Cấu tạo gồm có 2 lá: Lá thành tiếp nối với ống lượn gần của ống thận và lá tạng gồm những tế bào có chân podocyte áp sát với các mao mạch trong tiểu cầu thận.. b Ống thận Tiếp nối với c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-oOo -
THỊ ĐIỀU
ỨNG DỤNG LASER BÁN DẪN CÔNG SUẤT THẤP
TRONG ĐIỀU TRỊ SUY THẬN
Chuyên ngành: Vật lý kỹ thuật
Mã số: 60 44 17
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2014
Trang 2Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS.TS TRẦN MINH THÁI
Cán bộ chấm nhận xét 1 : TS TÔN CHI NHÂN
Cán bộ chấm nhận xét 2 : TS TRẦN THỊ NGỌC DUNG
Trang 3
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 PGS TS Cẩn Văn Bé
2 TS Trần Thị Ngọc Dung
3 TS Huỳnh Quang Linh
4 TS Tôn Chi Nhân
5 TS Lý Anh Tú
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
TS Huỳnh Quang Linh
Trang 4KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: THỊ ĐIỀU MSHV: 12120800
Ngày, tháng, năm sinh: 02/03/1985 Nơi sinh: Kiên Giang
Chuyên ngành: Vật lý kỹ thuật Mã số : 60 44 17
I TÊN ĐỀ TÀI:
ỨNG DỤNG LASER BÁN DẪN CÔNG SUẤT THẤP
TRONG ĐIỀU TRỊ SUY THẬN
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
1 Tổng quan các vấn đề chính liên quan trực tiếp đến đề tài này, bao gồm:
- Sinh lý thận
- Suy thận
- Các phương pháp điều trị suy thận
2 Tiến hành mô phỏng sự lan truyền chùm tia laser bán dẫn công suất thấp làm việc ở các bước sóng khác nhau từ bề mặt da vùng thắt lưng đến thận bằng phương pháp MONTE-CARLO
3 Xây dựng cơ sở lý luận phương pháp điều trị suy thận bằng laser bán dẫn công suất thấp
4 Kết quả điều trị suy thận bằng laser bán dẫn công suất thấp
5 Kết luận
Trang 5IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 14/11/2014
V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS.TS TRẦN MINH THÁI
Tp HCM, ngày tháng năm 2015
PGS.TS Trần Minh Thái TS Huỳnh Quang Linh
TRƯỞNG KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
TS Huỳnh Quang Linh
Trang 6của PGS.TS Trần Minh Thái Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chính xác và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Trang 7Minh Thái, đã luôn tạo mọi điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn Tôi xin cảm ơn các thầy cô trong khoa Khoa học Ứng dụng và nhà trường đã luôn quan tâm và tận tình truyền đạt kiến thức, để tôi có nền tảng cho việc thực hiện đề tài Tôi cũng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn bên tôi, giúp đỡ, động viên tôi những lúc gặp khó khăn, để có thể vượt qua và hoàn thành tốt luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Trang 8Họ và tên: Thị Điều
Ngày, tháng, năm sinh: 02/03/1985
Nơi sinh: Kiên Giang
Địa chỉ liên lạc: 802, Sư Vạn Hạnh, Phường 12, Quận 10, Tp HCM
QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO
QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC
Năm Nơi công tác
Trang 9Suy thận ngày càng được biết đến như là một mối lo ngại bởi những hậu quả nặng
nề của bệnh gây ra đối với sức khoẻ con người, bởi việc điều trị tốn kém và bởi tỉ lệ
người mắc bệnh ngày càng có xu hướng gia tăng Hiện nay, có ba phương pháp để điều trị cho những bệnh nhân bị suy thận mạn đó là ghép thận, chạy thận nhân tạo và lọc màng bụng Tuy nhiên đối với mỗi phương pháp đều vấp phải những khó khăn riêng
Trong đề tài luận văn này, đã xây dựng được cơ sở lý luận của phương pháp điều trị suy thận bằng laser bán dẫn công suất thấp Mục đích của việc nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả trong điều trị suy thận của laser bán dẫn công suất thấp, đó là:
- Sử dụng hiệu ứng hai bước sóng đồng thời do hai loại laser bán dẫn làm việc ở bước sóng 780 nm và 940 nm tạo nên, tác động lên bề mặt da vùng thắt lưng đến thận
- Sử dụng quang châm bằng laser bán dẫn làm việc ở bước sóng 940 nm, tác động lên một số huyệt trong châm cứu cổ truyền phương Đông
- Sử dụng laser nội tĩnh mạch làm việc ở bước sóng 650 nm dẫn đến đáp ứng toàn thân
Tổng số bệnh nhân trong diện điều trị gồm 69 người Trong đó, 63 bệnh nhân suy thận độ I, chiếm 91,30 % và 6 bệnh nhân suy thận độ II, chiếm 8,70% Sau khi điều trị và
so sánh với các tiêu chuẩn đánh giá cho thấy: Đáp ứng tốt có 69 bệnh nhân, gồm 63 người suy thận độ I và 6 người suy thận độ II chiếm 100%
Đó là hiệu quả bước đầu của phương pháp mới này Nó mở ra hướng điều trị mới cho bệnh nhân suy thận cùng các phương pháp đang điều trị hiện nay
Trang 10Kidney failure is increasingly known as a concern by the severe consequences of diseases caused to human health, because the treatment is expensive and because the incidence of the disease is increasingly tend to increase Currently, there are three
methods to treat chronic renal failure patients were renal transplant, peritoneal dialysis and extracorporeal hemodialysis However, for each method are facing particular
difficulties
In this thesis, has developed a theoretical basis of the method of treatment of kidney failure with low power semiconductor laser The purpose of this study was to evaluate the efficacy of low-power semiconductor laser in the treatment of renal failure , by:
- Use two effects simultaneously by two-wavelength of semiconductor laser working at 780 nm and 940 nm , acting from the skin surface to kidney
- Use opto acupuncture semiconductor laser working at 940 nm wavelength on traditional acupuncture pressure points
- Using intravascular laser working at 650 nm wavelength leads to
body responding
The total number of patients are 69 people Of these, 63 patients with renal
impairment level I, accounting in 91.30% and 6 patients with renal impairment level II, accounting in 8.70% After treatment and compared with the standard evaluation showed good responding 69 patients, in 100% of the patients
That initial efficiency of the new method It opens the way to new treatments for patients with kidney failure, add to the currently methods
Trang 11MỤC LỤC
Phần thứ nhất:
BỐI CẢNH HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ LUẬN VĂN TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Chương I: BỐI CẢNH HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ LUẬN
VĂN 7
1.1 Bối cảnh hình thành đề tài luận văn 7
1.2 Mục tiêu của đề tài luận văn 8
1.2.1 Mục tiêu trước mắt 8
1.2.2 Mục tiêu lâu dài 8
1.3 Nhiệm vụ chính của đề tài luận văn 8
Chương II: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN ĐỀ TÀI 10
2.1 Sinh lý thận 10
2.1.1 Cấu tạo 10
2.1.2 Chức năng lọc máu – tạo nước tiểu của thận 18
2.1.3 Chức năng sinh lý nội tiết của thận 29
2.2 Suy thận mạn 33
2.2.1 Định nghĩa và dịch tễ 33
2.2.2 Nguyên nhân 36
2.2.2.1 Bệnh cầu thận 36
2.2.2.2 Bệnh ống-kẽ thận mạn 30
2.2.2.3 Bệnh mạch máu thận 46
2.2.2.4 Bệnh thận bẩm sinh do di truyền hoặc không di truyền 48
2.2.2.5 Bệnh hệ thống, chuyển hoá 49
2.2.3 Cơ chế sinh lý bệnh 49
Trang 122.2.4 Đặc điểm lâm sàng 53
2.2.5 Chẩn đoán 56
2.3 Các phương pháp điều trị suy thận 58
2.3.1 Khái quát chung về điều trị suy thận 58
2.3.2 Tiến triển 58
2.3.3 Điều trị bảo tồn 60
2.3.4 Điều trị thay thế thận 64
2.3.4.1 Lọc màng bụng 64
2.3.4.2 Lọc máu ngoài cơ thể 69
2.3.4.3 Ghép thận 76
2.4 Sử dụng laser công suất thấp trong điều trị suy thận 82
2.4.1 Tác dụng của laser công suất thấp đối với tổ chức sống 82
2.4.2 Ứng dụng laser công suất thấp trong điều trị suy thận trong và ngoài nước 84
Phần thứ hai: KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI Chương III: MÔ PHỎNG SỰ LAN TRUYỀN CỦA CHÙM TIA LASER BÁN DẪN LÀM VIỆC Ở CÁC BƯỚC SÓNG KHÁC NHAU VỚI CÔNG SUẤT THẤP TỪ BỀ MẶT DA VÙNG THẮT LƯNG ĐẾN THẬN BẰNG PHƯƠNG PHÁP MONTE – CARLO 86
3.1 Bề dày các lớp mô từ bề mặt da vùng thắt lưng đến thận 86
3.2 Các thông số quang học của mô 87
3.3 Chương trình dùng để mô phỏng 88
3.4 Kết quả mô phỏng 89
3.4.1 Công suất 5 mW 90
3.4.2 Công suất 10mW 93
3.4.3 Công suất 15 mW 96
Trang 133.4.4 Công suất 20 mW 99
3.5 Kết luận 102
Chương IV: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ SUY THẬN BẰNG LASER BÁN DẪN CÔNG SUẤT THẤP 103
4.1 Nội dung chính của phương pháp 103
4.2 Chọn bước sóng thích hợp của laser bán dẫn để thực hiện điều trị 103
4.3 Cơ chế điều trị 104
4.4 Mô hình thiết bị điều trị suy thận bằng laser bán dẫn công suất thấp 109
Chương V: KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU TRONG ĐIỀU TRỊ LÂM SÀNG SUY THẬN BẰNG LASER BÁN DẪN CÔNG SUẤT THẤP 113
5.1 Tổ chức nguyên cứu điều trị lâm sàng suy thận bằng Laser bán dẫn công suất thấp.113 5.2 Phương pháp nghiên cứu điều trị lâm sàng và đối tượng trong diện điều trị 113
5.3 Kết quả điều trị lâm sàng 116
5.4 Kết luận 120
Chương VI: KẾT LUẬN 121
6.1 Kết quả đạt được: 121
6.2 Đóng góp về mặt khoa học 123
6.3 Hướng phát triển của đề tài 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC A: SUY THẬN CẤP 130
PHỤ LỤC B: NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DO HIỆU ỨNG KÍCH THÍCH SINH HỌC MANG LẠI 145
PHỤ LỤC C: ỨNG DỤNG LASER CÔNG SUẤT THẤP TRONG ĐIỀU TRỊ SUY THẬN TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 150
PHỤ LỤC D: CÁC KẾT QUẢ CHỤP CT CỦA MỘT SỐ BỆNH NHÂN 162
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Thận phải cắt dọc 9
Hình 2.2: Cấu tạo màng lọc cầu thận 10
Hình 2.3: Nang Bowman và các ống thận 15
Hình 2.4: Cấu trúc của tổ chức cạnh cầu thận 16
Hình 2.5: Sự lọc các chất ở ống thận 1,3 Nhánh xuống; 2,4 nhánh lên 27
Hình 2.6: Sự tái hấp thu nước ở ống góp 29
Hình 2.7: Catheter Tenckhoff và cách đặt catheter 46
Hình 2.8: Hệ thống túi dịch CAPD 47
Hình 2.9: Sơ đồ cấu trúc bộ lọc sợi rỗng 48
Hình 2.10: Sơ đồ lọc máu bằng thận nhân tạo và máy thận nhân tạo 49
Hình 2.11: Ống thông tĩnh mạch hai nòng dùng trong CRRT 75
Hình 2.12: Thận sau khi ghép 55
Hình 2.13: Sơ đồ các tác dụng chính của phương pháp điều trị bằng laser công suất thấp 57
Hình 2.14: Sơ đồ chuyển hóa năng lượng laser thành năng lượng sống cho cá thể 58
Hình 3.1: Giao diện chương trình mô phỏng 89
Hình 3.2: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 633nm, với công suất là 5mW 90
Hình 3.3: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 780nm, với công suất là 5mW 63
Hình 3.4: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 850nm, với công suất là 5mW 64
Hình 3.5: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 940nm, với công suất là 5mW 64
Hình 3.6: Sự phân bố mật độ công suất của 4 bước sóng 633 nm; 780 nm; 850 nm; 940 nm, với công suất là 5mW 65
Hình 3.7: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 633nm, với công suất là 10mW 66
Hình 3.8: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 780nm, với công suất là 10mW 66
Hình 3.9: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 850nm, với công suất là 10mW 67 Hình 3.10: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 940nm, với công suất là 10mW 67
Trang 15Hình 3.11: Sự phân bố mật độ công suất của 4 bước sóng 633 nm; 780 nm; 850 nm;
940 nm, với công suất là 10mW 68 Hình 3.12: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 633nm, với công suất là 15mW 69 Hình 3.13: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 780nm, với công suất là 15mW 69 Hình 3.14: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 850nm, với công suất là 15mW 70 Hình 3.15: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 940nm, với công suất là 15mW 70 Hình 3.16: Sự phân bố mật độ công suất của 4 bước sóng 633 nm; 780 nm; 850 nm;
940 nm, với công suất là 15mW 71 Hình 3.17: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 633nm, với công suất là 20mW 72 Hình 3.18: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 780nm, với công suất là 20mW 72 Hình 3.19: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 850nm, với công suất là 20mW 73 Hình 3.20: Sự phân bố mật độ công suất ở bước sóng 940nm, với công suất là 20mW 73 Hình 3.21: Sự phân bố mật độ công suất của 4 bước sóng 633 nm; 780 nm; 850 nm; 940nm, với công suất là 20mW 74 Hình 4.1: Hệ miễn dịch 79 Hình 4.2: Các hạch lympho 79 Hình 4.3: Các huyệt hoạt hóa hệ miễn dịch (1:Hợp cốc, 2:Tam âm giao, 3: Túc tam lý, 4: Huyền chung , 5: Khúc trì) 80 Hình 4.4: Thiết bị laser bán dẫn nội tĩnh mạch 81 Hình 4.5: Thiết bị quang châm - trị liệu bằng laser bán dẫn công suất thấp loại 12 kênh 82
Trang 16DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thành phần của nước tiểu và dịch lọc 18 Bảng 2.2: phân loại giai đoạn tiến triển của bệnh thận mạn và suy thận mạn 59 Bảng 2.3: Các giai đoạn suy thận (Phân loại mức độ suy thận mạn và chỉ định điều trị theo Nguyễn Văn Xang) 60 Bảng 3.1: Bề dày các lớp mô từ bề mặt da đến thận của một số bệnh nhân 87 Bảng 3.2: Thông số quang học 88 Bảng 3.3: Bảng liệt kê độ sâu đạt được khi được chiếu lần lượt với các bước sóng và mật độ công suất cụ thể với công suất 5 mW 92 Bảng 3.4: Bảng liệt kê độ sâu đạt được khi được chiếu lần lượt với các bước sóng và mật độ công suất cụ thể với công suất 10 mW 68 Bảng 3.5: Bảng liệt kê độ sâu đạt được khi được chiếu lần lượt với các bước sóng và mật độ công suất cụ thể với công suất 15 mW 71 Bảng 3.6: Bảng liệt kê độ sâu đạt được khi được chiếu lần lượt với các bước sóng và mật độ công suất cụ thể với công suất 20 mW 74 Bảng 5.1: Các giai đoạn của suy thận 83 Bảng 5.2: Hàm lượng Creatinin trong máu cử bệnh nhân suy thận độ II trước và sau khi điều trị bằng laser bán dẫn công suất thấp 84 Bảng 5.3: Sự thay đổi hàm lượng Creatinin trong máu của bệnh nhân suy thận độ IIIb đang chạy thận nhân tạo 86
Trang 17Phần thứ nhất:
BỐI CẢNH HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ LUẬN VĂN TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Chương I: BỐI CẢNH HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ LUẬN VĂN
1.1 Bối cảnh hình thành đề tài luận văn
Suy thận ngày càng được biết đến như là một mối lo ngại bởi những hậu quả nặng nề của bệnh gây ra đối với sức khoẻ con người, bởi việc điều trị tốn kém và bởi tỉ
lệ người mắc bệnh ngày càng có xu hướng gia tăng
Hiện nay để điều trị cho những bệnh nhân bị suy thận mạn tính có ba phương pháp là ghép thận, chạy thận nhân tạo và lọc màng bụng Tuy nhiên đối với mỗi
phương pháp đều vấp phải những khó khăn riêng Ghép thận là phương pháp ưu thế nhất nhưng kinh phí để thực hiện một ca ghép thận rất cao, hơn nữa ngân hàng thận của chúng ta chưa có nên mới chỉ thực hiện ở các trường hợp hiến, tặng thận cho nhau trong phạm vi gia đình Sau khi ghép thận nếu thận ghép bị đào thải thì bệnh nhân lại được lọc máu Ngay cả sau ghép thận vẫn phải điều trị bảo tồn Phương pháp lọc máu bằng chạy thận nhân tạo chỉ thực hiện tại những có sở y tế có điều kiện mà những cơ
sở này ở nước ta chỉ đếm trên đầu ngón tay Phương pháp này không chỉ là nỗi ám ảnh của người bệnh mà còn không đủ tiền trang trải cho chi phí lọc máu Lọc màng bụng là phương pháp tương đối ít chi phí hơn, nhưng lại dễ bị nhiễm trùng ổ bụng do vi khuẩn nhiễm qua thành bụng vùng đặt ống thông dẫn tới viêm phúc mạc và nhiều nhiều biến chứng nguy hiểm khác
Trong bối cảnh ấy phòng thí nghiệm công nghệ laser đề xuất chương trình với tên gọi: “Nghiên cứu ứng dụng laser công suất thấp trong điều trị suy thận” với tiêu chí
Trang 18từng bước giảm dần độ suy thận, nhằm tránh sử dụng các phương pháp như: ghép thận, chạy thận nhân tạo, và lọc màng bụng trong chữa trị
Đề tài luận văn thạc sĩ với tên gọi: “Ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị suy thận” chính là bước đầu của chương trình nghiên cứu trên
1.2 Mục tiêu của đề tài luận văn
1.2.2 Mục tiêu lâu dài
Tổ chức nghiên cứu điều trị lâm sàng với số lượng bệnh nhân suy thận độ II và III đủ lớn bằng laser bán dẫn công suất thấp Trên cơ sở ấy, đánh giá toàn diện về phương pháp điều trị mới này
1.3 Nhiệm vụ chính của đề tài luận văn
Để hoàn thành tốt mục tiêu của đề tài, cần phải thực hiện các nhiệm vụ chính sau đây:
a)Tổng quan các vấn đề chính liên quan trực tiếp đến đề tài, bao gồm:
- Những vấn đề cơ bản về sinh lý thận
- Suy thận
- Các phương pháp điều trị suy thận
- Sử dụng laser công suất thấp trong điều trị suy thận
b) Mô phỏng sự lan truyền chùm tia laser bán dẫn công suất thấp ở các bước sóng và công suất khác nhau từ bề mặt da vùng lưng đến thận bằng phương pháp Monte – Carlo
Trang 19c) Xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp điều trị suy thận bằng laser bán dẫn công suất thấp
d) Kết quả điều trị suy thận bằng laser bán dẫn công suất thấp
- Mô hình, thiết bị điều suy thận bằng laser bán dẫn công suất thấp
- Kết quả điều trị suy thận bằng laser bán dẫn công suất thấp
e) Kết luận
Trang 20Chương II: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN ĐỀ TÀI
2.1 Sinh lý thận [1]
Thận là cơ quan chẵn có vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng nước, điện giải trong cơ thể và đào thải một số chất độc ra ngoài qua sự hình thành và bài tiết nước tiểu Do đó, thận được xem như một tuyến ngoại tiết Tuy nhiên thận còn có vai
trò như một tuyến nội tiết có ảnh hưởng đến sự điều chỉnh huyết áp và tạo hồng cầu 2.1.1 Cấu tạo
2.1.1.1 Hình thể ngoài [1]
Thận hình hạt đậu hay hình bầu dục, màu nâu đỏ, bề mặt trơn láng nhờ được bọc trong một bao xơ mà bình thường có thể bóc ra dễ dàng Mỗi thận gồm:
- Hai mặt: mặt trước lồi, mặt sau phẳng
- Hai bờ: bờ ngoài cong lồi, bờ trong ở giữa lõm sâu có núm (rốn) thận
- Hai đầu là hai cực: cực trên và cực dưới thận
2.1.1.2 Kích thước vị trí và cân nặng [2]
Mỗi quả thận dài khoảng 10-12 cm, rộng 5-7 cm và dày 3-4 cm, nặng 100-120 gram Hai quả thận nằm sát phía lưng của thành khoang bụng, hai bên cột sống, phía trước cơ thắt lung, trong khoảng từ đốt sống ngực XII đến thắt lưng I-II Đầu trên thận gần nhau, cách đường giữa 3 - 4 cm Đầu dưới 2 thận xa nhau, cách đường giữa 5 - 6
cm Quả thận phải thường nhỏ hơn và nằm thấp hơn thận trái độ một đốt sống
Thận được giữ chắc trong bụng nhờ hệ thống cân vùng thận Lớp cân này làm thành hai lá bọc lấy thận Các sợi từ màng liên kết chui qua lớp mỡ gắn chặt vào cân
2.1.1.3 Hình thể trong và cấu tạo
Trang 21a) Xoang thận
Xoang thận thông ra ngoài ở rốn thận, thành xoang có nhiều chỗ lồi lõm Chỗ lồi hình nón gọi là nhú thận Nhú thận cao khoảng 4 - 10 mm Đầu nhú có nhiều lỗ của các ống sinh niệu đổ nước tiểu vào bể thận Chỗ lõm úp vào các nhú thận gọi là các đài nhỏ Các đài nhỏ, hợp lại thành 2 đài lớn Các đài lớn hợp lại thành bể thận Bể thận thông với niệu quản
b) Hệ thống đài - bể thận
Hình thái, cách sắp xếp hệ thống đài bể thận thay đổi theo mỗi cá thể Thận có
14 - 15 đài nhỏ sắp xếp từ 3 - 6 (điển hình là 4) nhóm đổ chủ yếu vào 2 đài lớn trên và dưới, đôi khi vào cả phần giữa bể thân
c) Nhu mô thận
Nhu mô thận gồm có 2 vùng: vùng trung tâm (vùng tủy thận) và vùng ngoại biên (vùng vỏ thận)
+ Tủy thận: màu đỏ sẫm, được cấu tạo gồm nhiều khối hình nón gọi là tháp thận hay
tháp Malpighi Đáy tháp quay về phía bao thận, đỉnh hướng về phía xoang thận tạo nên nhú thận Tháp thận thường nhiều hơn nhú thận, ở phần giữa thận 2 - 3 tháp chung nhau 1 nhú thận, còn ở 2 cực thận có khi 6 - 7 tháp chung nhau 1 nhú thận Các tháp sắp xếp thành 2 hàng dọc theo 2 mặt trước và sau thận Mỗi thận thường có từ 8 - 12 tháp Malpighi
+ Vỏ thận là vùng có màu vàng đỏ nhạt Vỏ thận gồm có:
- Cột thận là phần nhu mô xen giữa các tháp thận gọi là cột Bertin
- Tiểu thùy vỏ là phần nhu mô từ đáy tháp thận tới bao sợi Tiểu thùy vỏ lại
được chia làm 2 phần: Phần tia gồm các khối hình tháp nhỏ (tháp Ferrein), có đáy nằm trên đáy tháp thận đỉnh hướng ra bao thận Mỗi tháp Malpighi chứa từ 300 - 500 tháp Ferrein và phần lượn hay mê đạo thận là phần nhu mô xen giữa phần tia
Trang 22Hình 2.1: Thận phải cắt dọc
2.1.1.3.2 Vi thể [2], [3]
Nhu mô thận được cấu tạo chủ yếu bởi những đơn vị chức năng gọi là nephron Đơn vị thận là cấu trúc thực hiện chức năng lọc máu, tạo nước tiểu để thải ra
ngoài Mỗi đơn vị thận có hai phần:
a) Cầu thận (tiểu cầu Malpighi)
Cầu thận là nơi khởi đầu của nephron, nằm ở vùng vỏ thận Cầu thận có chức năng lọc huyết tương để tạo thành dịch lọc cầu thận
Mỗi cầu thận cấu tạo bởi 2 thành phần: tiểu cầu thận và bao Bowman
- Tiểu cầu thận:là một mạng lưới trên 50 nhánh mao mạch song song xuất phát từ tiểu
động mạch đến, các mao mạch này nối thông với nhau và được bọc trong bao Bowman Sau đó, các mao mạch này tập trung lại thành tiểu động mạch đi có đường kính hơi nhỏ hơn tiểu động mạch đến và đi ra khỏi cầu thận
Trang 23- Bao Bowman:là một khoang rỗng chứa dịch lọc cầu thận và bao bọc tiểu cầu thận
Cấu tạo gồm có 2 lá: Lá thành tiếp nối với ống lượn gần của ống thận và lá tạng gồm những tế bào có chân (podocyte) áp sát với các mao mạch trong tiểu cầu thận Những
tế bào có chân này hợp cùng với màng đáy và tế bào nội mô mao mạch cầu thận tạo thành màng lọc cầu thận Qua màng này, huyết tương từ trong máu qua mao mạch sẽ được lọc vào bao Bowman tạo nên dịch lọc cầu thận
+ Lớp tế bào nội mô của mao mạch cầu thận có hàng ngàn lỗ nhỏ gọi là các “cửa sổ”
Các lỗ nhỏ có kích thước 160 A0
+ Màng đáy là một mạng lưới các sợi collagen và proteoglycan đan chéo nhau tạo
thành, giữa các sợi có các khe nhỏ với kích thước khoảng 110 A0
+ Tế bào biểu mô thành bao Bowman là những tế bào biểu mô rất to, hình thể không đều đặn, có nhiều tua bào tương dài và lớn nằm song song với màng đáy Từ những tua bào tương này phát sinh nhiều tua nhỏ thẳng góc và tận cùng trên màng đáy với những khoảng cách đều nhau Những tua nhỏ này tạo ra những khe hở với kích thước khoảng
70 A0
Hình 2.2: Cấu tạo màng lọc cầu thận
Trang 24b) Ống thận
Tiếp nối với cầu thận, ống thận có chức năng tái hấp thu và bài tiết một số chất
để biến dịch lọc cầu thận thành nước tiểu
Ống thận gồm có: ống lượn gần, quai Henle, ống lượn xa và ống góp
+ Ống lượn gần: Tiếp nối với lá thành của bao Bowman Thành của ống lượn gần
được cấu tạo bởi một lớp tế bào biểu mô cao, hình lập phương, có diềm bàn chải ở phía lòng ống Diềm bàn chải có tác dụng làm tăng diện tích tiếp xúc lên nhiều lần Do trong bào tương chứa nhiều ty lạp thể, các phân tử protein mang và nhiều Na+ K+ - ATPase nên tế bào ống lượn gần có hoạt động chuyển hóa cao và quá trình vận chuyển
tích cực xảy ra ở đây rất mạnh
+ Quai Henle: Tiếp theo với ống lượn gần và đi hướng vào vùng tủy thận Các
nephron vùng vỏ có quai Henle ngắn Ngược lại, các nephron vùng gần tủy có quai
Henle dài và thọc sâu vào vùng tủy thận
Mỗi quai Henle gồm 2 nhánh hình chữ U nằm song song với nhau:
Nhánh hướng vào tủy thận gọi là nhánh xuống Tế bào biểu mô của đoạn này dẹt nên thành nhánh xuống mỏng, không có diềm bàn chải, trong bào tương có ít ty lạp thể, không có protein mang
Nhánh hướng ra vỏ thận gọi là nhánh lên Tế bào biểu mô ở đoạn đầu của nhánh lên dẹt nên thành cũng mỏng và có cấu tạo tương tự nhánh xuống nên gọi là nhánh lên mỏng Ngược lại, tế bào biểu mô ở đoạn sau của nhánh lên dày hơn, hình lập phương,
có nhiều ty lạp thể và protein mang nên gọi là nhánh lên dày
Đoạn nối giữa nhánh xuống và nhánh lên gọi là chóp quai Henle
+ Ống lượn xa: Tiếp theo nhánh lên của quai Henle và nằm ở vùng vỏ thận, hình dáng
cong queo Tế bào biểu mô của ống lượn xa hình lập phương, có ít vi nhung mao nên không thành diềm bàn chải, bào tương có nhiều ty lạp thể, các phân tử protein mang, nhiều Na+ K+ ATPase và H+ ATPase nên tế bào ống lượn xa cũng có quá trình vận
chuyển tích cực khá mạnh
Trang 25Phần đầu của ống lượn xa hợp với tiểu động mạch đến tạo nên một cấu trúc đặc biệt gọi là tổ chức cạnh cầu thận Tổ chức này có vai trò rất quan trọng trong quá trình điều hòa huyết áp
+ Ống góp: Không hoàn toàn thuộc về nephron Tại vùng vỏ thận, khoảng 8 ống lượn
xa hợp lại thành ống góp vùng vỏ Phần cuối của ống góp đi sâu vào vùng tủy thận và trở thành ống góp vùng tủy Các thế hệ kế tiếp nhau của ống góp họp lại để tạo ra những ống góp lớn hơn đi suốt qua vùng tủy, song song với quai Henle và đổ vào bể
Trang 26Hình 2.4: Cấu trúc của tổ chức cạnh cầu thận
Các tế bào biểu mô ở phần đầu ống lượn xa khi tiếp xúc với cầu thận nơi tiểu động mạch đến đi vào thì trở nên dày đặc hơn gọi là các tế bào dát đặc (macula densa cells) Những tế bào này chứa bộ máy Golgi và các cơ quan bài tiết này hướng vào lòng tiểu động mạch đến Mặt khác, các tế bào cơ trơn lớp áo giữa của tiểu động mạch đến tiếp xúc chặt chẽ với các tế bào dát đặc này và thay đổi hình dạng: chúng phồng lên, trong bào tương chứa nhiều hạt mịn, đây là tiền chất của Renin
Phức hợp cạnh cầu thận có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành hệ Renin - Angiotensin - Aldosteron để điều hòa huyết áp
2.1.1.3.3 Các thùy thận
Cổ điển: người ta chia thận người ra nhiều thùy (8-12 thùy) dính liền vào nhau, mỗi thùy gồm 1 tháp Malpighi và 1 vùng chất vỏ bao quanh được kéo dài tới mặt ngoài của thận Mỗi tháp Ferrein được coi như 1 tiểu thùy thận
Hiện nay: sự phân chia thận thành các phân thùy dựa vào sự phân bố của hệ
Trang 27thống bể - đài thận phối hợp với sự phân chia các nhánh động mạch thận để áp dụng cắt thận bán phần
Hệ mao mạch thứ hai do tiểu động mạch ra sau khi ra khỏi cầu thận tạo thành một mạng lưới mao mạch bao quanh ống thận và cuối cùng đổ vào tĩnh mạch gian tiểu thùy Hệ mao mạch thứ hai này đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tái hấp thu ở ống thận
Riêng ở các nephron vùng gần tủy thì tiểu động mạch đi không tạo thành mạng lưới mao mạch bao quanh ống thận mà hướng vào tủy thận tạo thành mạch thẳng Vasa recta chạy bên cạnh quai Henle và quay ngược trở ra vỏ thận rồi đổ vào các tĩnh mạch vùng vỏ Mạch thẳng Vasa recta đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình cô đặc nước tiểu của ống góp
2.1.1.5 Tuyến thượng thận[1]
Tuyến thượng thận (glandula suprarenalis) gồm hai tuyến nhỏ màu vàng nhạt, dẹt theo chiều trước sau, nằm áp lên mặt trước trong cực trên mỗi thận, được bao quanh bởi mô mỡ quanh thận cùng với thận trong mạc thận, song được ngăn cách với thận bởi một chế mỏng mạc thận
Tuyến gồm 2 phần vỏ và tủy, thực ra là 2 tuyến nội tiết khác nhau bởi nguồn gốc phát triển và chức năng
+ Vỏ thượng thận giàu lipid, không chứa mô ái crôm, tiết các nội tiết tố loại steroid Có
chức năng duy trì nước - điện giải trong cơ thể và liên quan đến chuyển hoá
Trang 28carbohydrat; đóng vai trò quan trọng trong các phản ứng bình thường của cơ thể với
“stress”
+ Tủy thượng thận ngấm nhiều muối crôm, phát triển từ cùng những tế bào sinh
ra hệ thần kinh giao cảm, được coi như một cơ quan hậu hạch giao cảm, vì chỉ nhận các sợi chi phối thần kinh trước hạch Nó tiết ra epinephrin và norepinephrin, (còn được gọi là adrenaline và noradrenaline) đưa vào máu có tác dụng giống như các chất sinh ra do hoạt hoá phần thần kinh giao cảm, nhưng hiệu quả có tác dụng kéo dài hơn khoảng mười lần vì chúng bị phân hủy chậm hơn chất truyền tin thần kinh (chất môi giới thần kinh) Tác dụng của hormon tủy tuyến trên thận là làm tăng nhịp tim, tăng lực
co tim, tăng nhịp thở, dãn phế quản, tăng huyết áp, tăng đường huyết
2.1.2 Chức năng lọc máu – tạo nước tiểu của thận [2][3]
2.1.2.1 Quá trình lọc ở cầu thận
Lượng máu chảy qua thận nhiều hơn 20 lần so với các cơ quan khác Cứ mỗi phút có khoảng 1300 ml máu chảy qua thận Người ta còn tính được hai quả thận của người trưởng thành lọc được 60 lít máu một giờ và 7,5 lít dịch lọc được hình thành Như vậy, khối lượng máu của cơ thể trung bình là 5 lít, thì trong 24 giờ được chảy qua thận gần 288 lần hay cứ 5 phút một lần Do cường độ hoạt động mạnh, thận đòi hỏi cung cấp một lượng oxygen lớn, nếu trọng lượng hai quả thận chỉ chiếm khoảng 0,5% trọng lượng cơ thể, thì chúng nhận được 9% tổng lượng O2 cung cấp cho cơ thể
Trong thực tế quản cầu chỉ lọc đối với huyết tương của máu đến thận, song hệ
số lọc cũng chỉ đạt khoảng 20% (cứ 100 ml huyết tương đến thì chỉ có 20 ml được lọc)
Từ 7,5 lít dịch lọc được một giờ, chỉ có 0,07 lít nước tiểu được hình thành, nghĩa là chỉ khoảng chưa đầy 1% dịch lọc được thải ra ngoài dưới dạng nước tiểu, 99% còn lại được tái hấp thu tại các ống thận Trong một ngày đêm có khoảng 180 lít dịch lọc được tạo thành
Sự lọc của cầu thận phụ thuộc vào hai yếu tố: Màng lọc và áp suất lọc
Trang 292.1.2.1.1 Màng lọc
Dịch lọc từ phía mạch máu đi vào bao Bowman phải đi qua 3 lớp của màng lọc cầu thận với các lỗ lọc có kích thước nhỏ dần Tuy nhiên kích thước các lỗ rất bé nên chỉ những vật thể cực nhỏ mới đi qua được (gọi là hiện tượng siêu lọc), còn những dạng kích thước lớn hơn phải nhờ vào áp suất lọc
Mặc dù có nhiều lớp nhưng màng lọc cầu thận rất xốp và có tính thấm lớn hơn mao mạch các nơi khác hàng trăm lần Tuy tính thấm rất lớn như vậy nhưng màng cũng có tính chọn lọc cao đối với các phân tử mà nó cho qua Tính chọn lọc của màng phụ thuộc vào 2 yếu tố:
+ Kích thước và trọng lượng của các phân tử qua màng
Các chất có trọng lượng và kích thước phân tử nhỏ như nước, Na+, Glucose, inulin thì đi qua dễ dàng Ngược lại, các chất có kích thước và trọng lượng phân tử lớn hơn như myoglobin, albumin, huyết cầu rất khó đi qua
+ Lực tích điện của các phân tử qua màng
Các lỗ của màng đáy được lát bằng phức hợp proteoglycan tích điện âm rất mạnh, các phức hợp proteoglycan này sẽ đẩy các phân tử cùng dấu Do đó, các phân tử tích điện
âm khó đi qua màng hơn các phân tử tích điện dương dù chúng có cùng kích thước Các albumin của huyết tương cũng tích điện âm và chính lực tích điện của thành lỗ lọc
đã ngăn cản không cho các phân tử albumin đi qua màng
Trong một số bệnh lý ở thận (viêm cầu thận cấp, hội chứng thận hư, đái tháo đường ), khả năng tích điện âm của màng đáy giảm xuống, một lượng lớn albumin có thể đi qua màng lọc, ống thận không tái hấp thu hết được và xuất hiện trong nước tiểu
Vì vậy, albumin niệu là một trong những xét nghiệm dùng để chẩn đoán một số bệnh thận
2.1.2.1.2 Áp suất lọc
Áp suất lọc là giá trị chênh lệch giữa áp suất (huyết áp) của máu trong mao mạch khoảng 75 mmHg và áp suất keo loại do protein tạo thành trong áp suất thẩm thấu của huyết tương, vào khoảng 30 mmHg, cộng với áp suất thủy tĩnh của nang
Trang 30Bowman, khoảng 18 mmHg Áp suất keo loại của protein có tác dụng giữ nước và các chất hoà tan trong huyết tương, còn áp lực thủy tĩnh có tác dụng đẩy nước và các chất hoà tan từ dịch nang Bowman vào huyết tương Cả hai áp suất này ngược chiều với huyết áp Do đó:
Khi huyết áp thay đổi sẽ ảnh hưởng đến quá trình lọc Huyết áp giảm bằng hoặc nhỏ hơn tổng của áp suất keo loại và áp suất thủy tĩnh sẽ không có nước tiểu do sự lọc
bị đình trệ
2.1.2.1.3 Thành phần của dịch lọc
Dịch lọc (cũng còn gọi là nước tiểu loạt đầu) có thành phần gần giống với thành phần của huyết tương Đa số các chất có hàm lượng tương đương giữa dịch lọc và huyết tương như đường glucose, acid amin, Na+, K+, HCO3-, Cl- Protein huyết tương
có nhiều dạng, chỉ protein có phân tử nhỏ hơn lỗ lọc mới được lọc, cho nên hàm lượng protein dịch lọc nhỏ hơn khoảng 300-400 lần so với huyết tương
2.1.2.1.4 Tốc độ lọc cầu thận [3]
Tốc độ lọc cầu thận là lượng huyết tương được lọc trong 1 phút ở toàn bộ cầu thận của cả 2 thận
Trang 31Ở người bình thường, trong một phút có khoảng 1.200 ml máu chảy qua hai thận (chứa 650 ml huyết tương), nhưng chỉ có 125 ml huyết tương được lọc qua màng lọc cầu thận vào bao Bowman và gọi là tốc độ lọc cầu thận
Trong một ngày đêm, toàn bộ cầu thận lọc được khoảng 180 lít dịch Tuy nhiên, có tới 99% số dịch này được tái hấp thu ở ống thận, chỉ có một lượng nhỏ (1 - 1,5 lít) tạo thành nước tiểu thải ra ngoài
2.1.2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ lọc cầu thận [3]
Có 3 yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ lọc cầu thận: lưu lượng máu ở thận, áp suất lọc hữu hiệu PL , hệ số lọc (Kf)
a) Ảnh hưởng của lưu lượng máu ở thận:
Khi lưu lượng máu ở thận tăng lên sẽ làm tăng tốc độ lọc cầu thận Ngược lại, khi lưu lượng máu giảm, tốc độ lọc cũng giảm xuống
b) Ảnh hưởng của hệ số lọc Kf:
Hệ số lọc Kf là tỷ lệ giữa lưu lượng và áp suất lọc:
Kf = (lưu lượng)/ (áp suất lọc) = (125ml/phút)/ (10mmHg) = 12,5 ml/phút/mmHg
Hệ số lọc Kf thể hiện khả năng lọc của mao mạch cầu thận Hệ số này phụ thuộc vào tính thấm và diện tích của mao mạch cầu thận
Do mao mạch cầu thận có tính thấm cao (gấp vài trăm lần nơi khác) và có diện tích rất lớn nên bình thường, hệ số Kf có giá trị rất cao gấp 400 lần so với các mao mạch khác trong cơ thể.Khi diện tích hoặc tính thấm mao mạch cầu thận thay đổi, hệ
số lọc Kf cũng thay đổi theo và ảnh hưởng đến tốc độ lọc cầu thận.Diện tích mao mạch cầu thận giảm khi thận bị tổn thương làm một số lượng lớn cầu thận mất chức năng.Tính thấm mao mạch cầu thận thay đổi trong các trường hợp bệnh lý như đái tháo đường, cao huyết áp mãn tính Khi đó, màng lọc cầu thận dày lên làm giảm tính thấm, giảm hệ số lọc Kf và giảm tốc độ lọc cầu thận
c) Ảnh hưởng của áp suất lọc hữu hiệu PL
Tốc độ lọc cầu thận phụ thuộc chủ yếu vào áp suất lọc hữu hiệu Vì vậy, những yếu tố ảnh hưởng đến áp suất lọc hữu hiệu cũng ảnh hưởng đến tốc độ lọc cầu thận,
Trang 32những yếu tố này bao gồm: Áp suất thủy tĩnh trong mao mạch cầu thận (PH), áp suất keo của huyết tương (PK), áp suất thủy tĩnh trong bao Bowman (PB)
+ Áp suất thủy tĩnh của bao Bowman:
Áp suất này có trị số thấp và dịch lọc vào bao Bowman được chuyển ngay sang ống thận nên ít ảnh hưởng đến tốc độ lọc cầu thận Tuy nhiên, trong một số trường hợp bệnh lý làm tắc nghẽn ống thận (sỏi, u ), áp suất thủy tĩnh trong bao Bowman sẽ tăng lên làm giảm tốc độ lọc
+ Áp suất keo của huyết tương:
Áp suất này tuy khá cao nhưng ít dao động nên cũng không ảnh hưởng nhiều đến tốc
độ lọc cầu thận
+Áp suất thủy tĩnh của mao mạch cầu thận:
Đây là áp suất ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ lọc cầu thận Khi áp suất thủy tĩnh mao mạch cầu thận tăng, tốc độ lọc tăng lên Ngược lại, khi áp suất này giảm, tốc độ lọc cầu thận cũng giảm xuống
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến áp suất thủy tĩnh mao mạch cầu thận:
Sự thay đổi của huyết áp hệ thống:Khi huyết áp hệ thống thay đổi trong khoảng
75 - 160 mm Hg, thận có khả năng tự điều hòa nên áp suất thủy tĩnh mao mạch cầu thận vẫn giữ được ổn định Tuy nhiên, khi trị số huyết áp thay đổi ngoài mức trên, khả năng điều hòa của thận không đáp ứng được làm thay đổi tốc độ lọc cầu thận Nếu huyết áp tăng quá cao, tốc độ lọc cầu thận sẽ tăng lên Ngược lại, khi huyết áp giảm , tốc độ lọc cầu thận giảm xuống Nếu huyết áp giảm quá thấp, có thể gây nên thiểu niệu,
vô niệu
Sự co giãn của tiểu động mạch đến:Khi lưu lượng máu đi vào cầu thận tăng hơn
bình thường, tiểu động mạch đến sẽ co lại để giữ cho áp suất mao mạch cầu thận không tăng lên Cơ chế co lại của tiểu động mạch đến là do lưu lượng máu đến thận nhiều, cơ
trơn tiểu động mạch đến bị căng giãn ra làm nó co lại
Trang 33Ngược lại, khi lưu lượng máu đến thận giảm, tiểu động mạch đến sẽ giãn ra để giữ cho áp suất mao mạch cầu thận không bị giảm xuống Cơ chế giãn ra của tiểu động mạch đến do nhiều yếu tố gây nên:
Do lưu lượng máu đến thận ít, tế bào cơ trơn tiểu động mạch đến sẽ giãn ra
Do cơ chế feedback ống thận - cầu thận: khi tốc độ lọc cầu thận giảm, dịch lọc chảy chậm trong ống thận, sự hấp thu tăng lên làm giảm Na+ và Cl- trong dịch lọc Hai ion này giảm sẽ tác động lên các tế bào macula densa của ống lượn xa gây nên tác dụng điều hòa ngược làm giãn tiểu động mạch đến và tăng tiết renin để tăng lưu lượng máu thận và tốc độ lọc cầu thận
Sự co lại của tiểu động mạch đi:Khi lưu lượng máu đi vào cầu thận giảm hơn
bình thường hoặc chế độ ăn có Na+ thấp, thể tích dịch lọc cầu thận và Na+ trong dịch lọc giảm xuống, các tế bào macula densa của ống lượn xa sẽ bị tác động gây ra cơ chế feedback ống thận - cầu thận làm giãn tiểu động mạch đến đồng thời kích thích bộ máy cạnh cầu thận tăng bài tiết renin và tăng tạo angiotensin II Angiotensin II có 2 tác
dụng:
Làm tăng huyết áp để tăng lưu lượng máu thận
Co tiểu động mạch đi để tăng áp suất trong mao mạch cầu thận
Hai tác dụng này sẽ làm tăng tốc độ lọc cầu thận
2.1.2.2 Quá trình tái hấp thu các chất từ ống thận vào máu [2]
Tuy trong ngày có 180 lít dịch lọc hình thành ở các nang Bowman, song chỉ có 1-2 lít nước tiểu được hình thành Thành phần của nước tiểu hoàn toàn khác với thành phần của dịch lọc (bảng 1.1) Sở dĩ như vậy vì trong quá trình chảy qua ống lượn gần, quai Henle xuống, quai Henle lên và ống lượn xa đã xảy ra sự tái hấp thu nước và các chất cần thiết cho cơ thể, đồng thời cũng xẩy ra quá trình trao đổi các chất tại tế bào của thành các ống thận, tuỳ theo nhu cầu của cơ thể và chức năng của các đoạn ống thận khác nhau
Trang 34Bảng 2.1: Thành phần của nước tiểu và dịch lọc
2.1.2.2.1 Tại ống lượn gần
Ống lượn gần tái hấp thu phần lớn nước, ion Na và các chất khác:
+ Tái hấp thu Na + : 90% ion Na được tái hấp thu ở ống lượn gần thông qua cơ chế vận
tải tích cực vào dịch kẽ nhờ Na+-K+-ATPase Ion Na gắn vào Na+-K+-ATPase và được bơm vào dịch ngoại bào Ion Na mang theo một lượng tương đương ion Cl
+ Tái hấp thu K + :cũng giống như ion Na, ion K được tái hấp thu hoàn toàn ở đây qua
cơ chế vận tải tích cực
+ Tái hấp thu HCO3 - : ion HCO3- (hydrogen carbornat) được tái hấp thu một cách gián tiếp thông qua khí CO2 Phản ứng thuận nghịch:
HCO3- + H+ ֞ H2CO3 ֞ CO2 + H2O
Trang 35xẩy ra Trong lòng ống lượn, chiều thuận xẩy ra, CO2 hình thành thấm qua màng vào dịch nội bào (bào tương) ở trong tế bào thành ống, phản ứng theo chiều nghịch xẩy ra, HCO3- hình thành được thấm ra dịch ngoại bào
+ Tái hấp thu đường glucose: đường glucose được tái hấp thu hoàn toàn ở đây thông
qua cơ chế vận tải tích cực vào dịch kẽ Glucose được vận chuyển qua phía đối diện của tế bào biểu mô và đổ vào máu Glucose được hấp thụ hoàn toàn trong trạng thái sinh lý bình thường, nhưng khi hàm lượng đường huyết tăng cao (ví dụ do thiếu
hormon insulin của tuyến tuỵ) thì quá trình tái hấp thu đình trệ, đường chuyển vào nước tiểu thải ra ngoài (bệnh đái tháo đường) Hàm lượng đường huyết cao hơn
ngưỡng 180 mg%, tái hấp thu không hết và xuất hiện đường niệu
+Tái hấp thu protein, acid amin và các chất khác:
Protein được tái hấp thu ở ngay đoạn đầu ống lượn gần Trong 24h khoảng 30g protein được tái hấp thu bằng phương thức ẩm bào
Acid amin mỗi loại được gắn với chất mang đặc hiệu trên màng Sau khi tách khỏi chất mang, chúng được khuếch tán vào dịch ngoại bào
Các chất khác như vitamin, aceto-acetat cũng được tái hấp thu ở đây
+Tái hấp thu nước: 85-90% nước được tái hấp thu ở đây (còn gọi là tái hấp thu bắt
buộc) Có ba nguyên nhân là:
- Do dịch thể và các chất có kích thước nhỏ thấm vào dịch lọc, trong khi các phân tử protein thì giữ lại trong máu làm tăng nồng độ protein, nghĩa là làm tăng áp suất thẩm thấu keo loại, có xu hướng kéo nước trở lại
- Do sự tái hấp thu ion Na tích cực làm tăng áp suất thẩm thấu tinh thể, cũng có xu hướng kéo nước trở lại
Ngoài ra, tế bào biểu mô ống lượn gần có tính thấm nước cao hơn các đoạn khác
+ Tái hấp thu Cl - và ure: [3]
Khi nước được tái hấp thu thụ động theo Na+ và glucose, nồng độ Cl- và ure trong dịch lòng ống tăng lên Vì thế, 2 chất này sẽ được tái hấp thu thụ động theo cơ chế khuếch tán đơn thuần Tuy nhiên, do tế bào biểu mô ống lượn gần kém thấm với
Trang 36ure nên chỉ khoảng 50% ure trong dịch lọc được tái hấp thu Còn Cl-, ngoài chênh lệch nồng độ còn có sự chênh lệch điện thế do Na+ tái hấp thu làm dịch lòng ống tích điện (-) nên được tái hấp thu thụ động khá mạnh
2.1.2.2.2 Tại quai Henle [2]
Tính chất thấm của các tế bào biểu mô ở quai Henle xuống và quai Henle lên khác nhau, đưa đến quá trình tái hấp thu nước và các chất hoàn toàn khác nhau Cụ thể là:
Ở quai Henle xuống chỉ có nước được tái hấp thu, trong khi ion Na lại hoàn toàn bị giữ lại trong dịch lọc ở lòng ống, và do vậy làm tăng nồng độ ion Na trong dịch lọc khi chuyển qua đáy chữ U sang quai Henle lên
Ở quai Henle lên, trái lại, chỉ có ion Na được thấm qua dịch ngoại bào, còn nước bị giữ lại hoàn toàn
Tuy hai quá trình tái hấp thu ở quai Henle xuống và lên trái ngược nhau, song lại hỗ trợ và thúc đẩy sự tái hấp thu ở mỗi quai Sự tăng tái hấp thu nước ở quai xuống thúc đẩy sự tăng tái hấp thu Na+ ở quai lên và ngược lại Người ta gọi đó là qui luật tăng nồng độ ngược dòng
Trang 37Hình 2.5: Sự lọc các chất ở ống thận 1,3 Nhánh xuống; 2,4 nhánh lên
2.1.2.2.3 Tại ống lượn xa
Ở phần đầu của ống lượn xa quá trình tái hấp thu các chất giống như ở quai Henle lên Khác với ở ống lượn gần, ion Cl- được ra theo ion Na+ do quá trình vận tải tích cực, ở đây ion Cl- lại được bơm ra dịch ngoại bào và do đó kéo theo các ion khác như Na+, K+, Ca++, Mg++ Các ion được tái hấp thu nhiều làm cho dịch lọc loãng hơn
Do vậy người ta gọi phần đầu của ống lượn xa là đoạn pha loãng Sự pha loãng này tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tái hấp thu nước ở phần sau
Ở phần sau ống lượn xa, quá trình tái hấp thu nước và các chất xảy ra rất mạnh:
Trang 38+ Tái hấp thu nước: dịch lọc chảy đến phần này đã loãng đi nhiều làm cho sự chênh
lệch áp suất thẩm thấu với dịch ngoại bào tăng lên Kết quả là nước được đẩy ra dịch ngoại bào
Cũng ở giai đoạn này hormon chống bài niệu (ADH hay còn gọi là Vasopressin) được giải phóng từ thùy sau tuyến yên có tác dụng thúc đẩy sự tái hấp thu nước ADH
có tác dụng hoạt hóa enzym adenylcyclase để enzym này kích thích sự biến đổi ATP thành AMP vòng Đến lượt mình AMP vòng kích thích protein-kinase và protein-kinase có tác dụng làm tăng tính thấm đối với nước của tế bào (cơ chế chất truyền tin thứ 2)
+ Tái hấp thu Na + và Cl - : ion Na+ được tái hấp thu qua cơ chế tích cực có sự tham gia tác động của hormon aldosteron tiết ra từ phần vỏ tuyến thượng thận Cơ chế của quá trình này là:
Aldosteron xuyên qua màng tế bào vào bào tương rồi tới màng nhân gắn vào một protein thụ cảm trên màng tạo phức Aldosteron-protein Phức hợp này vào nhân tế bào kích thích ADN tăng tổng hợp ARN thông tin mARN làm tăng tổng hợp protein mang để vận chuyển Na+ trong khi "bơm Na+" hoạt động Ion Cl- giống như ở ống lượn gần được tái hấp thu theo Na+ (cơ chế hoạt hoá gen)
Từ tế bào biểu mô thành ống lượn xa, một số chất như K+, NH3, H+ lại được bài tiết vào dịch lọc NH3 từ huyết tương tới tế bào biểu mô để bài tiết Vào dịch lọc chúng kết hợp H+ tạo NH4+ để thải qua nước tiểu Phản ứng tạo NH4 và sự bài tiết H+ có tác dụng điều chỉnh độ pH của dịch lọc Thành phần dịch lọc trước khi chuyển sang ống góp đã gần giống với thành phần nước tiểu
2.1.2.2.4 Tại ống góp [ 2]
Ở ống góp xảy ra sự tái hấp thu nước và ure là chính Sự tái hấp thu nước ở đây có sự tham gia tích cực của hormon ADH Nhờ sự tái hấp thu nước mà nồng độ ure trong dịch tăng lên, tạo điều kiện cho ure thấm qua thành vào dịch ngoại bào được dễ dàng hơn
Trang 39Ở ống góp cũng còn quá trình tái hấp thu thêm Na+, K+, Ca++ Sau khi qua ống góp nước tiểu được cô đặc sẽ đổ vào bể thận, di chuyển qua niệu quản để xuống bàng quang, ở đó nước tiểu được giữ lại cho đến khi đủ lượng gây kích thích mà có phản xạ tiểu tiện (hình 1.6)
Hình 2.6: Sự tái hấp thu nước ở ống góp
2.1.3 Chức năng sinh lý nội tiết của thận
2.1.3.1 Sự điều hoà nước [2]
Hai yếu tố chủ yếu tham gia điều hoà nước trong cơ thể là áp suất thẩm thấu và áp lực thủy tĩnh của máu
a) Sự giảm khối lượng nước nội dịch
Thường xuyên cơ thể mất nước qua không khí thở ra, bốc mồ hôi, phân và nước tiểu Điều đó làm giảm khối lượng nước của nội dịch Sự giảm khối lượng nước sẽ dẫn đến:
Trang 40- Sự giảm áp lực thủy tĩnh
- Sự tăng áp suất thẩm thấu
Áp suất thẩm thấu tăng là nguyên nhân kích thích vào các thụ quan nhận cảm nằm ở hypothalamus thuộc não trung gian của não bộ Các thụ quan này một mặt làm tăng cảm giác khát đòi hỏi tăng cường uống nước, mặt khác kích thích thùy sau tuyến yên làm tăng cường giải phóng hormon chống bài niệu (ADH hay vasopressin) Đến lượt mình ADH kích thích ống thận làm tăng sự tái hấp thu nước của chúng
Áp lực thủy tĩnh giảm là nguyên nhân kích thích các thụ quan áp lực nằm rải rác
ở hệ mạch máu Các thụ quan áp lực bị kích thích, một mặt tham gia kích thích làm tăng cường giải phóng hormon ADH, mặt khác lại gây co động mạch thận làm giảm lưu lượng máu đến thận nghĩa là làm giảm quá trình lọc của thận
Kết quả là cơ thể tăng cường uống nước, đồng thời là số lượng nước tiểu hình thành ít
và đặc
b) Sự tăng khối lượng nước nội dịch [2]
Khi khối lượng nước tăng trong nội dịch sẽ làm giảm áp suất thẩm thấu và tăng
áp lực thủy tĩnh
Sự giảm áp suất thẩm thấu là nguyên nhân kích thích các thụ quan nhận cảm ở hypothalamus Các thụ quan này một mặt làm giảm cảm giác khát, do đó cơ thể giảm uống nước; mặt khác lại kích thích làm giảm sự bài tiết hormon ADH, dẫn đến làm giảm sự tái hấp thu nước ở ống thận
Sự tăng áp lực thủy tĩnh là nguyên nhân kích thích các thụ quan áp lực ở hệ mạch làm giãn mạch đến ở thận do đó tăng cường quá trình lọc của thận Mặt khác cũng có tác dụng làm giảm bài tiết hormon ADH Kết quả là cơ thể giảm yêu cầu uống nước và số lượng nước tiểu nhiều, loãng được hình thành
Cả hai trường hợp trên làm cho khối lượng nước trong cơ thể luôn được ổn định, cân bằng