.1 Khái quát về giáo dục gia đình

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

* Khái niệm “gia đình”

Gia đình có một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội, là đối tượng được nhiều ngành chọn làm chủ đề nghiên cứu Chủ đề nghiên cứu về gia đình luôn có sự thu hút rất đặc biệt đối với các nhà nghiên cứu khoa học trên toàn thế giới Có rất nhiều khái niệm khác nhau về “gia đình” xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người

Theo C.Mác và Ăng-ghen định nghĩa về gia đình trong tác phẩm

"Hệ tư tưởng Đức" (1845) có viết: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra những người khác sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” [21, tr 41] Ta

có thể hiểu khái niệm đó theo hai nội dung chính sau đây:

Một là, gia đình được tạo nên chủ yếu từ quan hệ hôn nhân vợ

chồng, là nơi tái tạo, sinh sôi nảy nở con người

Hai là, giữa cha mẹ và con cái có một mối quan hệ huyết thống không

thể tách rời

Khái niệm “gia đình” mang tính pháp lý ở Việt Nam được thể hiện thông qua điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 [3, tr.16] Trong điều 8 đã xác định rất rõ: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau

do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau qua luật định” [3, tr.16]

Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về gia đình, nhưng chúng ta có thể hiểu gia đình được thừa nhận ở các quan hệ cơ bản sau:

Trang 12

Một là, gia đình được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân Quan

hệ hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ theo quy định của pháp luật, để cùng nhau chung sống và xây dựng gia đình hạnh phúc Trong các xã hội có giai cấp, quan hệ hôn nhân là một hiện tượng mang tính giai cấp tiêu biểu Hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, có các kiểu hôn nhân đặc trưng khác nhau, giai cấp thống trị đề ra luật để điều chỉnh các mối quan

hệ hôn nhân gia đình cho phù hợp

Hai là, cùng chung quan hệ huyết thống với nhau Quan hệ huyết

thống là sự cùng chung một hệ dòng máu, là hệ quả của cuộc hôn nhân và được duy trì và phát triển tốt đẹp khi quan hệ hôn nhân chân chính và hạnh phúc

Ba là, quan hệ nuôi dưỡng là mối quan hệ hình thành trên sự nuôi

dưỡng giữa chủ thể và đối tượng Họ gắn bó với nhau, có trách nghiệm và nghĩa vụ với nhau, được luật pháp công nhận và bảo vệ

Như vậy, dù diễn đạt về khái niệm gia đình ở nhiều phương diện khác nhau, song chúng ta có thể hiểu: “Gia đình là một cộng đồng người được xây dựng trên cơ sở các mối quan hệ như quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và mối quan hệ nuôi dưỡng các thành viên được xã hội và pháp luật thừa nhận và bảo vệ”

* Khái niệm “giáo dục gia đình”

Giáo dục gia đình là sự giáo dục được thực hiện trong phạm vi gia đình,

do thế hệ trước thực hiện, tác động tới thế hệ sau với mục đích củng cố trong thế hệ sau những phẩm chất, năng lực tốt phù hợp với chuẩn mực của xã hội Đây là một hoạt động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có sự chuẩn bị của những người trong gia đình, tác động một cách thường xuyên, liên tục tới đối tượng được giáo dục, nhằm đạt mục đích mà người giáo dục mong muốn [6, tr.12]

Trong cuộc sống tương lai của con trẻ, sự giáo dục gia đình đóng vai trò cơ bản và quyết định Bởi gia đình là môi trường quan trọng bậc nhất của

Trang 13

sự phát triển cá nhân, đặc biệt là khi còn nhỏ, bởi đây là môi trường chính yếu hình thành nên nhân cách của mỗi cá nhân Tại gia đình, ai cũng được nuôi

dưỡng, chăm sóc và được dạy bảo từ những việc cơ bản để sống làm người

1.1.2 Vai trò và nội dung của giáo dục gia đình

* Vai trò của giáo dục gia đình

Vai trò giáo dục gia đình quả thực rất quan trọng đối với sự hình thành giáo dục đầu tiên cho con trẻ Do vậy, tác giả rút ra được các vai trò của gia đình như sau:

Một là, giáo dục gia đình là cơ sở nền tảng của giáo dục nhà trường và

xã hội Bởi, gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên, nơi mà mỗi cá nhân từ khi chào đời đến phát triển, trưởng thành liên tục được tiếp nhận những tình cảm tốt đẹp từ các thành viên giá trị cốt lõi của văn hóa xã hội, tạo nền tảng vững chắc cho nối tiếp giáo dục của nhà trường và xã hội Nhận thức tầm quan trọng của gia đình với ý nghĩa là nền tảng, tế bào của xã hội; đồng thời cũng là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành và phát triển nhân cách con người, nơi giữ vai trò đặc biệt quan trọng liên quan tới số lượng, chất lượng dân số và cơ cấu dân cư của quốc gia, Văn kiện Ðại hội XII của Đảng nêu rõ: “Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh Xây dựng mỗi trường học thật sự là một trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người”[5, tr.128] Muốn được như thế thì cần phải tăng cường công tác giáo dục đời sống gia đình Cung cấp tới từng gia đình các kiến thức, kỹ năng sống, như: kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng ứng xử giữa các thành viên trong gia đình với nhau và với cộng đồng hơn nữa

Hai là, giáo dục của gia đình đặt cơ sở hết sức quan trọng cho sự hình

thành phẩm chất, nhân cách gốc của trẻ, thúc đẩy sự hình thành nhân cách ở tuổi thanh niên, củng cố, giữ gìn nhân cách con người ở tuổi trưởng thành và khi về già Trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc, C Mác viết: “Bản chất

Trang 14

Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [21, tr.569] Từ quan điểm này, có thể xác định, nhân cách chính là tổng hợp các yếu tố phản ánh bản chất xã hội của con người, nhưng được hình thành trên cơ sở, điều kiện, tiền đề sinh học của con người, chứ không đối lập, cũng không tách rời khỏi tiền đề sinh học của nó Nhân cách của một con người không phải là sản phẩm tự nhiên do bẩm sinh và di truyền, nhân cách được hình thành dần dần trong hoạt động và giao tiếp của con người suốt cuộc đời từ ấu thơ đến khi trưởng thành Giá trị của nhân cách mỗi con người sẽ không bị mất đi cùng với cái chết sinh học mà giá trị đó sẽ được tồn tại trong sản vật mà họ đã làm ra cũng như trong đời sống tâm lý - xã hội của nhóm – tập thể mà nó gia nhập vào

Ba là, giáo dục gia đình góp phần bảo lưu các giá trị, đặc điểm, văn hóa

truyền thống của dân tộc gồm: thứ nhất, phát huy giá trị đạo đức thể hiện qua các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình: vợ - chồng (sống yêu thương, tình nghĩa, thủy chung, hòa thuận); cha mẹ - con cái (cha mẹ hiền từ, sẵn sàng hy sinh, chăm sóc cho con, con cái có hiếu với cha mẹ); ông bà - con cháu (ông bà gương mẫu, hòa thuận, con cháu hiếu thảo, hiền lành, chăm ngoan); anh/chị - em (anh, chị, em hòa thuận, thương yêu, gắn bó, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau); hoặc với làng xóm xung quanh là đùm bọc, sẻ chia Thứ hai, phát huy nền văn hóa cha ông ta: tình yêu nước, đoàn kết, chịu thương, chịu khó, hiếu học, nhân ái…của dân tộc Việt Nam Thứ ba, bảo tôn các di sản văn hóa vật thể: di tích lịch sử - văn hóa danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia, phi vật thể của cha ông để lại: tập tục tín ngưỡng dân gian, lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống… Giáo dục gia đình là nơi kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; tiếp đến giáo dục con trẻ góp phần bảo lưu các giá trị văn hóa cho con cháu ngàn đời sau

Thực tế đã cho chúng ta thấy rằng, sự chăm sóc và giáo dục trong gia đình có một vai trò đặc biệt vô cùng to lớn, vì nuôi dưỡng và giáo dục trong

Trang 15

gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên của mỗi người từ khi sinh ra và lớn lên Vai trò của giáo dục gia đình được thể hiện thông qua một số nội dung cơ bản như: giáo dục tri thức, đạo đức và lối sống, giáo dục về thể chất thẩm mỹ, giao tiếp ứng xử… được diễn ra trong mọi hoạt động của con người và được thực hiện qua tất cả các hoạt động, tổ chức đời sống vật chất của con người Giáo dục gia đình đã góp phần vào việc đào tạo con người và phát triển đạo đức văn hóa, dân tộc của mỗi một quốc gia [2, tr 18]

*Nội dung cơ bản của giáo dục gia đình

Về nội dung, giáo dục của gia đình là nền giáo dục toàn diện bao gồm giáo dục đạo đức, giáo dục học tập văn hóa, giáo dục lao động và rèn luyện tính tự lập cho trẻ, giáo dục thể chất và thẩm mỹ, giáo dục giới tính, tình yêu

và hôn nhân cho thế hệ trẻ

Một là, giáo dục đạo đức

Đạo đức là những chuẩn mực của xã hội, để từ đó mọi người tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với mọi người Trong gia đình, cần giáo dục cho con trẻ về sự kính trọng người lớn tuổi, lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ thể hiện qua các cử chỉ ăn nói, hành động lễ phép chào hỏi Mỗi một gia đình là một môi trường khác nhau, vì vậy chúng ta nên giáo dục cho trẻ về

sự cảm thông hoàn cảnh cuộc sống của gia đình mình Để trẻ không so sánh hay so bì, ăn chơi theo những đứa trẻ gia đình có điều kiện hơn gia đình mình

Để tạo lên sự hòa thuận, không khí vui vẻ, đầm ấm trong gia đình Và giúp trẻ

có ý chí nghị lực vươn lên trong cuôc sống

Đạo đức trong gia đình không chỉ thể hiện qua sự kính trọng, lễ phép với người lớn tuổi mà còn thể hiện qua cách cư xử giữa anh chị em Anh, chị,

em ai cũng đều có quyền bình đẳng như nhau, không phân biệt nam hay nữ

Ai cũng đều có trách nhiệm phải xây dựng mái ấm gia đình, đùm bọc lấy nhau Anh, chị lớn phải biết nhường nhịn, bao bọc em út của mình Phận làm

em phải biết tôn trọng anh, chị, nghe theo những điều phải mà anh chị nói,

Trang 16

Ngoài những mối quan hệ trong gia đình ra, còn có những mối quan hệ khác ngoài xã hội như quan hệ bạn bè, cộng đồng, dân tộc, cần giáo dục co con trẻ những nội dung sau:

Lòng nhân ái: lòng nhân ái là lòng yêu thương, quý mến con người giáo dục lòng nhân ái là giáo dục tình yêu thương, quý mến giữa người với người Sự khác nhau giữa con người và động vật đó là sự thấu cảm và đồng cảm Ca dao tục ngữ Việt Nam có câu “Lá lành đùm lá rách” hay “Thương người như thể thương thân” để nói lên sự đồng cảm, thấu hiểu, sự giúp đỡ giữa người với người trong cuộc sống Dù chúng ta sống trong bất kì hoàn cảnh nào, đều phải có lòng yêu thương nhân ái Gia đình phải giáo dục con cái ngay từ những buổi đầu biết nhận thức về lòng nhân ái, sự bao dung và giúp đỡ người khác, không tham lam lấy của người khác để trở thành một người tốt

Tính trung thực: quy luật tồn tại và phát triển trong cuộc sống đòi hỏi con người phải biết giao tiếp và ứng xử Giao tiếp và ứng xử muốn có sức thuyết phục và sự tin tưởng của mọi người hay không là phải nhờ vào tính chân thực của mỗi con người qua lời nói và hành động Ngay từ những ngày còn bé, gia đình đã giáo dục cho con cái mình về tính chân thực qua mỗi lời nói, cử chỉ hành động và suy nghĩ, để giúp trẻ tránh xa những sự dối trá, hướng trẻ đến những điều chân thật giúp trẻ biết nhận lỗi sai, khuyết điểm khi mình làm chưa đúng, giám đối mặt với thực tế hiện tại Con người có đức tính trung thực cũng nói lên phẩm chất của bản thân mình Người khác không

hể coi thường, khinh bỉ được, đồng thời cũng là giữ uy tín của mình trog mọi mối quan hệ

Tính khiêm tốn: khiêm tốn là một phẩm chất quan trọng trong mỗi nhân cách của con người Khiêm tốn là sự bày tỏ kính trọng, khiêm nhường, có ý thức và thái độ chuẩn mực trong mọi công việc Cũng như sự đánh giá bản thân, không tư kiêu, tự cang, cho mình là nhất Gia đình luôn giáo dục hệ tư tưởng cho trẻ phải luôn biết tỏ ra khiêm tốn, không tự mãn, chủ quan, ngạo

Trang 17

mạn, chê bai người khác, không tự cho mình là biết hơn người khác Tính khiêm tốn tường được thông qua bằng những cử chỉ, biểu hiện trong ngôn ngữ, cách giao tiếp với người khác Không dùng những từ ngữ khiếm nhã để nói chuyện, luôn biết giữ ý và phép tắc khi nói chuyện trong gia đình cũng như ngoài xã hội Khiêm tốn giúp chúng ta học những điều hay, ý đẹp, mà còn giúp chúng ta có cách cư xử cẩn trọng, chu đáo, không thô lỗ, khoe khoang Những hành động khiêm tốn luôn được người khác để ý và coi trọng

Hai là, giáo dục tri thức

Giáo dục tri thức đóng một vai trò vô cùng quan trọng khác với các trường lớp, giáo dục tri thức trong gia đình là một quá trình các thế hệ đi trước như cha mẹ, ông bà, anh chị, cô dì, chú bác đúc kết ra và chỉ bảo cho những đứa trẻ những kiến thức cơ bản giúp trẻ nhận biết và làm quen Trẻ còn đang trong giai đoạn sơ sinh, các thành viên trong gia đình đã giúp trẻ kích thích nhữn giác quan của trẻ, vì sự phát triển của các giác quan đánh dấu sự hình hành phát triển ban đầu của nhận thức Bằng những hành động như chơi đùa nói chuyện với trẻ, treo nhiều đồ chơi nhiều màu sắc để giúp trẻ phát triển thị giác, cho trẻ nghe nhạc…Khi trẻ lớn hơn, tư duy của trẻ lúc này đã biết cách suy luận đơn giản, thành viên trong gia đình thường cho trẻ hoạt động vui chơi thông qua các hoạt động nhẹ để phát triển thể chất và chí tuệ Trả lời những câu hỏi của trẻ nhằm giúp trẻ có những định hướng đúng đắn về suy nghĩ

Bên cạnh đó khi đến giai đoạn trẻ đến trường, là một giai đoạn mới mẻ với trẻ, khi đó trẻ cần được chuẩn bị về mọi mặt thật tốt Sự giáo dục của gia đình và của nhà trường sẽ giúp trẻ phát triển về mọi mặt tư duy cũng như tâm sinh lý Giai đoạn này, gia đình phải chú ý tới trẻ, trò chuyện với trẻ để hiểu trẻ đang suy nghĩ gì hơn vì tâm sinh lý của trẻ rất nhạy cảm Sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường trong giai đoạn này rất quan trọng trong việc nuôi dưỡng tâm hồn và chăm sóc trẻ

Trang 18

Ba là, giáo dục về thể chất, thẩm mỹ

Xã hội ngày càng văn minh và phát riển, nhu cầu thưởng thức những cái đẹp của con người này một tăng cao và được trú trọng hơn Khi con người hướng về cái đẹp, muốn thưởng thức ái đẹp, là một người có trình độ văn hóa tốt, họ luôn tìm cách tránh xa những cái xấu Nhờ những sự chỉ bảo, tiếp thu

từ phía gia đình mà con người mới tìm ra được những cái đẹp đầu tiên Gia đình có một vị trí vô cùng quan trọng, đặc biệt là các bậc cha mẹ trong việc giáo dục con em mình về giáo dục thẩm mỹ

Khi con cái bắt đầu biết tiếp thu, những thứ xung quanh chúng có thể

để lại những ấn tượng vô cùng sâu sắc Có thể là tiếng nói chuyện của cha mẹ với chúng, tiếng hát ru à ơi, những gam màu sắc rực rỡ xung quanh, để lại những kỉ niệm vô cùng tốt đẹp trong kí ức Những mầm mống về cái đẹp được gia đình truyền cho con cái là những viên gạch đầu tiên đặt nền tảng để xây dựng cái đẹp trong một con người

Các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thơ ca, truyện đều chứa đựng rất nhiều vẻ đẹp thuần túy của nghệ thuật, nên việc giáo dục, bồi dưỡng cho con cái để có được những cảm xúc, tình cảm thẩm mỹ là vô cùng quan trọng, bất

cứ gia đình nào cũng đều nỗ lực để giúp con em mình có thể lĩnh hội được Không chỉ bồi dưỡng và rèn luyện cho con cái về sự cảm nhận những cảm xúc thẩm mỹ trong nghệ thuật mà mỗi bậc cha mẹ cũng phải rèn luyện cho con em mình sự cảm nhận thẩm mỹ về cái đẹp trong giao tiếp, qua cách xưng

hô, cử xử, cử chỉ, hành động giữa người với người trong xã hội

Trong mỗi gia đình, bậc làm cha mẹ nào cũng đều phải dạy con mình từ những cách ăn nói, xưng hô sao ch phù hợp với chuẩn mực xã hội Bởi vậy, các

cụ xưa có câu “học ăn, học nói, học gói, học mở” để nói lên sự dạy dỗ, chỉ bảo của các bậc cha mẹ đối với con cái Cái đẹp luôn đi liền với cái “thiện” để thể hiện một nhân cách tốt đẹp của một con người Trong giao tiếp ngoài xa hội, nếu thiếu đi sự thẩm mỹ thì các câu từ sẽ trở nên lộn xộn, cẩu thả, thiếu sự tế nhị

Trang 19

khiến cho người đối diện cảm thấy khó chịu Vì vậy trong gia đình luôn phải quan tâm tới những hành vi trong giá trị thẩm mỹ nếp sống của trẻ nhỏ

Bốn là, giáo dục về giới tính, tình yêu, hôn nhân

Như bao sự giáo dục khác đến từ gia đình thì giáo dục về giới tính, tình yêu, hôn nhân giúp trẻ định hướng được con đường đi đến hạnh phúc trong cuộc sống gia đình sau này Về giáo dục giới tính, cha mẹ nên giải đáp và cung cấp các thông tin về sự phát triển của cơ thể, giới tính, tình dục,

và các mối quan hệ, cùng với xây dựng kỹ năng để giúp con trẻ giao tiếp và đưa ra quyết định liên quan đến tình dục và sức khỏe tình dục của họ một cách đúng đắn Giáo dục giới tính sẽ bao gồm thông tin về tuổi dậy thì, biện pháp tránh thai và bao cao su, các mối quan hệ, phòng chống bạo lực tình dục, hình ảnh cơ thể, giới tính và khuynh hướng tình dục Nó cần phải được giảng dạy bởi các giáo viên được đào tạo chuyên môn Giáo dục giới tính cần đến với tuổi mới lớn bằng những bài học đầy đủ nhất về kiến thức ngăn ngừa mang thai ngoài ý muốn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhưng giáo dục giới tính cũng cần phải tôn trọng các quyền lợi cơ bản của giới trẻ và cần truyền đạt một cách trung thực Giáo dục giới tính thực sự cần thiết đối với con trẻ bởi: thứ nhất, việc cung cấp các kiến thức giáo dục giới tính về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, biện pháp tránh thai để phòng tránh những hiệu quả tiêu cực như tệ nạn phá thai ở trẻ vị thành niên hiện nay Thứ hai, giáo dục giới tính giúp con trẻ có cách nhìn nhận một mối quan hệ tình yêu lành mạnh, giảm bớt độ tuổi quan hệ tình dục sớm, có định hướng tình yêu trong sáng và giảm tình trạng bạo lực tình dục trong giới trẻ hiện nay Thứ ba, giáo dục giới tính giúp trẻ nhận thức được giá trị của bản thân: giáo dục giới tính không chỉ dạy cho người trẻ những điều cơ bản vể sự phát triển của tuổi dậy thì, mà còn cung cấp nhận thức về quyền quyết định muốn hay không muốn làm điều gì, chẳng hạn từ chối tham gia vào những hoạt động tình dục không mong muốn

Trang 20

Từ những bước đệm của giáo dục giới tính, con trẻ có nhận thức vững vàng hơn khi bước vào tình yêu, tình yêu là sự phát triển cao nhất giữ tình cảm của hai người – để hướng tới hôn nhân và tình yêu gia đình Trước hết, cần giáo dục cho trẻ những tâm sinh lý thay đổi ở tuổi mới lớn, cùng nhau trò chuyện với con trẻ để thấu hiểu và cho con những lời khuyên khi bước vào câu chuyện yêu thích ai đầu đời, giúp con có những hướng đi phù hợp và những nhận thức đúng đắn vào tình yêu, xa hơn chính là tìm một người phù hợp với bản thân để đi đến hôn nhân gia đình

Trên đây là những vai trò giáo dục của gia đình đối với con cái Ta có thể thấy giáo dục gia đình đóng góp rất lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ, giúp các em có những kiến thức nền tảng để bước vào đời, và luôn đồng hành song song với các em trên mỗi chặng đường tương lai sau này

1.2 Gia đình Công giáo

1.2.1 Khái quát về gia đình công giáo

Trước hết là vài nét về đạo Công giáo: Công giáo là một nhánh đạo chính của Kito giáo có nguồn gốc từ đạo Do Thái, do Chúa Giê-su sáng lập Theo các tin hữu Ki-tô hữu thì Công giáo là tôn giáo do chính Chúa Giê-su khai sinh và giảng dạy để mang ơn cứu độ của Thiên Chúa đến cho tất cả mọi người thành tâm đón nhận Thiên Chúa để được cứu rỗi và sống đẹp đạo đời đời Giáo hội Công Giáo hội do Chúa Giê-su thiết lập để tiếp tục rao giảng và chuyển ơn cứu độ đó đến cho những ai muốn tiếp nhận Giáo hội này được đặt dưới quyền lãnh đạo của giáo hoàng, người duy nhất nối tiếp sứ vụ chăn dắt đoàn chiên của Chúa Ki-tô với sụ hiệp thông và vâng phục chọn vẹn của

Giám Mục trong toàn Giáo hội

Sách Kinh thánh chính thống mà người Công giáo tôn sùng gồm hai phần: Cựu Ước và Tân Ước Công giáo có một hệ thống giáo lý và giáo luật

đồ sộ Khi nói đến giáo lý, giáo luật Công giáo người ta thường nhắc ngay đến “Kinh Bổn” (bổn phận của người Công giáo khi học về giáo lý) gồm các

Trang 21

kinh cơ bản: Mười điều răn, Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng, Kinh Phúc… là các giáo lý cơ bản dạy các tín hữu sống đẹp đời, đẹp đạo…

Đạo công giáo được truyền vào Việt Nam từ những năm 1533 do giáo

sĩ Phương Tây tên là In-Nê-Khu đến làng Ninh Cường và Quần Anh của huyện Nam Chấn và Làng Trà Lũ, huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định để truyền đạo Đạo Công giáo du nhập vào Việt Nam trong hoàn cảnh giai đoạn xã hội, kinh tế của Việt Nam đang rơi vào tình trạng khủng hoảng nội chiến kéo dài, đất nước bị chia cắt thành Đàng trong và Đàng ngoài.Trong giai đoạn này, Giáo hội Công giáo hoàn vũ đang phát động truyền giáo vào sâu bên trong các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam Việc truyền giáo vào Việt Nam nhận được những kết quả từ những năm 1615 Đến đầu thế kỉ XX, Công giáo Việt Nam đã có hơn 1 triệu tín đồ theo Đạo Uy tín cũng như uy thế được tăng lên rất nhiều Các cơ sở Công giáo được xây dựng lên nhiều, chức sắc, giáo sĩ càng ngày càng có địa vị và vị thế lớn trong xã hội Đi qua nhiều sự thăng trầm của lịch sử từ những ngày đầu truyền giáo đến nay, Giáo hội Công giáo

đã có số lượng tín đồ lên đến hơn 6 triệu trên khắp cả đất nước, là một trong những đạo có số lượng tín đồ cao đứng thứ hai của cả nước (sau Phật giáo) Với nhiều hoạt động đa dạng và có những ảnh hưởng lớn trong đời sống văn hóa – xã hội đạo Công giáo có sức ảnh hưởng đặc biệt với gia đình người Công giáo từ trước đến nay

Vì thế ta có cách nhìn khách quan về gia đình người Công giáo như sau: gia đình Công giáo cũng như các gia đình truyền thống: là một gia đình hạt nhân gồm một đến hai thế hệ cùng chung sống với nhau Nhưng điểm khác nhau giữa một gia đình Công Giáo với gia đình người Việt truyền thống

là có thêm đời sống đức tin tín ngưỡng hướng về Chúa trong cuộc sống hằng ngày của họ Ngoài ra, quan niệm về gia đình, hôn nhân của người Công giáo mang ý nghĩa thiêng liêng đặc biệt: gia đình là nguồn gốc của tình yêu, do bàn tay Chúa đưa hai người nam và nữ đến với nhau tạo thành một gia đình Thánh

Trang 22

Gia Để hiểu rõ hơn về gia đình Công giáo, ta đi tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm

gia đình người Công giáo ở phần sau

1.2.2 Đặc điểm của gia đình người Công giáo

Khi du nhập vào nước ta, gia đình với người Công giáo ở Việt Nam luôn được coi là hình ảnh thiêng liêng của Thiên Chúa về tình yêu, là một Giáo hội thu nhỏ và là nền tảng của xã hội Gia đình đặt nền tảng trên sự lựa chọn tự do của hai vợ chồng muốn kết hợp với nhau trong hôn nhân, điều khác biệt là đối với một gia đình truyền thống của người dân Việt Nam đó là

có sự hiện diện của chính Thiên Chúa trong gia đình Công giáo Do vậy, gia đình Công giáo ở Việt Nam mang đầy đủ những đặc điểm của gia đình nói chung như sau: gia đình Công giáo dựa trên quan hệ hôn nhân mang giá trị thiêng liêng, quan hệ thuyết thống, quan hệ nuôi dưỡng sống theo gia đình Thánh Gia…Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm chung gia đình Công giáo còn

có những đặc điểm nổi bật sau:

Thứ nhất, gia đình Công giáo được hình thành dựa trên cơ sở hôn nhân

tự do, tự nguyện của hai người và mang giá trị thiêng liêng

Một đám cưới của người Công giáo được xem là thành sự khi người nam và người nữ tự do yêu thương, tự nguyện đến với nhau Sự tự do không

ép buộc khi kết hôn tạo thành một gia đình thể hiện trong Thánh lễ hôn phối ở nhà thờ Công giáo, chủ tế thánh lễ bao giờ cũng hỏi người nam và người nữ xem họ có thật sự tự do yêu thương, có thật sự tự nguyện đi đến hôn nhân hay không [12, tr.13] Chỉ khi nào họ trả lời rằng “Có” khi ấy linh mục mới thực hiện nghi thức Bí tích Hôn nhân tiếp theo Trước khi được thánh hiến với một

bí tích riêng và chịu phép Thánh thể, người nam (chú rể) trao nhẫn cho người

nữ (cô dâu) và nói lời giao ước với người nữ: “Anh là X… xin nhận em T… làm vợ của anh và hứa giữ lòng chung thủy với em, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày cho đến suốt đời anh”[10 tr 56] như một thời thề ước giữa hai người trước Thiên Chúa và những người chứng dám cho họ tại nhà thờ

Trang 23

Họ cùng nhau ký vào sổ hôn phối, chính thức là đôi vợ chồng Thông qua nghi lễ hôn nhân tổ chức trong nhà thờ dưới sự chủ trì của vị linh mục mà hôn nhân Công giáo trở nên thiêng liêng Giá trị thiêng đó có nguồn ủy thác từ Kinh Thánh, bởi chính Thiên Chúa đã tác hợp cho người nam và người nữ để

họ trở thành vợ chồng Giá trị thiêng được chuẩn nhận qua Thánh lễ tổ chức long trọng ở nhà thờ Công giáo dưới sự chủ trì của chủ tế, sự chứng giám của Thiên Chúa Và khi đã nên vợ, nên chồng, họ “thánh hóa” lẫn nhau và cùng nhau tôn vinh Thiên Chúa

Thứ hai, gia đình Công giáo đặc biệt coi trọng lối sống thủy chung một

vợ một chồng

Hôn nhân được người Công giáo xem là việc hệ trọng của cuộc đời, liên quan đến chính cuộc đời của họ từ khi kết hôn cho đến khi qua đời Ngay

từ nhỏ, qua các lớp giáo lý, các em đã được linh mục, gia đình, hoặc các giáo

lý viên cung cấp những hiểu biết về giới tính, về ý nghĩa của hôn nhân Khi trưởng thành, người Công giáo đều phải học giáo lý hôn nhân, hiểu cặn kẽ tính thánh thiêng (Bí tích) hôn nhân, vai trò trách nhiệm của người vợ và người chồng Sau kỳ học họ phải thông qua sát hạch Chỉ khi nào đủ tiêu chuẩn, được cấp giấy công nhận việc học mới được hoàn tất Đây là một trong những điều kiện bắt buộc của bất kỳ đôi nam nữ nào muốn kết hôn

Do hiểu rõ giá trị của hôn nhân nên người Công giáo luôn xem hôn nhân là một việc thiêng liêng và đúng đắn Việc tìm hiểu người bạn đời với họ phải thật kỹ càng Vì khi đã kết hôn rồi họ không có quyền ly dị (trừ một vài trường hợp đặc biệt: bạo lực gia đình từ người chồng như đánh đập, xúc phạm thể xác người phụ nữ…) Bởi người Công giáo chỉ được phép hôn nhân một

vợ, một chồng theo quan niệm: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” [Mc 10, 9] Đó là nguyên tắc bất khả phân ly, hay còn gọi là tính đơn nhất (một vợ, một chồng) “Khi đã kết hôn, người nam không thể là chồng của người nữ nào khác ngoài vợ mình, và người nữ cũng không

Trang 24

thể là vợ của người nam nào ngoài chồng của mình”[12, tr.21] Do vậy, với người Công giáo, không có gia đình đa thê

Do quan niệm của Công giáo về hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ và tự bản tính của hôn nhân là sự truyền sinh nên Công giáo không chấp nhận hôn nhân đồng tính, coi đó là suy đồi, rối loạn tâm lý, đặc biệt là chống lại sự trật tự của Thiên Chúa Điều rất đáng ngạc nhiên là Sách Cựu Ước, phần nói về tội liên quan đến gia đình đã lên án gay gắt hôn nhân đồng tính: “Khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà, thì cả hai đã làm điều ghê tởm” [Lv 20, 13]

Như phần trên đề cập, mặc dù phản ứng rất gay gắt và lên án mạnh mẽ hôn nhân đồng tính nhưng Giáo hội Công giáo vẫn “tôn trọng những người đồng tính luyến ái một cách đầy đủ trong chính nhân phẩm của họ”[10, tr11] Vấn đề hôn nhân đồng tính đang là vấn đề “nóng” trên thế giới cũng như ở Việt Nam Song với người Công giáo, hiện chúng tôi chưa có một tài liệu nào cho thấy có hôn nhân đồng tính trong cộng đồng người Công giáo Chính vì vậy cho đến nay gia đình của người Công giáo vẫn giữ được nếp của gia đình truyền thống

Ba là, gia đình Công giáo Việt Nam luôn sống theo mẫu gương gia đình Chúa Giêsu Kitô (được gọi là Thánh gia)

Người tín hữu Kito giáo luôn hướng gia đình mình mô hình Thánh gia Nadarét, tức là đề cao tính Hiếu – Lễ trong gia đình Mọi người trong gia đình phải cư xử với nhau như ba Đấng trong thánh gia Cụ thể là người chồng phải yêu thương và phục vụ vợ con như thánh Giuse đã yêu mến và phục vụ Mẹ Maria; người vợ phải yêu thương và săn sóc chồng như Mẹ Maria đã yêu mến

và phục vụ thánh Giuse; cha mẹ phải yêu mến và chăm lo cho con cái như thánh Giuse và Mẹ Maria chăm lo phục vụ Chúa Giêsu; con cái trong gia đình phải hiếu kính mẹ cha, biết thờ cha kính mẹ, phụng dưỡng cha mẹ như Chúa

Giêsu đã làm đối với Đức Mẹ và thánh Giuse[13, tr.14]

Trang 25

Vì thế trong gia đình Công giáo, con cái được cha mẹ quan tâm đến việc dạy con cái biết chu toàn luật Thiên Chúa, biết giữ gìn và tránh xa tội lỗi,

sa đọa Còn con cái được dạy dỗ từ nhỏ nên biết thực hiện bổn phận của mình

là phải tôn kính cha mẹ (lòng hiếu thảo) Đó là cách sống đạo mà con cái luôn thực hiện để noi gương gia đình Thánh gia trong đời sống hàng ngày cũng như trong đời sống đức tin của mình

1.2.3 Giá trị của gia đình người Công giáo

“Gia đình đặt nền tảng trên sự lựa chọn tự do của hai vợ chồng muốn

kết hợp với nhau trong hôn nhân, đồng thời trên sự tôn trọng ý nghĩa và các giá trị của định chế này, một định chế không tuỳ thuộc con người mà tuỳ thuộc chính Thiên Chúa: vì ích lợi của vợ chồng và con cái, cũng như vì ích lợi của xã hội, dây liên kết linh thiêng này không còn tuỳ thuộc một mình quyết định của con người nữa Chính Thiên Chúa là tác giả của cuộc hôn nhân; Ngài đã ban cho hôn nhân những ơn ích và mục tiêu khác nhau” [12, tr.36]. Do vậy, giá trị của các tôn giáo có thể có những điểm giống so với các giá trị văn hóa Điều này thể hiện rõ hơn ở các quốc gia có hệ tư tưởng tôn giáo đóng vai trò quyết định và chỉ đạo cũng như chi phối toàn xã hội Ở đó mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa ngày càng được đưa lên cao Từ khi du nhập vào Việt Nam, đạo Công giáo đã phải trải qua nhiều sóng gió, với tinh thần hòa nhập của những lớp thế hệ người Công giáo, tổ chức tôn giáo này đã tiến tới hội nhập được với văn hóa dân tộc và càng ngày càng khẳng định được vai trò và những giá trị của đạo Công giáo Với một hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trên xuống dưới, những đạo luật, giáo lý nghiêm ngặt của Công giáo, đã xây dựng nên một luồng sáng sức sống mới cho những người theo đạo Công giáo ở Việt Nam Đặc biệt nổi bật nhất của đạo Công Giáo Việt Nam đó là về giá trị gia đình Chúng ta có thể kể tới các giá trị sau của một

gia đình Công giáo ở Việt Nam:

Một là giá trị bền vững của gia đình: một trong những đặc trưng cơ bản

Trang 26

khác nhau như vợ chồng ít li dị, biết hòa giải, biết kiềm chế và thông cảm lẫn nhau… Sở dĩ có được giá trị bền vững của gia đình Công giáo ở Việt Nam

bởi vì nó được hình thành trên những nền tảng: Thứ nhất,gia đình xây dựng

trên cơ sở tình yêu chung thủy, ngay từ đầu Thiên chúa đã ấn định mục đích của hôn nhân Công giáo là vợ chồng trọn đời yêu thương nhau Tuy nhiên để duy trì điều đó và để vợ chồng sống với nhau có trách nghiệm suốt đời thì không phải là dễ dàng Người Công giáo Việt Nam với ý thức kính Chúa họ duy trì sự gắn bó vợ chồng và coi đây như là một ân sủng mà Thiên Chúa ban tặng Vì thế vợ chồng phải yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau Khi có mâu thuẫn trọng gia đình thì vợ chồng chủ động hòa giải, tránh tạo xung đột

Và đó là lý do tại sao hôn nhân Công giáo Việt Nam ổn định và ít li dị hơn so với hôn nhân người ngoài Công giáo

Với người Công giáo, gia đình là Hội Thánh tại gia bởi: người tín hữu

Kito giáo luôn hướng gia đình mình mô hình Thánh gia Nadarét, tức là đề cao tính Hiếu – Lễ trong gia đình Mọi người trong gia đình phải cư xử với nhau như ba Đấng trong thánh gia Cụ thể là người chồng phải yêu thương và phục

vụ vợ con như thánh Giuse đã yêu mến và phục vụ Mẹ Maria; người vợ phải yêu thương và săn sóc chồng như Mẹ Maria đã yêu mến và phục vụ thánh Giuse; cha mẹ phải yêu mến và chăm lo cho con cái như thánh Giuse và Mẹ Maria chăm lo phục vụ Chúa Giêsu; con cái trong gia đình phải hiếu kính mẹ cha, biết thờ cha kính mẹ, phụng dưỡng cha mẹ như Chúa Giêsu đã làm đối

với Đức Mẹ và thánh Giuse [13, tr.59]

Vì thế trong gia đình Công giáo, con cái được cha mẹ quan tâm đến việc dạy con cái biết chu toàn luật Thiên Chúa, biết giữ gìn và tránh xa tội lỗi,

sa đọa Còn con cái được dạy dỗ từ nhỏ nên biết thực hiện bổn phận của mình

là phải tôn kính cha mẹ (lòng hiếu thảo) Đó là cách sống đạo mà con cái luôn thực hiện để noi gương gia đình Thánh gia trong đời sống hàng ngày cũng như trong đời sống đức tin của mình

Trang 27

Đối với gia đình của người Công giáo, quan hệ vợ chồng đơn nhất và

bất khả phân ly Hôn nhân đơn nhất có nghĩa là hôn nhân được xây dựng trên

quan hệ một vợ một chồng Hôn nhân đợn nhất hoàn toàn khác với hôn nhân

đa thê (một chồng kết hợp với nhiều vợ) Còn bất khả phân ly nghĩa là vợ chồng yêu thương nhau trọn đời, và không được bỏ nhau Giáo hội cho rằng quan hệ hôn hân một vợ một chồng và vợ chồng phải chung thủy với nhau là quy luật của người Công giáo Ở Việt Nam, vấn đề ly dị, trong những thập niên gần đây đã trở thành một vấn nạn báo động Cấp độ ly dị đã ra tăng một cách hết sức nhanh chóng với nhiều lý do được đưa ra như là vô sinh, hiếm muộn hay vợ chồng không hợp nhau Tuy nhiên khi so sánh tỉ lệ ly hôn giữa người Công giáo và người ngoài Công giáo ở Việt Nam thì số vụ ly hôn của người Công giáo vẫn ít hơn rất nhiều

Hai là, tôn trọng sự sống và yêu thương con người

Tôn trọng sự sống và yêu thương con người là một trong những nguyên tắc đặc trưng căn bản của đạo Công giáo và cũng là mục tiêu cao nhất của văn minh nhân loại Đạo Công giáo Việt Nam có những quan niệm đúng đắn về vấn đề tôn trọng sự sống và yêu thương con người Đây chính là cơ sở quan trọng nhất để hình thành nhân sinh quan giàu tính nhân văn của người Công giáo Việt Nam

Nội dung cơ bản của giá trị tôn trọng sự sống và yêu thương con người của đạo Công giáo Việt Nam đó là vấn đề vợ chồng nghiêm túc về vấn

đề tạo sinh Theo Kinh Thánh, hôn nhân không phải là một quan hệ thuần túy của con người mà trước hết nó nằm trong chương trình của Thiên Chúa, khi Ngài dựng lên con người có nam có nữ, và gọi: “hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất” [St 1,28] Mục đích của hôn nhân

là vợ chồng trọn đời yêu thương nhau và sinh sản con cái Con cái chỉ được sinh ra khi bố mẹ chúng đã thực hiện bí tích hôn phối trước mặt Thiên Chúa

và làm lễ ở nhà thờ Thông qua bí tích hôn nhân, vợ chồng liên kết với nhau

Trang 28

hợp,loài người không được phân ly” [Mt 19, 6] Chính vì thế mục tiêu căn bản nhất của gia đình là phục vụ sự sống, là thực hiện bằng việc thông truyền hình ảnh Thiên Chúa từ người này sang người khác trong hoạt động truyền sinh Con cái ra đời là kết quả và là dấu chỉ của tình yêu vợ chồng, là minh chứng sống động cho sự trao hiến trọn vẹn cho nhau giữa một người nam và một người nữ chỉ trong tình yêu của vợ chồng, thông qua hôn nhân và gia đình, sự sống mới được hình thành

Để đưa ra những giáo huấn về tình dục trong hôn nhân và việc sử dụng những phương pháp mới về kế hoạch hóa gia đình Trong đó, giáo hội nhấn mạnh về việc tôn trọng sự sống và sẵn sàng mở lối cho sự sống mới Và, để tôn trọng sự sống cũng như đảm bảo tính toàn vẹn của sự sống, Giáo hội kịch liệt lên án các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, trong đó có việc tránh thai và phá thai Cộng đồng Vaticanô II cho rằng: “ Thiên Chúa là Chúa sự sống, đã ban cho con người nhiệm vụ cao cả là bảo toàn sự sống, và họ phải chu toàn bổn phận ấy theo cách xứng hợp với con người Do đó ngay từ lúc thụ thai, sự sống cần được bảo toàn hết sức cẩn thận; phá thai và sát hại thai nhi là tội ác ghê tởm” [9, tr.297-298] Từ đó theo Giáo hội, mỗi một hành động giao hợp phải khai mở cho sự truyền sinh Việc dùng các phương pháp nhân tạo đề ngừa thai bị Giáo hội kịch liệt lên án vì như thế được coi là can thiệp thiếp vào công trình của đấng tác tạo hôn nhân và vi phạm đến giá trị con người

Ba là, gia đình là chủ thể tích cực tham gia vào đời sống xã hội

Từ sau cộng đồng Vaticanô II (1962-1965), với tinh thần canh tân, nhập thế, Công giáo Việt Nam rất tích cực trong quá trình hội nhập với văn hóa dân tộc “Bắt đầu dấy lên hoạt động “Việt hóa đạo”, nghĩa là mến đạo Tây thành đạo Ta” [2, tr.287] Từ đây, giáo hội Công giáo Việt Nam gia tăng các hoạt động tuyên truyền, vận động các giáo dân của mình tích cực tham gia các hoạt động xã hội, sinh sống hòa đồng với xã hội để xóa bỏ rào ngăn cách tâm lí dè dặt của giáo dân

Trang 29

Gia đình và xã hội có mối quan hệ biên chứng, chặt chẽ: gia đình là nguồn gốc, nền tảng của xã hội, là tế bào đầu tiên và sống động của xã hội, không ngừng tiếp sức cho xã hội bằng việc phục vụ sự sống Chính từ gia đình mà các công dân được sinh ra và được nuôi dạy Vì vậy, gia đình phải là trường học đầu tiên về các nhận thức xã hội Còn xã hội lại tạo ra những cơ chế, điều kiện để gia đình phát triển Đây là một quan niệm đúng đắn, phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về mối quan hệ giữa gia đình và

xã hội

Như vậy, quan niệm cho rằng gia đình là chủ thể tích cực tham gia vào đời sống xã hội của Công giáo Việt Nam là một quan niệm đúng đắn, phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay Quan niệm này cũng có sự thống nhất với tư tưởng của Nho giáo khi cho rằng “tu thân tề gia, trị quốc, bình hiên hạ”, tức là việc tu thân trước hết bắt đầu từ gia đình, với truyền thống văn hóa gia đình và sau đó là với môi trường xã hội, với truyền thống văn hóa dân tộc Bằng cách ấy, gia đình làm nên cái nôi và là phương tiện hiện hữu nhất để nhân bản hóa hoàn cảnh xã hội

Trang 30

Tiểu kết chương 1

Trong mỗi người dân Công giáo luôn quan niệm Thiên Chúa là người đầy quyền uy và tràn đầy tình yêu thương nhân loại, sẽ giúp họ thoát khỏ những sự khổ đau và cám dỗ của ngoài xã hội đã in sâu trong tiềm thức của

họ tạo nên những giá trị đặc sắc và riêng biệt của đạo Công giáo mà nổi bật nhất đó là những giá trị về hôn nhân và gia đình Gia đình Công giáo thực sự đặc biệt coi trọng lối sống trung thủy, và luôn lấy gương gia đình Thánh Gia

để noi gương và dạy dỗ con trẻ trở thành môn đệ đi theo Chúa Bên cạnh đó gia đình Công giáo có sự liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trên nền tảng của tình yêu cha mẹ, tạo thành một gia đình đoàn kết, yêu thương và là ngôi trường đầu tiên giáo dục và hình thành nên đạo đức phẩm chất của con trẻ Không chỉ vậy, người Công giáo luôn ý thức được việc phát huy, bảo tồn các giá trị văn hóa đạo đức tôn giáo cũng như giá trị văn hóa của dân tộc người Việt Nam ta Người Công giáo Việt Nam có được những đức tính tốt đẹp trước hết được thể hiện ở chỗ mỗi một gia đình giáo dân là một Hội Thánh tại gia Với một đức tin vô cùng to lớn và một đời sống đạo trọn vẹn nghĩa tình

Họ còn đặc biệt coi trọng vấn đề giáo dục gia đình Coi sự giáo dục trong mỗi gia đình là nền tảng để cho việc phát triển Giáo hội ngày càng đi lên và được củng cố, phát triển Gia đình Công giáo chính là trường học đầu tiên cho con

em mình vì được xây dựng dựa trên đức tin của đạo Công giáo và phát triển giáo dục con cái sống sao cho tốt đời đẹp đạo Ngoài ra gia đình còn hướng con trẻ đến nền giáo dục toàn diện về đức tin tín ngưỡng, về trí tuệ, giáo dục thêm về giới tính, tình yêu để con trẻ vững bước hơn cho tương lai sau này Nhờ những giá trị tốt đẹp của hôn nhân và gia đình Công giáo chúng ta đã phân tích và tìm hiểu ở trên, phần nào đó đã làm tăng sự phong phú trong đời sống và văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam

Trang 31

Chương 2 VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG GIÁO DỤC GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI CÔNG

GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Vai trò giáo dục gia đình của người Công giáo

Vai trò của giáo dục trong đời sống gia đình Kito hữu luôn được Thánh Công Ðồng lưu ý và quan tâm đặc biệt Quả thực, với điều kiện hiện tại của

xã hội thì việc giáo dục thanh thiếu niên trở nên ngày một dễ dàng và nhưng cũng đầy khó khăn hơn Bởi đó khắp nơi đều cố gắng đẩy mạnh công cuộc giáo dục mỗi ngày một hơn Người ta thừa nhận những quyền lợi căn bản liên

hệ đến việc giáo dục của con người nhất là của trẻ em và cha mẹ Mặc dù đã

có nhiều nỗ lực lớn lao để đem lại những phương pháp giáo dục con trẻ đến các bậc cha mẹ nhưng vẫn còn rất nhiều trẻ em và thanh thiếu niên chưa được hưởng sự giáo dục căn bản để phát huy sốt sắng sự tín đạo trong đời sống đức tin và bác ái

Mọi Kitô hữu, nhờ việc tái sinh bởi nước và Thánh Thần, đã trở nên những tạo vật mới được gọi là con Thiên Chúa và quả thực như thế, nên mỗi một tín hữu nhỏ ra đời đều có quyền hưởng một nền giáo dục Kitô giáo Nền giáo dục này không chỉ nhằm giúp con người được trưởng thành như vừa trình bày, nhưng cốt yếu là nhằm giúp những người đã rửa tội ngày càng ý thức hơn về hồng ân Ðức Tin đã nhận lãnh trong khi họ được hứơng dẫn để dần dần hiểu biết mầu nhiệm cứu rỗi Nền giáo dục ấy còn giúp họ biết cách thờ phượng Thiên Chúa Cha trong tinh thần và chân lý [Gio 4,23], nhất là qua việc cử hành phụng vụ, cũng như giáo dục họ biết sống theo con người mới trong công bình và thánh thiện của chân lý [Ep 4,22-24] Nhờ vậy họ đạt tới con người hoàn thiện, tới tuổi sung mãn của Chúa Kitô [Ep 4,13] và góp phần vào việc tăng trưởng của Nhiệm Thể Hơn nữa, vì ý thức được ơn kêu gọi của mình, chính họ phải tập thói quen minh chứng niềm cậy trông của mình [P

Trang 32

2.1.1 Giáo dục gia đình người Công giáo góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ

Cũng như bao gia đình truyền thống khác, giáo dục gia đình người Công giáo cũng góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ từ rất sớm:

Một là, cha mẹ giáo dục con cái đạo đức về tình yêu thương con người

và hình thành lối sống có tình có nghĩa, không giết người và không xâm phạm thân thể người khác Yêu thương con người là một trong những giá trị căn bản của đạo Công giáo Giá trị này có cơ sở từ Kinh Thánh, từ giáo lý, giáo luật

và các văn kiện, tuyên ngôn, hiến chế… Nó được hình thành trong ý thức, quan niệm và lối sống của người Công giáo Việt Nam qua nhiều thế hệ Trong Kinh Thánh, giá trị của Công giáo được tập chung chủ yếu ở mười điều

răn của Thiên Chúa, tựu lại có nội dung là kính Chúa và yêu người Từ hai

nội dung gốc rễ này mà các luân lý dạo đức giàu tính nhân văn của đạo Công giáo được hình hành, trong đó thương yêu con người, không giết nười và không xâm phạm thân thể người khác là một trong những nội dung cực kì quan trọng của tôn trọng sự sống

Tuy không phải là một học thuyết về đạo đức những triết lý của Kinh Thánh luôn dăn dạy con người phải sống thiện Một trong Mười điều răn của Kinh Thánh là “không được giết người” [Đnl5, 17] Đây là quan niệm căn bản nhất để hình thành nên nhân sinh quan tích cực của người Công giáo mà nền tảng của nó là tôn trọng sự sống cũng như Chúa nói với các tông đồ rằng:

“anh em đã nghe luật dạy người xưa rằng: chớ giết người, ai giết người sẽ bị đưa ra tòa” [Mt 5, 21-22] Lời răn dạy của Giêsu thật đơn giản, dễ hiểu và dễ

đi vào lòng người Đó cũng là phương châm sống được các bậc cha mẹ thường xuyên nhắc nhở con cái của mình phải sống, hành động theo những điều răn của Chúa và Giáo hội

Với mỗi con người, sự sống là cái quý giá nhất cần được trân trọng và bảo

vệ Đồng thời với việc tôn trọng sự sống của bản thân là phải biết tôn trọng sự

Ngày đăng: 27/01/2021, 04:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thị Ngọc Anh (2015), Giá trị của hôn nhân và gia đình Công giáo ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ Triết học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị của hôn nhân và gia đình Công giáo ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đỗ Thị Ngọc Anh
Năm: 2015
2. Nguyễn Thị Vân Chi (2010), Vai trò của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở tỉnh Cao Bằng hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở tỉnh Cao Bằng hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Chi
Năm: 2010
3. Võ Thị Cúc (1997), Văn hóa gia đình với vệc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa gia đình với vệc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em
Tác giả: Võ Thị Cúc
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
4. Nguyễn Hồng Dương, (2012), Công giáo Việt Nam trí thức cơ bản, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công giáo Việt Nam trí thức cơ bản
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2012
6. Đức Giáo hoàng Gioan – Phaolo II (2006), Tông huấn Familiaris Consortio – Bổn phận của gai đình Kito hữu trong thế giới ngày nay, Tòa thánh Roma Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tông huấn Familiaris Consortio – Bổn phận của gai đình Kito hữu trong thế giới ngày nay
Tác giả: Đức Giáo hoàng Gioan – Phaolo II
Năm: 2006
7. Ngô Công Hoàn (2007), Giáo trình tâm lí học gia đình, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lí học gia đình
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
9. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2012), Cộng đồng Vantican II, NXB Tôn Giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng Vantican II
Tác giả: Hội đồng Giám mục Việt Nam
Nhà XB: NXB Tôn Giáo
Năm: 2012
10. Hội đồng Giám mục Việt Nam , Công Ðồng Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến chế tín lý về Giáo Hội
11. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2012), Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, NXB Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo
Tác giả: Hội đồng Giám mục Việt Nam
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2012
13. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2011), “Hiệp Thông”, Bản tin chuyên đề Gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp Thông
Tác giả: Hội đồng Giám mục Việt Nam
Năm: 2011
14. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2013), “Hiệp Thông”, Bản tin chuyên đề Đức tin Kito giáo về giới tính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp Thông
Tác giả: Hội đồng Giám mục Việt Nam
Năm: 2013
15. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2014), “Hiệp Thông”, Bản tin chuyên đề Phúc âm hóa đời sống gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp Thông
Tác giả: Hội đồng Giám mục Việt Nam
Năm: 2014
16. Hội đồng Giám mục Việt Nam (1965),Tuyên Ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo, Thánh Công Ðồng Chung Vaticanô II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên Ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo
Tác giả: Hội đồng Giám mục Việt Nam
Năm: 1965
17. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2004), Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo
Tác giả: Hội đồng Giám mục Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2004
19. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2014), “Hiệp Thông”, Bản tin chuyên đề Chuẩn bị hôn nhân và đồng hành mục vụ sau hôn nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp Thông
Tác giả: Hội đồng Giám mục Việt Nam
Năm: 2014
20. Hội đồng Giám mục Việt Nam (1961) , Thông điệp Mater et Magistra- Mẹ và Thầy số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mater et Magistra-Mẹ và Thầy
23. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
24. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), “Luật hôn nhân và gia đình”, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2014
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Khác
8. Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc (1948), Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w