TÊN ĐỀ TÀI: LIÊN KẾT ĐỊA TẦNG VÀ XÁC ĐỊNH MÔI TRƯỜNG LẮNG ĐỌNG TRẦM TÍCH THEO PHƯƠNG PHÁP SINH ĐỊA TẦNG LÔ H BỂ NAM CÔN SƠN 2- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG: - Nhiệm vụ: Xác định tuổi và môi t
Trang 1ĐÀO THU HÀ
LIÊN KẾT ĐỊA TẦNG VÀ XÁC ĐỊNH MÔI TRƯỜNG LẮNG ĐỌNG TRẦM TÍCH THEO PHƯƠNG PHÁP SINH ĐỊA TẦNG LÔ H BỂ NAM CÔN SƠN
Chuyên ngành: Địa chất dầu khí ứng dụng
Mã số: 605351
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Thành phố Hố Chí Minh, tháng 11 năm 2014
Trang 2Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TSKH HOÀNG ĐÌNH TIẾN
Cán bộ chấm nhận xét 1: TS BÙI THỊ LUẬN
Cán bộ chấm nhận xét 2: TS NGUYỄN XUÂN HUY
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại Học Bách Khoa, ĐHQG Tp HCM ngày 06 tháng 02 năm 2015
Thành phần đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 TS TRẦN VĂN XUÂN
2 PGS TRẦN VĨNH TUÂN
3 TS BÙI THỊ LUẬN
4 TS TRẦN ĐỨC LÂN
5 NGUYỄN XUÂN HUY
Xác nhận của Chủ tịch hội đồng đánh giá LV và Trưởng khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
TS TRẦN VĂN XUÂN PGS TS NGUYỄN VIỆT KỲ
Trang 3NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
1 TÊN ĐỀ TÀI: LIÊN KẾT ĐỊA TẦNG VÀ XÁC ĐỊNH MÔI TRƯỜNG LẮNG ĐỌNG TRẦM TÍCH THEO PHƯƠNG PHÁP SINH ĐỊA TẦNG LÔ H BỂ NAM CÔN SƠN
2- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
- Nhiệm vụ: Xác định tuổi và môi trường cho từng phân vị địa tầng cho các giếng thuộc khu vực nghiên cứu Liên kết giếng và chính xác hóa các ranh giới địa tầng cho khu vực nghiên cứu và sự phân bố môi trường tại các thành hệ trầm tích
- Nội dung: Giới thiệu tổng quan về phương pháp sinh địa tầng và sử dụng các
dữ liệu cổ sinh cho ba giếng lô H bể Nam Côn Sơn Liên kết và chính xác hóa ranh giới địa tầng bằng phần mềm CycloLog Dùng các tổ hợp hóa thạch xác định môi trường trầm tích và mô tả khái quát bằng mặt cắt địa chất đi qua các giếng trên
3 NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: (Ghi theo trong QĐ giao đề tài) 10/02/2012
4 NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: (Ghi theo trong QĐ giao đề tài) 07/12/2014
5 HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS.TS HOÀNG ĐÌNH TIẾN
Tp HCM, ngày 19 tháng 03 năm 2015 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN
PGS TS HOÀNG ĐÌNH TIẾN
TRƯỞNG KHOA
PGS TS NGUYỄN VIỆT KỲ
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, học viênxin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình từ thầyPGS.TSKH Hoàng Đình Tiến Học viên rất trân trọng khoảng thời gian quý báu được làm việc cùng thầy
Học viênxin gửi lời cảm ơn đến tập thể cán bộ giảng viên khoa Địa chất & Dầu khí- Đại học Bách Khoa Tp HCM vì đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập của học viên tại trường
Bên cạnh đó học viên xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo, các đồng nghiệp, đặc biệt là tập thể phòng Cổ sinh-Địa tầng, Trung tâm Phân tích Thí nghiệm-Viện dầu khí Việt Nam đã tạo giúp đỡ và tạo điều kiện để học viên có thể hoàn thành luận văn của mình
Do sự hạn chế về thời gian cũng như tài liệu của cấu tạo nghiên cứu nên ít nhiều đã ảnh hưởng đến kết quả giải đoán, tham vấn đối chiếu kết quả từ các phương pháp khác Mong Quý thầy, cô hỗ trợ đóng góp ý kiến để luận văn được hoàn thành đúng tiến độ học tập và công việc
Trân trọng cảm ơn!
Học viên
Đào Thu Hà
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Xác định tuổi địa chất và môi trường lắng đọng trầm tích là một trong những công việc đầu tiên trong công tác định hướng tìm kiếm thăm dò, dự đoán vùng sinh, chứa, chắn, giúp cho việc thăm dò đạt hiệu quả cao nhất Trong nghiên cứu phân tầng phân tập, người ta sử dụng các số liệu giải đoán từ địa chấn, tổ hợp các đường cong địa vật lý, thạch học trầm tích…Trong sốsinh địa tầng là một trong những hướng nghiên cứu hiệu là một trong những hướng nghiên cứu hiệu quả.Việc nghiên cứu sinh địa tầng tại Việt Nam hiện nay gồm ba nhóm chính là nghiên cứu về hóa thạch tảo vôi, hóa thạch trùng lỗ Foraminifera và bào tử phấn hoa Sự tổng hợp kết quả dựa trên ba nhóm hóa thạch trên sẽ cho ta bức tranh toàn diện nhất về môi trường trầm tích và cổ khí hậu.Mặc dù đã thực hiện phân tích dịch vụ rất nhiều giếng khoan trong khu vực bể Nam Côn Sơn Nhưng kết quả phân tích chỉ thể hiện rời rạc ở từng giếng khoan cụ thể Nên việc tổng hợp số liệu đã phân tích ở từng
khu vực nghiên cứu là rất cần thiết Do đó, tác giả chọn đề tài “Liên kết địa tầng và
xác định môi trường lắng đọng trầm tích theo phương pháp sinh địa tầng của lô
H bể Nam Côn Sơn” Đề tài nghiên cứu được trình bày lần lượt theo thứ tự như
sau:
Chương 1: Đặc điểm các thành tạo địa chất
- Lịch sử nghiên cứu thăm dò khu vực nghiên cứu
- Đặc điểm các thành tạo địa chất
- Cơ sở dữ liệu trong khu vực nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Tổng quan các phương pháp nghiên cứu sinh địa tầng
- Ứng dụng của các phương pháp nghiên cứu sinh địa tầng
Chương 3: Đặc điểm sinh địa tầng và môi trường lắng đọng trầm tích trầm tích khu vực nghiên cứu
Trang 6- Định tuổi và môi trường cho từng phân vị địa tầng cho từng giếng thuộc khu vực nghiên cứu
- Liên kết giếng và chính xác hóa các ranh giới địa tầng cho khu vực nghiên cứu
- Sự phân bố môi trường tại các thành hệ trầm tích
Trang 7DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU BẢNG
5 1.5 Cột địa tầng tổng hợp khu vực nghiên cứu 19
8 1.8 Bản đồ hệ thống thống đứt gãy khu vực nghiên cứu 27
12 2.4 Bảng phân chia các đới bào tử phấn bể Nam Côn Sơn 36
13 2.5 Các hóa đá vi cổ sinh phân bố theo tuổi khác nhau 38
14 2.6 Bảng phân đới hóa thạch vi cổ sinh bể Nam Côn Sơn 39
15 2.7 Bản ảnh các hóa đá chủ đạo đại diện cho các đới trong thời
kỳ Neogene-Đệ Tứ
41
16 2.8 Bảng phân chia đới hóa thạch tảo vôi ở bể Nam Côn Sơn 42
17 2.9 Phạm vi sử dụng của ba mảng cô sinh để định các môi
18 2.10 Bảng tổng hợp phân chia đới cổ sinh thời kỳ Neogen- Đệ
Trang 819 2.11
Phân loại độ sâu mực nước biển và các yếu tố ảnh hưởng
20 2.12
Sự phân bố của các loại bào tử phấn hoa ở một số môi
21 3.1 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Oliogocen sớm GK H-D-1X 49
22 3.2 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Oligoxen muộn GK H-B-1X 51
23 3.3 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Oligoxen muộn GK H-A-1X 51
24 3.4 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Oligoxen muộn GK H-D-1X 52
25 3.5 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Mioxen sớm GK H-A-1X 54
26 3.6 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Mioxen sớm GK H-B-1X 54
27 3.7 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Mioxen sớm GK H-C-1X 55
28 3.8 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Mioxen sớm GK H-D-1X 58
29 3.9 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Mioxen giữa GK H-A-1X 58
30 3.10 : Đặc điểm cổ sinh trầm tích Mioxen giữa GK H-B-1X 59
31 3.11 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Mioxen giữa GK H-C-1X 60
32 3.12 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Mioxen giữa GK H-D-1X 62
33 3.13 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Mioxen muộn GK H-A-1X 62
34 3.14 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Mioxen muộn GK H-B-1X 63
35 3.15 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Mioxen muộn GK H-C-1X 63
36 3.16 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Plioxen sớm GK H-A-1X 65
37 3.17 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Plioxen sớm GK H-B-1X 65
38 3.18 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Plioxen sớm GK H-C-1X 66
39 3.19 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Plioxen muộn GK H-A-1X 68
Trang 940 3.20 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Plioxen muộn GK H-B-1X 68
41 3.21 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Plioxen muộn GK H-C-1X 69
42 3.22 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Pleistoxen GK H-A-1X 70
43 3.23 Đặc điểm cổ sinh trầm tích Pleistoxen GK H-B-1X 71
Sơ đồ liên kết tuổi của 4 giếng A, B, C, D
49 3.29
Bảng số liệu các độ sâu của nóc các tầng đã được chính xác
50 3.30
Các sơ đồ khái quát môi trường theo từng thời kì phân vị địa tầng được vẽ theo loại môi trường đang hiện hiện ở nóc của thời kì đó
Trang 11Danh sách bảng biểu
1 1.1 Số lƣợng mẫu phân tích của 4 giếng nghiên cứu 29
4 3.3 Số liệu đã chính xác hóa ranh giới bằng CycloLog 83
Trang 12Mục Lục
MỞ ĐẦU 12
1 Tính cấp thiết : 12
2 Mục tiêu và ý nghĩa của nghiên cứu: 12
3 Nội dung nghiên cứu: 12
4 Đối tượng nghiên cứu: Lô H thuộc bể Nam Côn Sơn .13
5 Phương pháp nghiên cứu: 13
6 Cơ sở dữ liệu: 13
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 14
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU 15
1.1 Lịch sử nghiên cứu thăm dò và khai thác dầu khí 15
1.1.1 Giới thiệu đặc điểm vị trí địa lý lô H 15
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu thăm dò và khai thác dầu khí 15
1.2 Đặc điểm các thành tạo địa chất .18
1.2.1 Đặc điểm địa tầng 18
1.2.1.1 Đặc điểm móng trước Đệ Tam 19
1.2.1.2 Hệ tầng Cau-Oligoxen 20
1.2.1.3 Hệ tầng Dừa-Mioxen sớm 21
1.2.1.4 Hệ tầng Thông-Mãng Cầu-Mioxen giữa 21
1.2.1.5 Hệ tầng Nam Côn Sơn-Mioxen muộn 22
1.2.1.6 Hệ tầng Biển Đông-Plioxen-Đệ Tứ 23
1.2.2 Đặc điểm cấu kiến tạo 24
1.2.2.1 Các bề mặt bất chỉnh hợp 24
1.2.2.2 Đặc điểm uốn nếp 24
1.2.2.3 Hệ thống đứt gãy 27
1.2.3 Lịch sử phát triển địa chất 28
1.3 Cơ sở dữ liệu trong khu vực nghiên cứu 29
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Tổng quan các phương pháp nghiên cứu sinh địa tầng .30
2.1.1 Giới thiệu 30
Trang 132.1.2 Phương pháp nghiên cứu bào tử phấn hoa 31
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu hoá thạch trùng lỗ(foraminifera) 36
2.1.4 Phương pháp nghiên cứu hóa thạch tảo vôi 39
2.1.5 Tổng hợp của ba chỉ tiêu nghiên cứu và hình minh họa cho các chỉ tiêu trên 43
2.2 Ứng dụng các phương pháp nghiên cứu sinh địa tầng và xác định môi trường trầm tích 44
2.2.1 Phân tích cổ môi trường: 44
2.2.1.1 Phân tích cổ môi trường biển 44
Hình 2.11: Phân loại độ sâu mực nước biển và các yếu tố ảnh hưởng tới độ sâu của cột nước phân lớp 44
2.2.1.2 Phân tích cổ môi trường lục địa 45
2.2.2 Sinh địa tầng và địa tầng phân tập 46
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM SINH ĐỊA TẦNG VÀ MÔI TRƯỜNG LẮNG ĐỌNG TRẦM TÍCH LÔ H BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN 48
3.1 Định Tuổi Cho Từng Phân Vị Địa Tầng 48
3.1.1 Trầm tích Oligoxen 48
3.1.2 Trầm tích Mioxen 52
3.1.2.1 Mioxen sớm - Hệ tầng Nam Côn Sơn 60
3.1.2.3 Mioxen muộn - Hệ tầng Dừa 52
3.1.3 Trầm tích Plioxen - Hệ tầng Biển Đông 64
3.1.3.2 Trầm tích Plioxen sớm: 64
3.1.3.1 Trầm tích Plioxen muộn :66
3.1.4 Trầm tích Pleistoxen - Hệ tầng Biển Đông 69
3.2 Liên kết địa tầng và hóa thạch cổ sinh lô H bể Nam Côn Sơn 71
3.2.1 Giới thiệu phần mềm Cyclo Log 71
3.2.2 Liên kết địa tầng và chính xác hóa các ranh giới địa tầng bằng phần mềm Cyclo Log và các tài liệu liên quan 77
3.2.2.1 Địa tầng lô H 77
3.2.2.2 Chính xác hóa ranh giới bằng phần mền Cyclolog 80
3.2.2 Sự phân bố môi trường các thành hệ trầm tích 84
Trang 143.2.2.1 Sự phân bố môi trường trong Oligoxen 85 3.2.2.2 Sự phân bố môi trường trong Mioxen 86 3.2.2.3 Sự phân bố môi trường trong Plioxen & Pleistoxen 89
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
- Xác định tuổi địa chất và môi trường lắng đọng trầm tích là một trong những công việc đầu tiên trong công tác định hướng tìm kiếm thăm dò, dự đoán vùng sinh, chứa, chắn, giúp cho việc thăm dò đạt hiệu quả cao nhất
- Trong nghiên cứu phân tầng phân tập, người ta sử dụng các số liệu giải đoán từ địa chấn, tổ hợp các đường cong địa vật lý, thạch học trầm tích Trong số đó có phương pháp sinh địa tầng
- Việc nghiên cứu sinh địa tầng tại Việt Nam hiện nay gồm ba nhóm chính là nghiên cứu về hóa thạch tảo vôi, hóa thạch trùng lỗ Foraminifera và bào tử phấn hoa Sự tổng hợp kết quả dựa trên ba nhóm hóa thạch trên sẽ cho ta bức tranh toàn diện nhất về môi trường trầm tích và cổ khí hậu
- Mặc dù đã thực hiện phân tích dịch vụ rất nhiều giếng khoan trong khu vực bể Nam Côn Sơn Nhưng kết quả phân tích chỉ thể hiện rời rạc ở từng giếng khoan
cụ thể Cho nên việc tổng hợp số liệu đã phân tích ở từng khu vực nghiên cứu là
rất cần thiết Do đó, tác giả chọn đề tài “Liên kết địa tầng và xác định môi
trường lắng đọng trầm tích theo phương pháp sinh địa tầng của lô H bể Nam Côn Sơn”
2 Mục tiêu và ý nghĩa của nghiên cứu:
- Xây dựng nguồn cơ sở dữ liệu khoa học có giá trị cao trong lĩnh vực cổ sinh địa tầng phục vục cho công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí trong khu vực
- Xây dựng cơ sở dữ liệu nền tảng cho các nghiên cứu sau này
3 Nội dung nghiên cứu:
- Xây dựng mặt cắt liên kết về địa tầng và môi trường lắng đọng trầm tích cũng như các hóa thạch chủ đạo dựa trên kết quả minh giải cổ sinh cụ thể sử dụng số liệu về hóa thạch vi cổ sinh, hóa thạch tảo vôi, và bào tử phấn hoa của các giếng khoan trong lô H
Trang 16- Nghiên cứu địa tầng, cổ khí hậu phân chia các chu kỳ trầm tích trong địa tầng các giếng khoan và liên kết các chu kỳ trầm tích giữa các giếng khoan
- Ngoài ra bước đầu liên hệ các đường cong địa vật lý giếng khoan (cụ thể sử dụng đường log gamma ray) nhằm chính xác hóa các bề mặt để làm rõ tính logic
và độ tin cậy từ các số liệu trên
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Thống kê, thu thập các dữ liệu phân tích sinh địa tầng của lô nghiên cứu
- Tổng hợp số liệu, minh giải lại các kết quả phân tích trước đây theo các tiêu chuẩn quốc tế (CoreLabs, Robert Son) và tài liệu cập nhật mới từ các viện nghiên cứu
- Sử dụng hai phần mềm hỗ trợ (StrataBugs v2.0 và CycloLog v2012) để chính xác hóa kết quả minh giải và thể hiện kết quả
- Nghiên cứu sự thay đổi của các tổ hợp hóa thạch nhằm tìm ra các ranh giới tập trầm tích và môi trường
6 Cơ sở dữ liệu:
- Cơ sở dữ liệu sử dụng trong đề tài là các kết quả phân tích cổ sinh được lưu giữ tại Trung tâm Phân tích Thí nghiệm – Viện Dầu khí Việt Nam Việc phân tích các chỉ tiêu cổ sinh trong quá trình tìm kiếm thăm dò được thực hiện khá đầy đủ
ở các giếng khoan
- Các tài liệu liên quan đến địa chấn cũng như đường cong được cung cấp từ các nhà thầu trong quá trình gửi mẫu phân tích
Trang 177 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Xây dựng lại và chính xác hóa hệ thống cổ sinh định tuổi và xác định ranh giới đúng đắn của các thành hệ trầm tích ở bể Nam Côn Sơn Trong đó có phát hiện một số giống loài cho phép lần đầu tiên phân chia Oligoxen thành hai phần là Oligoxen sớm và muộn Đây là cơ sở đúng đắ cho việc áp dụng các lô bên cạnh bể Nam Côn Sơn và có thể áp dụng cho các bể thềm lục địa Việt Nam Xây dựng được sơ đồ phân bố môi trường tích lũy trầm tích
Trang 18CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử nghiên cứu thăm dò và khai thác dầu khí
1.1.1 Giới thiệu đặc điểm vị trí địa lý lô H
Lô nghiên cứu lô H nằm ở phần rìa phía Đông Nam bể Nam Côn Sơn, ngoài khơi Việt Nam(hình 1.1) Vị trí lô nằm giới hạn trong khoảng 7o15’ đến 7o45’ vĩ độ Bắc và 108o30’ đến 109o20’ kinh độ Đông, cách thành phố Vũng Tàu khoảng 390
km
Toàn bộ lô có diện tích khoảng 4,148 km2 Mực nước biển trong phạm vi lô dao động trung bình trong khoảng độ sâu từ 130m đến 400m
Hình 1.1: Sơ đồ vị trí lô H
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu thăm dò và khai thác dầu khí
Sau khi nhà nước ban hành Bộ luật Đầu tư nước ngoài và luật Dầu khí đã có nhiều nhà thầu ký kết các hợp đồng triển khai công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ở
Trang 19thềm lục địa Việt Nam nói chung và bể Nam Côn Sơn nói riêng Tính đến nay, ở bể Nam Côn Sơn các nhà thầu đã tiến hành khảo sát 54.779 km địa chấn 2D và 5.399
km2 địa chấn 3D, đã khoan khoảng 150 giếng khoan thăm dò và khai thác trong bể Nam Côn Sơn
Lô nghiên cứu được tiến hành thăm dò khảo sát đầu tiên vào năm 1988 Các nhà thầu đã tham gia công tác tìm kiếm trong phạm vi lô từ năm 1988 cho đến nay gồm có ONGC, BP, Pearl Energy Limited, Kris Energy và Lundin Petroleum AB
Lịch sử nghiên cứu thăm dò khu vực lô nghiên cứu có thể khái quát như sau: Năm 1988, nhà thầu ONGC kí kết hợp đồng với Petrovietnam thực hiện các hoạt động khảo sát lô 06, 12 và 19 Công tác thu nổ địa chấn 2D đã được ONGC triển khai với 4.532,5 km tuyến địa chấn 2D vào các năm 1991-1992 Sau đó ONGC đã khoan giếng H-B-1Xvào tháng 10/1990 Đối tượng của giếng này là trầm tích vụn tuổi Oligoxen hệ tầng Cau, kết quả giếng khoan có biểu hiện khí nhỏtrong
hệ tầng Cau, tuy nhiên ONGC đã không thử vỉa ở độ sâu này Đối tượng thứ hai giếng khoan hướng tới là tập đá vôi Terumbu, nhưng độ bão hòa hydrocacbon của tầng này là thấp và kết quả thử vỉa cho thấy sản phẩm chỉ có nước
Hợp đồng dầu khí ký kết vào tháng 02 năm 2007 đã phân lô H ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam cho 3 nhà thầu quản lý với tỷ lệ lần lượt là Pearl Energy Limited (33,33%), Kris Energy (33,33%) và Lundin Petroleum AB (33,33%), trong
đó Pearl Energy Limited giữ vai trò nhà điều hành các hoạt động trong lô Trong thời gian điều hành đã tiến hành khảo sát 2,342 km2 địa chấn 3D quy đổi, trong đó năm 2007: 731 km2,năm 2008: 998 km2 và năm 2009: 613 km2 Kết quả minh giải địa chấn đã xác định được các cấu tạo triển vọng là: A, B, D: Từ đó tiến hành khoan
3 giếng khoan thăm dò trên các cấu tạo này:
Giếng H- A-1X: khoan tháng 6/2009 hướng tới đối tượng là tầng chứa cát kết
hệ tầng Dừa và tập đá vôi Tuy vậy giếng khoan lại không gặp được đối tượng
dự kiến ban đầu, chỉ phát hiện một lượng khí nhỏ trong tập cát kết biển sâu Plioxen sớm
Trang 20 Giếng khoan H-C-1X (3/2010) và H-D-1X (6/2010) đều hướng tới đối tượng là tầng chứa cát kết hệ tầng Dừa và Thông-Mãng Cầu Nhưng kết quả cũng tương
tự giống giếng khoan H-A-1X trước đó, giếng H-C-1X cũng chỉ có biểu hiện khí
ở 5m đá cát kết hệ tầng Dừa, giếng H-D-1X thì hoàn toàn khô
Hình 1.2: Vị trí lô và 4 giếng khoan tại lô H
Trang 21Hình 1.3 : Bản đồ cấu tạo móng đi ngang lô H
Hình1.4: Mặt cắt địa chất đi qua lô H tuyến AB
1.2 Đặc điểm các thành tạo địa chất
1.2.1 Đặc điểm địa tầng
Cho tới nay bể trầm tích Nam Côn Sơn đã có một khối lƣợng giếng khoan rất lớn, kể cả giếng khoan thăm dò và khai thác ở nhiều lô khác nhau Kết quả khoan đã làm sáng tỏ hơn bức tranh về địa tầng, thành phần trầm tích, ranh giới của các hệ tầng và chiều dày của chúng Thang địa tầng tổng hợp của khu vực đƣợc thể hiện trên hinh 1.5.Xét theo thứ tự từ già tới trẻ, đặc điểm địa tầng-thạch học của khu vực đƣợc ghi nhận nhƣ sau:
Trang 22Hình 1.5: Cột địa tầng tổng hợp khu vực nghiên cứu
1.2.1.1 Đặc điểm móng trước Đệ Tam
Đá móng ở hầu hết các giếng khoan trong khu vực bắt gặp chủ yếu là đá mác-ma và đá biến chất Đá mác-ma với thành phần chủ yếu gồm granite, granodiorit Đá biến chất thành phần chủ yếu là phylit và đá trầm tích cát bột kết bị biến tinh Ngoài ra, còn đá móng bắt gặp có thể là đá phun trào Tuổi của các thành tạo này có thể là Jura muộn-Creta Tuy nhiên do vắng mặt tầng chắn khu vực nên móng không phải là đối tượng tìm kiếm của các các giếng khoan khu vực
Cát kết hạt nhỏ đến vừa xen kẽ với bột kết, sét kết Sét p hân xen kẽ ít bột kết, cát kết và lớp sét chứa
than và than Cát kết p hân lớp dày hoặc dạng khối xen kẽ một khối lượng nhỏ các lớp bột kết hoặc sét
Cát kết, bột kết và bùn xen lẫn sét kết chứa p hong
p hú hóa thạch biển, gắn kết y ếu hoặc bở rời
Trang 231.2.1.2 Hệ tầng Cau-Oligoxen
Hệ tầng Cau tuổi Oligoxen phủ bất chỉnh hợp trên móng trước Kainozoi và phân bố rộng rãi trong phạm vi của bể, chỉ vắng mặt ở các đới nâng cao Mặt cắt của hệ tầng Cau được chia thành 3 phần chính:
- Phần dưới cùng gặp nhiều cát kết từ hạt mịn đến thô, đôi khi rất thô hoặc sạn kết, cát kết chứa cuội, sạn và cuội kết Cát kết có màu xám sáng, xám phớt nâu hoặc nâu đỏ, tím đỏ, phân lớp dày hoặc dạng khối, xen kẽ một khối lượng nhỏ các lớp bột kết hoặc sét màu xám tới xám tro, nâu đỏ, hồng đỏ chứa các mảnh vụn than hoặc các lớp than
- Phần giữa thành phần mịn chiếm ưu thế Chúng bao gồm các tập sét phân lớp dày đến dạng khối màu xám sẫm tới xám tro, xám đen xen kẽ ít bột kết, cát kết màu sáng, xám sẫm đôi khi phớt nâu đỏ hoặc tím đỏ, khá giàu vôi và vật chất hữu cơ cùng các lớp sét chứa than và than
- Phần trên cùng gồm xen kẽ cát kết hạt nhỏ đến vừa màu xám tro, xám sáng đôi chỗ có chứa glauconit, xen kẽ với bột kết, sét kết màu xám tro đến xám xanh hoặc nâu đỏ
Trầm tích được tích tụ trong pha tách giãn đầu tiên của bể Nam Côn Sơn với nhiều đứt gãy địa phương cắt qua
Đá sét của hệ tầng có cấu tạo phân lớp dày hoặc dạng khối, rắn chắc Ở phần dưới tại những khu vực bị chôn vùi sâu, sét bị biến đổi khá mạnh, dần dần trở thành argilit do bị nén ép mạnh và tái kết tinh một phần các thành phần khoáng vật sét nguyên sinh Đá sét thường chứa hàm lượng vật chất hữu cơ và được coi là tầng sinh, đồng thời nhiều nơi cũng được coi là tầng chắn tốt
Đá cát kết của hệ tầng Cau có độ hạt mịn từ nhỏ (phần trên) hoặc hạt trung bình đến thô, đôi khi rất thô (phần dưới), độ lựa chọn từ trung bình đến kém, hạt bán tròn cạnh đến góc cạnh Đa phần cát kết có thành phần rất đa khoáng, giàu felpat, thạch anh và mảnh đá thuộc loại litharenit felpat và litharenit
Trang 24Các tập cát kết của hệ tầng Cau ở nhiều giếng khoan được coi là các tầng có khả năng chứa trung bình Tuy nhiên tính chất chứa của đá cũng biến đổi mạnh theo
độ sâu và theo khu vực tuỳ thuộc vào đặc tính trầm tích và mức độ biến đổi thứ sinh của đá
1.2.1.3 Hệ tầng Dừa-Mioxen sớm
Đặc trưng thạch học của hệ tầng Dừa là sự xen kẹp của các tập cát kết xen kẽ khá đều các tập sét kết, bột kết mỏng, đôi chỗ có lẫn than mỏng hoặc đá vôi Cát kết, bột kết màu xám sáng, xám lục, hạt mịn, cấu tạo khối Sét kết màu xám sẫm, xám đen đến xám xanh Các lớp sét chứa vôi, hoặc có các lớp than mỏng, giàu vật chất hữu cơ Tỷ lệ cát/sét trong toàn bộ lát cắt nhìn tổng thể là gần tương đương nhau
Hệ tầng Dừa được chia thành 3 phần: phần trên trầm tích hạt mịn chiếm ưu thế, phần giữa trầm tích mịn-thô xen kẹp, tỷ lệ mịn/thô tương đương nhau và phần dưới hạt mịn tiếp tục chiếm ưu thế
Thành phần khoáng vật của cát kết chủ yếu là thạch anh Cát kết có kích thước hạt nhỏ đến rất nhỏ trong phần lớn các lô trung tâm và phía Đông Cát hạt nhỏ đến hạt trung, độ lựa chọn mài tròn tốt, bán góc cạnh đến bán tròn cạnh
Trong thành phần khoáng vật sét ngoài thành phần chính là 2 nhóm khoáng vật hydromica và kaolinit đá vẫn còn chứa một hàm lượng đáng kể (5-10%) nhóm khoáng vật lớp hỗn hợp của Montmorilonit/hydromica Đây là khoáng vật có tính trương nở mạnh, do vậy mà tính chất chắn của các lớp đá sét trở nên tốt hơn rất nhiều và một số tập sét hoàn toàn có khả năng là tầng chắn mang tính địa phương
Nhìn chung các trầm tích hệ tầng Dừa phân lớp trung bình tới dày Trầm tích
có xu thế hạt mịn hướng lên trên là chủ yếu
1.2.1.4 Hệ tầng Thông-Mãng Cầu-Mioxen giữa
Hệ tầng Thông-Mãng Cầu bao gồm các trầm tích lục nguyên, lục nguyên với
đá sét, đá cacbonat có thành phần chủ yếu là cát bột kết và sét kết, sét vôi xen kẽ các thấu kính hoặc những lớp đá vôi mỏng
Trang 25Cát kết phần nhiều hạt nhỏ, đôi khi hạt trung, màu xám lục đến xám xanh, độ lựa chọn và mài tròn trung bình đến tốt, phân lớp dày đến dạng khối Phần lớn cát đều chứa glauconit, pyrit, siderit và nhiều hóa đá biển Các tập cát có khả năng chứa vào loại tốt
Đá sét kết màu xám tro, xám lục đến xám xanh, gắn kết trung bình yếu, còn
có khả năng tan được trong nước do thành phần của đá ngoài thành phần chính là hydromica và kaolinit còn có chứa một lượng các khoáng vật lớp hỗn hợp illit/montmorilonit (10-20%) đặc trưng cho trầm tích biển
Tại các khu vực nâng cao ở trung tâm và đặc biệt tại các lô thuộc phía Đông của bể đá cacbonat phân bố khá rộng rãi Đá có màu trắng, trắng sữa, dạng khối dày chứa phong phú san hô và các hóa đá động vật khác được thành tạo trong môi trường biển mở của thềm lục địa bao gồm đá vôi ám tiêu và các lớp đá vôi dạng thềm phát triển tại những phần sườn thấp của các đới nâng
Ngoài ra, trong tập đá cacbonat cũng gặp xen kẽ các lớp đá vôi dolomit hoặc dolomit dạng hạt nhỏ do kết quả của quá trình dolomit hóa một phần hoặc hoàn toàn của cả 2 loại đá vôi kể trên Đá cacbonat hệ tầng Thông-Mãng Cầu bị tái kết tinh mạnh hơn và bị dolomit hóa mạnh hơn so với đá cacbonat của hệ tầng Nam Côn Sơn nằm trên Ngoài đặc điểm khác biệt về các đới cổ sinh thì mức độ dolomit hóa
và tái kết tinh là điểm khác biệt duy nhất về mặt thạch học để có thể phân biệt được giữa các tập cacbonat
Theo phân loại đá cacbonat,trong hệ tầng Thông-Mãng Cầu chủ yếu là đá packston và wackeston (gặp nhiều trong đá vôi ám tiêu), đá mudstone và ít wackeston (gặp nhiều trong đá vôi dạng nền Thành phần vụn chính gồm tàn tích sinh vật, ít hơn có intraclast, pelet và các vật liệu khác
Hệ tầng Thông-Mãng Cầu nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Dừa
1.2.1.5 Hệ tầng Nam Côn Sơn-Mioxen muộn
Trầm tích bao gồm chủ yếu là cát kết hạt mịn, xám trắng xen các lớp bột kết, sét kết giàu cacbonat và các lớp đá vôi Trầm tích của hệ tầng Nam Côn Sơn có sự
Trang 26biến đổi tướng mạnh mẽ giữa các khu vực khác nhau của bể Ở rìa phía Bắc đá của
hệ tầng gồm chủ yếu là lục nguyên gồm sét kết, sét vôi màu xám lục đến xám xanh, gắn kết yếu cùng các lớp cát bột kết chứa vôi, đôi khi gặp một số thấu kính hoặc những lớp đá vôi mỏng chứa nhiều mảnh vụn lục nguyên Đá cát kết ở đây có độ hạt từ nhỏ đến trung, độ lựa chọn và mài tròn tốt, chứa hoá đá động vật biển và glauconit được gắn kết trung bình bởi xi măng cacbonat có tỷ lệ cao Ở các lô phía trung tâm mặt cắt gồm đá cacbonat và đá lục nguyên xen kẽ khá rõ rệt Tại một số khu vực nâng cao về phía Đông - Đông Nam đá cacbonat lại chiếm hầu hết trong mặt cắt của hệ tầng
Hệ tầng Nam Côn Sơn được tích tụ trong pha tách giãn yếu của thời kỳ sau tạo rift và trên bản đồ kiến tạo có thể nhận thấy các đứt gãy hầu như ngừng hoạt động ở nóc của hệ tầng này
Hệ tầng này nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Mãng Cầu
1.2.1.6 Hệ tầng Biển Đông-Plioxen-Đệ Tứ
Hệ tầng Biển Đông không chỉ phân bố trong khu vực lô và bể Nam Côn Sơn
mà còn phân bố trong toàn khu vực Biển Đông Hệ tầng này nằm bất chỉnh hợp trên
hệ tầng Nam Côn Sơn
Hệ tầng biển Đông được hình thành trong điều kiện kiến tạo đã ổn định, sau pha tạo rift Tuy nhiên, một vài đứt gãy chính trong khu vực bao gồm các đứt gãy bao quanh cấu tạo Tường Vi là một minh chứng chỉ ra sự tái hoạt động kiến tạo trong thời gian gần đây
Hệ tầng Biển Đông được chia thành hai phần:
Phần dưới hệ tầng Biển Đông (tuổi Plioxen sớm): được hình thành trong thời kỳ biển tiến Sét biển sâu chiếm ưu thế ở hệ tầng này trong hầu hết các giếng khoan khu vực và là tầng chắn khu vực quan trọng
Phần trên hệ tầng Biển Đông (tuổi Plicen muộn-Pleistocen) được hình thành trong giai đoạn lượng trầm tích lắng đọng tăng đáng kể Nguồn vật liệu trầm tích
từ thượng nguồn Sông Mê Kông vận chuyển nhanh xuống thềm lục địa Đặc
Trang 27điểm trầm tích bao gồm cát kết màu xám, bột kết và bùn xen lẫn sét kết chứa phong phú hóa thạch biển, trầm tích gắn kết yếu hoặc bở rời Sự hiện diện của glauconit và các hóa thạch sinh vật biển cho thấy trầm tích được thành tạo trong điều kiện biển
1.2.2 Đặc điểm cấu kiến tạo
` Lô nghiên cứu thuộc ở phần rìa phía Đông Nam bể Nam Côn Sơn do đó đặc điểm cấu kiến tạo của lô H liên quan và không tách rời các đặc điểm kiến tạo của phần rìa phía Đông Nam và bể Nam Côn Sơn, thềm lục địa phía nam Việt Nam
1.2.2.1 Các bề mặt bất chỉnh hợp
Bể Nam Côn Sơn tồn tại những bề mặt bất chỉnh hợp lớn phản ánh sự gián đoạn trầm tích hay thay đổi chế độ địa động lực trên toàn bộ khu vực rộng lớn
Bề mặt bất chỉnh hợp giữa thành tạo trầm tích Kainozoi và đá móng trước
Kainozoi: Đây là một mặt bất chỉnh hợp lớn cho toàn bộ bể, là một bằng chứng
cho giai đoạn gián đoạn bóc mòn mạnh mẽ từ Paleoxen-Eoxen sớm
Bề mặt bất chỉnh hợp giữa thành tạo trầm tích tuổi Oligoxen và Mioxen sớm:Mặt
bất chỉnh hợp này phản ánh sự thay đổi chế độ địa động lực từ tách giãn sang nén
ép vào cuối Oligoxen
Bề mặt bất ch ỉnh hợp giữa thành tạo trầm tích tuổi Mioxen giữa và Mioxen
muộn: Mặt bất chỉnh hợp này phản ánh sự thay đổi chế độ địa động lực từ sụt lún
nhiệt sang chế độ nén ép vào cuối Mioxen giữa
1.2.2.2 Đặc điểm uốn nếp
Đặc điểm uốn nếp được thể hiện trên các tổ hợp thạch kiến tạo khác nhau:
Tổ hợp thạch kiến tạo rìa lục địa thụ động tuổi Mioxen muộn-Đệ tứ không bị uốn nếp, tổ hợp này là một đơn nghiêng đổ về phía Đông và Đông Bắc
Tổ hợp thạch kiến tạo tách giãn kiểu rift kết hợp với trượt bằng và kết thúc sụt lún do nhiệt Mioxen sớm-Mioxen giữa bị uốn nếp cục bộ dọc theo đứt gãy do sự dịch chuyển của khối móng bên dưới vào cuối Mioxen giữa
Trang 28Hình 1.6: Mặt cắt địa chất tuyến B-B’
Trang 29Hình 1.7: Mặt cắt địa chất tuyến II-II’
Trang 301.2.2.3 Hệ thống đứt gãy
Bể Nam Côn Sơn nằm ở nơi gần như giao thoa giữa hai chế độ kiến tạo Phía Tây chịu ảnh hưởng của chế độ kiến tạo trượt bằng, phía Đông chịu ảnh hưởng của chế độ kiến tạo trong quá trình tách giãn đáy Biển Đông( 36-15,5 triệu năm) Điều
đó đã làm cho bể có cấu trúc địa chất phức tạp Bể hình thành và bị khống chế bởi các hệ thống đứt gãy chính sau:
Hệ thống đứt gãy theo phương á kinh tuyến:
Hệ thống đứt gãy theo phương Đông Bắc-Tây Nam
Hệ thống đứt gãy theo phương Đông-Tây
Tại khu vực lô nghiên cứu và phần Đông Nam của bể Nam Côn Sơn, phổ biến là hệthống đứt gãy theo phương Đông Bắc-Tây Nam Các đứt gãy thuộc hệ thống này có chiều dài nhỏ hơn các đứt gãy của hệ thống á kinh tuyến Hệ thống đứt gãy này hình thành do hoạt động tách giãn từ trước Kainozoi, phát triển chủ yếu đến hết Mioxen giữa và một số ít phát triển đến cuối Mioxen muộn
Hình 1.8: Bản đồ hệ thống thống đứt gãy khu vực nghiên cứu
Trang 311.2.3 Lịch sử phát triển địa chất
Bể Nam Côn Sơn là bể tách giãn, phát triển vào nguyên đại Kainozoi cùng với sự hình thành trục tách giãn biển Đông, bao gồm hai pha hoạt động tách giãn chính với cơ chế căng giãn khác nhau:
- Pha căng giãn thứ nhất: có trục tách giãn theo phương Bắc-Nam, là kết quả của
sự hút chìm mảng biển Đông cổ xuống dưới mảng Borneo
- Pha căng giãn thứ hai: thể hiện rõ hơn sự trượt bằng theo phương Đông Bắc-Tây Nam của Biển Đông xảy ra chủ yếu vào Oligoxen- Mioxen sớm Sau đó từ Mioxen giữa, sụt lún nhiệt diễn ra đến hiện nay
- Do sự xô đẩy xuống phía Đông Nam của khối Đông Dương dẫn đến trượt bằng xuống phía Nam của cánh Tây Nam tạo nên hàng loạt đứt gãy kinh tuyến ở khu vực này(đứt gãy sông Hậu, Đồng Nai)
Các giai đoạn hình thành và phát triển bể Nam Côn Sơn có thể khái quát như sau:
khu vực nhìn chung bình ổn, xảy ra quá trình bào mòn và san bằng địa hình cổ tạo nên bán bình nguyên trong khu vực Trong giai đoạn này hình thành các trầm tích lục địa lấp đầy các chỗ sụt lún tại chỗ
giai đoạn chính thành tạo bể với quá trình mở rộng biển Đông về phía Đông và hoạt động tích cực của hệ thống đứt gãy Ðông Bắc -Tây Nam đã làm xuất hiện địa hào trung tâm của bể kéo dài theo phương Ðông Bắc-Tây Nam và dọc theo các đứt gãy hoạt động phun trào đã xảy ra Tiếp theo là giai đoạn sụt lún, mở rộng cuối Mioxen sớm Đầu Mioxen giữa vẫn là sự tiếp tục quá trình sụt lún mở Vào cuối Mioxen giữa là giai đoạn nén ép, nghịch đảo kiến tạo hình thành một
bất chỉnh hợp khu vực mang tính toàn bể
Đầu giai đoạn này(Mioxen muộn- Oligoxen sớm) hình thành các tập trầm tích lục địa là chính Các lớp phân bố xiên chéo, biến tướng nhanh, thay đổi bề dày cũng nhanh Các trầm tích lục địa và đầm lầy hóa mạnh mang đặc điểm than và
Trang 32sét than delta Vào Mioxen sớm đặc điểm đầm lầy than càng phát triển mạnh có xen kẽ các pha biển tiến ngắn Ngoài ra phía Đông Nam bể còn bị lôi cuốn xuống Đông Nam bởi đới hút chìm Borneo (26-16 tr.năm) làm cho bể Nam Côn
Sơn mở rộng dần ở phần Đông Nam bể
đoạn nén ép, nghịch đảo kiến tạo hình thành một bất chỉnh hợp khu vực mang tính toàn bể Giai đoạn này xảy ra quá trình sụt lún mở rộng thứ hai với xu thế
cả thềm lục địa nghiêng dần về phía Đông và Đông Bắc trong Plioxen Hoạt động kiến tạo, đứt gãy yếu dần, thay bằng chế độ kiến tạo oằn võng và lún chìm nhiệt
Đây là giai đoạn sụt lún và mở rộng bể là chính tạo nên chế độ trầm tích biển nông và biển sau Ở vùng Nam rìa lại diễn ra quá trình bào mòn, cắt gọt
1.3 Cơ sở dữ liệu trong khu vực nghiên cứu
Sử dụng 4 giếng A, B, C, D lần lƣợt thuộc các cấu tạo A, B, C, D thuộc lô H bể Nam Côn Sơn
STT Giếng Cấu
tạo
Vi cổ sinh foramninifera
Bào tử phấn
Trang 33CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan các phương pháp nghiên cứu sinh địa tầng
2.1.1 Giới thiệu
Sinh địa tầng là một trong những nhóm ngành nghiên cứuvề địa tầng phân tập Sinh địa tầng bắt đầu được nghiên cứu từ đầu thế kỷ 19,với mục đích sử dụng các tổ hợp hóa thạch để liên kết, minh giải các lớp đất đá chứa chúng
Mặc dù chuyên ngành địa chấn địa tầng sau khi ra đời đã có những phát triển vượt bậc, trở thành công cụ liên kết hiệu quả trong địa tầng phân tập Nhưng Sinh địa tầng cùng các công cụ xác định tuổi đất đá khác như phương pháp đồng vị phóng xạ và từ địa tầng vẫn giữ một vai trò quan trọng cung cấp maker cho các kết quả liên kết địa chấn Đồng thời, ở những vùng có cấu trúc địa chất phức tạp nếu không có sự trợ giúp của sinh địa tầng địa chấn địa tầng cũng ứng dụng rất giới hạn
Có thể nói tất cả các hóa thạch đều có khả năng ứng dụng trong địa tầng phân tập, tuy nhiên để xác định chính xác các ranh giới tập và các bề mặt ngập lụt cực đại, ta cần các biến cố hóa thạch có ý nghĩa về thời địa tầng càng gần nhau càng tốt Những nhóm hóa thạch có ích nhất là các nhóm đặc biệt, có sự thay đổi nhanh
về hình dạng tạo thành đa dạng sinh học Quan trọng là chúng được phân bố rất rộng rãi, do vậy mà việc liên kết có thể thực hiện được từ bể này sang bể kia Mặt khác, ngoài sự phân bố rộng rãi thì số lượng của chúng cũng rất đông đảo và sự cố mặt của chúng là một biến cố thể dùng để liên kết địa tầng
Trong nghiên cứu dầu khí thường sử dụng các loài hóa thạch cỡ nhỏ hơn vài milinmet đến khoảng 4 micromet Các nhóm hóa thạch được sử dụng nhiều nhất bao gồm: nhóm vi hóa thạch như foraminifera, ostracode, diatoms, capionellis, radiolaria nhóm hóa thạch tảo vôi nano như coccoliths và discoasters, bào tử phấn hoa như dinoflangellates, chitinozoa, acritarchs, pollen và spores Cái lợi khi sử dụng các hóa thạch nhỏ là có thể dùng chúng để xác định cổ môi trường
Trang 34Các hóa thạch động vật hay thực vật còn tồn tại trong trầm tích phụ thuộc chủ yếu vào khoáng vật, vật chất hữu cơ tạo dựng nên sinh vật, môi trường chôn vùi
và lịch sử biến đổi thứ sinh sau khi chôn vùi Sự vắng mặt các maker hóa thạch chủ đạo dự kiến có thể do chúng không tồn tại hoặc chúng không được bảo tồn, đó là giới hạn chung và khó khăn chính trong nghiên cứu nghiên cứu sinh địa tầng và minh giải địa tầng
Tại Việt Nam, sinh địa tầng chủ yếu nghiên cứu thông qua ba phương pháp.Bao gồm phương pháp nghiên cứu bào tử phấn hoa; Phương pháp nghiên cứu hóa thạch trùng lỗ vi cổ sinh foraminifera và phương pháp nghiên cứu hóa thạch tảo vôi Sau đây là trình bày lần lượt từng phương pháp như sau:
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu bào tử phấn hoa
Palynology, chuyên ngành chuyên nghiên cứu về các loại bào tử phấn hoa, là một trong những công cụ hữu dụng nhất khi ta cần tái lập cổ môi trường trong nghiên cứu sinh địa tầng Do đặc điểm lớp vỏ cứng bên ngoài, các hạt bào tử, phấncó thể được bảo tồn trong thời gian hàng ngàn năm ở điều kiện thuận lợi.Thông qua chúng, các nhà bào tử phấn có thể nhận dạng rất nhiều các loại thực vật đã từng hiện diện trong quá khứ Và tùy loại thực vật có môi trường sống đặc trưng và khoảng thời gian xuất hiện, các nhà nghiên cứu tìm hiểu môi trường tạo lập tại đó trong quá khứ
Nhìn ở một khía cạnh rộng hơn, chuyên ngành nghiên cứu bào tử phấn có thể định danh được các xu hướng lớn của môi trường.Các hạt bào tử,phấn được gió và nước vận chuyển mang đi khắp nơi với số lượng nhiều đảm bảo cho quá trình sinh sản thực vật Chúng trải dài khắp các môi trường từ núi cao, sông, hồ, biển cả Các giống tảo thực vật nước ngọt và nước lợ gọi chung là nhóm dinoflageta và các nhóm nấm cũng là một trong số các nhóm nghiên cứu của bào tử phấn
Phương pháp phân tích và nghiên cứu
Trang 35- Hóa thạch bào tử phấn hoa được đếm và ghi lại số lượng hiện diện trên toàn bộ
mẫu.Sau đó lập bảng tổng kết, dựa vào số lượng hóa thạch, loại hóa thạch mà đưa ra kết quả phân tích về môi trường
- Ngoài việc nghiên cứu phân tích sự hiện diện số lượng loài, các nhóm loài xuất
hiện trong mẫu, các nhà phân tích bào tử phấn còn nghiên cứu đã tiến hành kết nối giữa sự thay đổi màu của kerogen, thành tạo và trường thành của hydrocarbon, những tiêu chuẩn này được ứng dụng rộng rãi và là khía cạnh quan trọng để đánh giá sự trường thành của vật liệu hữu cơ cho sinh ra các loại hydrocacbon tương ứng
- Trong quá trình soi mẫu người phân tích sẽ phân loại các nhóm hoá thạch khác
nhau bao gồm: nhóm phấn, nhóm bào tử, nhóm khoả tử, nhóm tảo
- Dựa vào các tập hợp hóa thạch sẽ phân chia hóa thạch ra các nhóm theo độ tuổi,
môi trường lắng đọng trầm tích Dựa vào các tập hợp hóa thạch sẽ phân chia hóa thạch ra các nhóm theo độ tuổi, môi trường lắng đọng trầm tích
- Sử dụng chủ yếu dựa vào tài liệu phân đới của bào tử phấn theo ông Morley R.J
(1977,1991), Germuraad D.J và một số tác giả khác (1968) và phần phụ thêm của Viện Dầu Khí Việt Nam ( lưu hành nội bộ)
Trang 36-
Hình 2.1: Một số hình dạng bào tử và phấn hoa thường gặp
Trang 37Hình 2.2: Các dạng hóa thạch chủ đạo tuổi Neogen- Đệ tứ
Trang 38Hình 2.3: Bảng mô tả về mối liên hệ của các loài thực vật, môi trường trầm tích và
các tập hợp bào tử phấn ở khu vực Đông Nam Á
Trang 39Fl semilobata subzone
S laurifolia (A,B,C, C/D) Anthocerisporites Strobilanthes Altingia
S griffithii Dacrydium
F meridionalis (common)
F meridionalis(rare) Camptostemon ) Eugeissona insignis
Echiperiporites estelae Longetia, Arenga type Eugessona minor
S areolaris Cicatricosisporites dorogensis Meyeripollis naharkotensis Jussiena spp
Lycopodiumsporites neogenicus Verrutricolporites pachydermus Gothanipollis basensis Sapropelic facies (for Mekong basin ) Crassoretitriletes sp.(common) Verrutricolporites pachydermus ) Sapropelic facies (for Mekong basin )
Florschuetzia trilobata
F ovalis
F levipoli (transitional)
S laurifolia (LAD)
Caryapollenites Alnipollenites (common) Racemonolpollenites hians
Alnipollenites (rare)
S areolaris
Acrostichum aureum Stenochlaena palustris Proteacidites dehaani
Spinizonocolpites spp
Foveotriletes margaritae Proxapertites group Logavertites group Pentapollis group Echitriporites trianguliformis Triatrio-pollenites excelsus
Hình 2.4 Bảng phân chia các đới bào tử phấn bể Nam Côn Sơn
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu hoá thạch trùng lỗ(foraminifera)
Trùng lỗ (tiếng La tinh gọi là Foraminifera) là nhóm sinh vật đơn bào thuộc ngành nguyên sinh động vật (Protozoa), lớp Trùng thịt(Sarcodina) Chúng bắt đầu xuất hiện trên bề mặt Trái Đất tương đối sớm, từ Cambri cách đây khoảng 540 ngàn năm và tồn tại phát triển liên tục từ đó tới nay.Khác với phần lớn các động vật đơn
Trang 40bào khác là hầu hết Trùng lỗ đều có vỏ cứng bảo vệ thân mềm và các vỏ cứng này
để lại nhiều di tích trong các lớp đất đá có tuổi khác nhau gọi là hóa thạch Trùng lỗ
Có khoảng 4000 giống loài đang sinh sống trên các đại dương Trong số đó
có khoảng 40 giống loài trôi nổi Phần sót lại của chúng được giữ lại trong cát, bùn, các lớp đất đá và thực vật dưới đáy đại dương Các giống loài Trùng lỗ Foraminifera được tìm thấy trên toàn bộ môi trường biển, từ môi trường bãi triều đến các lớp vực sâu ở đại dương, từ vùng nhiệt đới đến các miền cực Một số chỉ sinh sống tại vùng biển sau, số khác thì chỉ tìm thấy ở các dạng san hô,hoặc ở khu vực nước lợ hoặc ở đầm lầy bãi triều Và đây chính là những tổ hợp(phức hệ) hóa thạch đặc trưng và chỉ đạo địa tầng
Việc nghiên cứu hóa thạch Trùng lỗ Foraminifera giúp ích rất nhiều cho việc phát triển hiểu biết về sự đa dạng của sự sống, ngoài ra rất hữu dụng trong sinh địa tầng, cổ khí hậu, cổ địa chất và thăm dò dầu khí Nhận dạng chúng chủ yếu thông qua đặc điểm của lớp vỏ bên ngoài Cấu trúc vỏ của hóa thạch Trùng lỗ có cấu tạo
từ đơn giản đến phức tạp.Mỗi vỏ là một cá thể.Mỗi vỏ có thể có 01 phòng đến nhiều phòng.Các giống loài phân biệt thông qua các đặc điểm chính như loại vỏ,hình dáng
vỏ, các tô điểm mặt ngoài của vỏ và miệng vỏ(vỏ cát, vỏ kitin, vỏ vôi ), số phòng, hình dáng phòng
Phương pháp phân tích và nghiên cứu
- Sử dụng các hóa chất và thiết bị chuyên dụng để tách hóa đá vi cổ sinh ra khỏi đất
đá
- Các hóa đá vi cổ sinh sau khi đã được tách ra từ đất đá Sử dụng kính hiển vi soi nổi xác định chính xác cấu tạo, kiến trúc, kích thước, hình dạng, tô điểm… trên cơ sở so sánh với các atlas, mẫu chuẩn của các giống loài vi cổ sinh sống trôi nổi và bám đáy trong lịch sử địa chất để xác định giống loài
- Dựa vào tổ hợp hóa đá đã được nhận dạng để xác định tuổi và môi trường vì từng
tổ hợp giống loài hóa đá khác nhau sống trong điều kiện môi trường và ở thời gian khác nhau