Tình hình sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp lúc đó sa sút, gần như xínghiệp hoạt động bởi những nguyên nhân sau: - Xí nghiệp mộc và trang trí nội thất: với nhà xưởng tồi tàn, thiết b
Trang 1THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM VÁN NHÂN TẠO CỦA CÔNG TY CHẾ BIẾN VÁN NHÂN TẠO TRONG NHỮNG NĂM
+ Xí nghiệp chế biến lâm sản Việt Trì
+ Xí nghiệp mộc và trang trí nội thất
Tình hình sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp lúc đó sa sút, gần như xínghiệp hoạt động bởi những nguyên nhân sau:
- Xí nghiệp mộc và trang trí nội thất: với nhà xưởng tồi tàn, thiết bị sảnxuất lạc hậu, sản phẩm sản xuất đơn chiếc, cộng với việc thực hiện theo chỉ thị
90 của Chính phủ (từ việc xuất khẩu nguyên liệu chuyển sang chế biến thànhhàng hoá) sản phẩm sản xuất ra không đáp ứng được yêu cầu của khách hàngbởi chất lượng thấp Vì thế mà sản lượng sản xuất hàng năm không đáng kể
- Xí nghiệp chế biến lâm sản Việt Trì có hai dây chuyển sản xuất ván dăm
và ván sồi ép được các nước bạn là Nam Tư và Trung Quốc viện trợ trước đây
so với bây giờ đã quá cũ kỹ, lạc hậu, không đồng bộ Vì vậy, sản phẩm sản xuất
ra không tiêu thụ được, phải chuyển sang mặt hàng khác, nhưng tiêu thụ vẫnchậm Do vậy sản lượng hàng năm của xí nghiệp đạt thấp; thiết bị không đượckhấu hao do kinh doanh thường bị lỗ
Trước tình hình đó, lãnh đạo Liên hiệp đặt vấn đề và không thể khoanh tayngồi nhìn để dẫn tới giải thể, phải tìm hướng phát triển mới dựa trên xu hướng
sử dụng đa dạng hoá các sản phẩm ván nhân tạo bằng gỗ rừng trồng và gỗ tậndụng trên thế giới ngày càng phát triển, thay thế dần nguồn gỗ rừng tự nhiênđang ngày một kiệt quệ Trong tình hình hiện nay và trong tương lai không xa,các sản phẩm ván nhân tạo đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội
và trong nền kinh tế quốc dân bởi vì:
Trang 2- Ván nhân tạo có đặc tính ưu việt là không cong vênh, không nứt nẻ, mốimọt, sản xuất được tấm lớn, rất thông dụng trong lĩnh vực đồ mộc và trang trínội thất, nguyên liệu chủ yếu là gỗ rừng trồng và gỗ tận dụng.
- Ván nhân tạo sẽ thay thế dần các sản phẩm bằng gỗ tự nhiên ngày càngcạn kiệt, góp phần bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái
Trên cơ sở định hướng đúng được thế mạnh của việc phát triển sản xuất và
sử dụng những sản phẩm từ ván nhân tạo ở nước ta trong tương lai Liên hiệp đãmạnh dạn lập dự án đầu tư đồng bộ, cải tạo phục hồi, bổ sung và xây dựng mớicác dây chuyền sản xuất ván nhân tạo Đến tháng 6/1994 các dây chuyền vánsợi, trang trí bề mặt và đồ mộc ván nhân tạo đã sản xuất thử để hoàn chỉnh côngnghệ và đào tạo công nhân bắt đầu từ năm 1995 tất cả các dây chuyền đã ổnđịnh và đi vào hoạt động sản xuất
Do sự thay đổi của tổ chức ngành lâm nghiệp, thành lập tổng công ty lâmnghiệp Việt Nam, khâu chế biến lâm sản của liên hiệp được Bộ lâm nghiệp chophép thành lập Công ty chế biến ván nhân tạo theo quyết định số 568/TCQĐngày 31 tháng 8 năm 1995 là doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tổng công ty lâmnghiệp Việt Nam (tên giao dịch quốc tế Licola)
b, Chức năng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh hiện nay của công ty chế biến ván nhân tạo.
Theo giấy pháp kinh doanh số 109943 được Uỷ ban kế hoạch thành phố HàNội cấp ngày 03 - 10 - 1995 Công ty chế biến ván nhân tạo sản xuất kinh doanhcác mặt hàng chính phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước:
- Sản xuất các loại ván nhân tạo: ván dăm, ván sợi ván ghép thanh tre luồngghép
- Trang trí bề mặt các loại ván nhân tạo
- Sản xuất các loại đồ mộc và trang trí nội thất
- Kinh doanh và xuất nhập khẩu các mặt hàng lâm sản và trang trí nội thất
c, Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và đội ngũ lao động của Công ty.
* Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý:
Để tồn tại và phát triển thì đồng thời với các hoạt động kinh doanh phảitiến hành các hoạt động quản lý, do vậy cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty chếbiến ván nhân tạo được hình thành và hoạt động theo sơ đồ sau
Trang 3GIÁM ĐỐC CÔNG TY
PGĐ phụ trách hành chính, kỹ thuật Kế toán trưởng PGĐ phụ trách kinh doanh Các giám đốc các xí nghiệp trực thuộc
Trưởng phòng tổ chức hành chính Trưởng phòng kỹ thuật công nghệ Phòng kế toán tài chính Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh Trưởng phòng xuất nhập khẩu Trưởng phòng trung tâm và dịch vụ thương mại
Các khối sản xuất kinh doanh, dịch vụ
Xí nghiệp ván nhân tạo Việt Trì Xí nghiệp Điện biên Thanh Hoá Xí nghiệp mộc và trang thí nội thất Xí nghiệp trang trí bề mặt trung văn
Mô hình tổ chức quản lý:
- Đứng đầu Công ty là Giám đốc Công ty, giám đốc chịu trách nhiệm trựctiếp và cao nhất đối với cấp trên trong mọi lĩnh vực hoạt động của Công ty, làngười đại diện cho Công ty trước pháp luật về các hoạt động sản xuất kinhdoanh Mặt khác giám đốc là người có quyền ra các quyết định điều hành hoạtđộng sản xuất kinh doanh của Công ty
- Phó giám đốc phụ trách kinh doanh là người có nhiệm vụ tham mưu chogiám đốc về các hoạt động kinh doanh của Công ty Trực thuộc sự quản lý củaPhó giám đốc phụ trách kinh doanh là các phòng: Phòng kế hoạch, phòng xuấtnhập khẩu, phòng trung tâm tiếp thị, và dịch vụ, thương mại
- Phó giám đốc phụ trách hành chính, kỹ thuật: là người có nhiệm vụ thammưu cho giám đốc về các lĩnh vực kỹ thuật, xây dựng kế hoạch công tác hàngtháng, quý, năm, quản lý đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công ty theo phâncấp của Giám đốc Công ty, đồng thời giúp giám đốc Công ty và hướgn dẫn cácđơn vị thành viên thực hiện các chế độ tuyển dụng, sử dụng lao động tiền lương
và các chế độ tuyển dụng, sử dụng lao động tiền lương và các chế độ chính sáchkhác với người lao động theo đúng thể chế hiện hành Trực thuộc sự quản lý củaphó giám đốc phụ trách hành chính, kỹ thuật là các phòng, phòng tổ chức hànhchính, phòng kỹ thuật công nghệ
- Kế toán trưởng là người giúp giám đốc về công tác kế toán, thống kê,hạch toán của Công ty, là người thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm
Trang 4theo đúng chế độ kế toán trưởng do Nhà nước quy định Trực thuộc sự quản lýcủa kế toán trưởng là phòng kế toán tài chính.
- Các phó giám đốc các xí nghiệp trực thuộc chịu sự quản lý của giám đốcCông ty, là những người có quyền ra các quyết định, có thể tự mua nguyên vậtliệu, tự sản xuất theo công nghệ kỹ thuật riêng, tự thành lập hệ thống tiêu thụcho xí nghiepẹ trực thuộc mình quản lý
- Phòng kỹ thuật giúp giám đốc Công ty quản lý, xây dựng áp dụng vàkiểm tra công tác khoa học, công nghệ và tiến bộ kỹ thuật của công ty và cácđơn vị thành viên, đồng thời giúp giám đốc quản lý và kiểm tra chất lượng sảnphẩm
- Phòng hành chính: tham mưu cho giám đốc thông qua phó giám đốc phụtrách hành chính về công tác lao động, quản lý, sử dụng, đào tạo đội ngũ cán bộ,công nhân viên, quỹ tiền lương, tiền thưởng định mức lao động
- Phòng kế hoạch tham mưu cho giám đốc qua Phó giám đốc phụ tráchkinh doanh về kế hoạch thu mua vật tư, kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
- Phòng xuất nhập khẩu tham mưu cho giám đốc về lĩnh vực xuất nhậpkhẩu, thanh toán quốc tế Giải quyết các thủ tục trong việc ký kết các hợp đồngkinh tế
- Phòng trung tâm tiếp thị và dịch vụ thương mại giúp giám đốc tìm hiểunhu cầu thị trường trong và ngoài nước để chuẩn bị kế hoạch kinh doanh sảnxuất của Công ty phù hợp với thị trường, hướng dẫn các đơn vị xây dựng kếhoạch (quý năm) và tổng hợp xây dựng kế hoạch của toàn Công ty trình giámđốc phê duyệt, nghiên cứu xác định, điều chỉnh khoán giá khoán cho các thờiđiểm khác nhau trong năm theo cơ chế thị trường, hướng dẫn các xí nghiệp thựchiện hợp đồng kinh tế và tiêu thụ sản phẩm theo phân cấp của Giám đốc Công
ty, theo dõi kiểm tra hướng dẫn các đơn vị trực thuộc giải quyết các khó khăn,vướng mắc trong quá trình sản xuất kinh doanh (mà bản thân các đơn vị không
tự giải quyết được)
- Phía dưới các phòng ban là các xí nghiệp trực thuộc Các xí nghiệp nàyhoạt động trên nguyên tắc hạch toán độc lập trong phạm vi của mình các xínghiệp có thể tự mua nguyên vật liệu, tự sản xuất theo công nghệ kỹ thuật riêng,
tự thành lập hệ thống tiêu thụ Tuy vậy hàng năm cứ căn cứ vào kế hoạch sảnxuất của Công ty, các xí nghiệp được giao một phần nhiệm vụ sản xuất đó Điềunày cho chúng ta thấy được hẳn nhiệm vụ cơ bản của xí nghiệp thành viên là:
Trang 5một mặt hoàn thành kế hoạch sản xuất do Công ty giao cho, một mặt vẫn đápứng nhu cầu sản phẩm của thị trường Đây là hướng đi mới của Công ty trongviệc từng bước gắn người sản xuất với thị trường và hướng việc sản xuất theothị trường.
* Về đội ngũ lao động của Công ty chế biến ván nhân tạo
Công ty chế biến ván nhân tạo là một doanh nghiệp Nhà nước, có đội ngũcán bộ, công nhân khá đông đảo Từ khi chuyển sang chế độ tự hạch toán kinh
tế, Công ty đã mạnh dạn đổi mới sắp xếp lại sản xuất lao động Tuy nhiên, độingũ công nhân trẻ tuy được bổ sung song còn ít và được đào tạo chưa hoànchỉnh Số công nhân lớn tuổi khá đông, có phần hạn chế về sức khoẻ và trình độchưa theo lập được những yêu cầu và đòi hỏi của một nền sản xuất công nghiệphiện đại Số lượng lao động của Công ty biến đổi tăng, giảm theo từng năm.Điều đó tuỳ thuộc vào công nghệ sản xuất của máy móc, trình độ kỹ thuật củacông nhân và bộ máy quản lý, quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty, đạtkết quả cao hay thấp Bằng các biện pháp hợp lý đúng đắn đúng chế độ, chínhsách Công ty đã giảm được một số lượng lớn lao động thừa không cần thiết, cácphòng ban được sắp xếp tinh giản, gọn nhẹ Năm 1999 số lượng lao động là 581đến 2001 còn là 496 cán bộ công nhân viên
Về cơ cấu lao động của Công ty được biểu hiện qua bảng sau:
Trang 6BIỂU 1 - CƠ CẤU LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHẾ BIẾN VÁN NHÂN TẠO.
STT Phân loại
Số lượng % so với tổng số lượng Số % so với tổng số lượng Số % so với tổng số
Nhìn vào cơ cấu lao động của Công ty chúng ta có nhận xét như sau:
- Đội ngũ lao động Công ty đã áp dụng các chính sách, biện pháp hợp lý đểtinh giản số lượng lao động thừa Con số biến đổi khá lớn chỉ qua hai năm 1999
số lao động của toàn Công ty là 581 người, cho đến 2001 là 496 người
- Chất lượng lao động đang dần dần được cải thiện từ chỗ số lượng laođộng có trình độ Đại học và trên đại học là 6% năm 1999 tăng lên 10,1% năm
2001 Điều đó phản ánh Công ty đã tăng cường các biện pháp vừa giảm laođộng thừa nhưng lại vừa chú ý bổ sung những lao động có trình độ cao để nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Đội ngũ lao động trực tiếp, gián tiếp cũng thay đổi theo quá trình hoạt độngsản xuất kinh doanh của Công ty Số lượng lao động gián tiếp liên tục giảm qua cácnăm từ 106 người vào năm 1999 xuống còn 87 người năm 2001 Trong khi đó độingũ lao động trực tiếp lại tăng lên từ 81,8% năm 1999 nên 82,5% năm 2001
Tuy vậy, để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao Công ty cũng cầnphải tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn lao động và phân bổ nguồn lao độnghợp lý hơn nữa, bởi Công ty có tồn tại và phát triển hay không điều đó phụthuộc nhiều vào đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công ty
Trang 7Gỗ rừng trồngGỗ tận dụngĐóng đồ mộc trang trí nội thất
Gia công thô băm nghiền Trang trí bề mặt ván
Gia công tinh vào hoá chất hơi Cắt xén đánh bóng ván
Về công nghệ sản xuất của Công ty: Công nghệ sản xuất các sản phẩm vánnhân tạo là công nghệ khép kín từ khâu sơ chế qua khâu chế biến Công nghệcủa Công ty chưa mang tính đồng đều giữa các sản phẩm, cần phải thay thế dầnnhững công nghệ cũ, lạc hậu bằng những công nghệ hiện đại hơn
Thiết bị máy móc và công nghệ hiện đại sẽ đáp ứng được nhu cầu của thịtrường về sản phẩm của Công ty, nó góp phần không nhỏ trong quá trình thayđổi mẫu, chất lượng, số lượng
Sau đây là quy trình công nghệ sản xuất ván nhân tạo và bảng liệt kê sốmáy móc thiết bị của Công ty chế biến ván nhân tạo
Trang 8BIỂU 2 - BẢNG LIỆT KÊ SỐ MÁY MÓC THIẾT BỊ CỦA CÔNG TY
CHẾ BIẾN VÁN NHÂN TẠO
ST
T Tên máy móc, thiết bị
Nước sản xuất
Năm chưa vào
sử dụng Nguyên giá
1 Dây chuyển sản xuất ván dăm Nam Tư 1979 2.453.177.925
2 Dây chuyền sản xuất ván sợi ép Trung Quốc 1993 3.528.223.287
3 Máy cưa đĩa Φ 700 Việt Nam 1980 1.541.000
4 Máy cưa cắt ngang Việt Nam 1980 22.801.000
5 Máy tiện gỗ 83 Việt Nam 1988 3.708.028
6 Máy tiện gỗ Trung Quốc 1988 3.635.910
7 Máy tiện kim loại C620 Trung Quốc 1980 38.746.400
8 Máy tiện kim loại Σ 32K Trung Quốc 1980 14.609.200
9 Máy bào kim loại B665 Trung Quốc 1980 4.832.000
10 Máy phay kim loại Trung Quốc 1980 14.893.200
11 Máy cưa kim loại Trung Quốc 1980 5.451.264
12 Bặm ép thuỷ lực bằng tay Trung Quốc 1980 4.200.000
13 Máy hàn điện 1 chiều AT 320 Trung Quốc 1980 6.126.848
14 Palăng điện Trung Quốc 1980 473.258
15 Máy mài hai đá Việt Nam 1980 759.500
16 Máy ngắt đầu nguồn Việt Nam 1979 7.562.612
17 Máy đùn gạch Việt Nam 1980 612.000
18 Máy nấu keo 2 tấn Việt Nam 1998 64.604.241
19 Máy cưa vòng lượn Việt Nam 1994 1.675.860
b, Về nguyên vật liệu của Công ty chế biến ván nhân tạo.
Đặc điểm chủ yếu của nguyên vật liệu sản xuất của Công ty là tính đa dạng
và phức tạp Nó được thể hiện qua đặc thù của các sản phẩm gỗ Đó là sự kếthợp phức tạp của các nguyên vật liệu, các yếu tố hoá học Nguyên liệu chủ yếucủa Công ty bao gồm:
* Đối với ván dăm bao gồm các loại nguyên vật liệu sau:
- Gỗ nguyên liệu (bạch đàn, bồ đề)
- Keo Ure quy khô
Trang 9* Nguồn cung ứng nguyên vật liệu cho Công ty từ hai nguồn chính sau:
- Nguồn trong nước: Các loại gỗ, gỗ rừng trồng và gỗ tận dụng được nhập
từ các tỉnh miền Bắc là chủ yếu như các loại gỗ bạch đàn, bồ đề, gỗ thông bào,
gỗ dổi hàng năm để đáp ứng cho việc sản xuất Công ty phải nhập khoảng13.500 m3 gỗ các loại được phân ra làm nhiều loại Các loại gỗ chủ yếu (gỗ rừngtrồng 50% = 6800 m3, gỗ tận dụng 50% = 6700 m3) được thu mua từ các hộnông dân trồng rừng, các lâm trường thuộc Vĩnh Phú, Tuyên Quang, Bắc Thái,
Hà Bắc do đó mà quá trình thu mua nguyên vật liệu sản xuất không theo một
vị trí cụ thể nhất định mà nan toả ra nhiều địa bàn khu vực rộng Điều này gâykhông ít khó khăn cho công tác thu mua, vận chuyển, bốc dỡ và làm tăng cáckhoản chi phí bất thường Tuy nhiên, có những khó khăn như vậy song cũng cóthuận lợi là Công ty liên hệ trực tiếp với bên cung cấp nguyên liệu, không phảiqua các trung gian Vì thế mà giá mua các loại nguyên vật liệu sản xuất khôngcao và được sự ủng hộ nhiệt tình của bà con trồng rừng
- Nguồn nhập khẩu: Hầu hết các nguyên liệu quan trọng của ngành đềuphải nhập từ nước ngoài chủ yếu từ các nước Hồng Kông, Nhật, Singapore Các loại vật liệu được nhập từ nước ngoài gồm có:
+ Keo Ure quy khô
+ Keo phênol
+ Axit tonêích
+ Paraphin
+ Phèn chua
Trang 10+ Amôniắc.
Chính do Công ty thường xuyên nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoàinên phải phụ thuộc vào các nhà cung ứng, dễ bị gây sức ép, kế hoạch sản xuấtkinh doanh phụ thuộc vào thời gian nhập khẩu, thị trường cung ứng Tuy cónhững khó khăn như vậy nhưng trong quá trình nhập, Công ty có những thuậnlợi như nhập khẩu với khối lượng lớn, giá cả rẻ hơn và không phải trả chi phítrung gian Điều này đòi hỏi quản lý vật tư của Công ty bộ phận tiếp liệu củaCông ty phải nhanh nhạy kịp thời phục vụ cho sản xuất
BIỂU 3 - KẾT QUẢ NHẬP KHẨU NĂM 1999, 2000, 2001
STT Tên vật tư Đơn vị Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
1 Keo Ure quy khô kg 200149 132699 77390
2 Keo phê nol kg 100173,52 51228,48 68304,64
c, Thị trường tiêu thụ sản phẩm ván nhân tạo của Công ty chế biến ván nhân tạo hiện nay.
Như chúng ta đã biết do xu hướng sử dụng đa dạng hoá các sản phẩm đượcchế tạo từ gỗ rừng đang ngày càng phát triển trên thế giới, đặc biệt là trongnhững năm gần đây đã gây ra một hậu quả hết sức nặng nề là nguồn gỗ rừng tựnhiên đang ngày càng trở nên khan hiếm, kiệt quệ bởi bị khai thác quá mức.Trước tình hình đó, để đáp lại nhu cầu của người tiêu dùng trong nước cũng nhưngoài nước, Công ty chế biến ván nhân tạo ra đời, góp phần vào việc đáp ứng
Trang 11nhu cầu của người tiêu dùng về các sản phẩm gỗ Các sản phẩm ván nhân tạo màcông ty sản xuất tuy với các loại máy móc, thiết bị cũ nhưng chất lượng sảnphẩm cũng đạt ngang bằng với các loại ván nhân tạo do nước ngoài sản xuất.Với ưu điểm là không cong vênh, không nứt nẻ, không mối mọt, sản xuấtđược tấm lớn lại dùng rất thông dụng trong lĩnh vực đồ mộc và trang trí nội thấtnên sản lượng sản xuất ra Công ty đã tiêu thụ được một số lượng lớn góp phầnvào việc thay thế các loại sản phẩm gỗ dùng tự nhiên, góp phần bảo vệ môitrường sinh thái.
Ván nhân tạo (ván dăm, ván sợi ép) do Công ty sản xuất ra, rất thích hợpcho việc đóng các đồ mộc (giường tủ, bàn làm việc và các đồ dùng sinh hoạt vàcác đồ trang trí nội thất Vì thế mà đã đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùngđặc biệt là dân thành thị bởi xu hướng phát triển về cơ sở hạ tầng (xây dựng nhàcửa, cao tầng ) nên cần có các sản phẩm không uốn lượn, chiếm nhiều diệntích Đối với vùng nông thôn do sản phẩm mới sản xuất trong mấy năm gầnđây nên thị trường ở vùng nông thôn chưa được mở rộng, nên nhu cầu của ngườinông thôn chưa cao Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm của ván nhân tạo, thì bêncạnh đó còn tồn tại các nhược điểm mà Công ty đang dần khắc phục đó là: ngấmnước, thường bị mủn khi gặp thời tiết xấu Chính vì những yếu điểm này mà làmgiảm đi khá lớn thị hiếu của người tiêu dùng Mặt khác lại cộng thêm các sảnphẩm ngoại nhập từ bên ngoài (ván nhân tạo do các nước Nga, Hồng Kông )sản xuất với công nghệ hiện đại hơn Ngoài ra trong nước các sản phẩm về đồnhựa đang có xu hướng phát triển mạnh Tuy chất lượng của sản phẩm nhựakhông cao nhưng ưu điểm là gọn gàng nhẹ, giá hạ, tạo được nhiều mẫu mã kiểudáng Nên rất dễ được người tiêu dùng ưa chuộng Các nhược điểm của sảnphẩm ván nhân tạo do Công ty sản xuất và các sản phẩm khác thuộc Công tycộng với sự phát triển ngày càng mạnh của các sản phẩm thay thế, các loại vánngoại nhập do nước ngoài sản xuất đã gây không ít khó khăn cho thị phần củaCông ty trên thị trường tiêu thụ sản phẩm ván nhân tạo Hiện nay thị trường tiêuthụ chủ yếu của Công ty vẫn là các tỉnh miền Bắc như Hà Nội, Hà Tây, HảiPhòng, Việt Trì, Quảng Ninh Ở miền Trung Công ty có bán tại Đà Nẵng, MiềnNam có TP Hồ Chí Minh Ngoài ra Công ty còn mở rộng thêm được nhiều thịtrường khác cả trong và ngoài nước
Một số thị trường tiêu thụ của Công ty
STT Thị trường trong nước STT Thị trường nước ngoài
Trang 12Trước cung cách làm ăn mới, không ít những doanh nghiệp có quy mô lớn
đã bị phá sản, điều này cho chúng ta thấy được nhược điểm của cơ chế quản lý
cũ là: tách rời doanh nghiệp với thị trường sản xuất một cách thụ động theo lệnhcủa cấp trên giao Chính cung cách làm ăn đó đã làm cho các doanh nghiệp mấtdần năng lực sản xuất, kém nhạy bén khi chuyển sang một cơ chế hoạt độngmới, cơ chế thị trường cạnh tranh Trong bối cảnh đó Công ty chế biến ván nhântạo cũng như doanh nghiệp Nhà nước khác phải đối đầu với nhiều khó khăn thửthách, nhưng với sự cố gắng nỗ lực của toàn bộ cán bộ công nhân viên, Công ty
đã từng bước vượt qua những khó khăn ban đầu, từng bước khẳng định vị trí củamình trên thị trường Cho đến nay Công ty đã có những bước tiến mới, nhưngvẫn còn rất nhiều khó khăn bởi sự cạnh tranh của hàng ngoại và các sản phẩmthay thế làm cho sự tiêu thụ của Công ty bị chững lại Một số mặt hàng tiêu thụchính của Công ty vẫn là các loại ván nhân tạo, và từ các loại ván đó Công tycho ra các sản phẩm đồ mộc, được sản xuất tại xí nghiệp mộc và trang trí nộithất Ngoài ra Công ty còn kinh doanh một số mặt hàng khác phục vụ đời sốngsinh hoạt của người tiêu dùng
BIỂU 4 - MỘT SỐ KẾT QUẢ TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG
NHỮNG NĂM 1999 - 2001
Năm Sản phẩm Giá bán (đ)
Khối lượng (m 3 )
Doanh thu (đ) Tổng doanh thu (đ) Tổng sản lượng (đ)
1999 Ván dăm 2.471.207 2121,6 5.242.912.771 8.552.135.412 6.525.717.000
Ván sợi ép 4.356.130 758,7 3.309.222.641
2000 Ván dăm 1.870.095 1080,94 2.021.460.489,3 4.463.850.458 5.261.500.000
Ván sợi ép 3.547.665 688,45 2.442.389.969,25
Trang 132001 Ván dăm 1.643.779 1621,8 2.665.880.782,2 5.781.954.725,6 6.972.315.000
Ván sợi ép 3.597.407 866,2 3.116.073.943,4
Nhìn vào bảng biểu ta thấy Công ty chế biến ván nhân tạo là một doanhnghiệp Nhà nước chuyên chế biến các sản phẩm từ gỗ rừng trồng và gỗ tận dụngcho ra các sản phẩm ván nhân tạo phục vụ cho đời sống sinh hoạt hàng ngày củamọi người Được thành lập từ lâu nhưng thực sự mới đi vào sản xuất chính trongmấy năm gần đây Do vậy mà sản lượng bán ra chưa cao, đa phần không hoànthành kế hoạch đề ra chẳng hạn tổng doanh thu tiêu thụ đề ra là 12 15 tỷ đồngnhưng chỉ thực hiện được 40 50% tổng doanh thu Điều đó phản ảnh mứctiêu thụ sản phẩm ván nhân tạo của Công ty còn chưa cao Tuy vậy, Công ty vẫnđảm bảo các quyền và nghĩa vụ đối với Nhà nước, đảm bảo mức thu nhập chođộingũ cán bộ công nhân viên