Từ những phân tích tình hình đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội ở trên ta thấycó nhiều ảnh hưởng thuận lợi cũng như khó khắn đối với hoạt động kinh doanh củangân hàng Nông nghiệp Thanh Trì
Trang 1THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ SẢN XUẤT Ở HUYỆN THANH TRÌ
I Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội có ảnh hưởng đến hoạt động tíndụng hộ sản xuất của NHNo & PTNT huyện Thanh Trì
1 Vài nét về đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện Thanh Trì có ảnhhưởng đến hoạt động tín dụng ngân hàng
1.1 Vị trí địa lý
Thanh Trì là huyện ngoại thành cửa ngõ phía Nam thủ đô Hà Nội, trênđường trục quốc lộ 1A Phía Bắc và Tây Bắc giáp quận Hai Bà Trưng và quậnĐống Đa Phía Nam, Tây nam giáp tỉnh Hà Tây (Thị xã Hà Đông và HuyệnThường Tín) Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Gia Lâm với rang giới tệ nhiên
là sông Hồng
Toạ độ địa lý của Thanh Trì từ 20050 đến 21000 vĩ độ Bắc và từ 105045 đến
10056 kinh độ Đông
Chiều dài Bắc Nam tương ứng với chiều dài Đông sang Tây vào khoảng 100
Km Có tổng diện tự nhiên 9988,54 ha
100 triệu m3 nước thải của nội thành chảy ra, đây là mặt thuận lợi để phát triểnchăn nuôi cá của Thanh Trì Tuy nhiên lượng nước thải ở đô thị dồn về Thanh Trìchưa qua xử lý cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết để phát triển nềnnông nghiệp sinh thái bền vững
1.3 Địa hình và đất đai của huyện
Thanh Trì là vùng đồng bằng trũng, có cao độ trung bình 4-4,5 m Cao nhất
là 6,5 m, thấp nhất là 2,5 - 2,8 m được xếp vào vùng ô trũng ven đô của đồng bằngsông Hồng Địa hình biến đổi phức tạp nghiêng và dốc từ Tây Bắc xuống Đông
Trang 2Nam, hình thành những vùng trũng cục bộ liên tiếp Khu vực ngoài đê gồm 4 xãven sông Hồng, thổ cư là sống đất bồi cao nằm giữa đê và lòng sông cao khoảng 8
- 9,5 m, đồng bãi có cao độ 7 - 7,5m nhiều đầm hồ chạy dài theo chân đê giữa đượcnước khi sông cạn Phần trong đê gồm 21 xã và một thị trấn (Văn Điển) bị chia cắtbởi ba trục đường đê sông Hồng, quốc lộ 1A, đường sông Tô Lịch, các trục đườngcao ngang Pháp Văn - Yên Sở, Văn Điển - Đồng Chì, đường 70A và các consông tiêu nước chảy của thành phố
Đất đai chủ yếu được kiến tạo trên đất phù sa cổ 80% là đất thịt nặng, còn lại
là cát phù sa sông Hồng bồi đắp hàng năm
Về độ dày của đất trên 1 m, độ dốc dưới 1506 và không bị nhiễm mặn đềuđạt 100% diện tích đất canh tác Có 486 ha (chiếm 11% đất canh tác) thuộc đất có
độ phì nhiêu trung bình, số còn lại thuộc loại đất tốt Chân đất thịt năng hay sét có
2021 ha (chiếm 46,2%0 đất khó tưới 884 ha (chiếm 20,2%) đất bị ngập dài ngày1.119 ha (chiếm 27,4%)
Đất đai của huyện Thanh Trì chủ yếu là đất bãi, đất đồng có độ phì nhiêucao phù hợp với phát triển, trồng lúa, rau, màu hoa Do hiểu rõ chất đất trongnhững năm gần đây người dân trong huyện đã bước chuyển hướng cây trồng có giátrị cao gấp 5 - 10 lần cây lúa
Về mặt sông ngòi, trên địa bàn có 6 con sông chảy qua, trong đó có 2 consông lớn là sông Hồng và sông Nhuệ
Qua sự phân tích ở trên ta thấy đất đai, sông ngòi huyện Thanh Trì thuận lợicho việc phát triển nông nghiệp, nhưng phải chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi thíchhợp sao cho đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất nhằm nâng cao thu nhập cho các hộnông dân và tận dụng hết lượng lao động dư thừa
1.4 Điều kiện thời tiết khí hậu:
Huyện Thanh Trì nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng thuộc khí hậu nhiệtđới gió mùa có hai mùa nóng lạnh rõ rệt Có mùa đông lạnh từ tháng 12 đến tháng
2 năm sau
Nhiệt độ bình quân năm là 23,40C, tháng 6 nóng nhất với nhiệt độ bình quân
290C, ngày nóng nhất là 42,80C Ngoài ra lạnh tập trung vào tháng 12 -1 Độ ẩm
Trang 3bình quân năm 85%, tháng 3 có độ ẩm cao nhất 89% tháng 11, 12 có độ ẩm thấpnhất 81%.
Lượng mưa hàng năm thường từ 170 đến 2000 ly Trung bình có 142 ngàymưa trong năm, tập trung từ tháng 5 đến tháng 9 với 1.420 ly bằng 79% lượng mưa
cả năm Năm mưa nhiều, mưa dồn dập vào tháng 7, 8, 9 theo quy luật gây ngậpúng 67% diện tích lúa mùa, tháng 12 hầu như không có mưa
Số ngày nắng cả năm của Thanh Trì là 220 ngày với khoảng 1.640 giờ/năm.Tháng 1, 2, 3 ít nắng nhất chỉ có 1,3 - 1,4 giờ/ngày Các tháng này có tác dụng tíchcực cho thời kỳ làm dòng phơi màu của lúa
Vùng 2: Là vùng đất giữa các xã như: Hoàng Liệt, Yên Sở, Đại Kim, TừHiệp với lợi thế nhiều đầm ao và đầu nguồn nước thải nên thuận lợi cho việcphát triển nghề thuỷ sản
Vùng 3: Là các xã vùng phía nam của huyện như: Vĩnh Quỳnh, Đại Ánh,Thanh Liệt, Tả Thanh Oai Phương hướng sản xuất chủ yếu là cây lương thực,chăn nuôi lợn, gia cầm và phát triển một số ngành dịch vụ
Vùng 4: Là vùng đất bãi gồm các xã Vạn Phúc, Yên Mỹ, Lĩnh nam, NgũHiệp Phương hướng sản xuất chủ yếu là rau, cây lương thực kết hợp chăn nuôigia súc gia cầm Nghề nuôi cá lồng trên sông, nuôi bò sữa có xu hướng phát triển.1.6 Tình hình phát triển kinh tế của huyện
Với số dân là 234.439 người trong đó tỷ lệ hộ giàu chiếm 25%, tỷ lệ nghèo0,75% (chiếm 395 hộ)
Trang 4Kinh tế của huyện ổn định và tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng kinh tế bìnhquân mỗi năm đạt 10,4% Tổng giá trị sản xuất năm 2000 ước đạt 325.370 triệuđồng.
Tăng trưởng nông nghiệp bình quân mỗi năm đạt 7,4%
Năm 1996, nông nghiệp chiếm 55,75% trong tổng giá trị sản xuất côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN - TTCN) chiếm 30,32%, thương mại dịch vụ(TM - DV) chiếm 13,93% Đến năm 2000, nông nghiệp chiếm 52,7% tổng giá trịsản xuất, CN - TTCN chiếm 33,1%, TMDV chiếm 14,20%
* Về sản xuất nông nghiệp:
trong sản xuất nông nghiệp, nhìn chung tỷ trọng trồng trọt có xu hướnggiảm, từ 58,47% năm 1996 giảm xuống còn 47,93% năm 2000 Tỷ trọng chăn nuôităng dần, từ 41,53% năm 1996 tăng lên 52,07% năm 2000
Giá trị sản xuất nông nghiệp hàng năm tăng, do các dộ nông dân đã tích cựcchuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để đưacây con có chất lượng năng suất và giá trị kinh tế cao và sản xuất theo hướng hànghoá Đã đưa giống ngô lai có năng suất cao vào sản xuất, chuyển đổi 100ha trồngcâu lương thực sang trồng rau muống đạt giá rtị kinh tế cao
Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 171.180 triệu đông năm 2000 tăng 5,7% sovới năm 1999, đạt 83,86% kế hoạch
- Đối với trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng 8.172 ha sản lượng lương thựcquy thóc đạt 26.399 tấn, diện tích trồng màu tăng 67 ha, diện tích cây thực phẩmtăng 174 ha, diện tích trồng lúa giảm 152 ha
- Đối với chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi của huyện vẫn ổn định và pháttriển Phát triển lợn theo hướng nạc, mở rộng chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm (nhất
là đàn vịt siêu thịt, gà Tam hoàng, ngan Pháp vịt siêu thịt)
- Nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích thả cá được tăng lên trong 5 năm, đã chuyểnđổi được 180 ha sang nuôi 1 vụ cá, cấy một vụ lúa Diện tích nuôi thả cá là 1031,9
ha năm 2000, sản lượng cá đạt 3.600 tấn
Tuy nhiên tốc độ sản xuất trong nông nghiệp chưa đều có năm tăng cao12,18%, có năm lại xuống thấp 1,56%
Trang 5Từ những phân tích tình hình đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội ở trên ta thấy
có nhiều ảnh hưởng thuận lợi cũng như khó khắn đối với hoạt động kinh doanh củangân hàng Nông nghiệp Thanh Trì nói chung và hoạt động tín dụng hộ sản xuất nóiriêng
Thuận lợi: Thanh Trì là một huyện giáp ranh thủ đô có lợi thế về cơ sở hạtầng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Hơn nữahuyện tập chung nhiều làng nghề với nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nổitiếng đang được khôi phục và phát triển Đây là những điều kiện thuận lợi để ngânhàng mở rộng hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả
Có cấu kinh tế thay đổi theo hướng tích cực, cơ cấu nông nghiệp có xuhướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi Một số ngành có điều kiện phát triển huytiềm năng đã mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanhđem lại hiệu quả kinh tế cao Đây là yếu tố cơ bản tạo điều kiện thuận lợi cho hoạtđộng vay vốn của ngân hàng
Nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số khó khăn như:
Thiên nhiên không ưu đãi, hạn hán kéo dài, cây con bị dịch bệnh, nạn chuộtphá hoại mùa màng gây hậu quả và làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế nôngnghiệp, công nghiệp trên địa bàn
Nền kinh tế chậm phát triển, do ảnh hưởng của tài chính tiền tệ khu vựccũng gây nên nhiều bất lợi cho nền kinh tế của nước ta và cũng có tác động trựctiếp trên địa bàn huyện, ngoại tệ mạnh có lúc đột biến bất thường, tình hình sảnxuất đình đốn khó khăn, sản phẩm tiêu thụ chậm, sản phẩm tồn kho
Tình hình quản lý xuất nhập khẩu, chống gian lận thương mại kém hiệu quả,nên nhiều hàng hoá nhập lậu tràn vào cả nước nói chung và trên địa bàn Hà Nộinói riêng, mặt khác tên nạn xã hội ngày càng phát triển đã gây nhiều khó khăn, cảntrở trực tiếp sức sản xuất, sản phẩm của nông dân sản xuất ra khó tiêu thụ
Nền sản xuất xã hội phát triển không đồng đều, nhu cầu vốn tín dụng còn ởmức độ thấp, sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp còn ở trình độ thấp, ngành nghề
bị thu hẹp do cạnh tranh của hàng ngoại và tiêu dùng xã hội đã ở mức cao hơn, sảnphẩm sản xuất ra không tiêu thụ được
Trang 6Tình hình xã hội diễn biến phức tạp, sản xuất, thu nhập, tiêu dùng không cânđối trong một số khu vực dân cư, đã khiến cho không ít cơ sở sản xuất, kinh tế giađình lâm vào hoàn cảnh khó khăn, một số hộ vay không trả nợ được.
2 Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thanh Trì
Ngân hàng nông nghiệp huyện Thanh Trì là một chi nhánh trực thuộc Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, do vậy Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Trì hoạt động dưới sự chỉ đạo của Tổnggiám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam hạch toán báo
sổ, đại diện pháp nhân theo sự uỷ quyền của Tổng giám đốc trực tiếp kinh doanhvới các đơn vị kinh tế trên địa bàn huyện và các xã thuộc huyện
Là ngân hàng đóng trên địa bàn nông thôn, nông nghiệp là chủ yếu nênkhách chủ yếu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Trì làcác hộ sản xuất Và đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm để đầu tư xây dựng nông thônmới đối với ngân hàng Ngân hàng chủ yếu tập trung vào cho vay theo Quyết định
67, thực sự phục vụ sản xuất nông nghiệp, còn các nhu cầu vay lớn l\kinh doanh,dịch vụ kể cả sản xuất nông nghiệp đều gặp ách tắc do không đủ điều kiện đảm bảotiền vay
Thật vậy ngân hàng luôn coi cho vay nông dân và các hộ sản xuất khác lànhiệm vụ trọng tâm, thiết thực chấp hàng đường lối, chính sách của Đảng và Nhànước, của ngành và trực tiếp là nghị quyết của lãnh đạo huyện uỷ, UBND, HĐNDhuyện, đầu tư cho nông nghiệp, mang nặng tiềm tàng rủi ro về thiên tai dịch bệnh.Những Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Trì vẫn mạnh dạncho vay các dự án sản xuất có hiệu quả, tạo công ăn việc làm cho nông dân, gópphần thực hiện chủ trương xoá đói giảm nghèo từ 2,2% năm 1996 giảm xuống còn0,75% (395 hộ) năm 2000
II Tình hình huy động vốn tín dụng ngân hàng của hộ sản xuất ở huyện Thanh Trì
1 Nhu cầu vay vốn tín dụng ngân hàng của hộ sản xuất ở huyện Thanh Trì
Từ thực tế phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn huyệnThanh Trì ở trên (chương I) cho ta thấy, sức sản xuất của các hộ nông dân cònthấp, trong khi điều kiện để phát triển thì rất lớn Kinh tế hộ đang trong quá trình
Trang 7chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá với bước phát triển khánhanh Do trình độ sản xuất thấp, sản xuất nhỏ là chủ yếu, thu nhập thấp dẫn đếnkhả năng tích luỹ vốn thấp Do vậy mà nhu cầu vay vốn tín dụng ngân hàng của hộsản xuất ở huyện Thanh Trì là rất lớn để đầu tư cho trang thiết bị, tập trung cho sảnxuất hàng hoá.
Nhu cầu vay vốn để phát triển kinh tế của hộ sản xuất huyện Thanh Trì đượcthể hiện qua bảng 1
Bảng 1: Nhu cầu vay vốn tín dụng ngân hàng của hộ sản xuất huyện Thanh TrìĐơn vị tính: Triệu đồng
- Nhu cầu vay vốn 62.027 52.950 50.870 52.120 50.821
Nguồn: Do NHNo & PTNT Thanh Trì cung cấp
Như vậy, nhu cầu vay vốn tín dụng ngân hàng của hộ sản xuất ở huyệnThanh Trì là rất lớn Vào năm 1996 do thiên tai dịch bệnh xảy ra liên tục làm ảnhhưởng đến khả năng sản xuất, làm thiệt hại nhiều tiền của đối với những hộ sảnxuất nông nghiệp, nên nhu cầu vay vốn để phục hồi lại kinh tế là rất lớn Nhìnchung nhu cầu vay vốn tín dụng ngân hàng là rất lớn song có chiều hướng chữnglại
Để hiểu rõ hơn nhu cầu vay vốn của hộ sản xuất tại huyện ta xem xét cụ thểhơn về cơ cấu nhu cầu vay vốn
Tiến hành điều tra phân loại tình hình tài chính của các hộ trong huyện, quátrình sản xuất và mức nhu cầu vay vốn có thể ước tính cho bình quân mỗi năm nhưsau:
Bảng 2: Bẳng phân loại và ước tính khả năng cần vay vốn của hộ sản xuất theo thunhập
Trang 8- Hộ nghèo 390 552Nguồn: NHNo & PTNT Thanh Trì
Trong đó hộ trung bình có nhu cầu vay vốn cao nhất nhưng đấy là xét trênbình diện tổng số hộ cần vay vốn, nhưng xét theo nhu cầu vay vốn thì hộ nghèovẫn chiếm tỷ lệ cao nhất (hầu như 100%) Điều này chứng tỏ hộ nghèo ở huyệnThanh Trì là rất cần vốn từ ngân hàng để đầu tư cho sản xuất, vượt qua nghèo khó
* Nhu cầu vay vốn của hộ sản xuất phân theo ngành kinh tế
Vì tính chất sản xuất của mỗi ngành khác nhau nên mức nhu cầu nguồn vốnđầu tư cho mỗi ngành có thể khác nhau
Bảng 3: Mức nhu cầu vay vốn theo ngành kinh tế
Nguồn: NHNo & PTNT Thanh Trì
Qua bảng trên ta thấy, nhu cầu đầu tư vốn cho ngành sản xuất nông nghiệprất là lớn chiếm 44,9% tổng nhu cầu, đặc biệt là ngành chăn nuôi (chiếm 43,3) VìThanh Trì là một huyện sống dựa vào nông nghiệp là chủ yếu mà phát triển chănnuôi là một thế mạnh của nền nông nghiệp của huyện
Bên cạnh đó ngành môi trường thuỷ sản cũng đòi hỏi một số vốn khá lớn.Với điều kiện ao hồ nuôi thả cá là 955 ha nên hàng năm nhu cầu vốn đầu tư vàocũng lớn (chiếm 22,5% tổng nhu cầu vốn) Ngược lại thì ngành trồng trọt có một
Trang 9nhu cầu mức vốn rất là thấp (chiếm 3,4% trong tổng nhu cầu vốn) vì đây là mộtngành mức vốn đầu tư ban đầu không đòi hỏi lớn.
* Như đã nêu ở phần trên, huyện dưới sự tác động của các yếu tố kinh tế xãhội nên huyện đã phân ra từng vùng kinh tế khác nhau, với hình thức sản xuất vàkinh doanh của mỗi vùng khác nhau nên nhu cầu vay vốn của mỗi vùng có cơ cấukhác nhau Theo thống kê chung nhu cầu vay vốn chung của mỗi vùng bình quânmỗi năm có thể phân ở bảng sau:
Bảng 4: Nhu cầu vay vốn phân theo vùng kinh tế
Với đặc điểm kinh tế của mỗi vùng kinh tế khác nhay nên mức nhu cầu đầu
tư cho sản xuất chênh lệch nhau rất rõ Vùng 1 là vùng đi với ngành nghề chủ yếu
là chăn nuôi lợn, gia cầm và các dịch vụ nên nhu cầu về vốn là rất lớn, chiếm tới48,1% trong tổng cơ cấu nhu cầu của các vùng Còn các vùng như vùng 2 và vùng
4 là các vùng liên quan đến các ngành nghề thuỷ sản nên nhu cầu đầu tư vốn cùngtương đối lớn
Trong đầu tư chăn nuôi lợn, về hiệu quả đầu tư mỗi lứa lợn là 6 tháng:
2 Tình hình vay vốn của hộ sản xuất tại NHNo & PTNT huyện Thanh trì
Bảng 5: doanh số vay vốn của hộ sản xuất tại NHNo Thanh trì giai đoạn 2000
Trang 101996 Năm 1996 doanh số cho vay có mức tăng đột biến Doanh số cho vay năm
1997 chỉ bằng 60% so với năm 1996
Doanh số cho vay giai đoạn sau không tăng, phản ánh một điều mà ngânhàng ngày càng chú trọng đến chất lượng tín dụng khi mà môi trường kinh doanh,nền kinh tế và sản xuất của hộ gia đình chưa ổn định
Doanh số cho vay đối với hộ sản xuất phân theo kỳ hạn cho vay ngắn hạn (<1năm) và cho vay trung, dài hạn
Bảng 6: Doanh số vay vốn của hộ sản xuất theo kỳ hạn
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng năm 1996, 1997, 1998, 1999, 2000
Vốn vay ngắn hạn giảm sút năm 1996 chiếm 96%, năm 1997 là 92%, năm
1998 là 93,6%, nhưng đến năm 1999 chỉ còn 87,7% và năm 2000 là 81,8%
Doanh số cho vay trung - dài hạn của hộ sản xuất tại ngân hàng có xu hướngtăng, trừ năm 1998 có giảm so với năm 1997 Năm 1998 doanh số vay vốn chỉchiếm 6,4% tổng doanh dố cho vay hộ sản xuất Tuy nhiên trong 2 năm sau đó (từnăm 1999 - 2000), doanh số vay vốn trung - dài hạn liên tục tăng cả về số tuyệt đối
Trang 11và số tương đối Đến năm 2000 doanh số vay vốn trung- dài hạn của hộ sản xuất đãđạt được 18,2% tổng doanh số vốn vay tại ngân hàng, điều này cũng có nghĩa lànhững món vay lớn từ 10 triệu đồng trở lên tăng lên.
Những kết quả trên đây đã phần nào cho thấy tín dụng ngân hàng góp phầnnâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của những hộ sản xuất Để phân tích chínhxác hơn ta xem xét số tiền vay mỗi lượt hộ của từng hộ, hay là mức quy mô vayvốn
Bảng 7: Số tiền vay mỗi lượt của hộ sản xuất
Đơn vị: Triệu đồng
NămChỉ tiêu
Nguồn: Do Ngân hàng nông nghiệp Thanh Trì cung cấp
Số tiền vay trung bình mỗi lượt của hộ sản xuất có xu hướng tăng nhưngmức tăng chậm, không đáng kể, nhưng đến 2 năm sau lại giảm Năm 1998 số tiềnvay mỗi lượt là 12,8 triệu đồng/lượt nhưng đến năm 1999 chỉ có 9,3 triệuđồng/lượt và năm 2000 còn 8,0 triệu đồng/lượt, trong năm 2000 số lượy hộ vaynhiều, nhưng món tiền lại nhỏ Điều này chứng tỏ ngân hàng đang tập trung vàochất lượng tín dụng để quan tâm đến các món vay trung, dài hạn của hộ sản xuất
* Đánh giá cơ cấu vay vốn của hộ sản xuất ở Ngân hàng nông nghiệp ThanhTrì
Do khả năng sản xuất của các nhóm hộ khác nhau, so các mức vay cho cácđối tượng theo các quy định trong chính sách tín dụng của Nhà nước và của ngânhàng đối với hộ sản xuất nên cơ cấu vay vốn giữa các hộ khác nhau được thể hiệnqua bảng sau:
Bảng 8: Cơ cấu vốn vay tín dụng ngân hàng của hộ sản xuất ở huyện Thanh TrìĐơn vị: Số lượt
Năm Dưới 5 triệu Từ 5-10 triệu Từ 10-20 triệu Từ 20-50 triệu Trên 50 triệu
Trang 12Nguồn: Do Ngân hàng nông nghiệp Thanh Trì cung cấp
Do sản xuất còn nhỏ, manh mún, mức độ tập trung thấp nên mức vay chủyếu là từ 10 triệu đồng trở xuống Mức vay trên 50 triệu đồng ít do số hộ sản xuấthàng hoá lớn chưa nhiều, mặt khác do tài sản thế chấp của người dân hầu hết cógiá trị thấp ngoại trừ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ý nghĩa để dùng vàothếp chấp theo quy đình mới nhất tại QĐ 67/Cp của Thủ tướng Chính phủ
Ta thấy ba năm đầu (từ 1995 - 1997) nguồn vốn vay từ 10 triệu trở lênchiếm rất ít Năm 1997 mức vay trên 50 triệu chiếm 59 số lượt Nhưng đến năm
2000 đã tăng lên 256 số lượt Như vậy nhu cầu vay vốn kinh doanh lớn phần nào
đã được đáp ứng
Để phù hợp với phát triển của toàn huyện góp phần làm tăng sản lượng hànghoá, Ngân hàng nông nghiệp đã cho hộ sản xuất vay vốn trên một số vùng như sau:Bảng 9: Cơ cấu vốn vay theo vùng kinh tế
Nguồn: Do NNNo &PTNT Thanh Trì cung cấp
Qua bảng trên ta thấy vùng 1 là vùng có số vốn vay lớn nhất (chiếm 41,7%tổng số vốn), vùng này là vùng các xã ven đô với phương hướng sản xuất là raumàu, thực phẩm, chăn nuôi lơn, gia cầm nên số vốn tương đối lớn Các vùng 2 vàvùng 4 chiếm 24,8% và chiếm 29,4% tổng số vốn, riêng vùng 3 số vốn vay chỉchiếm 4,0% tổng số vốn Trong mỗi vùng kinh tế có cơ cấu kinh tế riêng với đặc
Trang 13trưng của mỗi vùng, vì vậy mà mức vay vốn khác nhau Để hiểu rõ hơn ta tìm hiểutình hình vay vốn của hộ sản xuất phân theo ngành kinh tế qua bảng 10.
Bảng 10: Doanh số vay vốn theo ngành kinh tế
Năm Chỉ tiêu
CN-TTCN: Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Nguồn: Do NNNo &PTNT Thanh Trì cung cấp
Qua bảng trên ta thấy số vốn vay giành cho ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷtrọng cao nhất, bình quân mỗi năm chiếm khoảng 59% tổng doanh số vay, riêngngành chăn nuôi chiến đến 64,7% doanh số vay vốn Bên cạnh đó ngành nuôi trồngthuỷ sản cũng vay vốn khá lớn chiếm trung bình mỗi năm khoảng 23,8 doanh sốvốn vay Trong khi đó ngành trồng trọt thì lại chiếm tỷ lệ thấp và có xu hướnggiảm dần Năm 1997 tỷ lệ vay chiếm 7,5 tổng số vốn vay đến năm 2000 chỉ còn3,5% tổng doanh số vốn vay
Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp (trung bìnhmỗi năm chiếm khoảng 6%) trong khi đó ngành này có xu hướng phát triển ngàycàng cao
Đối với ngành thuỷ sản tỷ lệ số vốn có xu hướng tăng lên năm 1997 chiếm23,7%, năm 1998 là 28,6% nhưng đến năm 1999 giảm xuống còn 18,7% và đếnnăm 2000 lại tăng lên chiếm 24,4% Ta có thể lấy điển hình một số xã vay vốn nhưsau:
Đơn vị: Triệu đồng
Trang 14Định Công 1.000 80
Nguồn: Do NNNo &PTNT cung cấp
Hộ sản xuất vay vốn tại Ngân hàng nông nghiệp phân theo các hình thứcchuyển tải cốn khác nhau Chúng ta có thể thấy rõ hơn qua bảng số liệu sau
Bảng 11: Doanh số vay theo hình thức chuyển tải vốn
Đơn vị: Triệu đồng
Số tiền Số hộ Số tiền Số hộ Số tiền Số hộ Số tiền Số hộ
1 Cho vay trực tiếp 30.287 2.440 38.318 2.500 29.164 3.100 24.184 2.507
2 Cho vay qua tổ
nhóm
-Tổng 30.715 2.500 38.498 3.000 29.364 3.155 35.984 4.800
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng các năm 97, 98, 99, 2000)
Qua bảng trên ta thấy từ năm 1997 - 1999 doanh số hộ sản xuất vay vốn tạingân hàng qua nhóm chiếm tỷ lệ rất ít (trung bình mỗi năm chỉ được 269 triệuđồng chiếm 0,4% tổng số vốn vay mỗi năm) Năm 1997 vay qua tổ nhóm là 428triệu đồng với số hộ là 60 hộ
Năm 1999 doanh số vay qua tổ nhóm là 200 triệu đồng, nhưng đến năm
2000 doanh số hộ sản xuất vay vốn qua hình thức tổ nhóm là 11.700 triệu đồngchiếm 32,5% tổng số vốn vay năm 2000 Sở dĩ có sự tăng vọt như vậy là do bắtđầu từ năm 2000 Ngân hàng nông nghiệp Thanh Trì đã thực hiện Nghị quyết liêntịch số 2308 về việc cho vay đối với hộ sản xuất qua nhóm chính Và một thực tếcho thấy nữa là hình thức vay qua tổ nhóm ở huyện Thanh Trì thì chủ yếu là cungtheo hình thức hội nông dân
3 Tình hình dư nợ của hộ sản xuất vay vốn tại NHNo & PTNT huyện Thanh Trì
Dư nợ là một hình thức phản ánh quá trình vay vốn của hộ sản xuất ở ngânhàng, trong đó bao hàm cả một phần vốn chưa hoàn trả
Trang 15Do xác định khách hàng phục vụ chính là hộ sản xuất, nên Ngân hàng nôngnghiệp huyện Thanh Trì luôn phấn đấu tăng dư nợ cho vay đối với hộ sản xuất.Nhưng trên thực tế thì doanh số dư nợ có lẽ chững lại Trong 5 năm liền doanh số
dư nợ không tăng mà còn giảm sút đi Năm 1996 doanh số dư nợ là 38.370 triệuđồng chiếm 20,8% tổng doanh số trong 5 năm, nhưng đến năm 1997 giảm xuống3% so với năm 1997 Đến cuối năm 2000 thì doanh số hộ dư nợ là 2.140 hộ Sốtiền không tăng nhưng số lượt hộ dư nợ lại tăng Điều này chứng tỏ là trong nhữngnăm sau (từ năm 1998 - 2000) những món vay của hộ sản xuất là rất nhỏ Dư nợbình quân một hộ sản xuất giảm dần qua các năm Để thấy rõ hơn ta có thể thấyqua bảng sau (Bảng 12)
Bảng 12: Dư nợ bình quân một hộ sản xuất
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng từ năm 1996 đến năm 2000)
Qua bảng trên ta thấy dư nợ bình quân năm 1996 vẫn chiếm cao nhất là11,8%,nhưng đến năm 1997 giảm xuống còn 8,4%, nhưng đến hai năm sau lạigiảm năm 1999 giảm so với năm 1998 là 1,9%
Dư nợ bình quân một hộ sản xuất năm 2000 đạt 7,0 triệu đồng giảm so vớinăm 1996 là 4,8 triệu đồng, mức giảm này không hẳn là do doanh số dư nợ chovay của ngân hàng đối hộ sản xuất giảm, mà một phần do món vay của một hộ sảnxuất nhỏ Những năm gần đây những món vay của hộ sản xuất ở ngân hàng dưới 5triệu đồng chiếm rất nhiều Nhìn chung dư nợ bình quân một hộ sản xuất trungbình trong 5 năm từ 1996 đến 2000 mới đạt được khoảng 8,9 Tăng được dư nợbình quân của một hộ sản xuất là một cố gắn rất lớn của ngân hàng, song muốnnâng cao hiệu quả kinh tế của hộ sản xuất thì phải tăng hơn nữa dư nợ bình quânmột hộ sản xuất Dư nợ qua các năm không tăng một phần là do ngân hàng đã quantâm đến chất lượng tín dụng, một phần là do ở hộ sản xuất chưa có đủ điều kiện đểthế chấp vay vốn như Giấy quyền sử dụng đất
Trang 163.1 Dư nợ cho vay đối với hộ sản xuất phân theo thu nhập hộ vay.
Nhằm thực hiện chính sách "Xoá đói giảm nghèo" của Đảng và Nhà nước,Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam phát triển, mở rộng cho hộ nghèo vay vốn vớinhững ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay, tài sản thế chấp Ngân hàng nôngnghiệp Thanh Trì trong mấy năm qua đã mở rộng số hộ nghèo được vay vốn trênđịa bàn của huyện, giúp nhiều hộ thoát khỏi đói nghèo
Bảng 13: Dư nợ vay vốn đối với hộ sản xuất theo thu nhập hộ vay
(Nguồn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Trì)
Qua bảng trên thấy dư nợ của hộ nghèo liên tục giảm, năm 1997 chiếm 3,0%trong tổng doanh số vốn của các nhóm hộ, nhưng đến năm 2000 chỉ còn 1,5% ậđây không phải là Ngân hàng nông nghiệp không tăng doanh số cho vay đối với hộnghèo, mà do số hộ nghèo trong toàn huện đã giảm đáng kể Tổng số hộ nghèotoàn huyện năm 1995 là 1.118 hộ nhưng đến năm 2000 chỉ vào 395 hộ
3.2 Dư nợ cho vay đối với hộ sản xuất phân theo kỳ hạn nợ
Bảng 14: Dư nợ cho vay đối với hộ sản xuất theo kỳ hạn
Đơn vị: triệu đồng
Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền % Ngắn hạn 36.355 94,7 29.775 91,3 35.131 87,2 30.840 87,8 29.563 78,3 Trung - dài hạn 2.015 5,3 2.838 8,7 5.172 12,8 4.315 12,2 8.162 21,4 Tổng số 38.370 100 32.370 100 40.303 100 35.155 100 37.698 100
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng từ năm 1996 đến năm 2000)
Các khoản cho vay ngắn hạn dùng để tài trợ cho các khoản chi phí theo thời
vụ để sản xuất mùa màng và chăn nuôi gia súc như mua hạt giống, phân bón, thức
ăn gia súc gia cầm Dư nợ ngắn hạn giảm trong nhiều năm Tính trung bình cả giaiđoạn năm 1996 đến năm 2000 đạt hơn 32.327 triệu đồng với số hộ dư nợ tinhs đến31/12/2000 là 5.400 hộ, doanh số dư nợ cho vay ngắn hạn năm 2000 giảm 16,4%
so với năm 1996
Trang 17Ngược lại với tình hình dư nợ cho vay ngắn hạn, dư nợ cho vay trung - dàihạn tăng trưởng một cách vững chắc, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong dư nợcho vay hộ sản xuất: Năm 1996 là 5,3%, năm 1997 là 8,7% năm 1998 là 12,8%,năm 1999 là 12,2% và năm 2000 là 21,4$, chỉ trong vòng 5 năm mà doanh số chovay trung - dài hạn đã tăng 16,1% Đây là một kết quả đán mừng vì doanh số dư nợcho vay trung - dài hạn tăng lên sẽ đáp ứng đầy đủ cho hộ sản xuất an tâm và cóđầy đủ vốn sản xuất và thời gian thu hồi vốn để trả nợ.
II Tình hình sử dụng vốn tín dụng ngân hàng của hộ sản xuất ở huyện Thanh Trì
1 Đánh giá thực trạng sử dụng vốn vay của hộ sản xuất ở huyện Thanh Trì
Qua thực tế một số xã trên địa bàn huyện Thanh Trì cho ta thấy nhìn chungcác hộ sản xuất đã sử dụng vốn vay vào đúng mục đích như đã thoả thuận trongđơn xin vay vốn Và nguồn vốn vay đã phần nào phát huy hiệu quả, đời sống của
bà con nông dân ngày cầng được cải thiện Người dân vay vốn đã có ý thức sửdụng vốn vay sao có hiệu quả
Trong thực tế việc sử dụng vốn tín dụng của (người dân) hộ sản xuất lại phụthuộc vào nhiều yếu tố như: món vay, trình độ nhận thức của từng người, thu nhập
và đời sống của từng hộ sản xuất
Qua điều tra một số xã đại diện cho 4 vùng sản xuất của huyện Thanh Trì,nguồn vốn để phát triển sản xuất kinh doanh của các hộ sản xuất được phân theocác dạng sau:
* Với món vay từ 5 triệu trở xuống
Với món vay này thường được chia làm 2 loại sau:
- Món vay từ 2 triệu trở xuống
Với món vay này chủ yếu là những hộ sản xuất nghèo, trình độ nhận thức vàtiếp thu khoa học kỹ thuật còn hạn chế, hầu hết là những hộ nghèo cho nên cũngkhông có vốn dự trữ, với ý nghĩ làm để đủ ăn, nên họ không dám vay nhiều Vì vậy
họ còn có một chỗ dựa khác đó là Ngân hàng người nghèo, và đây cũng là nơi hỗtrọư vốn cho những hộ nghèo thiếu vốn sản xuất, lãi suất ở đây thấp và thủ tục vayđơn giản