Qua dõi theo quá trình hoạt động của Trung tâm, tôi nhận thấy, việc hình thành một tổ chức trực tiếp quản lý và triển khai các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị Quần thể di tích c[r]
Trang 2DI SẢN VẪN HÓA CUNG ĐÌNH THỜI NGUYÊN
Trang 3TRUNG TÂM BẢO TÒN DI TÍCH CỚ ĐÔ HƯÉ
NHÀ XUẤT BẢN THUẬN HÓA
HUÉ-2016
Trang 4Lòi nói đâu
Nằm giữa miền Trung Việt Nam, Huế trong một thời gian tùng
lc thu phù cua Đàng Trong thời các chúa Nguyễn (1636-1774), kinh
âì cùa nước Đại Việt thời Tây Sơn (1788-1801), rồi kinh đô cua nước Vệt Nam, Đại Nam thời Nguvền (1802-1945) Vùng đất này đã tích
ti và hình thành nên một kho tàng di san văn hóa đồ sộ, phong phú và
có giá trị vổ song cho quốc gia, là bộ phận hợp thành của di sàn văn h')a dân tộc và nhân loại, là thông điệp nối quả khứ với hiện tại và tvơng lai Đen nay, c ố đô Huế đã có 5 di san của triều Nguyễn được LNESCO vinh danh, là Quần thể di tích c ố đô (1993), Nhã nhạc -
Án nhạc cung đình Việt Nam (2003), Mộc ban triều Nguyễn (2009), Châu bán triều Nguyễn (2014), và Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (2016); xứng danh là vùng đất của di sản.
Trong những năm qua, sự nghiệp nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giả trị di sàn văn hóa Huế đã được Đảng, Nhà nước và chỉnh quyền các cấp của Thừa Thiên Huế đặc biệt quan tâm, và trên thực
tế đã đạt được những thành quả quan trọng.
Để góp phần tổng kết những thành quả này, đồng thời chuẩn
bị cho một chiến lược lâu dài cho công cuộc bảo tồn và phát huy di san Huế, mà trọng tâm là di sản văn hỏa cung đình, giữa thảng 9 vừa qua, ủ y ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã giao cho Trung tâm Bào tồn Di tích c ổ đô Huế chủ trì tổ chức hội thảo quốc tế “Di sản văn hóa cung đình thời Nguyễn - Nghiêu cứu, báo tồn và phát huy giá trị Đầy là một sự kiện văn hóa quan trọng của c ổ đô Huế, thu hút
sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, các nhà quản ỉý về văn hỏa trong và ngoài nước cùng cộng đồng nhân dân địa phương.
Trong 2 ngày 15 và 16/9/2016, gần 200 nhà nghiên cứu, nhà quản lý đã nhiệt tình tham gia diễn đàn hội thảo và các hoạt động khoa học có ý nghĩa bên lề hội thảo do Trung tâm Bào tồn Di tích c ố
đô Huế tổ chức, như tham dự triển lãm tư liệu với chủ đề “Huế - một
Trang 5điểm đến 5 di sản ”, triển lãm "Quốc hiệu Việt Nam qua tài liệu Mộc bản ”, lễ khánh thành công tác trùng tu di tích Triệu Tổ Miếu (thờ ông
bà Nguyễn Kim - người có công trung hung lại triều Lê và đặt nền tảng cho sự nghiệp của chúa Trịnh, chúa Nguyễn), tham quan công trường trùng íu lăng Trường Cơ của chúa Nguyễn Hoàng (vị chúa đầu tiên của dòng họ Nguyễn)
Sự hưởng ứng tham gia nhiệt tình của các nhà khoa học, các nhà quản lý và các đại biểu đã làm cho Ban tổ chức Hội thảo hết sức bất ngờ, vui mừng và cảm động Đây chỉnh là sự động viên khích lệ lớn nhất khiến chúng tôi cố gắng làm tốt công tác tổ chức Hội thảo cùng với việc biên tập, in ấn cuốn sách này.
Cuốn sách Di sản văn hóa cung đình thời Nguyễn - Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị được biên soạn trên cơ sở các bài tham luận và các phát biểu khoa học của các tác giả tham gia hội thảo, bản kết luận hội thảo cùng một số kiến nghị Sau khi cân nhắc, lựa chọn, chủng tôi chỉ xin phép được sử dụng hơn 50 bài viết trong tổng sổ hơn 70 tham luận được gửi đến Ban tổ chức hội thảo Các bài viết này đều đã được gửi lại cho các tác giả để xem
và bổ sung Để tiện theo dồi, chủng tôi tạm thời chia các bài viết thành 6 nhóm chủ đề sau:
1 Tổng quan về giá trị di sản văn hỏa cung đình thời Nguyễn
2 Giá trị mỹ thuật và kiến trúc của di sản văn hỏa cung đình Huế
3 Giá trị cảnh quan môi trường gắn liền với Quần thể di tích
Cổ đô Huế
4 Nguồn gốc, giá trị và công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể
5 Di sản tư liệu và công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giả trị
6 Công tác nghiên cứu, bảo tồn và phục chế cổ vật cung đình Tuy vậy, sự phân chia này chi mang tỉnh chất tương đấi vì đa phần các bài viết đều thông qua một chủ đề nhất định nhưng lại bàn rộng ra nhiều vẩn đề khác nhau.
Trên tinh thần tôn trọng tuyệt đổi ỷ kiến của các nhà khoa học, chủng tôi đăng tải nguyên văn các bài tham luận sau khi đã gửi lại
Trang 6lể các tác giá xem và chinh sưa, bổ sung Việc biên tập cua chúng
ôi cũng chí nhằm đảm bảo tỉnh nhất quán về văn phạm ngữ pháp và lình thức chứ không thêm bớt hay điều chinh nội dung bài viết.
Mặc dù dành nhiều thời gian cho công tác biên tập, nhưng 'húng tôi vẫn chưa cảm thấv hài lòng, rất mong nhận được sự góp ỷ,
m o đồi của các tác giả và bạn đọc.
Hy vọng cuốn sách này sẽ là một món quà có ỷ nghĩa đổi với lạn đọc và các nhà nghiên cứu, những người đã luôn đồng hành, gắn
ló cùng sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.
Nhân dịp ra đời của cuốn sách, một lần nữa chủng tôi xin cám
m tất cả các các nhà khoa học, các nhà quản lý đã nhiệt tình tham
ụa hội thào Trần trọng cám ơn sự chỉ đạo và tạo điều kiện của lãnh ỉạo tỉnh cùng các ban ngành liên quan đã dành cho chúng tôi sự lộng viên và giúp đỡ hết sức quý báu trong quá trình tổ chức Hội háo và công tác biên tập, in ấn cuốn sách này.
Huế, tháng 10 năm 2016
Ban biên tập
Trang 7B Ả O T Ò N VÀ P H Á T H U Y G IÁ T R Ị D I SẢN
V Ă N H Ó A C U N G Đ ÌN H T H Ờ I N G U Y Ễ N
T R O N G B Ó I C Ả N H H IỆ N NAY*
Nguyễn Văn Cao"
- Kỉnh thưa quỷ vị đại biểu!
Huế từng là thủ phủ của các chúa Nguyễn và là kinh đô của vương triều Nguyễn nên đã thừa hưởng được nhiều di sản văn hóa vô cùng phong phú và mang giá trị đặc biệt Đen nay, c ố đô Huế đã có 5
di sản của triều Nguyễn - triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam được UNESCO công nhận, cùng hàng trăm di tích cấp quốc gia, cấp tỉnh khac Đây là những tài sản quốc gia đặc biệt do các thế hệ cha ông đã sáng tạo một cách tài tình, không mệt mỏi để lại mà người dân Huế vinh dự được giữ gìn; đồng thời, cũng mang trách nhiệm nặng
nề để không ngừng bảo tồn bền vững và phát huy hiệu quả các di sản
đó cho các thế hệ tương lai
Nằm trong chuỗi các hoạt động văn hóa - nghệ thuật tầm quốc
gi a và quốc tế năm 2016 của Thừa Thiên Huế, Hội thảo “Di sàn văn hóa cung đình thời Nguyễn - Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giả trị”
được tổ chức là hoạt động nhằm mục đích tổng kết quá trình nghiên cúm, đánh giá về các di sản văn hóa cung đình thời Nguyễn trên các phương điện: Giá trị di sản, quá trình nghiên cứu, khai thác, bảo tồn
v ả phát huy giá trị di sản, từ đó xây dựng một chiến lược toàn diện
về bảo tồn bền vững, phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa do triiều Nguyễn để lại
* Phát biểu khai mạc Hội tháo
" Chủ tịch UBND tinh Thừa Thiên Huế
Trang 8Hội thảo diễn ra trong thời điểm chúng ta đang rất vui mừng
và tự hào về Cố đô Huế vừa trở thành nơi hội tụ của 5 di sản với 3 loại hình khác nhau là: Di sản vật thể, di sản phi vật thể và di sản tư liệu Do vậy, việc tổ chức HỘI thảo lần này sẽ giúp các nhà quản lý và chuyên môn có cơ hội nhìn nhận, đánh giá về những vấn đề liên quan đến công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cung đình thời Nguyễn trong những thập niên gần đây Qua Hội thảo,
sẽ giúp cho chính quyền, các ban ngành của tỉnh Thừa Thiên Huế mà trực tiếp là đơn vị quản lý nhìn nhận, đánh giá một cách đầy đủ các giá trị của di sản, làm cơ sở cho việc xây dựng, ban hành các chính sách, chiến lược mới để bảo tồn, gìn giữ và phát huy tài nguyên văn hóa phong phú và độc đáo của c ố đô Huế
Thay mặt chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế, tôi trân trọng cảm
ơn đại diện các cơ quan của Trung ương, các nhà khoa học, các nhà chuyên môn, nhà quản lý, cùng toàn thể quý vị đại biểu đã đến tham
dự Hội thảo lần này và chia sẻ mối quan tâm đối với các di sản vùng đất Cố đô Huế; đồng thời, mong muốn các nhà khoa học, các nhà quản lý và tất cả quý vị đại biểu với tâm huyết của mình về các di sản của vùng đất c ố đô Huế sẽ đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản này, giúp Thừa Thiên Huế đẩy mạnh phát triển dịch vụ - du lịch, xứng tầm là một trong những trưng tâm văn hóa - du lịch đặc sắc của Việt Nam
Hoan nghênh và biểu dương Trung tâm Bảo tồn Di tích c ố đô Huế và các cơ quan liên quan của tỉnh đã nỗ lực, cố gắng để tổ chức Hội thảo theo kế hoạch; đồng thời, yêu cầu Trung tâm tiếp thu nghiêm túc ý kiến của các nhà khoa học, các nhà quản lý và tất cả quý vị đại biểu để đề xuất những kế hoạch quản lý có tầm nhìn xa nhằm bảo tồn
và phát huy tốt hon nữa các di sản văn hóa cung đình triều Nguyễn
Sự công nhận của quốc tế đối với các di sản văn hóa thuộc triều Nguyễn là một đóng góp góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị tinh thần vô giá của cha ông để lại cho chúng ta, đồng thời, đó cũng là cơ sở có ý nghĩa thực tiễn cho việc triển khai trùng tu, bảo tồn và phát huy giá trị
Trang 9các Di sản văn hóa cố đô Huế, góp phần xây dựng Thừa Thiên Huế
thành một “đô thị sinh thái, cảnh quan, di sản, văn hóa và í hân thiện VỚI môi trường”, xây dựng thành công thương hiệu du lịch Thừa Thiên Huế mới: “Một điểm đến - Năm di sản” để thu hút du khách trong và
ngoài nước
Một lần nữa, xin nhiệt liệt chào mừng và kính chúc quý vị đại biếu, các nhà khoa học sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt Chúc quý
vị đại biểu trong thời gian lưu lại tại Huế có những trải nghiệm thú vị
và những ấn tượng khó quên về một vùng đất giàu lòng mến khách
và àm áp tình người
Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp
TÔI xin tuyên bố khai mạc Hội thảo “Di sản văn hỏa cung đình thời Nguyễn - Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị
Xin trân trọng cảm ơn
Trang 10DI SẢN VĂN HÓA CUNG ĐÌNH T H Ờ I N GU Y ỄN -
N GH IÊN CỨU, BẢO TỒN VÀ PH Á T HUY GIÁ TRỊ*
T SP han Thanh Hải*'
Kính thưa: - Đoàn chủ tịch,
- Kỉnh thưa toàn thể quỷ vị đại biểu!
Triều Nguyễn là triều đại quân chủ cuối cùng tại Việt Nam, VỚI
gần 400 năm tồn tại (1558-1945), các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn đã để lại cho dân tộc những di sản văn hóa vô cùng phong phú và mang giá trị đặc biệt Huế là thủ phủ của các chúa Nguyễn và
là kinh đô của vương triều Nguyễn nên đã thừa hưởng được nhiều di sản văn hóa quan trọng Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới và phát triển của đất nước, sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa cung đình thời Nguyễn đã đạt được nhiều thành quả to lớn, góp phần quan trọng xây dựng cố đô Huế trở thành một trung tâm văn hóa du lịch của đất nước, thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam
Với tư cách là đơn vị chuyên môn được giao trọng trách trực tiếp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của quần thể di tích cố đô, các
di sản văn hóa phi vật thể liên quan và di sản cảnh quan môi trường,
kể từ khi thành lập đến nay (1982-2016), Trung tâm Bảo tồn Di tích
Cố đô Huế (dưới đây gọi tắt là Trung tâm) đã luôn nỗ lực để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, từng bước nghiên cứu, bảo tồn, khôi phục và hồi sinh các di sản trọng yếu mà tiêu biểu là các di sản đã được UNESCO vinh danh: Quần thể di tích c ố đô Huế (1993); Nhã nhạc- âm nhạc cung đình Việt Nam (2003); Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (2016)
Xác định rõ, nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ then chốt để đảm bảo cho công cuộc bảo tồn được triển khai đúng hướng và bền vững,
* Báo cáo đề dẫn Hội thảo
** Giám đốc Trung tâm Bào tồn Di tích c ố đô Huế
Trang 11trong những năm qua, Trung tâm đã không ngừng đầu tư cho lĩnh vực này, đồng thời mở rộng các quan hệ họp tác với các đon vị, tổ chức chuyên môn, các chuyên gia, nhà nghiên cứu để triển khai các đề tài nghiên cứu, các dự án bảo tồn, tổ chức các diễn đàn khoa học, hội nghị, hội thảo Chỉ tính từ nám 1993 (thời điểm Huế được UNESCO công nhận
di sản đầu tiên) đến nay, Trung tâm đã tổ chức hàng chục cuộc hội nghị,
hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế quan trọng, tiêu biểu như: Hội nghị quốc tế về bảo íồn và giữ gìn phục hồi văn hóa phi vật thể vùng Huế (tháng 3/1994); Hội thào quốc tể lần thứ nhất (8/1997), lần thứ 2 (2009)
và lần thứ ba (8/2012) về nghiên cứu, báo tồn và phục nguyên điện cần Chánh; Hội thảo khoa học về Tuồng cung đình Huế (tháng 7-2000); Hội thảo quốc tế về Âm nhạc cung đình Huế- Nhã Nhạc (8/2002); Hội tháo bào tồn và phát huy di sản Hán Nôm (tháng 4/2003); Hội thảo quốc tế về “Bào tồn di sản kiến trúc gỗ Chầu Á: Nhìn từ trường hợp Việt Nam và Nhật Bàn - Xây dựng kế hoạch quan lý tổng thể di sản H uế” (tháng 10/2014); Hội nghị quốc tế về Bảo tồn và phát huy giả trị hệ thống thơ văn trên hến trúc cung đình (tháng 5/2015); V.V
Tuy nhiên, các hội nghị, hội thảo trên đây phần lớn mang tính chuyên đề hoặc chỉ tập trung vào một loại hình di sản cụ thể, về tính chất, hơi khác cuộc hội thảo của chúng ta ngày hôm nay
VỚI mong muốn có một sự đánh giá tổng quan, toàn diện về công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa cung đình thời Nguyễn, đồng thời tranh thủ ý kiến của các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà quản lý về lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di sản để xây dựng các chiến lược và kế hoạch cho tương lai, cuộc hội thảo này đă được Trung tâm chuấn bị công phu, và rất may mắn, đã thu hút được sự quan tâm, hưởng ứng của đông đảo các nhà khoa học, các nhà quản lý trong nước và quốc tế Có thể nói, đây là thành công đầu tiên của hội thảo!
Cho đến thời điểm này, Ban tổ chức hội thảo (BTC) đã nhận được hơn 70 bản tham luận của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, các nhà quản lý trong và ngoài nước Đây là điều khiến chúng tôi bất n;gờ và hết sức vui mừng Ị
Trang 12Có thể nói, hầu như tất cả các tham luận gửi đến BTC đều là những bài viết công phu, thể hiện tâm huyết và tri thức sâu rộng của các tác giả trên nhiều lĩnh vực, tuy nhiên, đối chiếu với các quy định
của hội thảo, chúng tôi đã lựa chọn 55 bài phù hợp nhất; các bài viết
còn lại, BTC sẽ trao đổi cụ thể với các tác giả và xin phép được sử
dụng ở một diễn đàn khác BTC xin chân thành cảm ơn sự tham gia
đóng góp nhiệt tình của tất cả các quý vị
Không chỉ có số lượng bài tham luận phong phú mà thành phần
tham gia hội thảo lần này cũng hết sức đa dạng Ngoài các nhà nghiên
cứu, các nhà quản lý, các nhà khoa học tại địa phương còn có các nhà
khoa học, chuyên gia đến từ các tổ chức quốc tế (nhóm nghiên cứu
của Đại học Waseda, Đại học Metropolitan- Tokyo, Nhật Bản, Hiệp
hội Kiến trúc sư và kỹ sư toàn Nhật Bản; Chuyên gia Cộng hòa Liên
bang Đức, nghệ nhân- chuyên gia phục chế nhạc khí cung đinh Hàn
Quốc); các nhà khoa học đến từ các cơ quan, viện nghiên cứu Trung
ương (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Sử học, Học viện Âm nhạc
Quốc gia, Viện Khoa học Công nghệ và Xây dựng, Trung tâm Nghiên
cứu bảo tồn phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam .); các bảo tàng, cơ
quan bảo tồn di sản trung ương (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam,
Viện Bảo tồn di tích, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Trung tâm Lưu
trữ Quốc gia IV - Cục Lưu trữ Nhà nước), các nhà quản lý, chuyên gia
đến từ các cơ quan quản lý Trung ương, tổ chức Tư vấn cao cấp của
Chính phủ (Cục Di sản văn hóa - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,
Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia) Có thể khẳng định, đây là một
trong những hội thảo có sự tham gia đông đảo nhất của các nhà khoa
học, các chuyên gia từ trước đến nay trên địa bàn Thừa Thiên Huế
Căn cứ vào nội dung các tham luận, BTC tạm thời sắp xếp các
bài viết theo 8 nhóm chủ đề sau:
1- Các bài viết đánh giá tổng quan về giá trị di sản văn hóa cung đình thời Nguyễn, về công cuộc bảo tồn và khai thác, phát huy giá trị
di sản (tiêu biểu trong nhóm này là các tham luận của GS.TSKH Lưu
Trần Tiêu, PGS.TS Đặng Văn Bài, TS Nguyễn Thế Hùng, GS.TS
Takeshi Nakagawa, Nhà nghiên cứu (NNC) Nguyễn Đắc Xuân, PGS
Trang 13"S Đỗ Bang, TS Phan Tiến Dùng, TS Phan Thanh Hải, CN Trần
‘Iguyễn Khánh Phong );
2- Các bài viết về di sản kiến trúc cung đinh Huế, di sản liến trúc truyền thống Nhật Bản nhìn trong sự so sánh và công
ùc trùng tu, bảo tồn di tích (tiêu biểu là NNC Phan Thuận An,
~s Trần Minh Đức, TS Nguyễn Tiến Binh, KTS Mitsuhiko Naka- nura, KS Masatoshi Imai, TS Shiomi Saito, ThS Andrea Teuíel,
IS Nguyễn Thế Sơn );
3- Các bài viết vê máng mỹ thuật, trang trí và một sô đặc trưng Ỳing miền trong kiến trúc cung đỉnh Huế (tiêu biểu là PGS.TS Phan Thanh Bình, NCS HS Nguyễn Thiện Đức, NCS Nguyễn Phước Bảo tàn, ThS Nguyễn Đắc Thái );
4- Các bài viết về gtá trị cảnh quan, môi trường gắn liền với khu
d sản Huế và công tác quy hoạch, bảo tồn (tiêu biểu là GS Shige-
ri Satoh, TS Lê Công Sơn, ThS Đỗ Thị Thanh Mai, ThS Trần Vănlũng ),
5- Các bài viết về công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, bio gồm: Nhã nhạc, tuồng cung đình, múa cung đình, nghi lễ cung đnh (tiêu biểu là GS Hoàng Chương, PGS.TS Lê Văn Toàn, NNC
\ĩnh Cao, NNC Trần Đình Sơn, ThS Nguyễn Phước Hải Trung, TS huỳnh Thị Anh Vân, NSND Phan Thị Bạch Hạc, ThS Trương Trọng Btnh, ThS Lê Mai Phương, TS Phan Thuận Thảo );
6- Các bài viết về các di sản tư liệu (tiêu biểu là TS Nguyễn Tỉấn Cường, PGS.TS Đinh Quang Hải, ThS Nguyễn Xuân Hùng TiS Hà Văn Huề- ThSNguyễn Thị Thu Hoài, ThS Phan Đăng, TS Tĩần Đình Hằng, ThS Lê Thị An Hòa, NNC Phạm Đức Thành Dũng, TiS Lê N a );
7- Các bài viết về mảng cổ vật cung đình thời Nguyễn và công tác nghiên cứu, phục chế cổ vật (tiêu biểu là TS Nguyễn Văn Cường,
TS Trần Đức Anh Sơn, Nghệ nhân lão thành Kim Hyun Kon, Nghệ nhân Trịnh B ách );
8- Các bài viết về các lĩnh vực khác như: lịch sử công trình, tiền
tệ tôn giáo tín ngưỡng (tiêu biểu là PGS.TS Nguyễn Văn Đăng, ThS
Trang 14Nguyễn Anh Huy, ThS Phan Thúy Vân, ThS Đặng Đức Diệu Hạnh, ThS Hồ Châu .)
Tuy nhiên, sự phân chia theo nhóm như trên chỉ là tương đôi, chưa phản ánh đầy đủ nội dung, tính chất của các tham luận, rất mtong các tác giả thông cảm
Nhìn chung, các tham luận đều đánh giá rất cao quy mô, tầm vóc và giá trị to lớn của các di sản văn hóa cung đình thời Nguyễn, đánh giá cao thành quả của công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong những năm qua Bên cạnh đó, một số tham lluận
cũng phân tích rất sâu sắc những mặt còn hạn chế, bất cập ờ mộtt số
lĩnh vực của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hòa, tử đó đưa ra những kiến nghị khoa học, những giải pháp thiết thực để khắc phục cho giai đoạn trước mắt và tương lai
Do thời gian có hạn vì hội thảo chỉ tổ chức trong một nigày (16/9), nên chắc chắn sẽ không đủ thời gian để toàn bộ các tác giả trình bày tham luận của mình Tuy vậy, BTC mong muốn các nhà khoa học, các nhà quản lý, các chuyên gia cùng toàn thể quý vị đại biểu tích cực tham gia trình bày, thảo luận hay nêu những ý kiến thật tâm huyết, xác đáng tại diễn đàn hội thảo này
Cuối cùng, thay mặt cho BTC hội thảo “Di sản văn hóa ciung đình thời Nguyễn (1802-1945) - Nghiên cứu, bảo tồn và phát !huy giá trị”, tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ đạo của ủ y ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, sự phối hợp của các ban ngành trong tỉnh, sự hưởng ứng nhiệt tình của các chuyên gia, các nhà khoa học cùng toàn thể quý vị đại biểu Tôi cũng trân trọng cảm ơn sự phối hợp, hỗ trợ của Khách sạn Saitgon Morin, Khách sạn Duy Tân, và cuối cùng, cảm om sự nỗ lực hết mình của các đồng nghiệp thuộc Trung tâm vì sự thành công của cuộc hội thảo này
Xin kính chúc tất cả quý vị sức khỏe, hạnh phúc và thành công!
Trang 15KHO TÀNG DI SẢN VĂN HÓA CƯNG ĐÌNH THỜI NGƯYẺN -
BẢO TÒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
TS Phan Thanh H ả i
Triều Nguyễn là triều đại quân chủ cuối cùng tại Việt Nam, VỚI
ịần 400 năm tồn tại (1558-1945), các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn đã để lại cho dân tộc những di sản văn hóa vô cùng phong phú và mang giá trị đặc biệt Huế là thú phù của các chúa Nguyễn và
li kinh đô của vương triều Nguyễn nên đã thừa hưởng được nhiều di sản văn hóa quan trọng Cho đến nay, Huế đã có 5 di sản của triều Nguyễn được UNESCO công nhận1 Trong những năm qua, cùng VỚI
sự đổi mới và phát triển của đất nước, sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa cung đỉnh thời Nguyễn đã đạt được nhiều thành quả to lớn, góp phấn xây dựng Huế trở thành một trung tâm văn hóa du lịch của đất nước, thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam.Bài tham luận dưới đây đề cập đến 3 nội dung chính: 1- Triều Nguyễn với các di sản văn hóa cung đỉnh; 2- Công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa cung đình tại c ố đô Huế; 3- Một
số định hướng chiến lược cho công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị
di sản của c ố đô Huế
1 Triều Nguyễn vói các di sản văn hóa cung đình
Triều Nguyễn được thành lập đầu thế kỷ XIX sau khi chúa Nguyễn Phúc Ánh thống nhất đất nước từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau Huế đã được chọn làm kinh đô, và tại đây, một triều đại quân chủ tập quyền đã được thành lập, bắt đầu bằng niên hiệu Gia Long, trải qua 13 triều hoàng đế, kéo dài suốt 143 năm (1802-1945) với quốc hiệu là Việt Nam (1804-1838), rồi Đại Nam (1838-1945)
* Trung tâm Bảo tồn Di tích c ố đô Huế
1 Đó là Quần thể di tích c ố đô Huế (1993); Nhã nhạc - Âm nhạc cung đình Việt Nam (2003); Mộc bàn triều Nguyễn (2009); Châu bản triều Nguyễn (2014); Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (2016) 5 di sản này thuộc 3 loại hình: Di sản văn hóa vật thẻ, di sản văn hóa phi vật thể và di sàn tư liệu.
Trang 16Tuy nhiên, từ trước đó hơn 200 năm, các chúa Nguyễn, khởi đầu từ Tiên chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613) đến chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777), đã có công lao to lớn trong việc khai phá
và phát triển vùng đất Đàng Trong (bao gồm hầu hết đất Nam Trưng
bộ, Nam Bộ và Tây Nguyên hiện nay)1, đặt nền móng cho sự thống nhất và phát triển về nhiều mặt: lãnh thổ, văn hóa, xã hội của đất nước ở giai đoạn sau
Công cuộc xây dựng kinh đô Huế thời Nguyễn bắt đầu từ năm
1804, kéo dài qua suốt thời Gia Long (1802-1820), qua gần hết thời Minh Mạng (1820-1840) mới cơ bản hoàn chỉnh
Vua Gia Long đã cho xây dựng Hoàng thành (từ 1804), rồi Kinh thành cùng các công trình kiến trúc liên quan (từ 1805), xây dựng đàn Nam Giao (1806), đàn Xã Tắc (1806), Kỳ Đài (1807), Văn Miếu (1808), trùng kiến lăng các chúa Nguyễn và các phi (1807-1808), quy hoạch và xây dựng Thiên Thọ lăng (tức lăng Gia Long)
Vua Minh Mạng quy hoạch lại Hoàng thành và Tử cấm thành (từ 1821 với việc xây dựng Thế Miếu), xây dựng Ngọ Môn (1833), hoàn chỉnh việc xây tường gạch cho Kinh thành, xây dựng các vọng lâu trên cửa thành (1829-1831), đào hoàn chỉnh sông Ngự Hà bên trong Kinh thành (1825) cùng hệ thống hào, sông hộ thành v ả thủy hệ bên ngoài, xây dựng Hổ Quyền (1830), Võ Miếu, quy hoạch và xây dựng Hiếu lăng (tức lăng Minh Mạng, từ 1840)
Đen thời vua Thiệu Trị (1841-1847) và vua Tự Đức (1848- 1883), Kinh thành Huế vẫn được xây dựng bổ sung một số công trình, đáng kể nhất là Xương lăng (lãng Thiệu Trị) và Khiêm lăng (lăng Tự Đức), một số khu vườn hoàng gia bên trong và ngoài Kinh
1 Năm 1558, Nguyễn Hoàng vâng mệnh vua Lê vào trấn thù đất Thuận Hóa, sau đó
là Thuận Quảng (từ năm 1570), ông đã xây dựng và đặt nền móng cho sự phát triển
về nhiều mặt của Đàng Trong Các đời chúa Nguyễn sau đó đã tiếp tục sự nghiệp của ông để đẩy mạnh công cuộc Nam tiến, mở mang bờ cõi, mở rộng quan hệ qiuốc tế, phát triển kinh tế hàng hóa và giao thương với các nước Vùng đất Huế đã được các chúa Nguyễn lựa chọn làm thủ phù/Kinh đô của Đàng Trong từ năm 1636 và xây dựng trở thành một đô thị lớn của đất nước Đây là cơ sở để đầu thế kỷ XIX Huế tiếp tục được hoàng đế Gia Long chọn làm kinh đô của đất nước thống nhất.
Trang 17hành cùng một số biệt cung, hành cung khác Có thể nói, bốn vị vua tầu triều Nguyễn đã tạo nên một kinh đô Huế hoàn bị và vẫn mang tậm bản sẳc văn hóa phương Đông truyền thống.
Nhưng từ thời vua Đồng Khánh (1885-1888) về sau, do ảnh lương của văn minh phương Tây, một số công trinh đã sử dụng vật ỉệu mới, thậm chí mang phong cách châu Âu được xây dựng thêm loậc thay thế công trình cũ ở cả bên trong và bên ngoài Kinh thành, ìhư lăng Đông Khánh, lăng Khải Định, cung An Định, lẩu Kiến
"rung Điều đó khiến diện mạo kiến trúc của kinh đô Huế càng thêm phcng phú, đa dạng
Như vậy, việc xây dựng kinh đô Huế đã được đặt cơ sở từ thời chúa Nguyễn, nhưng các vua Nguyễn mới thực sự là những người liến tạo và hoàn chỉnh về mọi mặt, từ quy hoạch đến cấu trúc đô thị.Kinh đô Huế của triều Nguyễn là kinh đô có quy mô to lớn, hoàn ciỉtth nhất của một nước Việt Nam thống nhất với cương vực lãnh thổ ròng lớn nhất trong lịch sử phát triển của dân tộc cho đến thời điểm đó fiâ} là sự kết tinh của công sức, trí tuệ và thành quả lao động sáng tạo Cia bao nhiêu trí thức, nghệ nhân, thợ khéo của cả nước
Tại kinh đô này, một triều đại quân chủ tập quyền với các thể chế hoàn chỉnh nhất trong lịch sử, từ luật pháp, điển chế, nghi lễ, âm nhạc đến bộ máy chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đã được thiết lập và hoạt động từ đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX
Tại kinh đô này đã từng có một nền học thuật phát triển thu hút rát rhiều nhân tài đến làm việc, cống hiến, để lại một khối lượng công tnnh tác phẩm khổng lồ do các cơ quan của triều đình và các cá nhân tnróc tác, biên soạn, “nhiều hơn tất cả các triều đại trước đó cộng lại”1.Chính vì vậy, không có gỉ đáng ngạc nhiên khi ngày nay Huế là nơi có số lượng di sản văn hóa hàng đầu của Việt Nam, là địa phương đâu tiên của nước ta được UNESCO vinh danh các di sản văn hóa, bao gồm cả di sản vật thể, phi vật thể và di sản tư liệu, trong đó nổi bật là hệ thống di sản văn hóa cung đình của triều Nguyễn
1 Nhận xét của Giáo sư Trần Văn Giàu.
Trang 182 Công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa cung đình tại c ố đô Huế
Năm 1945, triều Nguyễn chấm dứt Huế trở thành cố đô Tiếp
đó là 30 năm chiến tranh ác liệt (1945-1975) Sau ngày giải phóng
miền Nam, kho tàng di sản văn hóa của c ố đô Huế bị tàn phá, hủy
hoại nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân Điều đó đã đặt ra những
thách thức vô cùng to lớn cho sự nghiệp bảo tồn1
Bắt đầu từ cuối năm 1981, sau lời kêu gọi cứu vãn di sản Huế
của Tổng Giám đốc UNESCO, một cuộc vận động quốc tế để hỗ trợ
Huế đã được triển khai mạnh mẽ; sự nhìn nhận về triều Nguyễn và
các di sản của triều đại này cũng từng bước thay đổi theo hướng tích
cực Tháng 6 năm 1982, Công ty Quản lý Di tích và Danh thắng Huế
được thành lập (từ năm 1992 đổi tên thành Trung tâm Bảo tồn Di tích
Cố đô Huế) để quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của quẩn thể di
tích cố đô và các di sản văn hóa phi vật thể liên quan Dưới sự lãnh
đạo của tỉnh, sự hỗ trợ của các bộ, ngành Trung ương, năm 1992, bộ
hồ sơ về di sản vật thể của Huế đã được xây dựng xong và đệ trình
1 Sau chiến tranh, toàn bộ khu vực Tử cấm thành gần như bị xóa sổ' Khu vực
Hoàng thành chỉ còn lại 62 công trình so với 136 công trình kiến trúc lúc nguyên thủy
(số liệu do Nguyễn Bá Lăng thống kê ưong bài Danh sách cung điện trong Đại Nội
Huế) Khu vực Kinh thành còn 97 công trình ừong tinh trạng hư hỏng nặng, Lăng Gia
Long còn 10/15 công trình, lăng Minh Mạng còn 28/35 công trình, lăng Thiệu Trị còn
16/25 công trình, lăng Tự Đức còn 16/20 công trình, lăng Khải Định còn 16/20 công
trình, khu vực Văn Miếu còn 11/15 công trình Toàn bộ Quần thề di tích c ố đô Huế
sau chiến tranh còn khoảng 300 công trình lớn nhỏ bao gồm thành quách, cung điện,
đền miếu, lầu gác, lăng mộ, cầu cống, đình tạ hầu hết đều bị hư hỏng ở mhững mức
độ khác nhau, hoặc bị dột nát, nứt vỡ bờ nóc, bờ quyết, các cấu kiện chju lực mục
ruỗng, nhiều công trình hư hỏng nghiêm ứọng, có nguy cơ đồ sụp vào bất kỳ lúc nào
Hệ thống tường thành ở khu vực Kinh thành, lăng tẩm đều bị cây cỏ xâm thực nặng nề;
hơn 100.000m2 ao hồ cần được nạo vét và tu sửa bờ kè; hàng chục cầu cống và hơn
20km đường đi trong các di tích bị hư hại nặng cần phải tu sửa cấp thiết
Các di sản phi vật thể cũng bị hủy hoại, thất tán hầu hết Hệ thống lễ hội cung đình
đã không còn tồn tại sau khi triều Nguyễn chấm dứt; các hình thức diễn xaiớng cung
đinh như: Nhã nhạc, tuồng cung đinh, múa cung đình tản mát và biến trướng trong
dân gian; hệ thống ngành nghề thủ công truyền thống phong phú vốn phục VÍU chính cho
chốn cung đình cũng thất tán, mai một; hệ thống sách vở, tư liệu đồ sộ của diều Nguyễn
cũng bị hủy hoại hoặc bị di chuyền đi phần lớn Các cồ vật quý giá ở Hoàng, cung, láng
tẩm và cả ở các phủ đệ, dinh thự quan lại cũng bị cướp bóc, thất tán phần lớ n
Trang 19INESCO Ngày 11/12/1993, Quần thế di tích c ố đô Huế đã được
\nh danh vào Danh mục Di sản thế giới của UNESCO Công cuộc láo tồn di sản văn hóa đã thực sự bước sang một trang mới
Ngày 12/2/1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
D5TTg chính thức phê duyệt Dự án Quy hoạch, bao tồn và phát huy
ịá trị khu di tích c ố đô Huế, giai đoạn 1996 - 2010, trong đó xác
cnh những định hướng và yêu cầu cơ bản, đồng thời xác đinh những rục tiêu và biện pháp chủ yếu cho việc thực thi những nội dung đã
RU trong quy hoạch Mục tiêu cơ bản và dài hạn của Dự án thể hiện tên cả hai phương diện: Bảo tồn di sản văn hóa c ố đô Huế; và phát
hy mọi giá trị quý giá của Di sản văn hóa c ố đô Huế bao gồm giá
ti di sản văn hóa vật chất, giá trị di sản vãn hóa tinh thần và giá trị
c sản văn hóa môi trường cảnh quan đô thị và thiên nhiên trong việc ịáo dục giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc và nâng cao nức hưởng thụ văn hóa của nhân dân
Có thể nói, Quyết định 105TTg là cơ sở pháp lý quan trọng nhất
đ Cố đô Huế triển khai thực hiện chiến lược bảo tồn và phát huy giá
ti văn hóa trong suốt 15 năm đầu tiên sau khi Huế được công nhận là
E sản thế giới, và cũng là cơ sở để Chính phủ ban hành Quyết định
8 8TTg phê duyệt dự án điều chỉnh Quy hoạch, báo tồn và phát huy
g i trị di tích Cố đô Huế, giai đoạn 2010 - 2020.
Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và Bộ
\ăn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), công cuộc
bo tồn Di tích c ố đô Huế đã được triển khai và đạt kết quả to lớn Di
SĨ1 văn hóa Huế đã vượt qua giai đoạn cứu nguy khẩn cấp và từng bước đrợc hồi sinh, diện mạo ban đầu của một c ố đô lịch sử dần dần được
há phục Theo đánh giá của UNESCO, công cuộc bảo tồn di tích Huế hận đang chuyển sang giai đoạn ổn định và phát triển bền vững Đặc bật, việc bảo tồn các giá trị di sản văn hóa đã luôn gắn chặt VỚI quá trình kiai thác, phát huy và tạo điều kiện cho việc phát triển kinh xã hội của tỉih và khu vực miền Trung, trọng tâm là kinh tế du lịch, dịch vụ
Những kết quả quan trọng ấy được thể hiện trên các mặt: Bảo
tó , trùng tu di tích; bảo tôn văn hóa phi vật thể; bảo tôn và khai thác
Trang 20hệ thống di sản tư liệu, di sản cổ vật; bảo tồn, tôn tạo cảnh quan môi trường các khu di sản; họp tác quốc tế, ứng dụng thành tựu khoa học bảo tồn và đào tạo nguồn nhân lực; và phát huy giá trị di sản.
- về công tác bảo tồn, trùng tu di tích
Đây là một trong những hoạt động cơ bản nhất của công tác bảo tồn di sản Huế trong những năm qua, cũng là lĩnh vực được đầu tư lớn nhất về kinh phí và chất xám1 Những thành tựu chính trên lĩnh vực này là:
+ Hầu hết các di tích đều được bảo quản cấp thiết, bằng các biện pháp chống dột, chống sập, chống mối mọt, chống cây cỏ xâm thực, gia cố và thay thế các bộ phận bị lão hóa nhờ vậy mà trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt xảy ra liên tiếp, các di tích vẫn được bảo tồn và kéo dài tuổi thọ
+ Đã có khoảng 130 công trình di tích lớn nhỏ được đầu tư trùng tu, bảo tồn, trong đó tiêu biểu là: Kỳ Đài, Ngọ Môn, Điện Thái Hòa, Hiển Lâm Các, cụm di tích Thế Miếu, cung Diên Thọ, Duyệt Thị Đường, cung Trường Sanh, hệ thống Trường lang (Tử Cấm thành), lầu Tứ Phương Vô Sự, Đông - Tây Khuyết Đài, điện Long An (Bảo tàng c ổ vật Cung đình Huế), cung An Định, tổng thể đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc (khu vực đàn chính), tổng thể lăng vua Gia Long, Minh Lâu, điện Sùng Ân, Hữu Tùng Tự, Bi Đình, Hiển Đức Môn (lăng vua Minh Mạng), điện Biểu Đức, Tả Hữu Tòng Viện (lãng vua Thiệu Trị) Điện Hòa Khiêm, Minh Khiêm Đường, Ôn Khiêm Điện, Khiêm Cung Môn, Xung Khiêm Tạ, Dũ Khiêm Tạ, Bửu thành và bình phong (lăng vua Tự Đức), Thiên Định Cung, Bi Đình
1 Tổng kinh phí tu bổ trong 15 năm (1996 - 2010) trên lĩnh vực ữùng tu và tôn tạo
di tích Cố đô Huế là: 586.312.000.000 đồng (đạt 81,4% kế hoạch dự kiến), trong đó: + Ngân sách Trung ương: 250,460 ti đồng
+ Ngân sách địa phương: 245,497 tỉ đồng
+ Tai ượ quốc tế : 90,355 tì đồng
Trong 5 năm (2011 - 2015), ngân sách tu bổ di tích đạt xấp xi 440 tỷ đàng, trong
đó nguồn từ Trung ương đạt 240 tỷ, ngân sách địa phương và tài trợ quốc tế đạt 200 tỷ Năm 2016, tổng nguồn vốn đầu tư cho công tác trùng tu bào tồn di sản đạt hơn 177,7
tỷ đồng, trong đó nguồn vốn Trung ương là 84 tỷ, nguồn địa phương là 80 ttỷ, còn lại nguồn huy động từ xã hội hóa và tài ữợ quốc tế.
Trang 21(lăng vua Khải Định), tổng thế chùa Thiên Mụ, Cung An Định, 10 cổng Kinh thành, tường thành mặt Nam và Quan Tượng Đài, sông Ngự Hà Hiện nay, bên trong Hoàng thành và lăng vua Gia Long, lăng vua Thiệu Trị, lăng vua Tự Đức và lăng vua Đồng Khánh cũng đang triển khai trùng tu nhiều hạng mục công trình sau khi các dự án trùng tu được phê duyệt, như: vườn Thiệu Phương, Nhật Thành Lâu, Triệu Tổ Miếu, lầu Tàng Thơ, điện Gia Thành, điện Lương Khiêm, điện Ngưng Hy
+ Cơ sở hạ tầng các khu di tích như: Hệ thống đường giao thông, điện chiếu sáng khu vực Đại NỘI, điện chiếu sáng nghệ thuật cho Ngọ Môn, cửa Hiển Nhơn, Quảng trường Ngọ Môn- Kỳ Đài, Phu Văn Lâu; điện đường đến các lăng Vua Gia Long, Minh Mạng,
Tự Đức, Khải Định, Đồng Khánh đã được đầu tư, nâng cấp Hệ thống sân vườn sân vườn các di tích Triệu Miếu, Hưng Miếu, Thế Miêu, cung Diên Thọ, cung Trường Sanh, vườn Cơ Hạ, vườn Thiệu Phuơng, cung An Định, hệ thống phòng chống hỏa, chống sét, hệ thống nhà vệ sinh trong di tích đã cơ bản được tu bổ hoàn nguyên hoặc xây dựng tôn tạo hoàn thiện
Điều quan trọng là, các di tích đã được tu bổ đều đảm bảo các nguvên tắc khoa học về bảo tồn của quốc gia và thỏa mãn các điều luật của Hiến chương, Công ước quốc tế mà Chính phủ ta đã công nhận và tham gia, được các nhà khoa học trong nước và quốc tế đánh giá cao
Cũng chính qua thực tiễn của công cuộc bảo tồn tôn tạo di tích Huế mà đội ngũ cán bộ, kỹ thuật viên của Trung tâm đã tích luỹ iược nhiều kinh nghiệm quý báu và phong phú, đặc biệt đã nắm vững cả 2 mặt cốt yếu của phương pháp trùng tu khoa học: Đó là
phương pháp luận khoa học và kỹ năng thực hiện Vỉ vậy, các hoạt
động trùng tu không chỉ đem lại hiệu quả trên nhiều mặt mà còn đào tạo được đội ngũ những người làm công tác bảo tồn di sản ngày càng chuyên nghiệp
Công tác bảo tồn, trùng tu di tích đã đem lại những hiệu quả tích cực về mặt kinh tế và xã hội: góp phần quan trọng trong việc chỉnh trang diện mạo đô thị và khu dân cư, thu hút du khách đến Huế, tăng
Trang 22các nguồn doanh thu du lịch và dịch vụ, tạo ra sự quan tâm đặc biệt
của các tầng lóp xã hội đối VỚI di sản văn hóa truyền thống1
- v ề công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và di sản tư liệu
Các di sản văn hóa phi vật thể của Huế hết sức phong phú vá đa
dạng Tại Dự án Quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị di tích c ố đô
Huế, 1996-2010 và dự án điều chỉnh đến năm 2020, việc nghiên cứu,
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trên chủ yếu được xác định
trong phạm vi văn hóa cung đình thời Nguyễn, gồm: Thơ văn Hán
Nôm trên di tích, văn bia, thơ Ngự chế được trang trí ở các cung điện,
các hoa văn họa tiết trang trí mỹ thuật gắn liền với di tích kiến trúc,
lễ nhạc cung đình, múa hát cung đình, lễ hội cung đình, tuồng Ngự,
ca Huế, ẩm thực, nghề truyền thống
Tính từ năm 1996 đến nay, trên lĩnh vực này, Trung tâm đã tổ
chức hàng chục công trình nghiên cứu khoa học, tổ chức biên soạn và
xuất bản nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị, tổ chức đào
tạo nhân lực Các kết quả chủ yếu bao gồm
+ Tổ chức gần 20 cuộc hội thảo, hội nghị quốc gia và quốc tế
về chủ đề nghiên cứu, bảo tồn các tài sản văn hóa phi vật thể, như:
Hội thảo Bảo tồn và phát huy giá trị Tuồng cung đình Huế, hội thảo
Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Hán Nôm Huế, hội thảo Bảo tồn
âm nhạc cung đình Huế, hội thảo Tổng kết dự án Bảo tồn Nhã nhạc
cung đình Huế, Hội nghị quốc gia về bảo tồn phát huy thơ văn trên
kiến trúc cung đình
+ Đã tổ chức khảo sát, số hóa toàn bộ hệ thống văn tự chữ Hán,
các họa tiết trang trí trên các công trình kiến trúc, lập hồ sơ v à đã đệ
trình thành công để UNESCO công nhận thơ văn trên kiến triúc cung
đình trở thành Di sản tư liệu thế giới thuộc chương trình Kỹ ức thế
giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương
1 Có không ít công trình khi tu bổ xong đã phát huy tốt hiệu quả kinh tế, xã hội như: Duyệt Thị Đường, Minh Khiêm Đường (noi biểu diễn múa, hát, tuồng và các mhạc khúc
cung đình phục vụ du khách), Quàng trường Ngọ Môn - Kỳ Đài Các công trình hạ tầng
Đại Nội, Quảng trường Ngọ Môn - Kỳ Đài, điện chiếu sáng Đại Nội, cung Am Định và
các lăng đã phục vụ tốt các lễ hội Festival và các hoạt động văn hóa xã hội khác.
Trang 23+ Tổ chức nghiên cứu, biên soạn, dich thuật và xuất bản hàng chục công trình về Di sản văn hóa Huế và công cuộc bảo tồn, trong
đó có những công trình đoạt giải thưởng cao của Trung ương và địa
phương, như: Khoa cử và khoa bang triều Nguyễn, Thần kinh nhị thập canh - Thơ vua Thiệu Trị, Kinh thành Huế, Huế - Di sản văn hóa thế giới, Âm nhạc cung đình Huế, Tuồng cung đình Huế, Khao cô học tại di tích Cổ đô Huế (1999-2003), Di sản văn hỏa Huế - Nghiên cứu
và bao tồn (3 tập), Bao tàng M ỹ thuật cung đình Huế (6 tập), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên (10 tập)
+ Tổ chức sưu tầm, nghiên cứu ứng dụng và bảo tồn được hàng chục tác phẩm âm nhạc cung đình quan trọng như: 10 nhạc khúc trong lễ Tế Giao, 9 nhạc khúc trong Te Liệt miếu, 5 nhạc khúc trong
lễ Đoan Dương, Vạn Thọ và Tết Nguyên Đán, 37 nhạc khúc diễn tấu với dàn Tiểu nhạc, 10 nhạc khúc diễn tấu trong các đợt vua ngự, 14 nhạc khúc kèn dùng trong Đại nhạc Sưu tầm nghiên cứu và dàn
dựng thành công hàng chục điệu múa cung đình tiêu biểu như: Trình tường tập khảnh, Tứ linh, Nữ tướng xuất quân, Bát dật Nghiên cứu
dàn dựng nhiều vở tuồng cung đình cổ và 25 trích đoạn tuồng phục
vụ cho lễ hội và giao lưu văn hóa nghệ thuật
Chính nhờ những nỗ lực trên mà tháng 11 năm 2003, UNESCO
đâ chính thức công nhận Nhã nhạc Cung đình Huế là Kiệt tác Di sản ván hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (từ 2008 gọi là Di sản căn hóa phi vật thể đại diện nhân loại) Đây là một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tầm vóc và sự phong phú, toàn dnện của di sản văn hóa Huế trên cả hai phương diện văn hóa vật thể
vả văn hóa phi vật thể
+ Nghiên cứu phục hồi một số lễ hội cung đinh quan trọng nhất của
triều Nguyễn như: lễ Tế Giao, lễ tế Xã Tắc, lễ Truyền Lô - Vinh quy bái
tở (lễ vinh danh Tiến s ĩ dưới thời Nguyễn), lễ hội thi Tiến sĩ Võ, lễ Dựng nêu: những lễ hội mang màu sắc văn hóa cung đỉnh như: Huyền thoại sõng Hương, Đêm Hoàng cung, Hành trình mở cõi, Thiên hạ thái bình
+ Đặc biệt là trong các dịp lễ hội Festival Huế, các loại hình nghệ thuật cung đình, bao gồm cả lễ hội, âm nhạc, nghệ thuật thư
Trang 24pháp, nghệ thuật ẩm thực, trò chơi đã thực sự đóng vai trò trung tâm trong các hoạt động của Thừa Thiên Huế, trở thành đại diện tiêu biểu của văn hóa Huế trong sự đối thoại, giao lưu với bạn bè quốc tế.
- v ề công tác bảo tàng, triển lãm và phát huy giả trị cơ vật + Với một bảo tàng cổ vật có lịch sử lâu dài và số lượng cổ vật
tuy không lớn nhưng rất quý, bên cạnh đó còn có một số lượng cổ vật cung đình khác gắn liền với hoàng cung, lăng tẩm, đàn miếu1 công tác bảo tàng và phát huy giá trị cổ vật rất được Trung tâm quan tâm
và có nhiều giải pháp triển khai trong những năm qua Toàn bộ các
cổ vật đã được kiểm kê, lập hồ sơ khoa học; một số cổ vật/ nhóm cổ vật đặc biệt quý hiếm đã được lập hồ sơ công nhận bảo vật quốc gia2 Trung tâm cũng đã phối hợp với một số đối tác và các nghệ nhân thực hiện một số dự án nghiên cứu phục hồi, phục chế cổ vật và hiện vật, như dự án phục chế trang phục cung đình với nghệ nhân Trịnh Bách,
dự án phục chế đồ sứ ký kiểu, dự án phục hồi một số mẫu trang phục cung đình với nghệ nhân Nguyễn Thị Tường Vy
+ Trung tâm đã giao cho Bảo tàng nghiên cứu tổ chức trưng bày, tái trưng bày các nhóm cổ vật/ hiện vật tại điện Long An và các điểm di tích do Trung tâm quản lý để phục vụ việc phát huy giá trị, phục vụ du khách và cộng đồng Bên cạnh đó, đã phối hợp để mượn một số sưu tập cổ vật quý đưa về trưng bày tại Bảo tàng để tàng tính phong phú, hấp dẫn cho điểm đến này3
+ Hàng chục cuộc triển lãm để giới thiệu, quảng bá về giá trị cổ vật cung đình và di sản văn hóa Huế đã được tổ chức trong v ả ngoài nước, các cuộc triển lãm này luôn thu hút sự quan tâm của cộng đồng
3 Chẳng hạn các sưu tâp báu vật hoàng cung (sưu tập trang sức cổ Việt Nam, sưu tập Kim sách và Kim bảo mượn của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ) đã được trưng bày tại Bảo tàng c ổ vật Cung đinh Huế trong các năm 2015, 2016.
Trang 25+ Phối hợp VỚI Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I và Trung tâm Lưu
trừ quốc gia IV (thuộc Cục Lưu trữ Nhà nước) tổ chức nhiều cuộc
triến lãm quảng bá về các di sản tư liệu đã được UNESCO công nhận
(Châu bản triều Nguyễn, Mộc bản triều Nguyễn, và Thơ văn trên kiến
trúc cung đình Huế)
- v ề công tác bảo tồn, tôn tạo cảnh quan môi trường các khu
di sản
Năm trong lòng của “một kiệt tác về thơ kiến trúc đô thị”, phần
lớn các di tích của Huế đều là những kiến trúc nghệ thuật được bố trí
hài hòa VỚI thiên nhiên trong những không gian rất rộng lớn Cũng
chính vỉ thế mà việc bảo tồn, tôn tạo cảnh quan môi trường các khu di
tích gặp không ít khó khăn Thêm vào đó, số lượng dân cư sống trong
các khu vực bảo vệ di tích rất lớn, chiếm xấp xỉ 1/2 dân số thành phố
Vì vậy, mọi hoạt động liên quan đến bảo vệ di tích đều có ảnh hưởng
nhất định đến cuộc sống của người dân và nhu cầu phát triển1
Trong những năm qua, phần lớn các di tích chính đã được đầu
tư tu bổ và tôn tạo hệ thống sân vườn, cảnh quan và trồng cây bổ sung
ở cac khu vực đệm Nổi bật như việc trồng lại vành đai xanh lăng
vua Minh Mạng, tôn tạo phục hồi cảnh quan vườn Cơ Hạ Trung
tâm đã thành lập phòng Cảnh quan Môi trường VỚI hon 80 cán bộ, kỹ
sư, nghệ nhân chuyên làm công tác vệ sinh môi trường, gây dựng và
trồng mới cây xanh, hoa kiểng, nghiên cứu tôn tạo môi trường cảnh
quan Chính công việc đó đã làm thu hẹp không gian hoang phế, từng
bưóc trả lại các giá trị cảnh quan vốn có của c ố đô, mang lại sinh khí
cho di tích, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp
phần quan trọng trong việc giao lưu và hợp tác văn hóa trong nước và
quốc tế
Bên cạnh đó, việc nâng cấp cơ sở hạ tầng và các trục đường
thiành phố Huế đã được quan tâm, nhất là các trục đường trong Kinh
thiành, đường đến một số điểm di tích Đặc biệt là việc chỉnh trang, tôn
1 Xem thêm Phan Thanh Hải: “Cư dân trong vùng di tích - Lịch sử, hiện trạng và
nhiững ảnh hưởng đối với cơ cấu dân cư và chính sách phát triển của Thừa Thiên Huế”,
ĩạ/p chí Nghiên cứu & Phát triển, số 3/2008.
Trang 26tạo 2 bên bờ sông Hương, nạo vét sông Ngự Hà và tu bổ kè Hộ Thành
Hào đã tạo điều kiện để phát triển dân sinh và chỉnh trang đô thị Việc
giải tỏa gần 300 hộ dân ở khu vực Ben Me và Hộ Thành Hào, hơn 5<0
hộ dân ở Thượng thành mặt Nam, hàng chục hộ dân ở đàn Xã Tắc, Võ
Miếu, gần 100 hộ dân dọc theo Ngự Hà VỚI kinh phí hàng chục tỉ
đồng phần nào trả lại cảnh quan cho mặt Nam Kinh thành Huế
- về lĩnh vực hợp tác quốc tế, ứng dụng thành tựu khoa học bảo tồn và đào tạo nguồn nhẫn lực
Đây cũng là một trong những lĩnh vực hoạt động đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng Trong những năm qua, thông qua bảo tồn
di sản, Cố đô Huế đã hợp tác với gần 30 tổ chức quốc tế, hàng chục
các viện, trường Đại học, ban ngành trong nước để tiến hành các hoạt
động nghiên cứu bảo tồn di sản cả trên lĩnh vực văn hóa vật thể, phi
vật thể và cảnh quan môi trường
Với các tổ chức quốc tế, Huế đã có sự họp tác với UNESCO,
Nhật Bản (Quỹ Toyota, Quỹ Japan Foundation, trường đại học Nữ
Sowa, Đại học Nihon, Đại học Waseda .), Ba Lan, Canada, Pháp,
Anh, Mỹ, Cộng hòa Liên bang Đức, Thái Lan, Bỉ, Hàn Quốc, Hà Lan
Hoa Kỳ thực hiện hàng chục dự án trùng tu, nghiên cứu bảo tồn
và đào tạo nguồn nhân lực hết sức có ý nghĩa Nổi bật trong đó là dự
án hợp tác nghiên cứu kiến trúc truyền thống Huế và phục hồi điện
Cần Chánh (phối hợp với Đại học Waseda) đã thực hiện được suốt
hơn 20 năm qua (1994 - 2016), dự án hợp tác với nhóm chuyên gia
Cộng hòa Liên bang Đức để phục hồi tranh tường cung An Định, khu
vực bình phong và lăng mộ vua Tự Đức, công trình Tả Vu điện cần
Chánh; dự án hợp tác với Nhật Bản, Hàn Quốc và UNESCO để thực
hiện Chương trình quốc gia về bảo tồn và phát huy Nhã nhạc cung
đình Huế (2005 - 2008)1
Huế cũng đã có mối quan hệ hợp tác rộng rãi với nhiều đơn vị,
Bộ, ngành trong nước để thực hiện các dự án quy hoạch, bảo tồn và đào
1 Từ năm 1992-2016, đã có hàng chục dự án hợp tác, tài trợ quốc tế cho di sàn Huế
với tổng số vốn khoảng hơn 10 triệu USD (xem phụ lục) Đây là những dự án rất có ý
nghĩa trong việc đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ về bào tồn di sản văn hóa.
Trang 27ŨO nhân lực; tiêu biểu như: Đại học Huế, Trường Đại học Kiến trúc Hà lội, Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn, Viện Khoa học Công nghệ lây dựng, Viện Bảo tồn Di tích, Công ty Tu bổ Di tích Trung ương, Tiện Âm nhạc Việt Nam, Nhạc viện Hà Nội, Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, HỘI Khoa học Lịch sử Tiệt Nam, Hội Di sản Văn hóa Việt Nam, Hội Khảo cổ học Việt Nam, Tiện Sử học, Viện Khảo cổ học, Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Chính qua các dự án họp tác nói trên, đội ngũ cán bộ, chuyên Mên, nghệ sĩ của Di tích Huế đã được đào tạo, trau dồi kiến thức tiường xuyên và không ngừng trưởng thành Từ năm 1996 đến nay,
Di tích Huế đã đào tạo được 01 Tiến sĩ và 5 Thạc sĩ ở nước ngoài, 4 liến sĩ và 28 Thạc sĩ trong nước, 20 Cử nhân Đại học Nhã nhạc cùng tàng chục Cử nhân, nghệ nhân, nghệ sỹ ở nhiều chuyên ngành khác mau Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế cũng đã có
1 Nghệ sỹ Nhân dân, 08 Nghệ sỹ Ưu tú được công nhận Trung tâm càng đã tổ chức hàng chục lóp đào tạo nghiệp vụ hoặc cử chuyên viên tiam gia các lóp đào tạo nghiệp vụ về bảo tồn trùng tu di sản, nghiên ciu văn hóa phi vật thể, bảo tàng học Đội ngũ cán bộ, chuyên viên, nghệ sĩ đó đã trở thành lực lượng nòng cốt trong các hoạt động bảo tồn
d sản trên tất cả các lĩnh vực hoạt động; nhiều người trong số đó đã trở thành cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn chủ chốt của các ban ngành
- Khai thác và phát huy giá trị các di sản
Khai thác và phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể di tích Cố đô Huế là giải pháp tốt nhất để bảo tồn di tích, làm cho di tích sòng, hòa vào cuộc sông của xã hội đương đại, có tác dụng giáo dục
và nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân, góp phần phát triển kinh
té, tạo nguồn sinh lợi để bảo tồn di tích Đặc biệt là đầu tư tu bổ để phát triển ngành công nghiệp du lịch và các loại dịch vụ, tạo cơ sở để giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Việc khai thác hợp
lý làm cho di tích thoát khỏi sự lãng quên mà Luật Di sản văn hóa đã chỉ rõ là hướng đến xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị cac di tích Phát triển du lịch là xu thế tất yếu của xứ sở giàu di sản vân hóa này
Trang 28Đây cũng là lĩnh vực thể hiện kết quả trực tiếp của công tác bảo tồn di sản Nhờ những thành tựu của công tác bảo tồn mà Di sản ván hóa Huế đã được quảng bá hình ảnh rộng rãi trên toàn thế giới, tạo nên sức hút to lớn của Huế đối với du khách thập phương và góp phần làm cho ngành du lịch dịch vụ của Thừa Thiên Huế trong những năm qua đã có những bước phát triển nhanh chóng, thực sự đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Riêng tại khu di tích Huế, doanh thu trực tiếp từ năm 1996 đến năm 2015 đã đạt 1.300 tỷ đồng1, lãi ròng từ hoạt động dịch vụ đạt hơn 75 tỷ đồng Chính nguồn thu này đã góp phần rất quan trọng trong việc tái đầu tư cho hoạt động bảo tồn di sản
và cải thiện đời sống của những người làm công tác bảo tồn
Tuy nhiên, để phát huy hơn nữa hiệu quả của việc phát triển hoạt động dịch vụ ngay trong địa bàn khu di sản Huế, Trung tâm đã xây dựng một đề án tổng thể về quy hoạch và phát triển hoạt động dịch vụ đến năm 2020, ngày 5/12/2012, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ra quyết định phê duyệt đề án này Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để Trung tâm đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, đưa doanh thu của hoạt động này chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong
cơ cấu doanh thu của đơn vị
Xác định rõ di sản văn hóa là thế mạnh của vùng đất, việc bảo tồn Di sản văn hóa c ố đô Huế phải làm nền tảng cho kinh tế du lịch
dịch vụ phát triển nên từ khi triển khai dự án Quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị di tích c ổ đô Huế, 1996-2010, Trung tâm đã luôn
luôn chú ý tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch và các hoạt động dịch vụ liên quan các cơ hội để phát triển; chủ động tham gia các diễn đàn quảng bá cho ngành du lịch, ký kết hợp tác vói các đơn vị lữ hành đưa khách đến c ố đô Huế, liên kết hợp tác với Hiệp hội Du lịch, Hiệp hội Khách sạn của tỉnh, chủ động tổ chức các hoạt động kích cầu để
1 Năm 2015, doanh thu tù vé tham quan di tích đạt 207 tỷ đồng, năm 2016 ước đạt 245-250 tỷ đồng Dự kiến giai đoạn 2016 - 2020, doanh thu từ vé tham quan sẽ đạt mức tương đương 20 năm trước cộng lại (khoảng trên 1200 tỷ đồng), và từ năm 2020 ứở đi, doanh thu từ vé tham quan hàng năm đạt mức trên 300 tỷ đồng Nguồn thu này sẽ cơ bàn đảm bảo cho công tác trùng tu, bảo tồn các giá trị di sản văn hóa Huế.
Trang 29hu hút du khách Từ năm 2012 đên nay, Trung tâm đã thường xuyên
ố chức hoạt động quảng bá và kích cầu du lịch, nhằm thu hút ngày
•àng tăng số lượng du khách đến thăm c ố đô Huế, thăm các di sản
'ăn hóa
Bên cạnh đó, việc khai thác và phát huy giá trị di sản cũng đã
ao điều kiện cho công tác phục hồi các ngành nghề thủ công, các
Ìghi lễ và nghệ thuật truyền thống Các nghề đúc đồng, sơn thếp, sản
;uất đồ thủ công mỹ nghệ, làm diều Huế, may áo dài, thêu, chằm nón
à, làm kẹo mè xửng, tôm chua, nghệ thuật ẩm thực, ca Huế đã có
ạr phục hồi và phát triển mạnh mẽ để đáp ứng các nhu cầu của ngành
cu lịch Doanh thu từ hoạt động du lịch dịch vụ luôn tăng trưởng VỚI
ức độ rất nhanh Từ năm 2012-2015, tổng doanh thu ngành du lịch
cịch vụ của tỉnh đã đạt mức 2500 - 2900 tỷ đồng/năm, đạt tỷ trọng từ
t-8% - 52% GDP của toàn tỉnh.
Di sản văn hóa cũng trở thành hạt nhân cho các hoạt động và
sự kiện văn hóa của vùng đất c ố đô VỚI chủ đề “Di sản văn hóa với
hội nhập và phát triển”, Festival Huế được tổ chức vào các năm chẵn,
cùng với Festival Nghề truyền thống tổ chức vào các năm lẻ đã tạo
nên một thương hiệu đặc biệt, có tiếng vang và sức thu hút to lớn
không chỉ trong nước mà còn trên binh diện quốc tế
Từ những thành tựu về bảo tồn và phát triển văn hóa, du lịch,
tinh Thừa Thiên Huế đã có những sự điều chỉnh kịp thời trong cơ cấu
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Từ cơ cấu Công nghiệp -
Nông nghiệp - Dịch vụ chuyển thành Dịch vụ - Công nghiệp - Nông
nghiệp, trong đó xác định phát triển các ngành dịch vụ có tính quyết
định hàng đầu Di sản văn hóa giai đoạn này hơn bao giờ hết đã trở
thành hạt nhân và động lực cho sự phát triển
3 Một số định hướng chiến lược cho công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di sản của c ố đô Huế
Trên cơ sở đánh giá một cách đầy đủ những thành quả đã đạt
được cũng như những kinh nghiệm về sự thành công hay chưa thành
công của công cuộc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Huế trong
mấy chục năm qua, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh, Bộ Văn hóa, Thể thao
Trang 30và Du lịch, sự phối hợp của UNESCO, Trung tâm đã xây dựng và tiếp tục triển khai một số dự án chiến lược cùng những kế hoạch, giải pháp phù hợp cho giai đoạn tiếp theo Cụ thể là:
-Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện dự án Điều chinh Quy hoạch, bảo tồn và phát huy giả trị di tích c ổ đô Huế, giai đoạn 2010-2020 và
Ke hoạch quản lý quần thể di tích Cô đô Huế, giai đoạn 2015- 2020, tầm nhìn đến năm 20301 một cách toàn diện, trên cả 3 lĩnh vực: bảo
tồn, trùng tu các di sản vật thể; bảo tồn, phục hồi các di sản văn hóa phi vật thể; và, bảo tồn, phục hồi và tôn tạo cảnh quan môi trường gắn liền với khu di sản
Đối với các dự án bảo tồn di sản vật thể, sẽ hướng trọng tâm vào việc thực hiện thành công 27 dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư gắn liền với Ke hoạch trung hạn (2016-2020)2 Đây là những dự án quan trọng, nếu thực hiện thành công sẽ đảm bảo cơ bản bảo tồn và phục hồi diện mạo chính của các khu di tích trọng điểm thuộc Quần thể di tích c ố đô Huế (Hoàng thành, Kinh thành, các khu lăng tẩm chính và một số đền miếu, đàn
vụ Cần xây dựng một kế hoạch quốc gia để bảo tồn và phát huy di
1 Kế hoạch này được UBND tình Thừa Thiên Huế phê duyệt bằng Quyết định số 1057/QĐ-UBND ngày 09/6/2015 ứong đó nêu rõ 6 mục tiêu và 5 nhóm giải pháp để
cụ thể hóa và thực hiện Quyết định 818TTg của Thù tướng Chính phủ ữong giai đoạn
2015 đến 2020.
2Ngày 17/3/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 441TTg phê duyệt chủ trương đầu tư Kế hoạch trung hạn trùng tu di tích cố đô Huế bao gồm 27 dự án với tổng nguồn đầu tư hơn 1200 tỷ đồng, trong đó vốn trung ương không quá 3 74 tỷ, vốn địa phương khoảng 362 tỳ, còn lại là vốn tài trợ và xã hội hóa.
Trang 31ản thơ văn trên kiến trúc cung đinh Huế và tỉm cách “đưa về” Huế
; di sản tư liệu khác là Mộc bản và Châu bán triều Nguyễn Thiết lập nột trung tâm nghiên cứu và lưu trữ tài liệu tại Lầu Tàng Thơ để sưu tìm, lưu trữ và khai thác các giá trị phong phú của khối tư liệu cổ về
tiều Nguyễn và văn hóa Huế Sớm xây dựng Bảo tàng c ổ vật Cung (inh Huế để trưng bày, khai thác các giá trị to lớn của sưu tập cổ vật
cung đình hiện có và các nguồn cố vật sê mượn, trao đổi hay sưu tầm
cược trong tương lai
Đối với các dự án nghiên cứu, bảo tồn và tôn tạo cảnh quan môi
tường gắn liền VỚI khu di sản thì không chỉ tiếp tục đẩy mạnh thực
hện các nội dung trong dự án chiến lược đã được Thủ tướng phê
cuyệt mà còn cần bổ sung những nội dung mới và chuẩn bị cho các
cự án lâu dài sau năm 2020, trong đó đặc biệt quan tâm tái tạo, phục
hồi cảnh quan các khu di tích, mở rộng và gắn kết các vùng đệm của
tc-àn thể quần thế di tích cố đô, phục hồi các yếu tố phong thủy vốn
C) của di sản, phục hồi và làm sạch hệ thống hồ ao, mặt nước gắn liền
výi di tích, xây dựng hệ thống vườn ươm để phục vụ việc ươm trồng,
mân giống các loài hoa, kiểng quý hiếm Các dự án về cảnh quan
rrôi trường sẽ trở thành một bộ phận trong dự án trùng tu, bảo tồn các
d sản, để các di tích sau khi được trùng tu, phục hồi sẽ thực sự “sống
lạ ” và có khả năng phát huy giá trị tốt nhất
- Đổi mới mô hình quản lý và nâng cao năng lực của Trung tâm để bảo đảm cho công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di tích c ố
đò một cách hiệu quả và bền vững Đây là những nội dung đã được
khẳng định trong đường lối phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thừa
Thiên Huế từ nay đến năm 2020 Việc đổi mới mô hình của đơn vị
quản lý theo hướng tách nhiệm vụ quản lý ra khỏi nhiệm vụ khai thác,
phát huy (chủ yếu là hoạt động dịch vụ), nhằm mục tiêu quản lý di
sản chuyên nghiệp và hiệu quả hơn, đồng thời tạo điều kiện cho việc
khai thác phát huy giá trị phong phú của di sản một cách toàn diện,
hiệu quả, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thừa
Thiên Huế Hiện Trung tâm đã và đang xây dựng đề án đổi mới đơn
vị và bước đầu báo cáo lãnh đạo tỉnh để tiếp tục xin ý kiến Tuy nhiên,
Trang 32đây là một nhiệm vụ không đơn giản, cần tiến hành thận trọng, từng
bước, cần liên tục rút kinh nghiệm và tranh thủ ý kiến của các chuyên
gia và cộng đồng để chọn cách làm phù họp nhất
- Tăng cường hợp tác và mở rộng mối quan hệ VỚI các đối tác trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa, đào tạo nhân lực và chuyển
giao công nghệ mới Đây là hoạt động rất quan trọng và Huế vốn có
khá nhiều kinh nghiệm Chính các hoạt động hợp tác, trao đổi trong
nghiên cứu khoa học và triển khai các dự án đã góp phần quan trọng
để nâng cao trình độ, đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp bảo tồn
di sản văn hóa Huế trong mấy chục năm qua Trong xu thế hội nhập
hiện nay, điều đó càng trở nên quan trọng Định hướng cho giai đoạn
trước mặt cũng như lâu dài vẫn là ưu tiên phát triển mối quan hệ hợp
tác với các đối tác truyền thống, đồng thời mở rộng thêm quan hệ
họp tác với những đối tác mới nhất là về lĩnh vực ứng dụng kJhoa học
công nghệ, ưu tiên lựa chọn, đào tạo kỹ năng chuyên môn cho đội ngũ
những người làm công tác bảo tồn trên cả 3 lĩnh vực văn hóa vật thể,
văn hóa phi vật thể và cảnh quan môi trường
*
Di sản văn hóa cung đình thời Nguyễn, bộ phận tinh hoa trong
kho tàng di sản văn hóa Huế - di sản văn hóa dân tộc đã được
quan tâm giữ gìn, khai thác và phát huy giá trị trong suốt mấy chục
năm qua, và thực sự đã trở thành một nguồn tài nguyên vô giá cho
sự phát triển của vùng đất c ố đô Bước vào thời kỳ mới, với chủ
trương xây dựng Thừa Thiên Huế thành một trung tâm văn hóa,
trung tâm du lịch của cả nước và khu vực theo định hướng đô thi “di
sản, văn hóa, sinh thái, cảnh quan thân thiện với môi trườnig”, kho
tàng ấy càng có thêm các điều kiện để tỏa sáng và phát huy7 giá trị
Tuy nhiên, rất cần một chiến lược đúng đắn cùng những kễ hoạch,
giải pháp cụ thể để vừa khai thác, phát huy di sản ấy một cách hiệu
quả, vừa giữ gìn, bảo tồn kho tàng quý báu này một cách bền vững
cho các thế hệ tương lai Và đây không chỉ là công việc của những
người làm công tác bảo tồn mà đòi hỏi sự chung tay, nỗ lực củ.a cả
cộng đồng và xã hội
Trang 33TÓNG QUAN VÈ CÔ NG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁ T HUY
GIÁ T R Ị DI SẢN VĂN HÓA CỐ ĐÔ HUẾ
G S.TSKH Lim Trần Tiêu
1 Bên cạnh những đặc điểm chung được hình thành theo quy liật của sự phát triển văn hóa, do VỊ trí địa lý và bối cảnh lịch sừ - xã
lọi đặc biệt, mà Huế có những điều kiện làm nên diện mạo và sắc
tái riêng về tài sản vãn hóa của mình Trong tiến trình lịch sử dân
tic, xứ Huế luôn là chiếc cầu nối văn hóa giữa hai miền đất nước, là
a i diễn ra sự chồng lấn, dung hợp, sáng tạo, tiếp biến các vùng văn
ba các dòng văn hóa để tạo cho xứ Huế một cơ tầng chung của văn
b a Việt Nam với những nét riêng đặc sẳc của mình Không nơi nào
tèn đất nước ta như ở Huế còn giữ lại được một quần thể di tích đền
di, cung điện, thành quách, lăng tẩm, khá hoàn chỉnh về mặt quy
bạch, và cùng với những di sản vật chất là một khối lượng đồ sộ,
piong phú, đa dạng về những tư liệu phản ánh đời sống, nghi lễ cung
đnh, sinh hoạt nơi cung cấm Cái đẹp của kiến trúc Huế không hẳn
lí sư lộng lẫy, hoành tráng về quy mô mà là sự mực thước trong kết
CIU, dáng vẻ, tinh tế trong từng chi tiết trang trí mỹ thuật ở đỉnh cao,
SI hòa quyện giữa nội thất và ngoại thất, sự hài hòa giữa công trình
kến trúc và môi trường cảnh quan thiên nhiên Trong Tuyên bố hồi
co về Giá trị Nổi bật Toàn cầu của Quần thể di tích c ố đô Huế, tại
\c họp lần thứ 38 ngày 17 tháng 7 năm 2014 tại Doha (Qatar), ủ y
btn Di sản Thế giới đã ghi nhận “Tính toàn vẹn cùa quy hoạch đô thị
vc thiết kế xây dựng đã đưa Huế trở thành một mẫu mực hiếm có về
qty hoạch đô thị vào cuối thời kỳ phong kiến ờ Đông Á Tính độc
đao và duy nhất chỉ có ở c ố đô Huế là hệ thống thơ văn trên kiến
truc cung đình Huế như là một hình thức “xuất bản”, “lưu trữ” tư
liéu hêt sức độc đáo Hàng ngàn bài thơ, văn của các vị vua - nhà thơ
nói danh, của những danh nhân uyên bác của triều đình Nguyễn lại
* Hội đồng Di sản vàn hóa Việt Nam
Trang 34được lưu giữ trên liên ba, đố bản, vách ván kiến trúc cung đình Hưế Những áng thơ văn này lại được “nghệ thuật hóa”, “kỹ thuật hóa”, được chạm khắc, khảm cẩn, tráng men, đắp nổi tài tình, tạo thành một tác phẩm mỹ thuật, lối trang trí mỹ thuật “nhất thi nhất hoạ”,
“nhất tự nhất họa” đa màu sắc, độc đáo, hấp dẫn1 TS Nguyễn Tuấn Cường đã khái quát thành 7 đặc trưng của hệ thống di văn trên kiến trúc cung đinh Huế: Tính nguyên bản, tính độc bản, tính độc đáo về chất liệu và phương thức định hình văn tự, tính bác nhã trong lựa chọn văn tự, tính tư liệu, tính nghệ thuật và tính đa dạng về thể loại văn học2 Nét đặc sắc riêng có của kiến trúc Huế không chỉ thể hiện trong quy hoạch cung điện, lăng tầm mà còn ở cả nhiều công trình
tín ngưỡng, tôn giáo (đình, chùa) và nhà ở Không gian văn hóa nhà -
vườn như là một tác phẩm nghệ thuật đặc trưng của Huế, ở đấy là sự hài hòa mẫu mực cái đẹp của thiên nhiên với cái đẹp của kiến trúc và tâm hồn, lối sống tinh tế của người c ố đô Bởi thế, tôi vui mừng và đồng tình với chủ trương của ủ y ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế
về việc phê duyệt Đe án Chính sách hỗ trợ bảo vệ và phát huy giá trị nhà - vườn Huế đặc írimg tại Quyết định số 25/2015/QĐ-ƯBND
ngày 24 tháng 6 năm 2015
Đời sống văn hóa - nghệ thuật của Huế cũng giữ một vị trí nổi bật trong kho tàng chung của văn hóa đất nước Ở bất cứ lĩnh vực nào, Huế luôn giữ được cái chung, nhưng lại có những cái riêng rất Huế Trên đất nước ta chỉ có Huế mới còn giữ được âm nhạc cung đỉnh Món ăn Huế, giọng nói, tiếng nói Huế trở thành nét văn hóa đặc sắc không hòa lẫn với ai Sự đa dạng, phong phú, độc đáo với hàm lượng chất lượng cao của văn hóa dân gian, của các ngành nghề thủ công truyền thống, của phong tục tập quán, nghi lễ, hội hè trở thành một tài sản quý giá, một tiềm năng lớn cho sự phát triển
1 Lưu Trần Tiêu: Hệ thống thơ vàn trên di tích kiến trúc cung đỉnh Huế - Một loại
hình di sản tư liệu có tầm quốc gia và quốc tế Ký yếu Hội thảo khoa học Bảo tồn và
phát huy giá trị hệ thống thơ ván trên kiến trúc cung đinh Huế, Huế, 2015, ư 36.
2 Nguyễn Tuấn Cường, Phác họa một so đặc trưng của hệ thong di văn trên kiến
ừúc cung đình Huế, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống thơ
văn ưên kiến trúc cung đinh Huế, Huế, 2015, tr.58.
Trang 35Cho đên nay, chung ta chỉ mới được giới thiệu, được tiếp cận lột phân kho tàng di sản văn hóa Huế Nhiều thư tịch cổ, tác phẩm
w học, các bộ hương ước, phố hệ, phả hệ, sắc phong, di vật và cố vật
ac loại còn đang được lưu giữ trong các đình, đền, chùa, nhà thờ họ 1C và nhiều gia đình người dân Huế, thể hiện truyền thống văn hiến 1t đẹp, đáng quý, một chiều sâu văn hóa của người xứ Huế; đồng thời cng đặt trên vai nhà quản lý trách nhiệm xây dựng cơ chế, chính sách
pù họp khuyến khích việc bảo tồn và phát huy giá trị của nguồn tư liệu
V cùng quan trọng này, nhưng đang VƠI dần theo năm tháng.
Không có ở các di sản khác của Việt Nam và cũng hiếm thấy ở
cc nước trên the giới, trong một khu di sản - Quần thể di tích c ố đô
b ế - được UNESCO ghi danh 5 danh hiệu cao quý: Di sản văn hóa
cế giới (1993), Nhã nhạc cung đình Huế (2003) là kiệt tác di sản
\n hóa phi vật thể và truyền khấu của nhân loại (nay gọi là di sản
\n hóa phi vật thể đại diện của nhân loại) và 3 Di sản tư liệu thế giới
ku vực châu Á - Thái Bình Dương (thuộc chương trinh Ký ức thế
gỉn của UNESCO): Mộc bản triều Nguyễn (2009), Châu bàn triều ỉ^ạiyền (2014), Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (2016) Đây là
rọt kho tàng đồ sộ và vô giá về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể,
hm chứa những giá trị Nổi bật Toàn cầu về di sản văn hóa; là nguồn
tiliệu gốc, độc bản chứa đựng thông tin phong phú về lịch sử, địa lý,
titưởng, chính trị, quân sự, ngoại giao, pháp chế, triết học, giáo dục,
vn hóa nghệ thuật, triều Nguyễn
2 Quần thể di tích c ố đô Huế tọa lạc trên một không gian rất rog lớn nằm trong phạm vi thành phố Huế và 4 huyện, thị xã phụ
cn của tỉnh Thừa Thiên Huế, với hơn 500 hạng mục công trình di tíh trong khu Kinh thành, Hoàng thành, Tử cấm thành và các di tíh ở ngoài Kinh thành, bao gồm 7 cụm lăng tầm của 10 vị vua triều ỉỳuyễn và các di tích tín ngưỡng, tôn giáo, phòng thủ, Quần thể di tíh Cố đô Huế là Di sản văn hóa thế giới có phạm vi khu vực di sản (\mg lõi) và vùng đệm (Luật Di sản văn hóa của Việt Nam gọi là Khu
vc bảo vệ I và Khu vực bảo vệ II) vào loại lớn nhất so với những Di
sa văn hóa Thế giới đã được UNESCO ghi danh ở nước ta Đây là
Trang 36một thách thức lớn đối VỚI những tổ chức được giao quản lý di sản này Tuy nhiên, thách thức còn lớn hơn, khó khăn hơn, đồng thời cũng
là cơ hội hiếm có cho những người làm công tác bảo tồn di sản c ố
đô Huế nâng cao trình độ nghiên cứu, tích lũy kiến thức, học hỏi kinh nghiệm trong nước, quốc tế và trải nghiệm các phương pháp và giải pháp quản lý, nghiên cứu bảo tồn đối với một di sản rất đặc biệt, vô
cùng phong phú, đa dạng về chất liệu và loại hình kiến trúc cung đình;
các tác phẩm nghệ thuật, các đồ dùng, trang phục trong sinh hoạt, lễ nghi, tín ngưỡng của vua và hoàng gia triều đình nhà Nguyễn, các tác phẩm, thương phẩm của nước ngoài còn lưu giữ được từ quan hệ ngoại giao, thương mại giữa Việt Nam và nước ngoài; công trình kiến trúc cộng đồng, kiến trúc dân gian, tôn giáo, tín ngưỡng; cảnh quan môi trường và các loại hình văn hóa phi vật thể, chỉ có ở c ố đô Huế
Sau khi triều Nguyễn cáo chung, tiếp đến là hai cuộc chiến tranh kéo dài suốt 30 năm (1945-1975) cùng với thời tiết khắc nghiệt, nắng lắm, mưa nhiều, độ ẩm cao, đã tàn phá nghiêm trọng quần thể
di sản này
Ngay sau ngày đất nước thống nhất, chính quyền tỉnh Bình Trị Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên Huế) đã thành lập và từng bước hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý và triển khai các hoạt động bảo tồn di tích Cố đô Bước đi đầu tiên trong công tác bảo tồn di tích là tiến hành điều tra, nghiên cứu đánh giá hiện trạng di tích; thực hiện bảo quản câp thiết các công trình kiến trúc (chống mối mọt, chống dột, chống sập, tu sửa các bộ phận bị hư hỏng, xử lý các loại thực vật xâm hại di tích, Tuy nhiên, đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, rất hạn hẹp về tài chính dành cho công tác bảo tồn di tích, thiếu cán bộ chuyên môn về bảo tồn
di sản văn hóa, nên công tác bảo tồn di tích c ố đô gặp muôn vàn khó khăn, di sản vẫn trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng Chính vì
vậy, ngày 25 tháng 7 năm 1981, trong Lời kêu gọi cứu vãn Di sản văn hóa Huế, Tổng Giám đốc UNESCO lúc bấy giờ - ông Amadou Mahtar
M ’Bow cho rằng, di sản Huế đang ở trong tình trạng lâm nguy, chỉ có một sự cứu nguy khẩn cấp VỚI nỗ lực của Chính phủ Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế thì mới có thể giúp Huế thoát ra khỏi tình trạng trên
Trang 37Sau sự kiện này, năm 1983, một luận chứng kinh tế - kỹ thuật t>ng hợp cấp nhà nước về bảo tồn di sản c ố đô đã được phê duyệt, íóp phần quan trọng vào việc chống xuống cấp và trùng tu nhiều lạng mục di tích; đồng thời tổ chức triển khai việc xây dựng hồ sơ kioa học cho các di tích tiêu biểu Kết quả là, cho đến năm 1991, hầu tết các di tích quan trọng đã được lập hồ sơ khoanh vùng bảo vệ1 7rên cơ sở đó, năm 1992 một bộ hồ sơ khoa học mang tính tổng thể
\ề Di tích Cố đô Huế đã được trình ủy ban Di sản Thế giới, và năm
1993, Quần thể di tích c ố đô Huế - Di sản đầu tiên của Việt Nam - đã õrợc UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa Thế giới Đây là dấu mốc cuan trọng, là niềm vinh dự của người Việt Nam, của người dân xứ
tu ế trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản c ố đô, nhưng
cong thời cũng đặt trên vai nước thành viên trách nhiệm thực hiện mững cam kết của quốc gia về việc bảo vệ những Giá trị Nổi bật
"bàn cầu, tính xác thực và tính toàn vẹn của Quần thể di tích c ố đô Fuế, cũng như những khuyến nghị của ủ y ban Di sản Thế giới đối víri những vấn đề làm ảnh hưởng đến giá trị của di sản
Một sự kiện quan trọng khác có ý nghĩa pháp lý, làm cơ sở cho
hí ạt động bảo tồn là Dự án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tch Cố đô Huế, giai đoạn 1996-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ
piê duyệt tại Quyết định số 105/TTg ngày 12 tháng 02 năm 1996, và
l ị năm sau, tại Quyết định số 818/QĐ-TTg ngày 7 tháng 6 năm 2010,
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Dự án Điều chỉnh quy hoạch bảo tần và phát huy giá trị di tích c ố đô Huế, giai đoạn 2010-2020 và tại
Quyết định số 1880/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2012 Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư bảo tồn và phát huy giá trị di tích c ổ đô Huế Gần đây, tại Quyết định số 1057/
QĐ-ƯBND ngày 09 tháng 6 năm 2015 ủ y ban nhân dân tỉnh Thừa
Thiên Huế đã phê duyệt Kế hoạch quản ỉý Quần thể di tích c ổ đô Huế, giai đoạn 2015-2020, định hướng đến 2030 nhằm xác lập cơ sở
1 Phan Thanh Hài Trung tâm Bảo tồn Di tích c ố đô Huế 30 năm xây dựng, phấn đấu,
trưởng thành, 30 năm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Huế, Huế, 2012, tr 14.
Trang 38pháp lý cho việc quản lý, bảo vệ; đánh giá các yếu tố tác động đến Giá trị Nổi bật Toàn cầu của di sản; xác định các mục tiêu, chính sách dài hạn, xây dựng các chương trình, kế hoạch, thứ tự ưu tiên đầu tư cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích c ố đô Huế Đồng thời, Bản kế hoạch cũng đề ra các nhóm giải pháp về bảo tồn và phát huy giá trị di tích và di sản văn hóa phi vật thể; bảo tồn các giá trị di sản văn hóa, môi trường cảnh quan đô thị và cảnh quan thiên nhiên găn liền với di tích; khoanh vùng bảo vệ và đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư; đảm bảo vệ sinh môi trường, phát triển du lịch bền vững.
Được sự quan tâm của Chính phủ, sự phối hợp của các Bộ, ngành có liên quan của Trung ương, những nỗ lực to lớn của Đảng
bộ, chính quyền, các ngành và nhân dân Thừa Thiên Huế, từ sự hoang tàn, xuống cấp của phần lớn di tích, diện mạo của Di sản văn hóa c ố
đô dần hiện lên rõ nét Hàng trăm di tích quan trọng được tu bổ, phục hồi trong khu vực Kinh thành (Kỳ Đài, các cổng Kinh thành, điện Long An, lầu Tàng Thơ ); khu vực Hoàng thành và Tử c ấ m thành (Ngọ Môn, điện Thái Hòa và sân Đại triều nghi, Thế Miếu, cung Diên Thọ, cung Trường Sanh, lầu Ngũ Phụng, lầu Tứ Phương Vô Sự, Triệu
Tổ Miếu, Hưng Tổ Miếu, Thế Tổ Miếu, Hiển Lâm Các, Duyệt Thị Đường, hệ thống Trường lang, Thái Bình Lâu, Nhật Thành Lâu, vườn Thiệu Phương ) Các cụm di tích ngoài Kinh thành được tu bổ, tôn tạo, gồm lăng tẩm các vua triều Nguyễn, như: Minh Thành Điện, Bi Đình (lăng Gia Long), Minh Lâu, điện Sùng Ân, Hữu Tùng Tự, Tả Tùng Tự (lăng Minh Mạng), điện Hòa Khiêm, Minh Khiêm Đường,
Ôn Khiêm Điện, Dũ Khiêm Tạ, Xung Khiêm Tạ, Khiêm Cung Môn, khu lăng mộ và bình phong (lăng Tự Đức), Thiên Định Cung, Bi Đình (lăng Khải Định); Cung An Định, Phu Văn Lâu; các di tích tín ngưỡng, tôn giáo như: đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, Văn Miếu, chùa Thiên Mụ, điện Hòn Chén, miếu Tối Linh Từ, am Long Thuyền
Ngoài nguồn vốn đầu tư của Chính phủ từ Chương trình hỗ trợ
có mục tiêu, Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, nguồn đầu
tư của tỉnh Thừa Thiên Huế, nguồn tài trợ từ các tổ chức quốc tế, từ nhiều nước thông qua các dự án bảo tồn di tích, Trung tâm Bảo tồn
Trang 39Ii tích Cố đô Huế, hàng năm trên cơ sở cản đối thu chi cũng dành hyn 70% nguồn thu từ vé tham quan cho công tác bảo quản, tu bổ, pụic hồi di tích, tôn tạo cảnh quan môi trường, bảo tồn văn hóa phi
vít th ể , số còn lại dùng đế chi cho các hoạt động nghiệp vụ và chi
líơng cho cán bộ, công nhân viên và người lao động của Trung tâm
\Ớ1 số lượng hơn 700 người, trong đó có hơn 350 người có trình độ Eại học và trên Đại học được đào tạo ở trong nước và ở nước ngoài, nột Nghệ sỹ Nhân dân, tám Nghệ sỹ Ưu tú Nếu như trước khi Quần tlể di tích Cố đô Huế được UNESCO ghi danh, số khách tham quan
C1Ỉ hơn chục ngàn lượt khách/năm, doanh thu từ vé tham quan chỉ kioảng 10 tỷ đồng, thì nay đạt hơn 2 triệu lượt người/năm và doanh tlu từ vé tham quan đã đạt hơn 200 tỷ đồng/năm Đây là cố gắng phấn điu rất lớn đối với một đơn vị sự nghiệp có thu
Trên cơ sở những kết quả to lớn, có tính thuyết phục về công
téc bảo tồn di sản văn hóa trong nhiều thập kỷ qua, tại kỳ họp lần thứ
2», tháng 6-7 năm 2004, ủy ban Di sản Thế giới (WHC) đã đánh giá
CIO hoạt động bảo tồn Di tích c ố đô Huế: “Nước thành viên và các ctính quyền địa phương đã bảo tồn xuất sắc di sản thuộc di tích của Knh thành và dọc theo sông Hương và những sáng kiến liên quan đin việc cải thiện di sàn cảnh quan xung quanh Kinh thành” Trong
Tayên bố hồi cố về Giá trị Nổi bật Toàn cầu của Quần thể di tích c ố
đó Huế tại kỳ họp lần thứ 38 đã dẫn ở trên, ủy ban Di sản Thế giới
nhận định: “Những đặc điếm cơ bán về kiến trúc và cảnh quan của Qiần thể di tích c ổ đô Huế đã được duv trì nguyên vẹn kể từ lần xây dựng đầu tiên vào đầu thế kỷ XIXsau Công nguyên ” và ‘‘Mặc dù một
sỏ công trình hiện đang còn là phế tích, và hầu hết các di tích quan trong hiện còn đang được trùng tu từng phần, việc này đã được tiến hcnh thông qua sử dụng những kỹ thuật và vật liệu truyền thống theo những chuẩn mực chuyên môn quốc tế trong ngành bảo tồn để đàm bco rằng tính xác thực của các di tích vẫn đang được duy trì
Nhìn lại quãng thời gian 4 thập kỷ qua, dù còn nhiều việc phải làm, dù không ít di tích còn chưa có điều kiện về kinh phí để tu bổ và tôi tạo, nhưng về tổng thể, có thể nhận định rằng, di tích c ố đô Huế
Trang 40đã thoát khỏi tình trạng cứu nguy khấn cấp; công cuộc bảo tồn di tích
dần đi vào nền nếp, đang chuyển sang giai đoạn ốn định và có bước
phát triển mới trong những năm gần đây; phát huy với hiệu quả ngày
càng cao giá trị di sản văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương; góp phần thực hiện Chiến lược phát triển bền vũng Việt
Nam giai đoạn 2011-2020 trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa
3 Kết quả to lớn và toàn diện trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị Quần thể di tích c ố đô Huế có phần đóng góp rất quan trọng,
trực tiếp của các thế hệ lãnh đạo, cán bộ, công nhân viên và người lao
động của Trung tâm Bảo tồn Di tích c ố đô Huế; từ tâm huyết, trí tuệ
của các nhà nghiên cứu, những “bàn tay vàng” của những người thợ
thủ công truyền thống Huế và nhiều vùng miền khác của đất nước
Qua dõi theo quá trình hoạt động của Trung tâm, tôi nhận thấy, việc
hình thành một tổ chức trực tiếp quản lý và triển khai các hoạt động
bảo tồn, phát huy giá trị Quần thể di tích c ố đô Huế - Trung tâm Bảo
tồn Di tích Cố đô Huế - trực thuộc ủ y ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên
Huế về quản lý nhà nước, sự chỉ đạo về chuyên môn của Bộ Văn hóa
- Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) là hoàn toàn
đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu quản lý đối với Di sản Thế giới quy
mô lớn, trên địa bàn của nhiều huyện thị và có giá trị đặc biêt như di
sản Cố đô Huế; đồng thời phù hợp với thẩm quyền và trách nh iệm của
quốc gia thành viên có Di sản Thế giới được UNESCO ghi danh mà
người đại diện là Chủ tịch ủ y ban nhân dân tỉnh ký cam kết thực hiện
những nội dung đã cam kết khi trình Hồ sơ cho ủ y ban Di sản Thế
giới, cũng như giải trình theo yêu cầu của các tổ chức tư vấn của ủ y
ban Di sản Thế giới về những hoạt động làm ảnh hưởng đến giá trị di
sản Bởi vậy, vai trò quản lý, chỉ đạo trực tiếp của ủ y ban nhân dân
tỉnh Thừa Thiên Huế đối với Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế
là thật sự cần thiết, đúng VỚI tầm vóc đặc biệt của di sản văn hóa c ố
đô Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Bảo tồn di tích c ố đô Huế phù họp
với mô hình quản lý mới với cơ chế hoạt động tự chủ, thông thoáng,
đa chức năng, hiệu quả Trong cơ cấu tổ chức các phòng, ban, Trung