Việc phục hồi truyền thống thông qua lễ hội và thương mại hóa những địa danh linh thiêng thành điểm thu hút khách du lịch đã trở thành cách đáp ứng lại sự toàn cầu hóa về tiêu th[r]
Trang 1CHÍNH TRỊ VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI LÀNG
Ở HÀ NỘI
Clioi Ho rim*
ỉ Phuc hồi lễ hôi cổ truyền ở Viêt Nam
Ngày nay, các lễ hội đang nở rộ ớ Việt Nam Không thể đếm hết được số lượng các lễ hội từ lễ hội nhở cấp làng đến lễ hội cấp liên vùng hay quốc gia Vào năm 2000, riêng tại Hà Nội đã có tới 113 nghi lễ thờ thành hoàng được tổ chức (Lê Trung Vũ và các tác già khác, 2001) số lượng các lễ hội ngày càng tăng, và dự kiến hàng năm sẽ có ít nhất 200
lễ hội làng được tổ chức ở thủ đô mới vì tinh Hà Tây cũ đã được sát nhập vào Hà Nội Chúng ta thường bắt gặp các hội làng với hàng nghìn người tham dự Các chùa nồi tiếng như chùa Hương (Hà Nội) và đền Bà Chúa Xứ (An Giang) mồi năm thu hút hàng triệu người hành hương Hầu hết các hội làng ở Việt Nam đều liên quan đến tôn giáo phô thông, Những thay đổi về kinh tế xã hội gần đây đã làm xuất hiện thêm nhiều
loại hình lễ hội mới Neu bạn ờ í là Nội với tư cách là bạn của một người
Hà Nội chứ không phải là khách du lịch thì bạn có thể được chứng kiến các lễ hội cổ truyền hầu như hàng ngày
Các sự kiện do chính phu tổ chức cũng thu hút rất nhiều người Ví
dụ như Giỗ tổ Hùng Vương, vị vua sáng lập nước, và lễ hội gò Đống Da
- lễ hội tưởng nhớ chiến thắng giặc Thanh của vua Quang Trung bao gồm một loạt các nghi lề do các tổ chức chính phu tổ chức Các sự kiện trang trọng này được quảng cáo trên báo chí và trên truyền hình Bài phát biểu khai mạc buổi lễ do quan chức đứng đầu nhà nước trình bày Tính đại chúng và công khai giúp khơi dậy sự quan tâm của công chúng,
* PGS TS Nhân học, Viện Nghiên cứu Đôno Á Sogang (SIEAS), Đại học Sogang, Seoul, Màn Quốc.
Trang 2và như vậy, đó là một cơ hội quan trọng để người dân thực hành tín ngưỡng cá nhân của mình.
Các sự kiện tôn giáo không chỉ gồm có các nghi lỗ tôn giáo trang nghiêm mà còn bao gồm các buổi biếu diễn nghệ thuật và trò chơi Người dân rất thích các trò chơi như chọi gà và cờ ở những địa điểm tổ chức lễ hội Các nghệ sĩ ưu tú trình bày các bài dân ca chèo, tu ồ n g Kèm theo đó, người ta cũng tố chức các sự kiện không hề mang hơi hướng chú nghĩa siêu tự nhiên và duy linh như thi múa hát, thi người đẹp hay các chương trình ảo thuật Vì những người buôn bán có xu hướng đến những nơi có đông người, những nơi tố chức các sự kiện này còn trớ thành một ngôi chợ Thêm vào đó, tầm quan trọng của các sự kiện này kéo theo việc chi tiêu tăng lên rất nhiều Người ta bỏ ra rất nhiều tiền để xây dựng và sửa chữa những địa điểm tổ chức các sự kiện
đó, từ đền lớn đến án thờ nhỏ, để an ủi các linh hồn lạc lối và làm hài lòng các vị thần linh Sự đa dạng hóa cách thể hiện sự tín ngưỡng và nghi lễ của công chúng cũng làm phát sinh nhiều chi phí mới
Nghiên cứu này chủ yếu hướng tới việc giải thích cách các lề hội
cổ truyền được phục hồi ở Việt N am 1 Nghiên cứu tập trung vào “nhà nước”, “thị trường” và “truyền thống” - những yếu tố cơ bản và khó hiểu đế giải thích bối cảnh chính trị văn hóa cùa “lễ hội”2
II Nhà nước và lễ hôi
Các chính sách và quy định của nhà nước có ảnh hưởng gì đến lễ hội quần chúng? Sự phục hồi các phong tục truyền thống chắc hẳn chịu
sự ảnh hường mạnh mẽ bời nhừng thay đổi của thời quá độ sau cải cách
1 Nghiên cứu này được Quỹ Nghiên cứu, Đại học Sogang tài trợ.
Gần đây, nghiên cứu về tôn giáo và nghi lễ ở Việt Nam đã được tiến hành Phần lớn các nghiên cứu hiện nay về thực hành nghi lễ của Việt Nam tập trung vào việc nghi lễ
có mối liên quan thế nào với biến đổi kinh tế và chính trị kế từ khi nhà nước thực hiện chính sách đồi mới (Endres 1999; Lương 1993, 1994) Cụ thể, ngày càng có nhiều nghiên cứu đề cập đến các lễ hội làng và các chuyến đi lễ dựa trên các nghiên cứu dân tộc học Những nghiên cứu này cố gẳng giải thích sự phục hồi nghi lề trong bối cảnh lịch sử và văn hóa địa phương (Kleinen 1999; Malarney 1996b, 2002; Taylor 2004) Ngoài ra, có nhiều nghiên cứu mỏ tả nghi lễ dân sự với những mối quan hệ nhà nước-xã hội hay động lực văn hóa-xã hội trong cộng đồng địa phương (Choi 2007; Trương 2001).
Trang 3chính trị Người dân có dược các hoạt động tôn giáo phong phú là do các quy định nới lỏng của nhà nước Nhà nước quan tâm đến phát triển kinh tế và ôn định chính trị hơn so với biến dôi của hệ tư tường xã hội chủ nghĩa, vì thê nhà nước đă nới lòng quản lý đôi với việc cử hành nghi
lề của địa phương1
Tuy nhiên, nhiều việc trái với tư tưởng chính thống của nhà nước thường xuyên xảy ra trong đời sống hàng ngày của người dân địa phương suốt từ thời kỳ trước cải cách2 Chính phu chưa thành công trong việc lập kế hoạch, tô chức, triển khai và quản lý các phong tục truyền thống và những lực lượng đối kháng trong xã hội tác động đến xã hội nhiều hơn chính các chính sách cua chính phủ3 Điều này cũng cho thấy rằng các yêu cầu chính trị từ bên dưới và hàng ngày của cấp địa phương có ảnh hường nghiêm trọng dến các chính sách cải cách của nhà nước4 Các giá trị truyền thống và quan hệ xã hội được duy trì một cách vững vàng và không chịu ảnh hướng nhiều từ cuộc cách mạng Dù cuộc cách mạng dân tộc đã được thực hiện thành công ớ một mức dộ nhất định, việc đó không làm xáo trộn quan hệ xã hội truyền thống đòi hỏi người dân phải tuân theo các nghĩa vụ đạo đức
1 Lương, Văn Hy 1993 "Economic Reíorms and the Intensiíìcation ()f Rituals in Two Northern Vietnamese Villages, 1980-1990," (Cái cách kinh tế và sự tăng cường nghi
lề tại hai ngôi làng ở miền Bấc Việt Nam, 1980-1990), Borịe Ụunggren (chủ biên),
The Cha/lenge o f Reform in ỉndochina (Thách thức cùa cải cách ở Đông Dương), Cambridge: Viện Phát Triền Ọuốc Tế Harvard, tr 259.
2 Malarney, Shaun K I996b "The Limits o f "State Functionalisrn" and the Reconstruction o f Funerary Ritual in Contemporary Northern Vietnam," (Những giới hạn của “thuyết chức năng nhà nước” và việc xây dựng lại miền Bac Việt Nam đương đại) American Ethnologist (Tạp chí Nhà dân tộc học Hoa Kỳ) 23 (3), tr 543-544 ' Woodside, Alexander 1997 "The Struggle to Rethink the Vietnamese State in the Era o f Market Economics," (Cuộc đấu tranh đế tư duy lại về nhà nước Việt Nam troníì thời kỳ kinh tế thị trường) Brook Timothy và Hy V Luong (chủ biên) Cuỉture and Economy (Vãn hóa và Kinh tế) Ann Arbor: University o f Michigan Press, tr 71-74.
4 Kerkvliet, Benedict J Tria 1995 "Rural Society and State Relations," (Xà hội nông thôn và nhừng mối quan hệ xã hội) trong Benedict J Tria Kervliet và Doug J Porter (chú biên) Vietnam's Rural Transformaíion (Sự biến đối của nông thôn Việt Nam) Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore: Westview Press, tr 65-96.
Kerkvỉiet, Benedict J Tria 2005 The Poxver o f Everyday Politics: How Vietnamese Peasanís Trans/ormed National Poỉicy (Sức mạnh của chính trị hàng ngày: Những người nông dân Việt Nam biến đồi chính trị quốc gia thế nào), ỉthaca và London, Báo của Đại học Cornell.
Trang 4Ngược lại, chúng ta cũng cần lưu ý ràng nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc biến đổi nền văn hóa truyền thống Nhà nước chủ động can thiệp vào các hoạt động nghi lễ của xă hội (Abuza 2001: 183-190, Endres 1999; Hồ Tài 1995; Malarney 1996a; Marr 1986) Sau năm 1954, nhà nước tiếp tục tiến vế phía trước với cài cách lễ hội cô truyền như một phần của công cuộc hiện đại hóa xã hội chù nghĩa Đó là
“chiến dịch Xây dựng dời sống mới” 1 “Văn hóa” được xem là một trong ba mặt trận, bên cạnh kinh tế và chính trị, trong kỷ nguyên cách mạng xã hội chủ nghĩa Ba nguyên tắc “dân tộc hóa”, “đại chúng hóa”
và “khoa học hóa” tạo thành tư tưởng chủ đạo trong công cuộc “văn hóa mới” (Trường Chinh 1985) Đáng Cộng sản phân biệt các yếu tố cấu thành “văn hóa” thông qua các chương trình nghị sự có chọn lọc để nâng cao tư tưởng của nhà nước, và loại bỏ các yếu tố “phong kiến”,
“mê tín dị doarT, “lãng phí” và “lạc hậu” Điều này nhằm tạo ra các mô hình mới trong việc theo đuồi chủ nghĩa xã hội, bàng cách cấm văn hóa
“phản khoa học” Nhà nước đã chuẩn hóa các nghi lễ dân gian và cố gẳng tái tạo lại các giá trị và quan hệ xã hội được tạo ra thông qua nghi
lễ Nhà nước cách mạng bắt đầu kiềm soát những địa điểm thiêng và cố gắng trần tục hóa các địa điểm này2
Bằng cuộc cách mạng, Đảng nghicm cấm tổ chức các nghi lễ phong kiến trong các đền chùa ở làng quê kể từ Cải cách ruộng đất (1955-1956) ' Đền chùa ở quê bị biến thành kho hợp tác xã, phân xưởng
và chuồng trâu bò hay làm nơi họp cho đảng viên hay cán bộ địa phương Chính phủ cố gắng ngăn cấm nạn bói toán bàng lịch âm, cho rằng việc bói toán này làm cản trở việc sản xuất của hợp tác xã4 Điều này khiến các tục lệ lễ nghi trong giai đoạn trước cách mạng bị thay thế bằng các sự kiện của dân tộc và các ngày lễ kỷ niệm theo khái niệm thời gian mới - lịch dương (Choi 2003)
1 Bộ Vãn hóa 1975, Đ ời sống mới, Hà Nội, Bộ Vãn hóa.
2 Kim Ninh 1996 Revolution, Politics and Culture in Socialist Vietnam, 1945-1965
(Cách mạng, Chính trị và Văn hóa tại Việt Nam xã hội chủ nghĩa, 1945-1965) Luận văn tiến sỹ, N ew Haven: Đại học Yale, tr 319-323.
3 Kleinen, John 1999 Facing the Future, Reviving the Past: A Study o fS o cia l Change
in a Northern Vietnamese Village (Đối mặt với tương lai Phục hồi quá khứ: Nghiên cứu về thav đổi xã hội ở một ngôi làng miền Bẳc Việt Nam) Singapore: Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.
4 Malamey, Shaun K (1996b), bdd.
Trang 5Tuy nhiên, những cố gắng này ngay lập tức đã phải đối mặt với sự phản kháng của người dân địa phương và nhà nước không đạt được mục đích cúa mình Nhà nước cố gắng tạo ra nền văn hóa xã hội chu nghĩa mới thông qua chương trình nghị sự tích cực Dựa trên tư tưởng của Chu tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước và Đàng bẳt đầu thi hành chính sách văn hóa đề phục hồi và bảo tồn truyền thống cách mạng mới và bán sắc truyền thống, hay truyền thống bản xứ của người dân (Đinh Xuân Lâm
& Bùi Đình Phong, 2001) Nói cách khác, nhà nước muốn bảo tồn bản sắc truyền thống để nhớ nguồn gốc và không bị mất gốc
Chính phù triển khai các dự án mới để bảo tồn “truyền thống và di sản dân tộc” và bắt đầu thực hiện các mô hình nghi lễ để khuyến khích việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Dự án quốc gia về bảo tồn “di tích” cho thấy cốt lõi cùa văn bản của văn hóa Việt Nam đã được nhà nước chỉnh sửa Đảng đã bắt đầu thực hiện dự án này từ năm 1962 để quản lý đền chùa ở địa phương bằng cách chính thức công nhận các đền này là
di tích của nhà nước (Đặng Kim Sơn, 2000) Cho đến tháng 12 - 1994, tông sô các di tích được công nhận là 1.659, trong đó có 898 di tích lịch
sử, gồm di tích cách mạng-kháng chiến, 690 di tích kiến trúc nghệ thuật,
52 di tích thắng cảnh, và 19 di tích khảo cổ (Cục Bào tồn Bảo tàng 2000) Theo Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa và Thông tin), con số này
đã tăng lên khoảng 2.500 vào năm 20021
Nhà nước tiếp tục cố gắng kiểm soát và ủng hộ các hoạt động tư nhân bằng cách nắm bắt nhu cầu của người dân địa phương để giảm thiếu sự bất ồn về chính trị trong thời kỳ quá độ Điều đáng chú ý là chính phủ đánh giá ý nghĩa tích cực của các yếu tố tiền cách mạng mà trước đó đã có lúc bị phủ nhận và còn dùng các yếu tố này để củng cố quyền lực Chẳng hạn, thủ tục xác nhận của nhà nước gồm đánh giá của các chuyên gia về giá trị lịch sử của di tích, và bàng chứng về “sắc phong”, điều thể hiện vương quyền của triều đại phong kiến, là một
1 Năm 2001, 457 địa danh thiêng trong dân gian và đài tường niệm cách mạng - chiến tranh ờ Hà Nội đã được chính thức công nhận là “di tích” (Sớ Văn hóa Thông tin Hà Nội 2002) Cứ 5 làng truyền thống ớ phường N gọc Hà, nơi tôi tiến hành nghiên cứu điền dã, đều có đền thành hoàng riêng hoặc đền thờ, và 6 đền trong số các đền này đã được công nhận là di tích lịch sử quốc gia Do đó, con số về di tích của bài nghiên cứu này cần được cập nhật.
Trang 6trong những yếu tố quan trọng1 Tất cả các di tích được công nhận theo
hồ sơ, di tích còn lại và truyền thuyết cho thấy bàng chứng về sắc phong và công lao của thành hoàng đối với nhà nước và dân tộc sắc phong là quá trình phong chức tước cho những người hoặc di tích có những đóng góp to lớn đối với đất nước và triều đại phong kiến Chứng nhận đương đại là bàng công nhận di tích lịch sử - văn hóa của Nhà nước do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận Vì các triều đại phong kiến đều muốn củng cố vương quyền bàng cách can thiệp vào các nghi lề dân gian2
Ngoài ra, nhà nước còn tạo ra những văn ban gốc của các mô hình phù họp với hệ tư tưởng mới Di tích xác máy bay B52 ở phường Ngọc
Hà, Hà Nội, là một trong số các ví dụ về "sắc phong" điến hình của nhà nước xã hội chủ nghĩa Có rất nhiều địa điếm và đài kỷ niệm được nhà nước công nhận là “Di tích quốc gia tưởng nhớ về cuộc cách mạng và chiến tranh”
Chính các nghi lễ cổ truyền được phục hồi là nguồn văn hóa, đạo đức quan trọng, thông qua đó nhà nước có thể duy trì và cùng cố quyền lực của mình Nhà nước đã thực hiện cách mạng chính trị thành công phải trải qua luồng văn hóa và đạo đức để kiểm soát mọi xã hội địa phương Mặc dù có những thời điểm chính phu buông lỏng quyền lục đối với các vấn đề về hệ tư tưởng và văn hóa, việc nghiên cứu sâu về tác động qua lại của địa phương cho thấy nhà nước luôn để mắt đến các vấn
đề này Hon thể nữa, chiến dịch công nhận di tích lịch sứ và văn hóa chứng tỏ rằng nhà nước rất quan tâm đến việc tái tạo lại “văn hóa’' địa phương Việc phục hồi các nghi lễ cổ truyền tượng trưng cho sự can dự của Nhà nước Cán bộ đảng địa phương và các tổ chức chính phủ luôn tham gia vào việc tổ chức các nghi lễ dân sự N hà nước quan tâm
1 Hồ Tài, Huệ -Tâm 1987 "Religion in Vietnam: A World o f Gods and Spirits", (Tôn giáo ở Việt Nam: Một thế giới của thần thánh và linh hồn) Vietnam Forum (Diễn đàn Việt Nam), 10, tr 132.
2 Choi Horim 2007 "Ritual Revitalization and Nativist ldeology in North Vietnam", (Sự phục hồi Nghi lễ và Hệ tư tưởng người làng gốc ờ miền Bắc Việt Nam ) trong Philip Taylor (chù biên) Modernity and Re-Enchantment: Religion in Post-Revolutionary Vietnam (Thời kỳ hiện đại và trạng thái say mê: Tôn giáo trong xã hội Việt Nam sau cách mạng) Singapore: ISEAS, tr 104-105.
Trang 7sâu sắc đến mọi quá trình của hội làng, từ khi lập kế hoạch và chuẩn bị đên khi thực hiện và các hước tiếp theo.
Việc ban hành các quy định cũng liên quan đến các nghi lễ và các hoạt động tư nhân và chính phu không ngừng sửa đồi các quy định này cho thày nhà nước vẫn quan tâm đến việc tái tạo văn hóa địa phương Ví
dụ, theo một cuốn sách viết về các chính sách văn hóa do Bộ Văn hóa Thông tin han hành, có khoảng 120 quy định và luật liên quan đến các hoạt động văn hóa của người dân trong giai đoạn 1991-2002 (Bộ Văn hóa Thông tin 2002) Các từ khóa trong những quy định này là tương tự hoặc liên quan đến "nguồn gốc văn hóa dân tộc” 1 Sau đối mới việc ban hành các quy định cụ thể này đã trở nên phổ biến Việc đó là sự đáp ứng
truyền và là kết quá của những nồ lực của nhà nước trong việc thiết lập
cơ cấu quản lý và tổ chức các lề hội này
III Thị trưòììg, sự phân biệt x ã hội và lễ hội
Quá trình phục hồi nghi lề phản ánh như thế nào các điều kiện kinh tế đang thay đối kể từ khi thực hiện nền kinh tế thị trường? Sự phục hồi của thị trường và tính tự chù ngày càng tăng của xã hội dân sự có thể được làm sáng tó thông qua sự giải thích cặn kẽ về lễ hội dân gian Lễ hội có quan hệ mật thiết với sự sôi động của thị trường Những hoạt động tôn giáo phổ biến là phương tiện truyền đạt khát vọng tư bản chủ nghĩa Một sổ người cho ràng nền kinh tế phát triển sẽ khuvến khích sự gia tăng nghi lễ, trong khi đó một số khác lại cho rằng nghi lễ thúc đẩy nền kinh tế số lượng những cửa hàng buôn bán vàng mã để sừ dụng làm lễ vật, bùa hay các sản phẩm nghi lễ và số lượng người cung cấp các dịch vụ nghi lễ đang tăng lên Con người cầu ước sự giàu có thông
1 Văn bàn pháp qui cơ bàn, cung cấp cơ sớ cho sự quán lý cùa nhà nước và hồ trợ các nghi lễ địa phương trong việc thờ cúng thành hoàníì là "Ọuy chế lễ hội”, các quy định
về nghi lễ gồm 3 chương và 13 điều, chính thức được Bộ trưởng Bộ Vân hóa Thông tin công bố theo Quyết định-Quy chế 363/ỌĐ-QC số 363 ban hành ngày 7-5-1994 Lời giới thiệu định nghĩa ‘i ễ hội, nghi lễ là hình thức văn hóa cố truyền, thu hút mọi niỉirời và là cần thiết để phát huy tinh thần dân tộc.” Các quy chế nêu rõ rằng luật được công bố để “tổ chức, quản lý và chi đạo các nghi lễ phù hợp với tập quán, nền kinh tế
và nhu cầu xã hội.”
* Năm 2001, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đối Luật Di sản văn hóa và năm 2009, Quốc hội thông qua luật sử a đổi Luật Di sản văn hóa, trong đó có những điều liên quan đến lễ hội (ghi chú của người biên tập).
Trang 8qua vô số nghi lề Người ta cố gắng đề làng mình có di tích lịch sử được chính thức công nhận và tổ chức lễ hội với quy mô lớn vì các hoạt động này giúp họ tăng thu nhập Người dân yêu cầu chính phu phát triển các
di tích lịch sừ này như điểm tham quan du lịch
Việc thương mại hóa lễ hội có khía cạnh của "toàn cầu hóa" Việc phục hồi truyền thống thông qua lễ hội và thương mại hóa những địa danh linh thiêng thành điểm thu hút khách du lịch đã trở thành cách đáp ứng lại sự toàn cầu hóa về tiêu thụ và giải trí bằng cách thích nghi với các nguồn văn hóa Ngoài ra, đó cũng là một kiểu "lai tạp” 1 Chính quvền địa phương hợp tác với các doanh nghiệp tư nhân thành lập các
cơ sở giải trí như nhà ma, tàu voi và công viên nước cho du khách đến tham dự lễ hội Những đồ “hàng mã” như đô la giả, mô hình tòa nhà bang Nevv York, căn hộ lớn, xe ô tô và máy bay làm bàng giấy được dâng lên các vị thần Các sản phâm thương mại như nước giải khát, rượu ngoại cũng được dùng làm lễ vật Có vẻ như nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi ngay cả thị hiếu của các vị tổ tiên và linh hồn ở Việt Nam
Lỗ hội cổ truyền dã làm tái sinh thị trường và tạo ra "nền kinh tế nghi lễ” ở khắp nơi Thêm vào đó, lỗ hội cũng góp phần phát triển các ngành nghề truyền thống Ở khu vực đồng bàng sông Hồng, nơi mà truyền thuyết về thành hoàng làng liên quan đến nguồn gốc các ngành nghề truyền thống, người làng mong muốn lễ hội làng sẽ giúp phục hồi ngành nghề truyền thống của họ Lễ hội không chỉ là phương tiện giúp quảng bá nhu cầu phát huy các ngành nghề truyền thống mà còn giúp tăng thu nhập
Nền tảng kinh tế đầy đủ của người dân ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình phục hồi tôn giáo truyền thống Việc tái sinh các hoạt động lễ nghi phản ánh tác động văn hóa của các yếu tố kinh tế từ khi xuất hiện nền kinh tế thị trường2 Nhưng việc phát huy các nghi lễ không đem lại
1 Yang, Mayfair Mei-hui 2000, "Putting Global Capitalism in Its Place: Economic Hybridity, Bataille, and Ritual Expenditure," (Đưa chù nghĩa tư bàn toàn cầu vào vị trí cùa nó: Tính lai tạp kinh tế, Bataille và chi phi nghi lễ), Current Anthropnlogy (Tạp chí Nhân học hiện nay), 41(4), tr 483 - 486.
2 Lương Văn Hy 1993, bđd, tr 285-290.
Trang 9hiệu qua kinh tế như nhau đối với tất ca mọi người Nen kinh tế lễ nghi của Việt Nam không phan ảnh chính xác sự tăng trướng của thị trường
và sự phát triển của xã hội dân sự Đó là do có sự phân biệt rõ ràng về việc ai biết tận dụng và hướng lợi điều đó Nếu một số người nào đó dược lợi thì những người khác sẽ chịu thiệt
Lễ hội góp phần vào việc phân hóa tầng lớp xã hội mà bất cứ nước
xã hội chù nghĩa nào cũng không mong muốn Các nghi lễ do đảng viên cấp cao hoặc doanh nhân thành đạt tổ chức khác xa với nghi lề do công nhân di cư nghèo, dù họ cùng sống trong một cộng đồng Phát triển lề hội đà trờ thành một cách khác của sự phân hóa xã hội số tiền công đức cho nghi lễ đã trớ thành cách thể hiện địa vị và quyền lực của người đóng góp Đó chính là lý do các Đáng viên, quan chức nhà nước và lãnh đạo địa phương tranh nhau đóng góp để phục hồi và bảo tồn các di tích lịch sử ớ làng mình Rõ ràng người ta không thể huy động tiền cho các
di tích và nghi lề nếu nền kinh tế không thịnh vượng Tuy nhiên, việc này còn liên quan đến khía cạnh phức tạp khác bên cạnh việc ai sẵn sàng công đức và công đức bao nhiêu1
Việc các nguồn lực ngày càng trớ nên sẵn có và mong muốn tột bậc của người dân có dược sự thịnh vượng kinh tế vẫn chưa đú đế giải thích về việc phục dựng lỗ hội Các sự kiện cần được nghiên cứu trong bối cảnh cúa những quá trình sản sinh quan hệ xã hội phức tạp không chỉ giữa người làng với người làng mà còn giữa người làng với những người ở nơi khác Thêm vào đó, đàng sau sự tổ chức các sự kiện làng xã luôn luôn là tính đồng nhất và tính hồn tạp Nghi thức thờ thành hoàng
là nai thể hiện sự hỗn tạp xã hội
Quá trình xác nhận các đền ở làng quê là di tích lịch sử không chỉ tượng trưng cho tính cộng đồng mà còn thể hiện địa vị riêng biệt của người dân làne cùng có chung nguồn gốc, hay hệ tư tưởng của người cùng cội nguồn (Choi 2007) Việc xác nhận các di tích là một trong những biểu tượng có sức mạnh to lớn để nền văn hóa địa phương được đánh giá cao ở khắp nơi Việc nhận xác nhận hay “sắc phong” của nhà nước không chỉ phụ thuộc vào đánh giá của các cơ quan nhà nước như
1 Choi Horim 2007, bđd, tr 113-114.
Trang 10cơ quan văn hóa và những nhà chuvên môn mà còn phụ thuộc vào vai trò cua người dân địa phương1.
Tôi muốn dưa ra ví dụ về việc xảy ra trong một ngôi làng ở Hà Nội Vào năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 895 năm ngày sinh của thành hoàng làng, Hội Người cao tuổi và Ban Quan lý di tích (BQLDT) quyết định nộp đơn xin công nhận đình làng là di tích lịch sử Họ đã làm dơn
từ năm 1989 Một nhóm các nhà sử học, khảo cổ, học giả văn hóa dân gian và các quan chức của Bộ Văn hóa và Thông tin (cũ) đã tiên hành khảo sát thực địa về giá trị lịch sử của đình Hội người cao tuổi và Ban QLDT không ngừng nhấn mạnh vẻ đẹp kiến trúc và giá trị lịch sử của di tích Trong đền lưu giữ bài vị, câu đối và hoành phi (Hà Văn Tấn và Nguyễn Văn Cừ 1998; Nguyễn Thế Long 1998) Thậm chí cả các cán
bộ trong chi bộ Đảng và chính quyền địa phương cũng nhấn mạnh tâm quan trọng của các di tích này và quả quyết ràng tất cả người dân đều mong muốn ngôi đình được công nhận là di tích lịch sử quôc gia
Dù ràng tất cà mọi người trong làng, từ trên xuống dưới đều mong muốn một kết quà giống nhau, nhưng việc công nhận ngôi đình là di tích lịch sử lại không có ý nghĩa giống nhau đối với mọi người Tất cả người dân đều thừa nhận ràng việc xác nhận này là quan trọng và cần thiết nhưng không phải tất cá dều cho ràng việc này sẽ bảo đảm mang lại lợi ích như nhau cho họ Các cuộc phóng vấn những người không đóng góp gì vào những nồ lực để di tích lịch sử được công nhận cho thấy những nồ lực đó đóng vai trò như chất xúc tác đế phơi bày tính hồn tạp của người dân Những nỗ lực đó tạo thành phương tiện truyền bá cho những người có địa vị xã hội và chính trị, ví dụ như người địa phương gốc, người cao tuổi và lãnh đạo, để họ cạnh tranh trong việc phô trương địa vị
Nồ lực để được công nhận là di tích lịch sử là cái gì đó mà cả làng cần phải cùng nhau tham gia Nhưng trên thực tế điều này đã chia dân
1 - Kleinen, John 1999, sđd, tr 162-164.
- Trương Huyên Chi 2001 Changing Processes o f Social Reproduction in í he Northern Vietnamese Countrvside: An Eíhnographic s í li ch' o f D ong Vang Village (Red River Delta) (Nhưng quá trình biến đối của sự tái sinh xã hội ở nông thôn miền Bắc Việt Nam: Nghiên cứu dân tộc học làng Đồng Vàng (đồng bằng sông Hồng) Luận vàn tiến sĩ, Đại Học Toronto, tr 246-247.
Trang 11làng thành hai nhóm - những người có tham gia và những người không tham gia Hội Người cao tuổi là những người đầu tiên đưa ra kế hoạch
và giữ vai trò dẫn đầu cùng với hội đi chùa của các bà Bước đầu tiên là gặp gỡ các quan chức của đảng-nhà nước ở địa phương đê tìm hiểu Trong quá trình nàv, tất nhiên, những người làng gốc, cao tuổi, đã sống ở làng khá lâu và có quan hệ mật thiết với các cán bộ của ủ y ban nhân dân địa phương đóng vai trò quan trọng còn những người dân ngụ cư thì bị gạt ra ngoài Những người cao tuổi nói rằng một số người ngụ cư cũng quan tâm đến việc này, nhưng hiển nhiên là họ phải quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề ở chính quê họ Một số người tranh luận ràng đứng trên phương diện này, những người ngụ cư không phải là thành viên thực sự của làng Người ngụ cư thậm chí không được phép
hỗ trợ, và những rào cản giữa người làng gốc và người ngụ cư được chỉ
ra bang cách nhấn mạnh thực tế là người ngụ cư không quan tâm đến việc làng
Việc ủng hộ tiền để trùng tu và bảo tồn các di tích lịch sử được
gọi là công đức Việc ngôi đình được công nhận là di tích lịch sử đã
tạo đà đế hợp pháp hóa phong trào phục hồi nghi lễ, và dẫn dến những thay đổi đáng kể trong quá trình kêu gọi dân làng đóng góp công đức Trong vòng khoảng một thập kỷ kể từ năm 1991, tổng số tiền công đức lên tới 150 triệu đồng Năm 1991, khi làng bắt đầu thực hiện dự án trùng tu đình làng, nhừng người cao tuổi gốc gác người làng đã xẳn tay kêu gọi quyên góp tiền Kề từ đó ngày càng nhiều dân làng công đức với mức tăng đáng kể nhất trong khoảng những năm 1993 và 1995 khi Luật Đất đai, 1993 được thi hành Năm 2000,
kỷ niệm 905 năm ngày sinh của thành hoàng làng, làng quyết định tập trung kêu gọi những người công đức giàu có, thu góp các đồ lễ đắt tiền và dựng bia ghi nhận công đức trên đó khắc tên tất cả những người công đức Do đó, số tiền thu dược riêng năm 2000 tương đương với số tiền thu được trong 9 năm trước
Tông số có 250 người dân và nhóm tham gia đóng góp công đức năm 2000, nhưng chi có 62 người công đức số tiền trên 300.000 đồng được ghi tên trên bia kỷ niệm Tổng số tiền công đức cùa 62 người này chiếm 72% hay 43 triệu đồng trong tổng 59.3 triệu (G h i nhận công đức,
Trang 12trùng tu đình, 20-02-2000) ử y ban Nhân dân phường thay mặt cho nhà
nước, các công ty nhà nước đang hoạt động ở địa phương, 13 làng gốc
Hà Nội (Thập tam trại) và các làng kết nghĩa cũng đóng góp Có 49 cá
nhân công đức trên 300.000đ, trong số đó có một người gốc kết hôn với
người thuộc gia tộc Hoàng Văn, một trong bốn dòng họ lớn ở làng, là
người công đức nhiều nhất (hai triệu đồng) Chín trong số mười một
người công đức trên 1 triệu đồng là các gia đình người làng gốc, đã sống
ở làng bốn đời và hai người còn lại cũng là người gốc, đã chuyển đến
làng sống trước năm 1954
Rõ ràng người ta không thể quyên góp được nếu không có sự
thịnh vượng về kinh tế, nhưng việc đó còn liên quan đến khía cạnh
phức tạp khác bên cạnh việc ai là người sẵn sàng công đức và công
đức bao nhiêu Đó là, mối quan hệ xã hội giữa những người công đức
và người nhận công đức Mặc dù Ban quàn lý di tích chịu trách nhiệm
về mọi thủ tục trong việc công đức, nhưng Hội Người cao tuổi vẫn
phải thuyết phục người công đức và đưa ra chính xác số tiền công đức Điều này cho thấy các nguyên tắc cơ bản về giai cấp xã hội của làng
hầu như không thay đồi kể từ cuộc Cách mạng tháng Tám Việc đẩy
mạnh tổ chức lề hội không chi là hành động bào tồn truyền thống của
cộng đồng như những nhà tổ chức đã nói Nó phản ánh sự phân hóa
xã hội phức tạp Tóm lại, lễ hội làng có thể xem như phương tiện để
phục hồi tinh thần của cộng đồng trong số những người dân làng hỗn
tạp Sự hỗn tạp này được ngụy trang qua vỏ bọc của tính cộng đồng
đồng nhất
IV Dân tộc hóa truyền thống đưọc tạo ra và hệ tư tưỏug người cùng cội nguồn
“Truyền thống” mang ý nghĩa gì trong bối cảnh biến đổi tổ chức
của xã hội Việt Nam? Đối với các học giả phương Tây, quan điểm về
truyền thống và văn hóa của giới chính trị Việt Nam dường như bị ám
ảnh bởi các học thuyết xã hội chú nghĩa và lý tưởng của người theo chủ
nghĩa tân thời Giới chính trị thường xem lễ hội tôn giáo là yếu tố tiêu
cực Các nhà khoa học chính trị nói ràng những người theo chủ nghĩa
dân tộc ở thời kỳ thuộc địa và giới tinh hoa trong thời cách mạng xã hội
chủ nghĩa có khuynh hướng coi lễ hội dân gian là hoạt động tầm thường